Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Bộ luật dân sự năm 2005 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Bộ luật Dân sự năm 2005 điều chỉnh các quan hệ tài sản của các cá nhân và tổ chức trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, để tạo thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện trong lĩnh vực dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho các giao lưu dân sự được ổn định, góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong Bộ luật Dân sự, thừa kế là một trong những chế định pháp luật có vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế của họ theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Thừa kế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường, khi tài sản của người dân tăng lên đáng kể về cả số lượng và chất lượng và cùng với nhu cầu để lại tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, tài sản của cha mẹ để lại cho con cái, ông bà để lại cho cháu… cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong việc dịch chuyển tài sản này cần có các qui phạm pháp luật tương ứng và phù hợp để điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của người để lại di sản cũng như người thừa kế trong quan hệ này.

Chế định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 hiện nay được qui định khá đầy đủ nhưng khi áp dụng qui định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về thừa kế thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp đó còn gặp nhiều vướng mắc bởi đa số các vụ việc về thừa kế đều có những tình tiết tương đối phức tạp, trong khi đó qui định của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ trên chưa thật sự đầy đủ và mang tính cụ thể nên quá trình áp dụng pháp luật về thừa kế để giải quyết các tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn Trên thực tế có nhiều vụ việc về thừa kế đã được giải quyết nhưng giải quyết không triệt để và không giải quyết dứt điểm được những mâu thuẫn về lợi ích của nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện đó, ngoài ra khi giải quyết những vụ án tranh chấp về thừa kế một số quyết định của cơ quan có thẩm quyền lại gây hoang mang cho người dân bởi cùng một vụ việc nhưng mỗi một cấp xét xử lại đưa ra những phán quyết khác nhau, điều này không những gây phiền hà, tốn kém cho người dân cũng như khó khăn gặp phải trong giai đoạn thi hành án mà còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, sự nghi ngờ của người dân về năng lực xét xử cũng như sự công tâm của thẩm phán trong quá trình xét xử đối với những tranh chấp về thừa kế… Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Những tranh chấp về thừa kế hiện nay, phần lớn đều liên quan đến việc xác định người thừa kế theo luật, người không được quyền hưởng di sản, người được hưởng thừa kế thế vị… Tuy nhiên những qui định của pháp luật về những trường hợp trên lại chưa đầy đủ, hoặc có qui định nhưng chưa rõ ràng và không có văn bản hướng dẫn áp dụng, dẫn tới phán quyết của Tòa án trong nhiều vụ việc còn gây tranh cãi điều này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ thừa kế đôi khi còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong lĩnh vực thừa kế. Với tầm quan trọng của chế định về thừa kế cùng với những vấn đề phức tạp liên quan đến thừa kế nảy sinh ngày càng nhiều, đòi hỏi các qui định của pháp luật liên quan đến vấn đề thừa kế phải không ngừng được hoàn thiện và mở rộng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như là cơ sở để giải quyết các các tranh chấp về thừa kế trên thực tế ngày càng có hiệu quả hơn.

Nhu cầu về việc sửa đổi, hoàn thiện các qui định của pháp luật về thừa kế cũng như việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án đối với các tranh chấp về thừa kế là một nhu cầu chính đáng. Để có thể đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của cá nhân có tài sản trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho những người thừa kế, trong chế định về thừa kế bên cạnh những qui định của pháp luật cho phép công dân có quyền được hưởng di sản từ người để lại di sản và quyền để lại tài sản của mình cho những người thừa kế, thì Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 về người không có quyền hưởng di sản là một chế tài áp dụng đối với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của người để lại di sản và của những người thừa kế khác. Trong điều luật trên, ngoài việc thể hiện sự lên án, cái nhìn nghiêm khắc của nhà nước và xã hội đối với người thừa kế không có quyền được hưởng di sản, điều luật còn thể hiện tính nhân văn tính giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của công dân. Đi sâu vào phân tích nội dung của điều luật còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận, chính vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài “Các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Bộ luật dân sự năm 2005” với mong muốn đóng góp một phần nào đó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự nói chung và chế định về thừa kế nói riêng trong đó có nội dung về người thừa kế không có quyền hưởng di sản.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Thừa kế là một phần nội dung rất quan trọng của Bộ luật Dân sự năm 2005, cho nên các đề tài nghiên cứu về thừa kế khá nhiều và được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ… như “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay” của Phùng Trung Tập, “Di sản thù a kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” của Trần Thị Huệ, “Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Điện… Ngoài ra, đề tài về thừa kế này còn được nghiên cứu và đăng trên các báo, tạp chí như Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Đặc san khoa học pháp lý với những nội dung rất phong phú. Về qui định của pháp luật liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản trong một số đề tài nghiên cứu, bài viết có đề cập đến nội dung trên nhưng chủ yếu được nghiên cứu trên phạm vi rộng, chưa đi sâu phân tích và làm rõ những nội dung qui định tại điều luật. Với đề tài “Các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Bộ luật dân sự năm 2005”, tác giả chỉ đi sâu phân tích, làm sáng tỏ bản chất và các qui định của pháp luật về vấn đề trên với mục đích làm rõ và đưa ra hướng hoàn thiện qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.

3. Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở của phương pháp nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận là dựa trên học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, chứng minh để nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện và khoa học.

4. Những kết quả mới của luận văn Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Đề tài liên quan đến lĩnh vực thừa kế từ trước đến nay đã có nhiều công trình mang tích chất toàn diện. Do vậy việc nghiên cứu vấn đề về thừa kế trong phạm vi hẹp sẽ có giá trị trong việc nhìn nhận và đề xuất những vướng mắc mà pháp luật về thừa kế còn bỏ ngỏ hoặc đã có qui định nhưng không phù hợp với tình hình thực tế, với phạm vi một đề tài tốt nghiệp, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sâu vào người thừa kế không có quyền hưởng di sản sự khác nhau giữa người được hưởng với người không được hưởng di sản để di đến cách hiểu cụ thể về những người không có quyền hưởng di sản và phân biệt với các trường hợp không được hưởng di sản khác. Từ việc phân tích điều luật nêu lên những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đưa ra một vài ý kiến đóng góp hoàn thiện đối với qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề chung về người thừa kế và người không được quyền hưởng di sản.
  • Chương 2: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
  • Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật và hướng hoàn thiện những qui định về người không có quyền hưởng di sản.

