Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Như chúng ta đã biết, xã là địa bàn dân cư đã tồn tại hàng ngàn năm cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là đơn vị hành chính của nước ta ở cơ sở được ghi nhận trong Hiến pháp, cụ thể tại Khoản 1, Điều 110, Hiến pháp năm 2013 quy định:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập[39].
Theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính, gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định:
- HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
- HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân[39].
Theo đó, Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, có quan hệ trực tiếp đến người dân, là cầu nối đưa mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh…
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Hội đồng nhân dân xã là một tổ chức trong bộ máy nhà nước. Khoản 1, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”[39]. Hiện nay, nước ta đang từng bước xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Mục đích là làm cho các cơ quan nhà nước ở trung ương cũng như ở địa phương thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp”[4, tr. 251]. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 ra đời, có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2016, so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 có những điểm mới quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã như: Luật quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tạo cơ sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng; thành lập các Ban của Hội đồng nhân dân xã, thành viên các ban này hoạt động kiêm nhiệm. Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn, từ đó quy định rõ ràng, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã. Ngoài ra, Quốc hội đã ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có hiệu lực 01/7/2016, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện tốt chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng là một yêu cầu cần thiết hiện nay.
Huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên là huyện thuần nông, mới thành lập trên cơ sở chia tách từ huyện Tuy Hòa thành hai huyện: Đông Hòa, Tây Hòa theo Nghị định số 62/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/7/2005, cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn nhiều thiếu thốn; là một trong những địa phương của tỉnh Phú Yên được chọn làm thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện theo Nghị quyết số 725/2009/NQ-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong những năm qua, hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng và hiệu quả trong hoạt động từng bước được nâng lên góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh ở địa phương, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương. Tuy nhiên, Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa do nhiều nguyên nhân khác nhau nên vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong hoạt động, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển trong tình hình mới; năng lực, trình độ và nhận thức của đại biểu Hội đồng nhân dân chưa xứng tầm với yêu cầu đòi hỏi của xã hội và nguyện vọng của cử tri.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, học viên chọn đề tài: “Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” để làm Luận văn Thạc sĩ luật học. Qua nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu sâu hơn về hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Vấn đề về tổ chức chính quyền địa phương, về Hội đồng nhân dân nói chung và hoạt động Hội đồng nhân dân xã nói riêng luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đã có nhiều cuốn sách, báo, tạp chí, bài viết và một số đề tài khoa học đề cập các nội dung liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Một số công trình nghiên cứu, bài viết như:
TS. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), Hội đồng nhân dân trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội – 2012. Tác giả đã phân tích sâu sắc các yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với cơ quan đại diện của nhân dân địa phương, đồng thời đi sâu phân tích cách thức, kỹ năng hoạt động của Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân; khẳng định vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
TSKH Đào Trí Úc, Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội – 2004. Tác giả đã phân tích, làm rõ các nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, đề xuất và kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong đó chú trọng đến mô hình của Hội đồng nhân dân xã.
TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay (sách tham khảo), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội – 2005. Tác giả nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay, trong đó có Hội đồng nhân dân.
Chu Văn Thành, Hệ thống chính trị cơ sở. Thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004. Tác giả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã luôn giữ vị trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở.
Vũ Đức Đán, Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2/2005. Tác giả đã lý giải một cách biện chứng về vai trò, vị trí của Hội đồng nhân dân nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng ở bộ máy chính quyền cấp xã. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
TS. Bùi Thế Vĩnh, “Phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân trong chương trình tập huấn đại biểu Hội đồng nhân dân”, Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (khóa 1999-2004), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội-2000. Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận về phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Phạm Hồng Thái, CN. Lương Thanh Cường, “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã”, Tài liệu bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã về quản lý nhà nước, Nxb Văn hóa –Thông tin, Hà Nội – 2002. Các tác giả đã nghiên cứu, nêu và phân tích khái quát vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã và chức trách của từng chức danh của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã.
Nguyễn Quốc Tuấn, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 4/2004. Tác giả đã đề xuất tám vấn đề mà Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp cần làm tốt để nâng cao hơn nữa hiệu lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.
Nguyễn Ký, Đổi mới phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân đáp ứng sự mong đợi của nhân dân, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2/2005. Tác giả đã nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Khẳng định nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật là rất rộng và bao quát nhiều lĩnh vực quan trọng, để thực hiện tốt cần phải được củng cố về tổ chức, nâng cao chất lượng đại biểu và đổi mới phương thức tổ chức hoạt động. Qua đó, tác giả đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân và đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân.
Phạm Văn Hùng, Nâng cao vai trò giám sát trong hoạt động của cơ quan dân cử, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 132/2007. Tác giả đã phân tích vai trò của giám sát trong hoạt động cơ quan dân cử, chỉ ra giám sát trong hoạt động của cơ quan dân cử ở nước ta có sự khác nhau về bản chất so với giám sát của nghị viện tư sản; đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở nước ta, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở nước ta.
Bùi Thị Hải, “Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008. Tác giả nghiên cứu tổ chức và hoạt động của chính quyền xã từ năm 1945 đến nay. Từ đó, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trên các phương diện khác nhau: phương diện về thể chế, phương diện thực tiễn… Kiến nghị một số giải pháp về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Nguyễn Thị Nữ, “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã – qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Tác giả đã khái quát sự ra đời, phát triển của Hội đồng nhân dân cấp xã; những quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động Hội đồng nhân dân cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đề ra các giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Các công trình trên cho thấy vấn đề tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân đã được các nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu ở các khía cạnh và với các mức độ khác nhau, đã luận giải, đánh giá khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chủ yếu trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, trong khi đó hiện nay vấn đề hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng căn cứ theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức quyền địa phương năm 2013, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015… Mặt khác cho đến nay chưa có một đề tài độc lập đi sâu nghiên cứu hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên để tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế, tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Vì vậy, nghiên cứu “Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” sẽ cung cấp tư liệu thực tế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên để tìm ra ưu điểm, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Các xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu;
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin;
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, đánh giá.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên trong thời gian đến.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho Hội đồng nhân dân các xã trên địa bàn tỉnh Phú Yên nói riêng và cả nước nói chung. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
- Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Hội đồng nhân dân xã và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động của hội đồng nhân dân xã
1.1. Khái lược sự hình thành và phát triển của Hội đồng nhân dân xã trong lịch sử lập pháp của nước ta
1.1.1. Giai đoạn Hiến pháp 1946
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc kéo dài gần 100 năm trên lãnh thổ nước ta. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xây dựng và củng cố chính quyền địa phương. Từ đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và chính quyền xã nói riêng. Văn bản pháp luật đầu tiên về Hội đồng nhân dân là Sắc lệnh số 63/SL về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính (UBHC) ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 22 tháng 11 năm 1945. Tại Điều thứ 1 của Sắc lệnh quy định: “…Ở hai xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Ủy ban hành chính …”; Điều thứ 2 quy định: “Ở mỗi xã sẽ đặt một Hội đồng nhân dân gồm có từ 15 đến 25 hội viên chính thức và từ 5 đến 7 hội viên dự khuyết…”[2]. Sau đó là các Sắc lệnh sửa đổi Sắc lệnh số 63/SL, gồm có: Sắc lệnh số 22A/SL ban hành ngày 18 tháng 02 năm 1946 về việc tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính do Chính phủ lâm thời ban hành sửa đổi Điều thứ 65 của Sắc lệnh số 63; Sắc lệnh số 10/SL ngày 10/01/1946 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành để sửa đổi Điều thứ 32, Điều thứ 33, Điều thứ 53 trong Sắc lệnh số 63/SL ngày 22 tháng 11 năm 1945. Theo quy định tại các Sắc lệnh này, chính quyền địa phương có 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và xã, trong đó cấp tỉnh và xã là 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, cấp kỳ và cấp huyện chỉ có Ủy ban hành chính. Chính quyền xã gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, Hội đồng nhân dân do cử tri xã bầu ra có từ 15-25 hội viên chính thức và 5-7 hội viên dự khuyết; có quyền quyết định những vấn đề ở xã, nhưng có những vấn đề phải được Ủy ban hành chính cấp huyện, tỉnh chuẩn y; còn Ủy ban hành chính xã do Hội đồng nhân dân xã bầu trong số các hội viên Hội đồng nhân dân; Ủy ban hành chính xã có nhiệm vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, triệu tập các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã và giải quyết các công việc trong xã. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (gọi tắt là Hiến pháp 1946), đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo Hiến pháp 1946, tổ chức chính quyền địa phương mỗi cấp nói chung và xã nói riêng về cơ bản vẫn như Sắc lệnh 63/SL. Hiến pháp 1946 đã xác định vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân, mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với cấp trên. Điều thứ 59 Hiến pháp 1946 quy định: “HĐND quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên”[45].
Ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đây là đạo luật đầu tiên quy định về cách thức tổ chức Hội đồng nhân dân. Theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 thì “HĐND các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp và cách thức bầu cử do Luật Bầu cử quy định”[46].
1.1.2. Giai đoạn Hiến pháp năm 1959
Năm 1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, miền Nam còn nằm dưới sự kiểm soát của đế quốc Mỹ. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền, miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà. Để đáp ứng và phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong tình hình mới, Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946. Sau một thời gian nghiên cứu, soạn thảo, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Hiến pháp 1959 để thay thế Hiến pháp 1946. Trên cơ sở Hiến pháp 1959, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II ngày 27 tháng 10 năm 1962 đã thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, có hiệu lực thi hành từ 11/11/1962. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1959 về tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn chính quyền địa phương. Theo quy định của Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962, các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được phân định: Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các khu tự trị chia thành tỉnh; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Các thành phố có thể chia thành khu phố ở trong thành và huyện ở ngoài thành. Các đơn vị hành chính này đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương thời điểm này so với trước đã có nhiều thay đổi: Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Xác định rõ địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương (vừa thay mặt cho nhân dân địa phương, vừa thay mặt cho nhà nước ở địa phương); Ủy ban hành chính là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương;
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính là cơ sở pháp lý chung cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương không phân biệt nông thôn hay thành phố; hạn chế, thu hẹp những vấn đề chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết định của cấp dưới (trừ những vấn đề quan trọng như phê chuẩn kết quả bầu cử hay bãi miễn…);
Số lượng thành viên của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương được bổ sung tăng lên, trong đó Hội đồng nhân dân xã được bầu từ 20-30 đại biểu chính thức; Ủy ban hành chính xã từ 5-7 người (xã miền núi có nhiều dân tộc từ 7-9 người);
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền mở rộng, cụ thể ở xã được quy định như sau: Hội đồng nhân dân khu phố quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá trong khu phố do thành phố giao cho; quyết định việc xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp khu phố; xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của khu phố. Hội đồng nhân dân xã, thị trấn quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của xã, thị trấn; xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của xã, thị trấn; ban hành những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của xã, thị trấn…
1.1.3. Giai đoạn Hiến pháp năm 1980 Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Mùa xuân năm 1975, với thắng lợi trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta được thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử tự do trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tháng 7 năm 1976, nước ta lấy tên là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, ngày 30/12/1980 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1980 làm cơ sở cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước thống nhất, trong đó có tổ chức chính quyền địa phương. Theo Hiến pháp năm 1980 quy định thì các đơn vị hành chính ở nước ta đã có sự thay đổi so với Hiến pháp năm 1959, cụ thể Điều 113 quy định:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và thị trấn; Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; Quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân[37].
Thiết chế Hội đồng nhân dân được quy định rõ tại Chương IX, Hiến pháp năm 1980. Để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1980 về thiết chế Hội đồng nhân dân, ngày 30 tháng 6 năm 1983, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962. Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, chính quyền địa phương chỉ có 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và xã (xã bao gồm xã, phường, thị trấn); vị trí pháp lý của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương cơ bản vẫn giữ nguyên, Ủy ban hành chính được đổi thành Ủy ban nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được tăng cường hơn trước nhiều. Riêng xã, Hội đồng nhân dân được bầu từ 15-45 đại biểu (tùy theo dân số, vùng, miền), nhiệm kỳ là 2 năm, thực hiện các chủ trương, chính sách và công tác của Nhà nước ở địa phương [40].
Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới đất nước. Để phù hợp trong điều kiện mới, năm 1989, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983. Theo luật mới số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã từ 15-35, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm, thành lập Ban thư ký Hội đồng nhân dân xã; còn đối với Ủy ban nhân dân thì cơ bản không thay đổi.
1.1.4. Giai đoạn Hiến pháp năm 1992
Công cuộc đổi mới đất nước đã đặt ra yêu cầu phải “đổi mới” pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là hết sức cần thiết. Hiến pháp năm 1992 được xây dựng để đáp ứng nhu cầu đó. Cũng như Hiến pháp năm 1980, thiết chế Hội đồng nhân dân được quy định tại Chương IX. Việc chia đơn vị hành chính vẫn giữ như trong Hiến pháp 1980. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5, ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989. Luật mới quy định Hội đồng nhân dân xã có từ 19-25 đại biểu, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm. Sau khi Hiến pháp 1992 được bổ sung, sửa đổi một số điều cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà nước trong giai đoạn mới, ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994. Trong văn bản này, tổ chức và hoạt động của chính quyền xã được quy định cụ thể như sau: Hội đồng nhân dân xã có số lượng đại biểu tối thiểu là 15 (xã dưới 1000 dân) và tối đa không quá 35; được tổ chức Thường trực Hội đồng nhân dân (gồm Chủ tịch và Phó chủ tịch); nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cụ thể phù hợp hơn, có sự phân biệt giữa nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn với Hội đồng nhân dân phường. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
1.1.5. Giai đoạn Hiến pháp năm 2013
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Quốc hội khóa XIII đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, ngày 28/11/2013 đã biểu quyết thông qua Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 quy định về chế định chính quyền địa phương được quy định tại Chương IX, ngày 19/6/2015 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương và có hiệu lực ngày 01/01/2016 thay Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: “Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Xã, phường, thị trấn; Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt”[39], [41]. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng đã quy định cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức giữa chính quyền địa phương nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã:
Số lượng đại biểu được quy định cụ thể, tối thiểu 15 đại biểu (xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống) và tối đa 35 đại biểu; Thường trực Hội đồng nhân dân gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân (Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách); Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội (Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm)[41].
