Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Quan điểm về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Thứ nhất là đổi mới nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn giáo ra đời đã hình thành cho mình những chức năng để đáp ứng những nhu cầu cần có của con người như chức năng giải thích thế giới (thế giới quan), chức năng bù đắp, chức năng liên kết cộng đồng và chức năng điều chỉnh hành vi thông qua các quy phạm luân lý, đạo đức.

Tín ngưỡng, tôn giáo đã tồn tại lâu dài trong lịch sử nhân loại, đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối nghĩ của một bộ phận dân nhân qua nhiều thế hệ đến mức trở thành một kiểu sinh hoạt Văn hóa tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Trước đây có quan điểm cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là lạc hậu, phản động, gây bè phái, chia rẽ dân tộc, cản trở công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thì dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 7 đã đưa ra cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị quyết đã đưa ra một nguyên tắc trong ứng xử đối với đồng bào các tôn giáo cũng như đối với đồng bào cả nước trong công cuộc xây dựng đất nước. Nghị quyết khẳng định thêm trách nhiệm của hệ thống chính trị cần có thái độ tích cực vì lợi ích đồng bào các tôn giáo, uốn nắn, nâng đỡ đồng bào các tôn giáo trong quá trình thực hiện các hoạt động tôn giáo theo hướng “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những mặt tích cực, những điểm tương đồng của chủ nghĩa nhân đạo XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Điều đó tiếp tục được khẳng định qua Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về “tín ngưỡng, tôn giáo”, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo.

Thứ hai, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; bảo đảm các tôn giáo hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào là một trong những quyền cơ bản, chính đáng của con người, là nguyên tắc trong quan hệ của Nhà nước XHCN Việt Nam với tổ chức tôn giáo. Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân. Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

Quan điểm, chính sách giáo này đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật; những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

Việt Nam là một quốc gia đa dạng tôn giáo, có cả những hình thức tín ngưỡng dân gian, đồng thời cũng có những tôn giáo hoàn chỉnh đan xem trong các khu vực dân cư. Chính sách tôn giáo của Việt Nam tiếp tục được khẳng định nhất quán trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và ngày càng được cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm sự đoàn kết, hòa hợp giữa cộng đồng những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo, những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được thông qua từ 18/6/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2004 đã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo Hiến chương. Pháp lệnh cũng xác định rõ, Chính phủ Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập khi có sự khác nhau giữa quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các điều ước đã dược ký kết.

Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện để sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, tín đồ được diễn ra bình thường trên các lĩnh vực như bày tỏ đức tin, tổ chức và tham gia các lễ hội tôn giáo với nhiều hình thức và quy mô lớn với hàng trăm ngàn người tham dự, Việc phong chức, phong phẩm, thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo cũng như việc xuất cảnh của chức sắc tôn giáo được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện. Việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo được duy trì và mở rộng đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân tôn giáo. Việc in ấn kinh sách và xuất bản các ấn phẩm khác liên quan đến tôn giáo được thực hiện thường xuyên… Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Thứ ba, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với nghĩa vụ trong thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải xuất phát từ quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo; nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn với nghĩa vụ trong thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Công dân muốn được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì phải gánh vác nghĩa vụ khi thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dù ở bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Đây là điều kiện bảo đảm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện. Mặt khác, Nhà nước cũng sẽ bảo đảm cho các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của công dân được thực hiện trên cơ sở nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

Nguyên tắc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với nghĩa vụ trong thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo là bảo đảm để mọi công dân đều bình đẳng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quyền bình đẳng ở đây bao gồm sự không phân biệt về giới tính nam – nữ, dân tộc, văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú và tôn giáo,… Mọi công dân đều được hưởng giá trị tự do tôn giáo như nhau và đóng góp như nhau cho sự phát triển của tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đặc biệt, họ đều bình đẳng trước pháp luật khi vi phạm các quy định pháp luật về tự do tôn giáo của Nhà nước.