Chương 1 Những vấn đề chung về người thừa kế và người không được quyền hưởng di sản

1.1 KHÁI NIỆM THỪA KẾ VÀ QUYỂN THỪA KẾ

1.1.1. Khái niệm thừa kế

Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Ngay từ thời sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở hữu do đó thừa kế đã có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ này. Trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ mẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ Ph.Ăngghen viết:

Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và trật tự thừa kế lúc ban đầu trong thị tộc, thì chỉ những người cùng họ hàng trong thị tộc đã chết. tài sản phải để lại trong nội bộ thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị gì cho lắm nên trong thực tiễn có lẽ là từ xưa người ta vẫn trao tài sản cho những người bà con thân thuộc nhất về phía người mẹ … Lúc đầu chúng thừa kế người mẹ cùng với những người cùng huyết tộc với mẹ chúng, về sau có thể chúng là người đầu tiên kế thừa mẹ chúng [1, tr. 86-87]. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Như vậy vào thời kỳ nguyên thủy, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của thị tộc. Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết đi thì di sản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc và tài sản của thị tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đây chính là hình thức thừa kế đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc sống chung cho thị tộc.

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã làm thay đổi địa vị của người phụ nữ. Sự ra đời của nhiều ngành nghề mới như nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt đòi hỏi sức khỏe và trí tuệ của người đàn ông, sản phẩm lao động mà người đàn ông làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà còn tạo ra nhiều của cải dư thừa. Địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc bộ lạc dần dần được thiết lập. Đặc biệt khi nhà nước ra đời và qui định chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã làm cho con cái biết rõ cha mẹ mình. Từ đỏ trong quan hệ gia đình xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đình phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ đã dần mờ nhạt thay bằng chế độ phụ hệ với vai trò gia trưởng đặc trưng của người đàn ông. Các con trong gia đình có huyết thống với người cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha “thế là huyết thống theo họ mẹ và quyền thừa kế theo mẹ đã bị xóa bỏ, huyết tộc theo họ cha và thừa kế cha được xác lập”. Như vậy qua mỗi một thời kỳ, qua mỗi một giai đoạn phát triển của xã hội loài người tương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình thì việc điều chỉnh quan hệ sở hữu có thay đổi dẫn theo sự thay đổi của các quan hệ thừa kế đó là do các nguyên nhân về kinh tế, về quan hệ huyết thống, và về quan hệ hôn nhân trong xã hội quyết định. Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan. Thừa kế xuất hiện nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để xuất hiện quan hệ sở hữu thì thừa kế là phương tiện duy trì củng cố quan hệ sở hữu. Khi xã hội phân chia thành giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành, giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất và truyền lại cho con cháu nên địa vị thống trị được củng cố từ đời này sang đời khác. Việc thừa kế tài sản là sự chuyển dịch công cụ, phương tiện bóc lột của giai cấp thống trị cho con cháu nhằm tiếp tục xác lập quyền lực về chính trị, kinh tế đối với những người lao động.

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người quan hệ thừa kế có tính kế thừa các giá trị vật chất và tinh thần của gia đình và dòng tộc. những thành quả lao động của gia đình như nhà ở và những của cải để dành khác, đây là những thành quả lao động mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau bởi nhà ở và các tài sản khác không những là tài sản có giá trị lớn mà nó còn thể hiện giá trị văn hoá đã tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử.

Ở Việt Nam, việc thừa kế di sản đã hình thành theo tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, thậm chí việc chia di sản thừa kế còn theo truyền thống của dòng tộc. Con cháu trong gia đình được hưởng di sản từ ông bà, cha mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng tổ tiên nhắc nhở con cháu nhớ công ơn của người đã chết. Đây là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam được lưu truyền đến ngày hôm nay và được kế thừa cho đến mai sau. Với quan điểm cho rằng những quan hệ hôn nhân và gia đình sinh ra con người, gia đình và xã hội và từ đó trở thành nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng khác trong tự nhiên và trong xã hội. Ở Việt Nam, dân tộc Chăm có những nét văn hóa, phong tục rất điển hình về quan hệ gia đình. Xã hội của người Chăm ở Ninh Thuận là xã hội tổ chức theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của người phụ nữ trong xã hội được đề cao. Họ quan niệm rằng: Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

“Likei dơng di mưthut, kamei dơng di mưnưk” có nghĩa là “Phận của đàn ông là chiến đấu, phận của đàn bà là sinh nở” tức là phụ nữ phải cai quản gia đình, đàn ông toàn quyền cai quản xã hội. Chính quan niệm như thế nên chế độ mẫu hệ đã tồn tại cùng lịch sử xã hội Chăm. Và từ đó mà trong hệ thống luật tục của người Chăm ở Ninh Thuận qui định về thừa kế rất đơn giản. Người con gái út được hưởng toàn bộ hay hầu hết của cải của gia đình như quần áo cúng tế, nồi đồng, mâm đồng, chén bát… để thờ cúng tổ tiên.

Đối với các loại tài sản khác như nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò… khi cha mẹ còn sống thì có thể trích cho con gái lớn một phần tài sản khi họ lập gia đình ở riêng, trích một phần cho con trai làm của hồi môn khi được vợ cưới, còn khi cha mẹ chết thì phần lớn tài sản do con gái út thừa kế, phần nhỏ chia cho chị gái. Luật tục cũng không qui định cụ thể là chia bao nhiêu tất cả do em gái út quyết định Các anh, em trai không được quyền hưởng tài sản thừa kế của cha mẹ dù anh ta có công đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình khi cha mẹ còn sống. Có thể đưa ra một số nguyên nhân lý giải về vấn đề này, trong gia đình người Chăm con gái lớn khi lập gia đình thường tách ra ở riêng, con trai thì về nhà vợ nên ở lại với cha mẹ phần lớn lúc cao tuổi chỉ cỏn con gái út. Con gái út vì thế có công trong việc giữ gìn và phát triển khối tài sản của gia đình và cũng chính người con gái út là người có trách nhiệm cúng tế trong gia đình và phải chăng vì lẽ đó tài sản của cha mẹ thuộc về con gái út. “Thừa kế” theo Từ điển Tiếng Việt là “hưởng của người đã chết để lại cho” [37, tr. 938] hưởng ở đây chính là sự dịch chuyển quyền sở hữu những tài sản cũng chính là những của cải mà người chết để lại cho người còn sống. Nội dung của sự dịch chuyển này có thể theo phong tục tập quán hoặc theo qui định của pháp luật phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể.