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã hiện nay Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
1.2.1. Vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã
- Vị trí, chức năng của Hội đồng nhân dân xã
Ở nước ta nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Vấn đề này được khẳng định trong Văn kiện Đảng và Hiến pháp, pháp luật. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”[4, tr.85] là một trong những nhiệm vụ để xây dựng đất nước; Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”[39]. Trong bài “Dân vận” đăng trên báo Sự thật, Bác Hồ đã viết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [34, tr.698].
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước ta. Trong hệ thống Hội đồng nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân xã (xã, phường, thị trấn) nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng, bởi vì đây là nơi gần dân, sát dân, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương; là nơi để người dân bày tỏ trực tiếp ý chí, nguyện vọng của mình, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân và là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh ở địa phương.
Với vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân cấp xã nên ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển của Hội đồng nhân dân; thiết chế Hội đồng nhân dân xã đã được quy định trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, Hội đồng nhân dân cấp xã nói chung, Hội đồng nhân dân xã nói riêng đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm to lớn của mình, là tổ chức đại diện để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội. Kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiếp pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 tiếp tục khẳng định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”; “HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định” [39], [41].
Như vậy, Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước ta, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Có thể khái quát vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân xã trên các mặt sau: Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Tính quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân xã thể hiện ở chỗ Hội đồng nhân dân xã là cơ quyền lực nhà nước ở xã. Hội đồng nhân dân xã được thành lập bởi các đại biểu do cử tri địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Hội đồng nhân dân xã được nhân dân giao quyền, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước ở xã. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Hội đồng nhân dân xã quyết định các vấn đề của địa phương theo đúng quy định của pháp luật, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã[41].
Tính đại diện của Hội đồng nhân dân xã thể hiện ở chỗ là cơ quan duy nhất do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Hội đồng nhân dân xã là những người tiêu biểu, đại diện cho ý chí và quyền làm chủ của nhân dân. Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân về mặt hình thức thể hiện rõ nét nhất ở chỗ Hội đồng nhân dân có cơ cấu đại biểu thuộc mọi tầng lớp, mọi thành phần xã hội, không đại diện cho một Đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân địa phương; thành phần trong Hội đồng nhân dân thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân. Hội đồng nhân dân xã là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã, đại diện cho trí tuệ của người dân địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể đại biểu Hội đồng nhân dân. Mọi quyết định của Hội đồng nhân dân xã được thông qua bằng việc biểu quyết của đại biểu Hội đồng nhân dân xã tại kỳ họp. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Như vậy, để khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân xã thì trong hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải thể hiện được hai tính chất: Tính quyền lực và tính đại diện.
Chức năng của Hội đồng nhân dân xã: Chức năng của Hội đồng nhân dân là những phương diện hoạt động chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Khoản 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân”[39]. Như vậy, Hội đồng nhân dân xã có hai chức năng cơ bản là: Quyết định và giám sát.
Về chức năng quyết định, để thực hiện chức năng này, pháp luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, cụ thể Khoản 2 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã”[41]; Khoản 4 Điều 33 quy định: “Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền” [41].
Như vậy, căn cứ quy định của pháp luật cho thấy nội dung chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân xã là rất rộng, điều này khẳng định vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân xã. Những nội dung được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác tiềm năng, lợi thế tại địa phương góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, thực hiện nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.
Về chức năng giám sát: Giám sát là một chức năng quan trọng của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng. Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định:
Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý; Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân[42]. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Hội đồng nhân dân xã giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Thực hiện tốt chức năng giám sát giúp Hội đồng nhân dân xã đánh giá được tình hình hoạt động của các cơ quan, tổ chức ở địa phương trong việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kết quả thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, đồng thời giúp Hội đồng nhân dân xã thấy được sự không phù hợp, thiếu thực tế của các Nghị quyết do Hội đồng nhân dân xã ban hành để kịp thời sửa chữa, bổ sung phù hợp; đánh giá được kết quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân. Những kết quả của việc giám sát là cơ sở để Hội đồng nhân dân xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình như: Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã; miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân xã luôn gắn liền với chức năng quyết định, hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động trực tiếp lẫn nhau. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho các quyết định của Hội đồng nhân dân xã được thực hiện nghiêm túc. Đồng thời giám sát là cơ sở kiểm nghiệm tính đúng đắn của các quyết định trên thực tiễn, giúp phát hiện những điểm chưa phù hợp với tình hình thực tế để kịp thời sửa chữa, bổ sung. Ngược lại, các quyết định của Hội đồng nhân dân xã là cơ sở cho hoạt động giám sát được tôn trọng trên thực tế, tạo định hướng cho hoạt động giám sát tập trung vào các vấn đề bức xúc của địa phương. Như vậy, có thể khẳng định Hội đồng nhân dân xã có vị trí, tính chất, chức năng rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân thì trước hết phải đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử và phải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, chức năng của cơ quan dân cử.
- Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã
Điều 32 Luật Tổ chức chính quyền năm 2015 quy định về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã hiện nay như sau:
HĐND xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở xã bầu ra. Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống được bầu mười lăm đại biểu;
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai nghìn dân được bầu hai mươi đại biểu;
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn dân được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu;
- Xã không thuộc quy định tại các điểm a, b và c khoản này có từ bốn nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu.
- Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
- HĐND xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm”[41].
Như vậy so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định một số điểm mới về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã, theo đó số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã được quy định ngay trong luật; thành lập mới các Ban của Hội đồng nhân dân gồm Ban pháp chế và Ban kinh tế – xã hội (các Ban này hoạt động kiêm nhiệm), bỏ việc tổ chức các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định trong Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005.
1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Với vị trí, vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng trong tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Để thực hiện tốt chức chức năng của Hội đồng nhân dân xã, Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã gồm có 8 nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã;
- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã;
- Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền;
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp;
- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân xã bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này;
- Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu;
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã[41].
Ngoài ra, căn cứ vào kết quả giám sát, Hội đồng nhân dân xã có các quyền: Yêu cầu Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ban hành văn bản để thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân; ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn khi xét thấy cần thiết; miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy viên Ủy ban nhân dân.
Với việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã trong luật đã tạo thuận lợi cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã trong thực tế, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Trước đây, theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn quy định chung, không có sự phân biệt rõ ràng giữa Hội đồng nhân dân xã, Hội đồng nhân dân phường và Hội đồng nhân dân thị trấn, đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Theo quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có sự quy định cụ thể, rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, những nhiệm vụ, quyền hạn này vẫn còn có những nội dung chung chung, theo phân quyền của cấp trên, vì vậy sẽ có những khó khăn trong hoạt động. Do đó, cần sớm có quy định những nội dung được phân quyền để chủ động tổ chức thực hiện ở địa phương, đảm bảo quản lý nhà nước thống nhất, thông suốt. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
1.2.3. Phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
- Kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng. Bởi vì kỳ họp là nơi tập trung đầy đủ nhất đại biểu Hội đồng nhân dân xã, những người đại diện trí tuệ của cử tri địa phương, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương. Mặt khác, tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân xã thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số các công việc quan trọng của địa phương thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Theo quy định tại Điều 78, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì kỳ họp Hội đồng nhân dân xã được thực hiện như sau: Hội đồng nhân dân họp mỗi năm ít nhất hai kỳ. Hội đồng nhân dân quyết định kế hoạch tổ chức các kỳ họp thường lệ vào kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân đối với năm bắt đầu nhiệm kỳ và vào kỳ họp cuối cùng của năm trước đó đối với các năm tiếp theo của nhiệm kỳ theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân họp bất thường khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã yêu cầu.