Nguyên tắc quyền gắn với nghĩa vụ trong thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo, một mặt, đòi hỏi tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo khi áp dụng quy phạm (giáo lý, giáo luật, nghi lễ, hiến chương, điều lệ,…) đối với các đệ tử của mình thì cũng phải tôn trọng quyền tự do công dân của họ. Mặt khác, nguyên tắc cũng đòi hỏi mọi quy định trong hệ thống pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đều phải có cơ sở và điều kiện hiện thực hóa được trong thực tế cuộc sống; tránh những quy định tạo ra sự không phù hợp, thiếu tính khả thi khiến cho công dân không thể thực hiện được.

Và nguyên tắc đó cũng đòi hỏi trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm hiệu lực của các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vì không có sự bảo đảm của Nhà nước sẽ không có hiệu quả trên thực tế về các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ tư, công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm, quản lý Nhà nước đối với tôn giáo không chỉ là việc giải quyết những nhu cầu chính đáng của tín đồ, đưa hoạt động tôn giáo theo pháp luật mà thông qua đó còn góp phần tích cực vào việc chắt lọc và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo với chuẩn mực xã hội tốt đẹp. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong việc hoạch định và hiện thực hóa quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực chủ yếu cho sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

Về quan điểm “Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị” được Bộ chính trị Đảng ta chỉ ra từ NQ 24 ngày 16 – 10 -1990 về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, sau đó Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) ngày 12 -03- 2003 “về công tác tôn giáo” tiếp tục khẳng định.

Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác tôn giáo và nhất là từ yêu cầu đổi mới công tác tôn giáo nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra được động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, thì từ bản thân hệ thống chính trị đã và đang đặt ra một số vấn đề cần phải quan tâm giải quyết trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn như sau:

Công tác lý luận, cần khai thác và làm sâu sắc hơn nữa những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Công tác lý luận hiện nay cần phải có sự tìm tòi, đưa ra những căn cứ lý luận chỉ dẫn xác đáng, có chiều sâu hơn, không dừng lại như là sự giải thích các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Cần vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác tôn giáo của cả hệ thống chính trị.

Tạo ra sự phối hợp đồng bộ trong công tác tôn giáo giữa các yếu tố hợp thành hệ thống chính trị, hạn chế tình trạng khoán trắng, chồng chéo, lấn sân. Việc quán triệt quan điểm “công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”, đến nay vẫn có không ít khó khăn do sự thiếu đồng bộ của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Do vậy, để tạo ra sự phối hợp thống nhất hơn nữa trong công tác tôn giáo cần xây dựng, quy định chức năng, nhiệm vụ làm công tác tôn giáo của các cấp, các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt quan tâm đến cấp cơ sở và đề cao trách nhiệm cá nhân trên cơ sở quyền lực, quyền hạn cụ thể. Sự thống nhất trong công tác tôn giáo của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, ngoài yếu tố hình thức triển khai, nó phải được dựa trên cơ sở những chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành.

Củng cố tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị; có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo các cấp; tăng cường xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở trong các vùng tôn giáo tập trung. Hiện nay công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo nên chú trọng đến việc phân cấp, phân quyền mạnh hơn và nhiều hơn đối với mỗi ngành, mỗi cấp. Nên có những quy định cụ thể, sao cho nguyên tắc tập trung dân chủ được đảm bảo, cấp dưới phát huy được tính sáng tạo, cấp trên kiểm soát và chỉ đạo thống nhất đối với cấp dưới. Đảm bảo nguyên tắc này trong công tác tôn giáo hiện nay là bước quan trọng đặc biệt để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả công tác tôn giáo của hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo ở các cấp là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự thành bại của công tác này. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và lực lượng chính trị trong các vùng tôn giáo hiện nay đòi hỏi các cấp ủy quan tâm bố trí đúng người làm công tác tôn giáo. Đặc biệt, cần có kế hoạch phát hiện, đào tạo cán bộ có uy tín, có năng lực vận động chức sắc tôn giáo để tạo ra mối quan hệ đồng thuận. Cán bộ làm công tác tôn giáo cũng cần đảm bảo tính ổn định. Bên cạnh chế độ đãi ngộ vật chất, về mặt tinh thần, học phải được lãnh đạo động viên, khen thưởng.