Như vậy thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc. Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển những giá trị vật chất, tinh thần và những truyền thống, tập quán do thế hệ trước để lại.

1.1.2. Quyền thừa kế Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì quyền thừa kế chỉ có thể sinh ra và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp, trong xã hội đã có nhà nước và pháp luật. Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật nhà nước qui định quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, qui định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như qui định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người còn sống khác Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong qui định về quyền thừa kế. Thậm chí ngay trong một chế độ xã hội nhưng ở từng giai đoạn khác nhau sẽ có sự khác nhau trong qui định về quyền thừa kế. Điều đó có nghĩa là chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của một nhà nước và đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định. Vì vậy trong mỗi chế độ xã hội, chê độ thừa kế thường tồn tại tương ứng và có liên quan mật thiết, song song tồn tại với chế độ sở hữu. Từ việc pháp luật qui định chế độ sở hữu cùng với các quyền năng đối với tài sản của cá nhân thì theo đó pháp luật qui định cho họ những quyền năng trong lĩnh vực thừa kế. Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế. Vì vậy quyền thừa kế luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc là phương tiện để duy trì, củng cố quyền sở hữu trong mỗi chế độ xã hội khác nhau.

  • Căn cứ vào các qui định của pháp luật về thừa kế, có thể hiểu quyền thừa kế theo hai nghĩa sau:

Theo nghĩa khách quan: Theo qui định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [27]. Như vậy có thể khái quát quyền thừa kế là tổng hợp các qui định của pháp luật qui định những trình tự để lại di sản, nhận thừa kế và quyền khởi kiện dân sự yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền của người để lại di sản và quyền của người hưởng thừa kế di sản.

Theo nghĩa chủ quan: Quyền thừa kế được hiểu là quyền của mỗi cá nhân trong việc để lại di sản của mình cho những người thừa kế, quyền nhận di sản thừa kế do người khác để lại và quyền khởi kiện để yêu cầu bảo vệ quyền thừa kế của mình theo thời hiệu pháp luật qui định.

Như vậy, quyền thừa kế là quyền tự quyết của người nhận di sản. Quyền thừa kế chỉ có thể được thực hiện khi người có di sản chết, những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của người để lại di sản thể hiện ý chí nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế của người để lại di sản.

1.2 KHÁI NIỆM NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

1.2.1. Khái niệm người thừa kế

Người thừa kế là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật mà người chết để lại. Có hai loại người thừa kế đó là người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật. Trong đó người được thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người để lại di sản nên họ có thể là cá nhân bất kỳ miễn là người để lại di sản thể hiện ý chí của mình thông qua việc lập di chúc để lại tài sản cho họ, ngoài ra người được hưởng thừa kế theo di chúc có thể là cơ quan, tổ chức hoặc chủ thể khác. Người được hưởng thừa kế theo qui định của pháp luật bao giờ cũng là cá nhân những người được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản.

  • Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định:

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức phải còn tồn tại cho đến thời điểm di chúc được mở [27].

  • Theo qui định của điều luật trên, cá nhân chỉ được coi là người thừa kế khi cá nhân đó:

Thứ nhất: Phải là người còn sống cho đến thời điểm mở thừa kế thì mới có quyền hưởng di sản. Với đặc tầng cơ bản của thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa người còn sống với người đã chết nên người tiếp nhận di sản phải là người còn sống. Sẽ không có ý nghĩa nếu tài sản được dịch chuyển từ một người chết này sang một người chết khác, việc xác định một người còn sống vào thời điểm mở thừa kế phải được xét trong một diện rộng, bởi vẫn có những trường hợp một người đã chết trên thực tế nhưng vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Chẳng hạn như một người vẫn còn sống vào thời điểm mở thừa kế những cho đến thời điểm phân chia di sản thì họ đã chết thì họ vẫn có quyền được hưởng di sản. Tuy nhiên phần di sản mà họ được hưởng sẽ được coi là di sản mà họ để lại và sẽ được chia cho những người thừa kế của họ.

Thứ hai: Phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế.

Khoản 1 Điều 635 Bộ luật Dân sự qui định quyền thừa kế của thai nhi đó là phải thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau khi được sinh ra. Một người chưa được sinh ra thì chưa trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, nhưng pháp luật dân sự đã qui định bảo lưu quyền thừa kế của thai nhi với điều kiện người đó đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Qui định này nhằm để bảo vệ quyền của người thừa kế, đặc biệt là quyền của người con đã thành thai khi người cha còn sống và được sinh ra sau khi người cha đã chết. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Với qui định người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, để xác định tình trạng “còn sống” hay “đã chết” đối với một đứa trẻ có thể xác định vân đề này theo qui định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch để xác định tình trạng còn sống hay đã chết đối với một đứa trẻ sinh ra rồi mới chết:

Tại Điều 20 qui định khai sinh cho trẻ em sinh ra rồi mới chết. “Trẻ em sinh ra và còn sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì cũng phải đăng ký khai sinh theo qui định của Nghị định này, nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ thì không phải đăng ký khai sinh” [11].

Điều 29 qui định đăng ký khai tử cho trẻ em sinh ra rồi mới chết: “Trẻ em sinh ra mà sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa phải đăng ký khai sinh, vừa phải đăng ký khai tử nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải đăng ký khai tử” [11].