Cử tri ở xã có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng nhân dân xã họp, bàn và quyết định những công việc của xã. Khi trong đơn yêu cầu có chữ ký của trên mười phần trăm tổng số cử tri của xã theo danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã tại cuộc bầu cử gần nhất thì Thường trực Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân bất thường để bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị. Đơn yêu cầu của cử tri được xem là hợp lệ khi có kèm theo đầy đủ chữ ký, họ tên, ngày, tháng, năm sinh và địa chỉ của từng người ký tên. Những người ký tên trong đơn yêu cầu được cử một người làm đại diện tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị.
HĐND xã họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã hoặc yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng nhân dân xã quyết định họp kín.
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, Thường trực Hội đồng nhân dân xã dự kiến chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Chương trình kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới do Thường trực Hội đồng nhân dân khóa trước dự kiến. Các Ban của Hội đồng nhân dân khóa trước thẩm tra các nội dung trong dự kiến chương trình kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới, báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân khóa trước để xem xét tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới.
HĐND quyết định chương trình kỳ họp. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp, Hội đồng nhân dân quyết định sửa đổi, bổ sung chương trình kỳ họp đã được thông qua.
Kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới được triệu tập chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; đối với địa phương có bầu cử lại, bầu cử thêm đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc lùi ngày bầu cử thì thời hạn triệu tập kỳ họp thứ nhất được tính từ ngày bầu cử lại, bầu cử thêm. Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa trước triệu tập. Trường hợp khuyết Chủ tịch Hội đồng nhân dân thì một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa trước triệu tập kỳ họp; nếu khuyết cả Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định triệu tập viên.
Trong nhiệm kỳ, Thường trực Hội đồng nhân dân xã quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ chậm nhất là 20 ngày, kỳ họp bất thường chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp. Trường hợp khuyết Thường trực Hội đồng nhân dân xã thì Thường trực Hội đồng nhân dân huyện trực tiếp chỉ định triệu tập viên.
Dự kiến chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân cùng với quyết định triệu tập kỳ họp.
Quyết định triệu tập kỳ họp và dự kiến chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp thường lệ và chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp bất thường. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Theo quy định tại Điều 81 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đại biểu mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân xã gồm có: Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện; đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp trên được bầu tại xã; thành viên Ủy ban nhân dân xã không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Người được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân được phát biểu ý kiến về vấn đề thuộc ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách nếu được chủ tọa phiên họp đồng ý hoặc có trách nhiệm phát biểu ý kiến theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân hoặc chủ tọa phiên họp. Ngoài ra, đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội được mời tham dự các phiên họp công khai của Hội đồng nhân dân khi bàn về các vấn đề có liên quan; đại diện đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, cơ quan báo chí và công dân có thể được tham dự các phiên họp công khai của Hội đồng nhân dân.
- Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân xã
Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch, một Phó Chủ tịch. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Thường trực Hội đồng nhân dân xã hoạt động thường xuyên, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức các hoạt động của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân xã. Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Thường trực Hội đồng nhân dân xã có các nhiệm vụ, quyền hạn: Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân; đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân; xem xét kết quả giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân khi xét thấy cần thiết và báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân; tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải trình các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định của pháp luật; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân; phê chuẩn danh sách Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số đại biểu Hội đồng nhân dân và việc cho thôi làm Ủy viên của Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Trưởng ban của Hội đồng nhân dân; trình Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định pháp luật; quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân; báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân[41]. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Bên cạnh việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng đã quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Theo đó, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã có nhiệm vụ và quyền hạn là lãnh đạo hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, thay mặt Thường trực Hội đồng nhân dân xã giữ mối liên hệ với Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận xã, các tổ chức xã hội khác và công dân; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã giúp Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã.
Đối với việc tiếp công dân của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, thì Thường trực Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân xã tiếp công dân; xây dựng các quy định, thủ tục về tiếp công dân bảo đảm đúng pháp luật và phù hợp với tình hình của địa phương; sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân xã; bố trí công chức có đủ trình độ, năng lực và am hiểu về pháp luật để làm nhiệm vụ tiếp công dân; tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử. Chủ tịch Hội đồng nhân dân phải có lịch tiếp công dân. Tùy theo yêu cầu của công việc, Chủ tịch Hội đồng nhân dân bố trí số lần tiếp công dân trong tháng. Chủ tịch Hội đồng nhân dân có thể ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tiếp công dân, nhưng ít nhất mỗi quý Chủ tịch Hội đồng nhân dân phải bố trí thời gian 01 ngày để trực tiếp tiếp công dân.
Các thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân xã chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân xã; chịu trách nhiệm cá nhân trước Thường trực Hội đồng nhân dân xã về nhiệm vụ, quyền hạn được Thường trực Hội đồng nhân dân xã phân công; tham gia các phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân xã, thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân xã.
- Hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã là thành lập các Ban của Hội đồng nhân dân xã: Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội, thành viên các Ban này là đại biểu Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm. Đây là điểm mới so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, theo quy định của pháp luật, các Ban của Hội đồng nhân dân xã phụ trách các lĩnh vực theo quy định của pháp luật, cụ thể: Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân xã chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực thi hành Hiến pháp và pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính ở xã; Ban kinh tế – xã hội của Hội đồng nhân dân xã chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực kinh tế, ngân sách, giao thông, xây dựng, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, thông tin, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường, chính sách tôn giáo ở xã.
Về nhiệm vụ, quyền hạn các Ban của Hội đồng nhân dân xã, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì các Ban của Hội đồng nhân dân xã có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: (1) Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã liên quan đến lĩnh vực phụ trách; (2) Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân xã phân công; (3) Giúp Hội đồng nhân dân xã giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân xã trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách; (4) Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân xã phân công; (5) Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xã; (6) Các Ban của Hội đồng nhân dân xã chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân xã; trong thời gian Hội đồng nhân dân xã không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực Hội đồng nhân dân xã.
Ngoài ra, Luật Tổ chức chính quyền năm 2015 cũng quy định về mỗi quan hệ công tác các Ban của Hội đồng nhân dân, theo đó, các Ban của Hội đồng nhân dân phối hợp công tác và trao đổi kinh nghiệm hoạt động về những vấn đề có liên quan; Ban của Hội đồng nhân dân cử thành viên tham gia hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân xã; Ủy ban nhân dân xã và các bộ phận chuyên môn của Ủy ban nhân dân xã, cơ quan, tổ chức hữu quan ở xã có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề mà Ban của Hội đồng nhân dân yêu cầu.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách, Ban của Hội đồng nhân dân xã cử thành viên tham gia nghiên cứu dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; yêu cầu cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề mà Ban thẩm tra; tổ chức họp lấy ý kiến của những người am hiểu về vấn đề đó; khảo sát tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức của Hội đồng nhân dân xã nhiệm kỳ 2016-2021 có thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội, đây là quy định mới so với trước đây, do đó, để các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động có chất lượng, hiệu quả theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao cần phải thể chế hóa cụ thể các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương về lĩnh vực phụ trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của Hội đồng nhân dân xã; đồng thời có những quy định về thời gian hoạt động nhằm tạo điều kiện để các thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ vì thành viên các Ban này hoạt động kiêm nhiệm.
- Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân xã
Đại biểu Hội đồng nhân dân xã là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín [43]. Với vị trí, vai trò như vậy, người đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân xã nói riêng phải đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Điều 7 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân như sau:
- Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm”[41].
Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau. Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ đại biểu từ ngày khai mạc kỳ họp tiếp sau cuộc bầu cử bổ sung đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Với địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân xã phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm: Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ chấp hành nội quy kỳ họp, tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không tham dự được kỳ họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa phiên họp. Khi có thông báo về thời gian, dự kiến chương trình và tài liệu kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân phải nghiên cứu tài liệu. Ngoài ra, đại biểu Hội đồng nhân dân xã tham các cuộc họp của Ban của Hội đồng nhân dân xã mà đại biểu là thành viên; tham gia các hoạt động khác của Hội đồng nhân dân. Trong kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tham gia thảo luận và quyết định chương trình kỳ họp, thảo luận tại phiên họp về các vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp và biểu quyết thông qua những vấn đề đó.
Trách nhiệm tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân xã phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.
Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.
Trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân: Đại biểu Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Theo quy định tại Nghị quyết 759/2014/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thì Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình tiếp công dân; đại biểu Hội đồng nhân dân xã thực hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã; đại biểu Hội đồng nhân dân xã tiếp công dân theo sự bố trí của Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã. Việc tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo quy định như sau: Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân xã; đại biểu Hội đồng nhân dân xã thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố, trường hợp không thể thực hiện được việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố do có lý do chính đáng thì đại biểu Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm thông báo đến Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.
Thường trực Hội đồng nhân dân thay mặt Hội đồng nhân dân tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định pháp luật có liên quan. Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã và nơi tiếp công dân, đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương. Thường trực Hội đồng nhân dân cử đại diện tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố.
- Ngoài thực hiện trách nhiệm theo quy định của pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân xã có các quyền sau:
Quyền chất vấn: Đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và Ủy viên Ủy ban nhân dân xã. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân xã chất vấn. Trong thời gian Hội đồng nhân dân xã họp, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân xã. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân xã tại kỳ họp đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân xã có thể quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau của Hội đồng nhân dân xã hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực Hội đồng nhân dân xã. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân xã, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân xã để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Quyền kiến nghị: Đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền kiến nghị Hội đồng nhân dân xã bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân xã bầu, tổ chức phiên họp bất thường, phiên họp kín của Hội đồng nhân dân xã và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết. Kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân xã được gửi bằng văn bản đến Thường trực Hội đồng nhân dân xã, trong đó nêu rõ lý do, nội dung kiến nghị. Thường trực Hội đồng nhân dân xã có trách nhiệm tổng hợp, xử lý các kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân xã theo thẩm quyền và báo cáo Hội đồng nhân dân xã trong các trường hợp có từ một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã trở lên kiến nghị Hội đồng nhân dân xã bỏ phiếu tín nhiệm đối với một người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân xã bầu, kiến nghị Hội đồng nhân dân xã họp bất thường hoặc họp kín thì Thường trực Hội đồng nhân dân xã báo cáo để Hội đồng nhân dân xã xem xét, quyết định; hoặc trong trường hợp khác mà Thường trực Hội đồng nhân dân xã xét thấy cần thiết.
Số lượng kiến nghị cần thiết nêu trên là tổng số kiến nghị mà Thường trực Hội đồng nhân dân xã tiếp nhận được trong khoảng thời gian từ ngày khai mạc kỳ họp này đến trước ngày khai mạc kỳ họp tiếp theo hoặc đến trước ngày tiến hành phiên họp Hội đồng nhân dân xã về nội dung có liên quan trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân xã kiến nghị Hội đồng nhân dân xã tổ chức phiên họp kín.
Đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiết để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật: Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu Hội đồng nhân dân biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết.
Quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân xã trong việc yêu cầu cung cấp thông tin: Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Giám sát là một chức năng của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng. Điều 87, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân như sau:
- HĐND thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp Hội đồng nhân dân và trên cơ sở hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.
- HĐND quyết định nội dung giám sát theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân trình trên cơ sở các kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, UBMTTQ Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
HĐND thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động sau đây:
- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân cùng cấp về tình hình thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
- Xem xét văn bản của Ủy ban nhân dân cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
- Xem xét trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Thành lập Đoàn giám sát về một vấn đề nhất định khi xét thấy cần thiết và xem xét kết quả giám sát của Đoàn giám sát[41].
Như vậy, theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân xã thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp Hội đồng nhân dân xã và trên cơ sở hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân xã; Hội đồng nhân dân xã quyết định nội dung giám sát theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân xã trình trên cơ sở các kiến nghị của các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
1.3. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với cấp ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội cùng cấp Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
1.3.1. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với cấp ủy cùng cấp
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc đã được khẳng định trong Hiến pháp. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[39].
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động; bằng công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra; bằng tổ chức của Đảng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị; Đảng giới thiệu những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực tham gia trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Với vai trò lãnh đạo của Đảng, trong mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với cấp ủy Đảng cùng cấp, Hội đồng nhân dân xã chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cùng cấp thể hiện qua thể chế hóa về mặt nhà nước từ Nghị quyết của cấp ủy bằng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; cấp ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội đồng nhân dân cùng phối hợp kiểm tra, giám sát Ủy ban nhân dân xã trong việc tổ chức triển khai thực hiện các Nghị quyết của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân. Đảng ủy xã lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ ở xã, trong đó có nhân sự Thường trực Hội đồng nhân dân xã, các Ban của Hội đồng nhân dân xã và đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Đối với nhân sự Thường trực Hội đồng nhân dân xã trình cấp thẩm quyền xem xét, quyết định trước khi Hội đồng nhân dân xã bầu. Trong công tác chuẩn bị nhân sự cho việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo trong việc lựa chọn và giới thiệu các ứng cử viên để bầu vào Hội đồng nhân dân theo quy chế về công tác cán bộ của Đảng, sự lãnh đạo đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Sự lãnh đạo của cấp ủy còn được thể hiện ở chủ trương, đường lối trong các Nghị quyết dài hạn và ngắn hạn. Căn cứ vào nội dung Nghị quyết của cấp ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân vận dụng và cụ thể hóa trong Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp; mọi hoạt động của Hội đồng nhân dân đều chấp hành sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo qui định của pháp luật.
1.3.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với Ủy ban nhân dân cùng cấp Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với Ủy ban nhân dân xã được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”[41]. Với địa vị pháp lý là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, Hội đồng nhân dân xã có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân xã. Đối với việc bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cụ thể tại Khoản 3 Điều 83 quy định: “HĐND bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân”; Khoản 4 Điều 83 quy định: “HĐND bầu Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân”; Khoản 7 Điều 83 quy định: “… kết quả bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn” [41]. Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân xã được quy định tại Khoản 3 Điều 84 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 như sau: “HĐND miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân; miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân”[41], kết quả miễn nhiệm, bãi nhiệm phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê chuẩn.