Tăng cường công tác đối ngoại tôn giáo theo hướng tuyên truyền chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trên trường quốc tế, để thế giới hiểu đúng về nhân quyền, tôn giáo ở nước ta tạo cơ sở pháp lý vững chắc đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo từ bên ngoài. Giải quyết các vụ việc tôn giáo phức tạp cần kịp thời, khéo léo và đúng pháp luật, không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể kiếm cớ can thiệp, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan làm công tác tôn giáo với các cơ quan ngoại giao, Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Thứ năm, công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Sở dĩ xác định như vậy vì đại đa số tín đồ các tôn giáo là quần chúng lao động, có tinh thần yêu nước và gắn bó với dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do và xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Từ việc chăm lo những lợi ích thiết thân trong đó có nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, các chính sách và việc làm cụ thể của Đảng và Nhà nước ta sẽ thuyết phục, lôi cuốn, tập hợp bà con có đạo tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi thái độ đối xử thô bạo, mệnh lệnh, áp đặt một chiều hoàn toàn xa lạ với công tác vận động quần chúng. Ngay cả trong trường hợp phải dùng đến các biện pháp luật thì cũng cần phải tuyên truyền, giải thích để có được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo quần chúng tín đồ. Xác định công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các tôn giáo hiểu rõ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và cũng giống như nhiều quốc gia khác, vấn đề dân tộc – tôn giáo luôn có sự đan xen thẩm thấu vào nhau, cái này nguyên nhân của cái kia và ngược lại. Chính vì thế, công tác tôn giáo chỉ có hiệu quả và thành công khi luôn gắn bó với công tác dân tộc. Tuy nhiên, về mặt nhận thức và thực tiễn cũng cần thấy là: công tác tôn giáo và công tác dân tộc, với tính cách là những khái niệm thì có sự khác nhau cơ bản, do xuất phát từ sự khác nhau giữa khách thể công tác và từ nội dung cơ bản của mỗi loại công tác. Cả hai loại công tác này đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, nên sẽ không thể có hiệu quả nếu chúng bị tách rời hoặc tuyệt đối hóa. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại liên quan đến tôn giáo, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo như: nhu cầu về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, đất đai để xây dựng cơ sở thờ tự… để từ đó đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết phù hợp, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Động viên các chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo tùy theo tình hình thực tế như độ tuổi, giới tính để vận động họ tham gia vào các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể như: Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, Phụ nữ, Thanh niên… góp phần tích cực vào việc thực hiện nếp sống văn hóa, trong các sinh hoạt đạo – đời.

3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

3.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

  • Tập trung nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực tôn giáo

Trình độ dân trí và sự hiểu biết pháp luật chính là bảo đảm về phía bản thân của mỗi người dân trong việc thực hiện quyền công dân nói chung, quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng. Sự hiểu biết về pháp luật chính là điều kiện bảo đảm cho công dân luôn ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền của người khác đồng thời cũng chính là để bảo vệ chính quyền và lợi ích của bản thân mình khi bị xâm hại. Hiểu biết pháp luật sẽ giúp người dân có đời sống văn minh hơn trong việc xác định được đâu là tín ngưỡng, tôn giáo và đâu là mê tín, dị đoan. Nếu như đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo am hiểu pháp luật, cũng như mọi mặt khác của xã hội thì nó sẽ là điều kiện để thực hiện đúng và đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.

Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, nhất là đồng bào có đạo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nông thôn với trình độ dân trí còn thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn rất hạn chế. Người dân ở đây còn chưa được tiếp cận với nếp sống văn minh, việc phổ biến đường lối chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước còn rất lẻ tẻ, chưa đồng bộ và thực sự sâu xát đến đồng bào tôn giáo. Do đó, đây là những điểm rất dễ bị các thế lực lợi dụng tôn giáo kích động, vu khống Nhà nước ta vi phạm Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Và cũng chính do hiểu biết hạn hẹp nên họ không phân biệt được đâu là quyền tự do, đâu là vi phạm pháp luật dẫn đến nhiều người bị lôi kéo vào các hành vi mê tín, dị đoan mà không hiểu là đang hành động trái pháp luật. Chính vì vậy, cần phải nâng cao dân trí, đặc biệt là ở các vùng đồng bào có đạo thì mới đảm bảo được Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho chính họ và cũng đồng thời giúp ổn định và phát triển xã hội tốt hơn.

  • Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Làm việc gì cũng cần phải chú trọng đến gốc rễ của vấn đề, vì vậy công tác cán bộ đóng vai trò hàng đầu, tác động trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động tín đồ các tôn giáo trong cả nước. Thực tế hiện nay, cơ chế và thiết chế làm công tác tôn giáo đang lạc hậu so với tình hình, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo chưa phù hợp, hiệu quả thấp, chưa làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước về tôn giáo. Số lượng và chất lượng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Muốn nâng cao đội ngũ cán bộ, chúng ta cần chú trọng đến công tác tổ chức bộ máy cán bộ, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ và tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Người cán bộ làm công tác tôn giáo ngoài những phẩm chất chính trị, đạo đức cần phải trang bị cho mình những kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực:

Phải am hiểu sâu sắc học thuyết của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Đồng thời cũng cần có hiểu biết về chính sách, pháp luật tôn giáo của các quốc gia trong khu vực và những nước có thể chế chính trị khác nước ta, để từ đó rút ra tính ưu việt trong chính sách tôn giáo của Việt Nam, từ đó tuyên truyền chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cho đồng bào tôn giáo và phản bác lại những luận điệu vu cáo, xuyên tạc chính sách, đời sống tôn giáo của nước ta.

Ngoài văn bản qui phạm pháp luật về tôn giáo, cán bộ làm công tác tôn giáo còn phải nắm chắc các văn bản pháp luật và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan (như Luật di sản văn hóa, Luật đất đai, Luật xây dựng, Luật giáo dục,… Nghị định qui định về quản lý hộ tịch hộ khẩu, về xử phạt hành chính,… và các Thông tư Liên Bộ, Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành,…).

Phải nắm thật chắc và đầy đủ tình hình tôn giáo trên địa bàn mình phụ trách và những địa bàn lân cận; tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trong nước và trên thế giới,… để xây dựng chương trình công tác cho phù hợp, kịp thời tham mưu, đề xuất hướng giải quyết với cấp trên khi vụ việc phức tạp xảy ra.

Cần nắm vững kiến thức lịch sử dân tộc, thế giới và lịch sử các tôn giáo, từ đó mà lý giải được vì sao trong giai đoạn lịch sử nào đó, một triều đại nào đó lại quan tâm đến tôn giáo hoặc không chú ý đến vấn đề tôn giáo; những đóng góp của giáo sĩ, tu sĩ các tôn giáo đối với lịch sử dân tộc. Nắm vững kiến thức lịch sử còn giúp chúng ta có tâm thế thoải mái, tự tin trong khi giải thích, tiếp xúc với giáo dân, giáo sĩ, cả khi thuyết trình, diễn giảng những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Họ cũng cần có kiến thức nhất định về một số ngành khoa học có liên quan, như tâm lý học, triết học, văn học, xã hội học, mỹ học, đạo đức học,… và các ngành nghệ thuật, như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa,… Ngoài ra, kiến thức về giáo lý, giáo luật, tín ngưỡng thờ tự,… của một số tôn giáo cũng cần phải am hiểu càng sâu rộng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Ngoại ngữ cũng là vần đề cần phải chú ý tự trang bị. Sẽ bị hạn chế rất nhiều, nếu làm công tác QLNN đối với Phật giáo mà lại không đọc được, không giải thích được, không dịch được nội dung những tấm hoành phi câu đối và các văn bản Hán Nôm của các cơ sở thờ tự Phật giáo. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Do đó, các bộ, ngành ở Trung ương và cấp ủy, chính quyền ở địa phương cần quán triệt quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết số 25/ NQ – TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về công tác tôn giáo; Nghị định số 92/2012/ NĐ – CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Thông tư số 01/2013/ TT -BNV của Bộ nội vụ về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo … tới đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo các cấp để họ hiểu và về tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyện vọng chính đáng của đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo nên cần khắc phục những sai lệch trong nhận thức và tư tưởng đang tồn tại của cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo để việc phổ biến chính sách, pháp luật được chính xác và kịp thời hơn tới đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo.