Với những qui định trên thì một đứa trẻ sinh ra và còn sống sau từ 24 giờ trở lên thì sẽ được hưởng di sản mà người chết để lại. Trường hợp sinh ra nhưng bị chết ngay hoặc chết trước 24 giờ thì đứa trẻ đó không được nhận di sản mà người chết để lại. Theo qui định trong luật La Mã cổ đại, người thừa kế phải là những người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, nếu người thừa kế là thai nhi thì phải được sinh ra sau khi người để lại di sản chết 300 ngày (10 tháng). Luật XII bảng qui định: “Tôi được biết rằng khi người đàn bà sinh đẻ vào tháng thứ 1 1 sau khi chồng chết thì có việc dường như người đàn bà có thai sau khi chồng chết, bởi ủy ban mười người đã ghi rằng con người sinh ra vào tháng thứ mười chứ không phải vào tháng thứ mười một (bảng IV)”. Về cơ bản căn cứ xác định người thừa kế trong luật La Mã cổ và qui định của Bộ luật Dân sự năm 2005, là người thừa kế phải là người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế và với thai nhi tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu trong khoảng thời gian này mà thai nhi được sinh ra thì mặc nhiên được coi là đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và người được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật.

Với người thừa kế theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật là cá nhân thì không phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự họ đều có quyền nhận di sản và phải thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản được nhận. Đối với trường hợp người thừa kế là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của họ trong phạm vi di sản được nhận, tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ của họ do những người giám hộ thực hiện. Ngoài ra người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản hoặc chuyển quyền nhận di sản của mình cho những người thừa kế khác, từ chối nhận di sản là hành vi pháp lý của người thừa kế khước từ hưởng di sản theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Hậu quả của việc từ chối nhận di sản là phần di sản bị người thừa kế từ chối được chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác. Những người được hưởng phần di sản này có nghĩa vụ tương ứng trong phạm vi di sản mà họ được hưởng.

Nếu người thừa kế là cá nhân có quyền được hưởng di sản của người đã chết theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật, thì với người thừa kế là tổ chức chỉ được hưởng di sản của người chết theo di chức. Tổ chức bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp… Theo qui định của pháp luật, tổ chức được chỉ định thừa kế trong di chúc chỉ được nhận di sản thừa kế nếu tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì được hưởng di sản. Mặc dù khi chia thừa kế tổ chức không còn tồn tại thì di sản vẫn thuộc về tổ chức vì vậy di sản phải được chia cho các thành viên của tổ chức. Tuy nhiên, theo qui định của pháp luật về thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực của tổ chức thì sau khi giải thể, năng lực chủ thể của tổ chức chấm dứt cho nên di sản không thể chia đều cho các thành viên, bởi các thành viên không có tư cách chủ thể do đó tài sản không có chủ sở hữu sẽ thuộc nhà nước theo qui định tại Điều 644 Bộ luật dân sự.

1.2.1.1 Người thừa kế theo di chúc Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Người thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của của người có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơn rất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thê là cá nhân bất kỳ, nếu được chỉ định trong di chúc mà không cần xét đến những quan hệ khác của họ đối với người để lại di sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, pháp luật không qui định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc mà việc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ để lại cho những người thừa kế. Phần di sản mà mỗi một người thừa kế được hưởng theo di chúc được hưởng có thể bằng nhau, nhiều hơn hoặc ít hơn nhau, điều này tùy thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc định đoạt Người được chỉ định thừa kế theo di chúc có thể là người được hưởng toàn bộ khối di sản của người chết để lại nếu không có sự hạn chế liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc qui định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 bao gồm cha mẹ, vợ chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người để lại di sản. Đây là những người thừa kế không thể bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ cho họ hưởng phần di sản ít hơn 2/3 của một suất theo luật, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản tại Điều 642 hoặc họ là người không có quyền hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì những người đó vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản của người chết được chia theo qui định của pháp luật.

1.2.1.2 Người thừa kế theo qui định của pháp luật

Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ ai là người thuộc diện hay không không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản kể cả cơ quan tổ chức được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định.

Thì người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo luật được quyền hưởng di sản một cách bình đẳng, ngang nhau giữa những người thừa kế cùng hàng. Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định người thừa kế theo luật được qui định theo thứ tự sau:

  • Hàng thừa kế thừa nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Nguyên tắc khi chia tài sản theo luật đó là, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, những người thừa kế ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

1.2.2. Người thừa kế có quyền hưởng di sản và người thừa kế không có quyền hưởng di sản Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

1.2.2.1 Người thừa kế có quyền hưởng di sản

Những người có quyền hưởng di sản của nhau là những người có mối liên hệ với nhau về việc hưởng di sản của nhau. Vì thế, quyền hưởng di sản của những người này có thể được xác định theo hai căn cứ sau:

Theo qui định của pháp luật: Những người có quyền hưởng di sản của nhau là những người mà giữa họ có mối liên hệ với nhau về việc hưởng di sản của nhau trong những trường hợp được pháp luật xác định, giữa họ có một trong ba mối quan hệ với nhau về hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Bao gồm cha mẹ với các con; vợ với chồng; ông bà với các cháu, chất; các anh, chị, em ruột với nhau; cô ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, dì ruột với các cháu của họ (quyền hưởng di sản theo qui định của pháp luật).

Theo ý chí của các chủ thể: Người có di sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình để lại cho người thừa kế, và nếu di chúc hợp pháp thì người được chỉ định thừa kế theo di chúc có quyền hưởng phần di sản đã được định đoạt cho họ trong bản di chúc đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống với người lập di chúc. Quyền của người lập di chúc bị hạn chế trong trường hợp nếu họ không cho những người thân thích như cha mẹ, vợ chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của họ được hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 một suất thừa kế theo luật thì theo qui định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo qui định tại điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 của bộ luật này [27].

  • Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
  • Con đã thành niên mà không có khả năng lao động

Như vậy, quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của những người thừa kế trong trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán cũng như phù hợp với các qui tắc đạo đức trong đời sống của người Việt Nam, bởi người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản và con dưới 18 tuổi của những người đó, bao gồm con đẻ, con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú. Ngoài ra người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có khả năng để tự nuôi sống bản thân là những người có quan hệ thân thích gần gũi nhất đối với người để lại di sản.