Trong hoạt động, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thường trực và các Ban của Hội đồng nhân dân xã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân xã, các bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã trong việc dự kiến nội dung, chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân xã; dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình Hội đồng nhân dân xã; giải quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, ngân sách xã; tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã trong thời gian giữa hai kỳ họp. Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân xã được mời dự các phiên họp của Ủy ban nhân dân xã. Đại diện Ủy ban nhân dân xã được mời dự các cuộc họp thường kỳ và các cuộc họp khác của Thường trực Hội đồng nhân dân xã khi xét thấy cần thiết. Thành viên Ủy ban nhân dân xã được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã; có trách nhiệm tham dự các phiên họp toàn thể của Hội đồng nhân dân khi thảo luận về những vấn đề có liên quan đến ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách; được phát biểu ý kiến về vấn đề thuộc ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách nếu được chủ tọa phiên họp đồng ý hoặc có trách nhiệm phát biểu ý kiến theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân hoặc chủ tọa phiên họp. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
HĐND xã có quyền giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân xã trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và tổ chức việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương. Ủy ban nhân dân xã và các đơn vị, bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm báo cáo và cung cấp các tài liệu liên quan khi có yêu cầu của Thường trực và các Ban của Hội đồng nhân dân xã. Hội đồng nhân dân xã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã; đại biểu Hội đồng nhân dân xã có quyền chất vấn Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã.
Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
UBND xã là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã, cơ quan hành chính nhà nước ở xã. Do đó, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã.
HĐND và Ủy ban nhân dân xã có chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mối quan hệ này tạo ra sức mạnh để thực hiện có hiệu quả quyền lực nhà nước ở địa phương.
1.3.3. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội cùng cấp
Trong hệ thống chính trị nước ta, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, được ghi nhận trong Hiến pháp. Điều 9 Hiến Pháp năm 2013 quy định:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[39].
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội được quy định tại Điều 116, Hiến pháp năm 2013:
HĐND, Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan[39].
Như vậy, theo quy định của pháp luật, mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên ở xã là quan hệ phối hợp. Mỗi năm hai lần vào giữa năm và cuối năm, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã thông báo bằng văn bản đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã và các tổ chức thành viên về tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình. Trong kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xã tham gia xây dựng chính quyền, về những ý kiến, kiến nghị đối với Hội đồng nhân dân và với đại biểu Hội đồng nhân dân xã.
Chính quyền địa phương tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương có trách nhiệm lắng nghe, giải quyết và trả lời các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận tạo điều kiện để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với Hội đồng nhân dân.
1.4. Tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
1.4.1. Quan niệm về chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
Để phân tích cụ thể các tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, trước hết ta cần phân tích, làm rõ các khái niệm “chất lượng”, “hiệu quả” hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “chất lượng” hiểu theo nghĩa chung nhất là: “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc”[36, tr.28]. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:
Chất lượng phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay dổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy luật ấy. Mọi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng[29, tr.526].
Như vậy, nói đến chất lượng của một sự việc là nói đến khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đó của sự việc đó. Muốn hoạt động có kết quả thì những cá nhân trong tập thể phải đảm bảo các điều kiện, yêu cầu của hoạt động. Chất lượng không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Chất lượng hoạt động của tổ chức là chất lượng của từng hoạt động trong tổ chức đó nhằm hướng tới kết quả chung của hoạt động. Hoạt động của sự việc do yếu tố con người tạo ra, do đó chất lượng của con người liên quan đến sự việc đó là yếu tố quan trọng tác động ảnh hưởng đến chất lượng chung của hoạt động đó. Chất lượng của con người vừa là cái “tự nhiên” có sẵn, vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người.
HĐND xã bao gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân xã do cử tri ở xã bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân xã thực hiện theo các phương thức: Kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, hoạt động các Ban của Hội đồng nhân dân xã, hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Để hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đạt chất lượng, đòi hỏi các hoạt động cấu thành hoạt động Hội đồng nhân dân xã phải đảm bảo chất lượng, hay nói cách khác là chất lượng từng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
Từ sự phân tích trên có thể nhận diện được các yếu tố cấu thành chất lượng hoạt động Hội đồng nhân dân xã là chất lượng kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, chất lượng hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân xã và chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Như vậy, chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là tập hợp chất lượng các yếu tố cấu thành hoạt động của Hội đồng nhân dân xã làm cho Hội đồng nhân dân xã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thuật ngữ “Hiệu quả” được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại”[49, tr.389]. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, hiệu quả là:
Kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian[30, tr.289].
Trong lĩnh vực xã hội, hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đã có và kết quả dự định sẽ có; giữa kết quả đạt được và mục đích. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả thường được đồng nhất với những kết quả đạt được về lợi nhuận, thương hiệu, mở rộng thị trường…nó thường được tính toán chi tiết, cụ thể thông qua việc trừ đi các chi phí về nguyên liệu, tài chính, lao động… Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hiệu quả là kết quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trên các mặt công tác có sự đối chiếu, so sánh với các khoản kinh phí bỏ ra để đạt được các kết quả. Hiệu quả của pháp luật là kết quả thực tế đạt được do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật mang lại trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiện ở trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật với mức chi phí thấp. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Các cách tiếp cận về hiệu quả thường lấy sự so sánh giữa “đầu vào” và “đầu ra” để đánh giá. Như vậy, hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả thu được sau khi chủ thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn với chi phí mà chủ thể bỏ ra để đạt được những kết quả đó trong những điều kiện cụ thể.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là hoạt động chính trị – xã hội, do đó việc xác định hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải dựa trên chỉ số đánh giá mang tính chất lượng tính (vừa định tính, vừa định lượng). Tính lưỡng tính ở đây thể hiện các yếu tố đầu tư chi phí bỏ ra và kết quả thu về. Trong hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, đầu tư, chi phí bỏ ra, yếu tố có thể định lượng bao gồm: cơ sở vật chất, kinh phí, chi phí tổ chức kỳ họp, chi phí việc xây dựng chương trình, báo cáo, nghị quyết, nội dung giám sát, tổ chức giám sát, số lượng thành viên tham gia…; yếu tố định tính như năng lực, trình độ, uy tín, kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân, của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của HĐND xã. Ở kết quả thu về có thể định lượng như số lượng các kỳ họp, các Nghị quyết, các đoàn giám sát; chất vấn, các cuộc tiếp xúc cử tri… hoặc kết quả thu về có thể xác định bởi yếu tố định tính như thông qua giám sát của Hội đồng nhân dân xã, các chủ thể bị giám sát nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình hoạt động theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật; củng cố niềm tin của cử tri đối với Hội đồng nhân dân. Như vậy, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là chỉ số so sánh giữa kết quả thu được trong thực tế so với chi phí bỏ ra. Mặt khác, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải được xác định trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã được biểu hiện ở khả năng tạo ra những chuyển biến tích cực về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân địa phương. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã sẽ không đạt hiệu quả nếu hoạt động đó không tạo ra được những chuyển biến tích cực về kinh tế – xã hội của địa phương, không phản ánh và giải quyết được những vấn đề bức xúc của địa phương hoặc chi phí dành cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã quá nhiều.