  • Tiếp tục Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng và tình hình thực tiễn

Trải qua hơn 25 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, với tín ngưỡng, tôn giáo nếu tính từ Nghị quyết 24-NQ/ TW (16-19-1990) đến nay, trên 20 năm chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo thực sự đi vào cuộc sống. Điều này được thể hiện như: Diện mạo tôn giáo Việt Nam thay đổi nhanh chóng với 14 tôn giáo và 38 tổ chức tôn giáo; Nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân về cơ bản được đáp ứng. Chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Yên tâm hành đạo theo đường hướng sống tốt đời, đẹp đạo. Trên trường quốc tế, năm 2006, Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC). Vấn đề ngoại giao tôn giáo đã và đang phát triển tốt.

So với trước đổi mới, chính sách của Đảng ta với tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay thực sự có một bước tiến dài. Một điều ghi nhận là Nghị quyết 25- NQ/TW (12-3-2003) Đảng ta nêu ra một chính sách mới: “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Nghĩa là Đảng ta mở rộng chính sách đối với tín ngưỡng một loại hình của đời sống tâm linh vốn tồn tại từ hàng nghìn năm nay.

Đến Hiến pháp 2013 đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp ghi nhận. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên trong tình hình mới do sự phát triển của tôn giáo, tín ngưỡng trong nước, do tác động tôn giáo quốc tế và khu vực đến tôn giáo Việt Nam thì việc hoàn thiện chính sách với tôn giáo là một đòi hỏi của thực tế. Ví dụ chính sách đối với việc tôn giáo tham gia xã hội hóa (y tế, văn hóa giáo dục); vấn đề ngoại giao tín ngưỡng, tôn giáo… để từ đó phát huy tối đa nguồn lực tôn giáo vào công cuộc xây dựng đất nước.

Với pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo: hiện tại một số chế tài về tín ngưỡng chưa thật rõ ràng. Tiến trình hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo còn chậm. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện đến nay đã là 10 năm nhưng một số điều khoản của Pháp lệnh hoặc rất khó thực hiện hoặc đã không đáp ứng được thực tế. Chẳng hạn như vấn đề thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo; vấn đề công nhận tổ chức tôn giáo. Trước mắt cần có sự tổng kết chỉ ra những cái được và chưa được của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; cần thiết bổ sung những gì của Nghị định 92/2012/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, cần phải cụ thể hóa các quy định, nội dung, tinh thần của Hiến pháp, bảo đảm hơn nữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người và phù hợp với Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị. Theo đó, Luật tín ngưỡng, tôn giáo sẽ được ban hành thay thế Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và cần bổ sung các nội dung cơ bản, phù hợp với thực tiễn, cụ thể:

Luật ghi nhận và cụ thể hóa chủ thể của quyền tín ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” mà không chỉ là “công dân”, Đồng thời khẳng định rõ quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào của cá nhân, không ai được xâm phạm tới quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nghiêm cấm ép buộc theo đạo, bỏ đạo hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xâm hại tới Nhà nước, công dân và quyền của tổ chức tôn giáo. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Bổ sung quy định về quyền và giới hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quy định cụ thể quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bị giới hạn trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định này là cần thiết để bảo đảm Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng,, tôn giáo của công dân trong một tổng thể chung về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác. Các quy định này cũng đã được Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc ghi “quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (Khoản 3, Điều 18 Công ước).