  • Theo qui định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005: Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chặt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chặt được hưởng nếu còn sống [27].

Trong trường hợp thừa kế theo qui định của pháp luật, thì những người ở hàng thừa kế sau không có quyền được hưởng di sản nếu vẫn có người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất theo luật, nhưng vẫn có ngoại lệ đó là khi họ được thừa kế thể vị và việc họ được hưởng di sản về bản chất không phải với tư cách của người hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai theo luật của ông bà, cha mẹ. Dựa trên cơ sở của pháp luật tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005, theo đó cháu của người để lại di sản chỉ được thừa kế thế vị phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống. Cha mẹ của cháu nếu còn sống thì được hưởng di sản của ông bà và khi ông bà chết là căn cứ cho các cháu được thừa kế thế vị, nhưng nếu cha hoặc mẹ của cháu khi còn sống không có quyền thừa kế thì mặc dù họ có chết trước người để lại di sản thì con cháu của họ cũng không được thừa kế thế vị. Như vậy, việc thừa kế thế vị của con, cháu phải dựa trên quyền được nhận di sản hay không được nhận di sản của ông bà nội, ngoại khi cha hoặc mẹ cháu còn sống. Nếu cha hoặc mẹ cháu khi còn sống cũng không có quyền hưởng theo pháp luật di sản của ông bà, thì cho dù cha mẹ của cháu có chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông bà thì cháu cũng không được hưởng thừa kế thế vị từ ông, bà.

Giữa con riêng của vợ, của chồng với cha dượng, mẹ kế liệu có phát sinh việc thừa kế thế vị không? Theo qui định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Con riêng với bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo qui định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” [27]. Con riêng của vợ hay chồng người chết không được nhận di sản thừa kế của người chết theo luật bởi giữa họ không có quan hệ huyết thống và không có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con nhưng nếu họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con và yêu thương, có trách nhiệm với nhau như ruột thịt thì họ có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của nhau. Đây cũng là căn cứ để xác định quyền nhận thừa kế thế vị cho những người con của con riêng của nhưng người để lại di sản là cha kế, mẹ kế chết sau những người đó. Dựa trên qui định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng những người thừa kế đó không được quyền hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thì tài sản thuộc về Nhà nước” [27]. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Đối với trường hợp di sản không có người thừa kế, Điều 768 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp qui định khi mở thừa kế mà không có người thừa kế thì di sản thuộc về Nhà nước, cơ quan quản lý công sản phải yêu cầu Tòa án cho phép nhận di sản. Sau khi Tòa án chấp nhận cho cơ quan công sản hưởng di sản có nghĩa Tòa án đã xác định người để lại di sản không có người thừa kế theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Ngoài ra qui định của Bộ luật Dân sự một số nước như Nhật Bản, Thái Lan… qui định về di sản không có người thừa kế thì trình tự thủ tục chuyển cho Nhà nước đều theo quyết định của Tòa án là hợp lý và đảm bảo được sự khách quan.

Như vậy người có quyền hưởng di sản là những người thừa kế theo pháp luật, theo di chúc, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, người được thừa kế thế vị và Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế.

1.2.2.2 Người thừa kế không có quyền hưởng di sản

Hưởng di sản thừa kế là quyền của công dân được pháp luật ghi nhận, từ Hiến pháp 1 946 cho đến Hiến pháp 1 992 đều qui định công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu và thừa kế tài sản.Trên cơ sở những căn cứ pháp lý đó, quyền hưởng di sản thừa kế, quyền được pháp luật bảo vệ khi những lợi ích đó của công dân bị người khác xâm phạm đã được qui định cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong việc hưởng di sản thừa kế, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 là một chế tài nghiêm khắc của pháp luật áp dụng đối với người có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Người không được quyền hưởng di sản bao gồm:

  1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
  2. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
  3. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
  4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Như vậy người không có quyền hưởng di sản là người thừa kế có quyền hưởng di sản nhưng họ đã có những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức được qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 và không thuộc trường hợp qui định tại khoản 2 tại điều luật trên “Những người qui định tại khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Vì thế nên họ bị tước quyền hưởng di sản và không được quyền hưởng di sản của người chết để lại.

1.3 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỂN HƯỞNG DI SẢN Ở VIỆT NAM TỨ NĂM 1945 ĐẾN NAY Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

1.3.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thực dân Pháp đã cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam để duy trì hệ thống pháp luật do chúng ban hành. Hệ thống pháp luật đó là công cụ để thực dân Pháp đàn áp và thực hiện chính sách khai thác thuộc địa tàn bạo của chúng. Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam giai đoạn này chủ yếu được qui định trong hai Bộ dân luật. ĐÓ là Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936. Trong thời kỳ này tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn được giai cấp thống trị duy trì trong các quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và trong cả các qui định của pháp luật.

Về người không có quyền hưởng di sản, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng có những qui định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản của người quá cố người thừa kế bất xứng). Cả hai bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Ký đều có qui định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản qui định tại Điều 3 13 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ.

  • Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng được hưởng di sản của người lập di chúc
  • Người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hoặc với danh nghĩa chính phạm hoặc đồng phạm hoặc tòng phạm.
  • Người cố ý đả thương người lập di chúc hoặc ông bà, cha mẹ người ấy.
  • Người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố giác với Tòa án nhưng nếu kẻ sát nhân là cha,mẹ anh, em vợ, chồng hoặc thân thuộc với người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì đã không tố giác.
  • Người có hành vi vu khống người để lại di sản hoặc vu khống ông, bà, cha, mẹ người để lại di sản và người có hành vi vu khống ấy đã bị phạt về trọng tội hoặc phạt giam về tội trừng trị.