Qua phân tích như trên, có thể xác định: Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là kết quả thu được đảm bảo sự phù hợp giữa việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định so với những chi phí hợp lý về thời gian, trí lực, vật lực, nguồn lực lao động… phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra quan niệm về chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã như sau: Chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là tổng hòa chất lượng các yếu tố hoạt động cấu thành hoạt động của Hội đồng nhân dân xã nhằm đạt được những kết quả đảm bảo phù hợp giữa việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định so với chi phí hợp lý phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
1.4.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
- Việc đảm bảo dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu cao cả mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới, quyết tâm biến nó thành hiện thực[47]. Đại hội XII của Đảng xác định rõ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm dân chủ để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân”[5, tr. 38]. Thể chế hóa đường lối của Đảng, vấn đề dân chủ, thực hành và phát huy dân chủ được khẳng định trong Hiến pháp 2013:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện[39].
Như vậy, ở nước ta nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Hội đồng nhân dân xã là một bộ phận của bộ máy nhà nước, có vị trí, vai trò quan trọng, là nơi gần dân, sát dân, trực tiếp với nhân dân, để đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải đảm bảo tính dân chủ. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đạt được hiệu quả khi nó phản ánh được nguyện vọng của nhân dân địa phương, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Đảm bảo tính dân chủ sẽ đảm bảo quyền lực của nhân dân, quyền lực nhân dân sẽ được sử dụng đúng mục đích, không xảy ra tình trạng lạm quyền.
Đảm bảo dân chủ là nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng, nó thể hiện bản chất của chế độ chính trị. Điều 5, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Một trong những nguyên tắc hoạt động của chính quyền địa phương là nguyên tắc tập trung dân chủ, Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số”[41]. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải đảm bảo tính quyền lực và tính đại diện, do đó yếu tố đảm bảo dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải được thực hiện nghiêm túc tạo được sự đồng thuận xã hội – một trong những điều kiện quan trọng, căn bản để hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đạt chất lượng, hiệu quả trong thực tế.
- Kết quả đạt được về tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh ở xã
Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền năm 2015, Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định. Theo đó, Hội đồng nhân dân xã quyết định các vấn đề của xã theo quy định của pháp luật. Như vậy, kết quả đạt được về tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh ở xã là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là hoạt động mang tính chính trị – xã hội, kết quả của nó thường phải có thời gian nhất định 01 năm, 05 năm… hoặc lâu hơn nữa mới đem lại kết quả cụ thể, do đó việc đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động là rất khó khăn. Để đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, chúng ta phải so sánh tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của địa phương trước và sau hoạt động theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân xã hoặc sau khi có những chủ trương phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Nếu tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên địa bàn xã ổn định, phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì điều đó cho thấy hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đã mang lại hiệu quả. Ngược lại, nếu không có sự chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân vẫn còn khó khăn, an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã không ổn định tức là Hội đồng nhân dân xã hoạt động không có hiệu quả.
Tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã không chỉ là đánh giá sự phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của xã; chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã còn chịu sự tác động của các yếu tố khác. Vì vậy, khi đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã theo tiêu chí này cũng chỉ ở mức độ tương đối.
- Kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra
Nếu theo cách tiếp cận này thì hiệu quả chính là tỷ lệ giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra (trong đó: chi phí bỏ ra ít hơn, kết quả đạt được cao hơn). Kết quả hoạt động mang lại là kết quả về kinh tế – xã hội đạt được, còn chi phí cần thiết bỏ ra là những hao tổn cần thiết để đạt được kết quả, bao gồm: vật chất, tinh thần, nguồn nhân lực… Tất cả chi phí cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã cần ở mức thấp nhưng phải đủ đảm bảo cho các chủ thể hoạt động tốt, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn luật định để đạt được những kết quả ở mức cao nhất.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã chủ yếu mang tính chính trị – xã hội nên việc tính kết quả thu về so với chi phí bỏ ra là điều rất khó. Bởi yếu tố vừa định lượng, vừa định tính không chỉ thể hiện ở kết quả thu về mà ngay cả trong đầu tư, chi phí bỏ ra. Vì vậy, khi căn cứ vào tiêu chí này để đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã thì cũng chỉ tính toán ở mức độ tương đối. Có những hoạt động nếu tính dưới góc độ kinh tế thì không mang lại lợi ích thiết thực nhưng dưới góc độ xã hội lại mang lại hiệu quả rất lớn. Chẳng hạn trong một số lĩnh vực nếu Hội đồng nhân dân xã giám sát đến cùng và triệt để không những góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề xã hội. Do đó, khi căn cứ vào yếu tố chi phí, kết quả để xem xét hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải kết hợp xem xét cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị – xã hội. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Tùy vào từng địa phương có những điều kiện, hoàn cảnh thực tế khác nhau nên khi đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bên cạnh những yếu tố bên trong thì cần quan tâm đến các nhân tố bên ngoài có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, có như vậy mới đảm bảo được tính khách quan và thực tế khi đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
1.4.3. Điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
- Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng
Trong suốt chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng, giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Đối với Hội đồng nhân dân các cấp, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua đường lối, chủ trương, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát trong việc xây dựng hệ thống chính quyền nhà nước ở địa phương; thông qua sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng đối với việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân. Như vậy, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã không chỉ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung mà còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy xã.
Căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp ủy Đảng ở địa phương lãnh đạo Hội đồng nhân dân thông qua việc đề ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh ở địa phương, làm căn cứ cho Hội đồng nhân dân cụ thể hóa bằng Nghị quyết; thông qua lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổ chức cán bộ của Hội đồng nhân dân; thông qua các đảng viên là đại biểu Hội đồng nhân dân. Đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, sự lãnh đạo của Đảng ủy xã chính là yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải căn cứ vào lãnh đạo của cấp ủy, từ việc xây dựng chương trình, nội dung kỳ họp, đến việc tổ chức kỳ họp… Trong quá trình hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, những vấn đề nổi cộm, liên quan đến cơ chế, chính sách, đến cán bộ lãnh đạo đều được tổng hợp, báo cáo tranh thủ ý kiến của cấp ủy để có phương án giải quyết đúng đắn.
Để Hội đồng nhân dân xã thực hiện tốt hoạt động của mình thì cần phải có sự lãnh đạo của Đảng ủy cơ sở. Các cấp ủy Đảng chỉ nên thực hiện lãnh đạo Hội đồng nhân dân dựa trên những chủ trương, định hướng và kiểm tra việc thực hiện những chủ trương, cấp ủy Đảng không được bao biện, làm thay để Hội đồng nhân dân xã phát huy được vai trò trong hoạt động của mình tại địa phương, thực hiện có hiệu quả chức năng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Có cơ sở pháp lý đầy đủ về hoạt động của Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Chức năng của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng được ghi nhận trong Hiến pháp, đó là chức năng quyết định và chức năng giám sát. Nếu không thể chế hóa các quy định này bằng các quy định của luật, không quy định đầy đủ về nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức tổ chức, hoạt động… để thực hiện các chức năng đó trong hoạt động của Hội đồng nhân dân thì việc ghi nhận các chức năng đó trong Hiến pháp chỉ là hình thức. Như vậy, các quy định của pháp luật về hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung, Hội đồng nhân dân xã nói riêng có vai trò tạo cơ sở pháp lý để Hội đồng nhân dân hoạt động thực hiện chức năng quyết định và giám sát của mình trong thực tiễn.