Như vậy những người không có quyền hưởng di sản qui định tại tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ là những người thừa kế theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật, họ là những người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản hoặc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ông bà, cha mẹ người đó. Người thừa kế đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người để lại di sản mà không tố giác tội xâm phạm đến tính mạng, nhưng sẽ không phải tố giác nếu kẻ giết người đó có quan hệ thân thuộc với người thừa kế như cha mẹ, anh em, vợ chồng hay những người thân thuộc với người thừa kế. Ngoài ra nếu người thừa kế có hành vi vu khống người để lại di sản, hoặc ông bà, cha mẹ người để lại di sản, hành vi này đã bị phạt về trọng tội hoặc bị phạt giam thì họ không có quyền nhận thừa kế từ người để lại di sản.

Tuy nhiên so với qui định của Bộ luật dân sự hiện hành thì tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ còn bổ sung thêm trường hợp người để lại di sản lập di chúc tuyên bố người thừa kế không xứng đáng được hưởng di sản của mình, người bị truất quyền thừa kế là người không được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định. Như vậy, Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ đã thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại di sản nên việc người để lại di sản truất quyền hưởng di sản của người thừa kế sẽ được pháp luật bảo hộ.

Theo Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ thì những người có hành vi trên được coi là bất xứng hưởng di sản họ không có quyền được hưởng thừa kế của người để lại di sản. Nhưng phần lẽ ra họ được hưởng thì trao sang cho con cái của họ (Điều 315 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 307 Dân luật Trung Kỳ) những người con ấy với tư cách của người hưởng di sản và không bị loại ra vì lỗi của người cha, trừ khi nào chính những người con cái ấy cũng bị tuyên cáo là không xứng đáng hoặc bị truất quyền thừa kế hưởng di sản từ người để lại di sản. Trong trường hợp này các con của người bất xứng thay thế vị trí của bố mẹ nhận di sản thừa kế của ông, bà (Thừa kế thế vị). Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Trước năm 1945, theo án lệ ở miền Nam thì sau khi người chồng chết người vợ có thể bị tước quyền thừa kế trong một số trường hợp như không để tang chồng, có tình nhân hoặc lạm dụng quyền hưởng di sản mà không kê khai. Trường hợp người vợ góa bị tước quyền thừa kế thì phần di sản đó con hoặc cháu của người đó sẽ được hưởng.

1.3.2. Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Pháp lệnh Thừa kế 1990 được ban hành

Cách mạng Tháng Tám thành công, xóa bỏ hoàn toàn chế độ chính trị và hệ thống chính quyền thực dân phong kiến, xây dựng chế độ mới và hệ thống chính quyền mới, hệ thống chính quyền của nhân dân lao động. Chính quyền non trẻ vừa được thành lập nhưng đã phải đứng trước nhiều thử thách gay go và quyết liệt. một. lĩnh vực thiết thực trong cuộc sống nhưng lại có rất nhiều khó khăn trong việc pháp chế hóa luật dân sự trong đó có vấn đề thừa kế. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật cần phải có thời gian nhưng vấn đề đặt ra là một nhà nước không thể không có luật. Do vậy, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL giữ tạm thời các luật lệ hiện thành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn quốc nếu những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”. Như vậy theo qui định này thì các qui định của hai Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Trung Kỳ 1936 về thừa kế vẫn được thi hành nếu không trái với các qui định trong Hiến pháp 1946. Như vậy, cơ sở để xác định những người thừa kế được nhận di sản hay không có quyền hưởng di sản của người để lại di sản vẫn dựa vào qui định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ.

Ngày 22/6/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 97/SL về sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh số 97/SL qui định vợ chồng có quyền bình đẳng trong gia đình, có quyền thừa kế tài sản của nhau. Các con không phân biệt con trai, con gái đều có quyền thừa kế tài sản của bố mẹ… qui định này nhằm xóa bỏ tình trạng trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến, người phụ nữ được thừa nhận bình đẳng như nam giới, người vợ bình đẳng với người chồng trong các quan hệ dân sự đặc biệt là bình đẳng trong quan hệ thừa kế. Nhưng trong sắc lệnh này không có nội dung nào đề cập đến người không có quyền hưởng di sản. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Miền Nam bị đế quốc. Mẹ và tay sai thống trị, nhân dân miền Bắc xây dựng hậu phương vững mạnh chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Ở miền Bắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo nền kinh tế quốc dân được nước ta chú trọng hơn bao giờ hết. Với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo kế hoạch thống nhất, lấy kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân làm chủ đạo.

Những năm 60, ở miền Bắc nhân dân ta xây dựng phong trào hợp tác hóa, mọi gia đình đưa ruộng đất, tư liệu sản xuất riêng vào hợp tác xã để xây dựng và phát triển kinh tế tập thể. Đối với nông dân, tiểu thương… Nhà nước khuyến khích động viên vào làm ăn tập thể. Thu nhập hợp pháp của công dân trong tất cả các thành phần kinh tế được nhà nước bảo hộ và họ có quyền để lại thừa kế. Điều 19 Hiến pháp 1959 qui định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân” [18].

Trong một thời gian dài từ năm 1959 đến năm 1981 mặc dù có một số văn bản qui phạm pháp luật được ban hành hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế như:

Thông tư 594/TANDTC ngày 27/8/1968 tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn những tranh chấp về thừa kế có nội dung tương đối đầy đủ và rõ ràng hơn những thông tư trước đó nhưng thông tư này cũng chưa bao quát hết những sự kiện liên quan đến quyền hưởng di sản của những người thừa kế. Như khi người thừa kế có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội đối với người để lại di sản thì phải tước quyền hưởng thừa kế của họ nhưng nội dung liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản cũng chưa được qui định trong thông tư này. Trên thực tế những tranh chấp liên quan đến người thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, như con đối xử không đúng mực với cha mẹ, không phụng dưỡng cha mẹ già, anh em đánh giết nhau để tranh giành tài sản của cha mẹ, ông bà để lại … Với những hành vi xâm phạm đến người để lại di sản và những người thừa kế cùng được hưởng di sản, người thừa kế có hành vi xâm phạm trên là những người không xứng đáng được nhận tài sản của người để lại di sản. Tuy nhiên, do pháp luật trong giai đoạn này chưa qui định về nội dung về người thừa kế không có quyền hưởng di sản nên Tòa án khó có thể giải quyết thỏa. đáng những tranh chấp về thừa kế liên quan đến người thừa kế có hành vi xâm phạm đến người để lại di sản hay những người thừa kế khác do chưa có qui phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.

Hiến pháp năm 1980 ra đời qui định đất đai và các tư liệu sản xuất của nhà nước thuộc sở hữu toàn dân. Công dân có quyền sở hữu về nhà ở, thu nhập hợp pháp, của cải để dành và có quyền để lại thừa kế của cải để dành đó (Điều 27) Để giải quyết vấn đề thừa kế của công dân, Thông tư số 81 -TANDTC (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) ngày 24/7/1981 được ban hành. Thông tư 81 đánh dấu một bước phát triển trong việc điều chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế ở nước ta sau khi thống nhất đất nước, là cơ sở để bảo vệ quyền thừa kế của công dân góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Cơ sở pháp lý để tước quyền hưởng di sản của người thừa kế bắt đầu được qui định ở Thông tư 81 hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về thừa kế. Theo thông tư này một người thừa kế sẽ bị tước quyền hưởng di sản do bị kết án về một trong những hành vi sau:

  • Đã giết người để lại thừa kế hoặc đã đối xử quá tàn tệ với người đó.
  • Đã giết người thừa kế cùng hàng với mình để chiếm đoạt toàn bộ phần di sản hoặc nhằm tăng kỷ phần cho mình thì không được hưởng thừa kế di sản của hai người ấy. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Mặc dù tại Thông tư 81 đã có qui định về tước quyền hưởng di sản của người thừa kế nhưng Thông tư 81 mới chỉ liệt kê một số hành vi của người bị tước quyền hưởng di sản như họ đã có hành vi giết người để lại di sản hoặc đối xử quá tàn tệ với người đó, ngoài ra hành vi giết những người thừa kế cùng hàng để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản hoặc nhằm tăng kỷ phần cho mình… Như vậy qui định của Thông tư 81 về những hành vi của người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản chưa mang tính cụ thể như thế nào là đối xử tàn tệ, nếu việc giết những người thừa kế cùng hàng không vì động cơ chiếm đoạt tài sản của những người thừa kế đó thì họ có được hưởng thừa kế của người để lại di sản không? Ngoài ra Thông tư 81 còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế khác như chưa dự liệu được hết những trường hợp nếu người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, ngược đãi, hành hạ, hủy di chúc, thay đổi toàn bộ hoặc một phần di chúc trái với ý chí của người để lại di sản, những hành vi trên đều là những hành vi trái pháp luật và trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến người để lại di sản nhưng không có các qui định của pháp luật đề cập đến vấn đề này. Để khắc phục những hạn chế của Thông tư 81, cũng như nhu cầu bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền thừa kế của công dân Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh đã được ban hành trên hướng hoàn thiện bổ sung những điểm hạn chế trong Thông tư 81.

1.3.3. Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 có hiệu lực đến năm 2005

Theo tiến trình phát triển pháp luật về thừa kế ở Việt Nam, chế định về thừa kế ngày được củng cố và bổ sung phù hợp với đời sống thực tế nhằm bảo vệ hiệu quả quyền thừa kế của công dân. Xuất phát từ tư tưởng chủ đạo đó Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 được ban hành là văn bản có hiệu lực pháp lý đầu tiên qui định khá đầy đủ về thừa kế ở nước ta từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến khi Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 được ban hành. Về cơ bản các qui định của Pháp lệnh Thừa kế được pháp điển hóa từ Thông tư 81, điều chỉnh một số quan hệ thừa kế phù hợp với thời kỳ đổi mới, Pháp lệnh cho phép cá nhân có quyền để lại thừa kế những tư liệu sản xuất, di sản thừa kế đã được mở rộng phạm vi các loại tài sản, đặc biệt là các loại tư liệu sản xuất tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vốn để sản xuất kinh doanh. Một số điểm mới mà Pháp lệnh Thừa kế đưa ra như quan hệ giữa người quản lý di sản với người thừa kế và các chủ thể khác liên quan đến di sản, bởi vì thông thường sau khi mở thừa kế di sản chưa chia, những người thừa kế thỏa thuận giao cho một người quản lí di sản. Người quản lí di sản có nhiệm vụ giữ gìn, bảo quản, tránh hư hỏng, mất mát. Để tạo cơ sở pháp lí cho người quản lí di sản có quyền đại diện cho những người thừa kế pháp lệnh đã có qui định liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra để hạn chế việc tranh chấp liên quan đến thừa kế kéo dài, Pháp lệnh Thừa kế có qui định về thời hiệu khởi kiện các tranh chấp liên quan đến thừa kế là 10 năm, thời hiệu thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản là 3 năm.

Khi Pháp lệnh Thừa kế 1 990 được ban hành, vấn đề người thừa kế không được hưởng di sản được qui định tại Điều 7 và được giữ nguyên tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995. Theo đó người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản khi có các hành vi sau:

  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiệm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đi lại di sản.
  • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
  • Người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng.
  • Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Mặc dù theo qui định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995 về người thừa kế không được hưởng di sản không thay đổi so với Pháp lệnh Thừa kế nhưng đây là lần đầu tiên vấn đề này được qui định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đó là Bộ luật Dân sự. Những hạn chế của Thông tư 81 đã được khắc phục tại Điều 7 Pháp lệnh Thừa kế và Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995, những hành vi vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật của người thừa kế như hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, hành vi lừa dối, ép buộc, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, hủy di chúc… đã được liệt kê khá đầy đủ, đây chính là căn cứ để Tòa án giải quyết những tranh chấp liên quan đến lĩnh vực này.