Điều đó đã được minh chứng trong thực tiễn phát triển của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Trước đây, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã là chung, không có sự phân biệt giữa Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn nên rất khó thực hiện, nhưng khi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định đã có sự phân biệt giữa quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn với Hội đồng nhân dân phường; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn. Với việc quy định như vậy tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Năm 2015, Quốc hội ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã đạt hiệu quả hơn trong thời gian đến, tuy nhiên để thực hiện có hiệu quả các quy định của các điều luật thì các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành những văn bản cụ thể thực hiện các điều luật của Luật này.
Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã thì trước hết phải ban hành đầy đủ các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã như các quy định cụ thể về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Các quy định đó phải đảm bảo tính đồng bộ, phải cụ thể, rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, dễ áp dụng, không phải chờ các văn bản pháp lý có hiệu lực thấp hơn hướng dẫn, giải thích. Có như vậy, Hội đồng nhân dân xã mới có cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
- Chất lượng của đại biểu Hội đồng nhân dân xã Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
HĐND xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở xã bầu ra, do đó chất lượng của đại biểu Hội đồng nhân dân xã là điều kiện rất quan trọng để bảo đảm cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã có chất lượng, hiệu quả. Điều 115 Hiến pháp 2013 quy định rõ địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân: “Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương”[39]. Đại biểu Hội đồng nhân dân là cầu nối quan trọng giữa Nhà nước với nhân dân, vừa chịu trách nhiệm trước cử tri, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Chính vì vậy, đòi hỏi người đại biểu Hội đồng nhân dân xã phải là những người có phẩm chất, năng lực, trình độ, kỹ năng hoạt động và tinh thần trách nhiệm cao; phải đảm bảo các tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, để đại biểu Hội đồng nhân dân xã thực sự xứng đáng là người đại biểu nhân dân đòi hỏi mỗi đại biểu phải không ngừng tự giác rèn luyện trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng giám sát, kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ năng tổng hợp, phân tích… phát huy tinh thần trách nhiệm được pháp luật quy định và nhân dân trực tiếp giao cho. Điều này yêu cầu đặt ra trong thời gian đến cần quan tâm thực hiện việc bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm cho đại biểu Hội đồng nhân dân trong thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của mình.
- Về tổ chức bộ máy của Hội đồng nhân dân xã
Bất kỳ cơ quan, tổ chức nào muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thì cần phải tổ chức bộ máy một cách hợp lý và đồng bộ. Hội đồng nhân dân xã muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đòi hỏi phải có một bộ máy đủ khả năng thực hiện một cách tốt nhất chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
Tổ chức bộ máy của Hội đồng nhân dân xã gồm Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân. Điều 32 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
HĐND xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm[41].
Theo đó, Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân và một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã hoạt động chuyên trách; ngoài ra, Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội, thành viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
Như vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, một trong những yếu tố cần quan tâm hoàn thiện là tổ chức bộ máy. Hiện nay theo quy định của pháp luật, Thường trực Hội đồng nhân dân xã có hai thành viên nhưng chỉ có Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách, đại đa số Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm do Bí thư Đảng ủy xã kiêm nhiệm; đối với các Ban của Hội đồng nhân dân xã thì Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên đều hoạt động kiêm nhiệm. Với cơ cấu tổ chức bộ máy như vậy đòi hỏi phải nâng cao năng lực hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, nâng cao hiệu quả hoạt động các Ban của Hội đồng nhân dân xã, yêu cầu đặt ra phải có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân xã, tạo cơ sở pháp lý để các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ quyền hạn của mình; quy định cụ thể về trách nhiệm, nhiệm vụ từng thành viên của các Ban, quy định về thời gian hoạt động của các thành viên của các Ban vì các thành viên này hoạt động kiêm nhiệm.
- Các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
Đảm bảo điều kiện vật chất cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã là một trong những điều kiện góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân xã cần phải có phòng làm việc riêng, bố trí sắp xếp hợp lý nơi làm việc và nơi tiếp cử tri, bố trí không gian hợp lý để cử tri có điều kiện trực tiếp bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình đối với Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, cần phải đầu tư nhiều hơn nữa các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách phải đảm bảo phương tiện thông tin liên lạc, tài liệu, phòng làm việc hợp lý, tương xứng với trách nhiệm của đại biểu. Đối với các chức danh kiêm nhiệm của Hội đồng nhân dân nên có chế độ thỏa đáng để động viên, khuyến khích họ nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
Tăng cường đầu tư chi phí theo yêu cầu của từng nội dung hoạt động. Nếu có đầu tư thỏa đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. Tuy nhiên đầu tư chi phí cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã phải tối ưu, đảm bảo đủ mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015,
các điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động của Hội đồng nhân dân được quan tâm hơn. Điều 103 quy định đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách được bố trí nơi làm việc, được trả lương, phụ cấp và hưởng các chế độ hỗ trợ cho hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân; đại biểu Hội đồng nhân dân được cấp phí hoạt động hằng tháng và được hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động của đại biểu. Điều 103 cũng quy định Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể chế độ, chính sách và điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân. Về trụ sở làm việc, kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 126 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân có tính đặc thù, các khoản chi phục vụ tập trung vào một số nội dung chủ yếu, như: Phục vụ các kỳ họp; phụ cấp phí hoạt động hằng tháng cho đại biểu; hỗ trợ công tác tổ chức và phục vụ hoạt động tiếp xúc cử tri; kinh phí cho công tác tiếp dân, xử lý đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; kinh phí và xăng xe phục vụ hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân và một số hoạt động liên quan khác. Nội dung chi, định mức chi của Hội đồng nhân dân mỗi nơi còn có điểm khác nhau, phụ thuộc nhiều vào khả năng bố trí ngân sách của mỗi địa phương. Nhìn chung, kinh phí cho hoạt động của Hội đồng nhân dân còn khó khăn, đặc biệt là các địa phương có nguồn thu thấp.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đòi hỏi phải đầu tư, chi phí thỏa đáng cho hoạt động này. Đảm bảo các điều kiện cần thiết, chế độ chính sách hợp lý là một trong những yếu tố quan trọng đem lại chất lượng, hiệu quả cho hoạt động của Hội đồng nhân dân xã.
- Kết luận chương 1
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân trong xã và cơ quan nhà nước cấp trên; Hội đồng nhân dân xã thực hiện hai chức năng cơ bản là quyết định và giám sát. Trong xu hướng hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là rất cần thiết. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã nói chung và Hội đồng nhân dân xã nói riêng là tất yếu khách quan; để hoạt động của Hội đồng nhân dân xã đạt chất lượng, hiệu quả đòi hỏi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện và thực hiện tốt tất cả các nội dung trên. Luận văn: Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