1.3.4. Từ năm 2005 đến nay Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Sau 10 năm ban hành, những qui định về thừa kế của Bộ luật Dân sự năm 1995 đã tương đối hoàn chỉnh nhưng với tốc độ pháp triển kinh tế hiện nay thì không tránh khỏi những bất cập, vướng mắc trên thực tế. Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2005, những qui định về thừa kế phần lớn đều kế thừa các qui định của Bộ luật Dân sự năm 1995 nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung một số qui định mới, khắc phục một số hạn chế, vướng mắc trong một số qui định của Bộ luật Dân sự năm 1995. Về người thừa kế không có quyền hưởng di sản nếu trong Bộ luật Dân sự năm 1995 cược qui định tại Điều 646 thì tại Bộ luật Dân sự năm 2005 vấn đề này được qui định tại Điều 643. Trên cơ sở kế thừa nội dung của Bộ luật Dân sự năm 1995, nội dung về người thừa kế không có quyền hưởng di sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 không có thay đổi so với Bộ luật năm 1995.

Những hành vi của người thừa kế không được hưởng di sản được qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự đều là những hành vi trái đạo đức, trái pháp luật bị xã hội lên án, hơn nữa giữa người để lại di sản và người thừa kế là những người có quan hệ tình cảm, thân thích và quan hệ pháp lý như nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như quan hệ giữa cha mẹ với con cái, giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa vợ với chồng, giữa các anh, chị, em… Nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình trước đây thường do các qui tắc đạo đức tác động thì nay những nghĩa vụ như thương yêu, chăm sóc, giáo dục, giúp đỡ đùm bọc nhau, nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình với nhau đã được luật Hôn nhân gia đình năm 2000 qui định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái, ông bà với cháu, vợ với chồng… một trong những quyền khá quan trọng mà pháp luật cho phép công dân nói chung và các thành viên trong gia đình nói riêng có quyền định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế là cá nhân hoặc tổ chức hưởng. Người có tài sản có thể định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc hoặc nếu không lập di chúc thì tài sản của họ sẽ được chia theo qui định của pháp luật cho những người thừa kế. Pháp luật cũng qui định mọi cá nhân có quyền bình đẳng trong việc nhận di sản theo di chúc và theo qui định của pháp luật, người nhận di sản phải thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại trong phạm vi di sản mà người đó được hưởng. Trong những năm gần đây, những trường hợp vi phạm pháp luật giữa các thành viên trong gia đình xảy ra khá nhiều như con đối xử không đúng mực với cha mẹ, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ già, con mưu toan giết cha mẹ, anh chị em đánh giết nhau để tranh giành tài sản. Những trường hợp vi phạm này cần được nghiêm trị bằng pháp luật, mặt khác hành vi của những người đó còn vi phạm đạo đức nghiêm trọng cho nên pháp luật cần phải tước quyền thừa kế của những người vi phạm.

Về người thừa kế không được hưởng di sản được qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, bao gồm những trường hợp sau: Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
  • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng.
  • Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Về người thừa kế không có quyền hưởng di sản cũng được qui định tại Điều 727 Bộ luật Dân sự Pháp và bao gồm một số trường hợp sau:

  • Người bị kết án về hành vi giết người để lại di sản, hoặc về hành vi giết người không đạt đối với người để lại di sản; người bị kết án là đồng phạm trong những tội trên.
  • Người bị kết án về hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người đối với người để lại di sản; người bị kết án là đồng phạm trong những tội trên. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Người bị kết án về hành vi làm chứng sai sự thật chống lại người để lại di sản trong vụ án xét xử một trọng tội

Người bị kết án về hành vi cố ý không ngăn chặn hành vi xâm phạm đến tính mạng của người để lại di sản mặc dù người đó có khả năng thực hiện việc ngăn chặn mà không ảnh hưởng đến bản thân mình hoặc người thứ ba.

Người bị kết án về hành vi vu cáo chống lại người để lại di sản và vì hành vi tố cáo đó người để lại di sản đã bị phạt một trọng tội. Như vậy qui định về người thừa kế không có quyền được hưởng di sản tại Điều 727 Bộ luật Dân sự Pháp so với Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 về cơ bản cũng được xây dựng theo phương pháp liệt kê về những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội của người thừa kế nhưng phạm vi người người thừa kế không có quyền hưởng di sản của Bộ luật Dân sự Pháp rộng hơn Bộ luật Dân sự năm 2005 như hành vi của người đồng phạm, hành vi của người không tố giác… đã được qui định. Mặc dù vậy, xét về dưới góc độ pháp lý trong cả hai Bộ luật trên, người thừa kế sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi trái với qui định của Bộ luật Hình sự và đã có một bản án có hiệu lực của Tòa án kết tội về những hành vi của họ. Bản án của Tòa án cũng chính là căn cứ để pháp luật tước quyền hưởng thừa kế của họ.

Tuy nhiên tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định nếu người vi phạm khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Như vậy, quyền tự định đoạt của người để lại di sản phải thể hiện bằng việc người để lại di sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế, kể cả khi người thừa kế đã có hành vi trái đạo đức, trái pháp luật với người để lại di sản nhưng người để lại di sản đã tha thứ, đã bỏ qua cho lỗi lầm của người thừa kế thì họ vẫn có quyền được nhận thừa kế của người để lại di sản. Trong trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, tài sản của người để lại di sản được chia theo qui định của pháp luật thì khi người thừa kế có hành vi vi phạm khoản 1 Điều 643 thì họ không được hưởng thừa kế của người để lại di sản.

Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế, quyền tự định đoạt của người để lại di sản luôn được pháp luật coi trọng. Những qui định của pháp luật đối với người thừa kế không có quyền hưởng di sản từ năm 1945 cho đến những năm 80 gần như là khoảng trống mà pháp luật không qui định tới, cho nên khi xảy ra những tranh chấp liên quan đến người thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội như xâm phạm đến người để lại di sản hoặc xâm phạm đến những người thừa kế khác Tòa án không thể giải quyết một cách thỏa đáng những tranh chấp này do còn thiếu những qui định của pháp luật qui định về vấn đề này. Từ năm 1981 cho đến nay, đối với qui định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản đã được qui định khá đầy đủ từ các văn bản luật cho đến văn bản dưới luật như Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng bổ sung, hoàn thiện để làm cơ sở giải quyết các tranh chấp liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản. Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản

One thought on “Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464