Bổ sung quy định về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam, theo đó xác định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi cá nhân, người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam cũng được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm quyền sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác; hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài, việc tổ chức cuộc lễ, giảng đạo của người nước ngoài tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam hoặc các địa điểm hợp pháp khác; người nước ngoài theo học tại các trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.

Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo, nhất là đối với các tôn giáo mới cần phải đăng ký hoạt động tôn giáo và trách nhiệm bảo đảm tôn trọng, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo mới hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiên cứu để quy định hợp lý về các vấn đề thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo (cấp trung ương hoặc trực thuộc); thành lập trường, giải thể trường, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo; phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu củ, suy cử, cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển chức sắc trong tôn giáo; trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết để hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động nội bộ của tổ chức tôn giáo, tôn trọng và bảo đảm quyền tự chủ và quyết định các vấn đề nội bộ của tổ chức tôn giáo.

Quy định cụ thể các chính sách về tôn giáo thể hiện chủ trương Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia như bảo hộ tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo; bảo đảm giao quyền sử dụng đất nơi có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động được sử dụng ổn định lâu dài. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Quy định rõ chính sách khuyến khích của Nhà nước đối với hoạt động từ thiện, nhân đạo của các tổ chức tôn giáo, bao gồm hoạt động quyên góp; hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo, bảo trợ xã hội của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

Quy định rõ các hành vi nghiêm cấm và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các vấn đề quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tôn giáo phải do luật quy định. Đây là một trong những quyền tự do cơ bản nhất của con người, có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp tới các vấn đề tư tưởng của công dân, các vấn đề về phát huy truyền thống, đạo lý, thuần phong, mĩ tục của dân tộc, đất nước, góp phần bảo đảm sự đóng góp tích cực của các tổ chức tôn giáo vào ổn định đất nước, chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Nghiên cứu để quy định hợp lý về tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo phù hợp với mô hình, hệ thống tổ chức tương đối phức tạp và khác biệt của các tổ chức tôn giáo, bảo đảm sự thuận lợi trong các giao dịch, quan hệ của tổ chức tôn giáo với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tới hoạt động tôn giáo.

Trong điều kiện mở cửa và chủ động hội nhập quốc tế thì pháp luật quốc gia về quyền con người phải tương thích và phù hợp với những quy định của pháp luật quốc tế, được chứa đựng trong các điều ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Do vậy, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần phải đảm bảo phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

  • Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vẫn có vai trò, đôi khi là to lớn cho việc phát triển xã hội. Để những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được phát huy, Đảng, Nhà nước cần phải có những chính sách cụ thể và phù hợp với từng tôn giáo cũng như với từng lĩnh vực của tôn giáo. Đó trước hết là chính sách văn hóa đối với những giá trị văn hóa tôn giáo nhằm một mặt giữ gìn, mặt khác trao truyền cho các thế hệ mai sau gìn giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể văn hóa tôn giáo. Quần chúng tín đồ còn phải biết đấu tranh gạt bỏ những mặt trái làm phương hại đến những giá trị văn hóa tôn giáo. Chẳng hạn như phê phán hủ tục buôn thần, bán thánh, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để đầu cơ trục lợi, nạn đốt vàng mã thái quá. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Đối với vấn đề văn hóa tâm linh đang nổi lên trong giai đoạn hiện nay và cũng là sự kiện của thời gian tới cần có sự nghiên cứu và có thể ứng dụng phục vụ cho con người thay vì thường chỉ thấy phê phán trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Đạo đức tôn giáo cần được sử dụng như một đầu lọc, thải loại những lối sống phi nhân bản, thác loạn, trà đạp lên đạo đức và nhân phẩm người khác. Mục đích cuối cùng là làm sao cho chức sắc, nhà tu hành, tín đồ làm tròn nghĩa vụ kép: Sống tốt đời, đẹp đạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • Nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội

Nhà nước nên có chương trình, hành động thiết thực, giải quyết thỏa đáng nhu cầu tôn giáo cho người có tín ngưỡng, tôn giáo. Đẩy mạnh phát triền kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo. Giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ, tạo việc làm ổn định, giúp bà con an cư, lạc nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động định canh, định cư, tăng cường cán bộ khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chuyển đổi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, trồng trọt, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống để đồng bào yên tâm xây dựng cuộc sống lâu dài trên các địa bàn miền núi, biên giới. Chăm lo phát triển sự nghiệp y tế, sự nghiệp giáo dục – đào tạo, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào có đạo để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố an ninh – quốc phòng đất nước; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phục hồi các lễ hội, phong tục, tập quán tốt đẹp, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh cho bà con các dân tộc, tôn giáo.

Chăm lo, đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào có đạo hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn dân đối với việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các luật, pháp lệnh, Nghị định của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo đã ban hành, làm cho các chủ trương, chính sách của Đảng đi vào đời sống hiện thực của người dân, tạo cơ sở, niềm tin vững chắc cho đồng bào có đạo yên tâm làm tròn bổn phận “sống tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, không để các thế lực thù địch lợi dụng sự thiếu hiểu biết về các chính sách dân tộc, tôn giáo của đồng bào để xuyên tạc, lôi kéo, kích động đồng bào có đạo vào các hoạt động phá hoại, gây mất ổn định về chính trị – xã hội ở địa phương, cơ sở, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng – an ninh cũng như đời sống của nhân dân, trực tiếp là đồng bào tôn giáo.

Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước trước đây đối với tổ chức tôn giáo chỉ ghi là “quan tâm”, Đại hội Đảng XI yêu cầu cao hơn là “tạo điều kiện”. Tạo điều kiện ở đây được hiểu rằng Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật đảm bảo cho các tôn giáo, tổ chức tôn giáo sinh hoạt bình thường. Nhưng thủ tục hành chính như cấp giấy phép xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, cấp giấy xác nhận, quyền sử dụng đất, hay giải quyết những vấn đề đạo sự… cho các tôn giáo tiếp tục được cải tiến, tránh bệnh giấy tờ hoặc gây phiền hà, sách nhiễu. Nếu tôn giáo được quan tâm và tạo điều kiện để thực hiện tốt theo hiến chương, điều lệ thì chắc chắn sẽ không có chuyện xảy ra điểm nóng tôn giáo, kéo theo đó là các hệ lụy. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Trong quá trình thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng cần phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, bài trừ hủ tục.

  • Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Biểu hiện tiêu cực tôn giáo thời nào cũng có. Đó là mặt trái của tôn giáo. Do tính nhạy cảm của tôn giáo nên chủ động phòng ngừa mặt trái của tôn giáo được đặt lên hàng đầu. Kinh nghiệm cho thấy nếu để sự việc xảy ra thì giải quyết rất phức tạp, đôi khi kéo dài, và vấn đề sẽ rất dễ bị lợi dụng, chuyển hóa thành vấn đề nhân quyền hay chính trị.

Đảng ta luôn coi trọng công tác đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch chống phá cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta luôn khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó các thế lực phản động khi nhắm vào việc phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc thường sử dụng việc phá hoại đoàn kết Lương -Giáo làm ngòi nổ. Đối với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, thì phải kiên quyết đấu tranh. Do đây là vấn đề phức tạp nên khi đấu tranh có phân biệt kẻ chủ mưu, cầm đầu với quần chúng bị lợi dụng. Với quần chúng bị lợi dụng thì các hệ thống chính trị phải vào cuộc lấy vận động, thuyết phục để quần chúng hiểu rõ những việc làm sai trái, tự nguyện vứt bỏ. Đối với bọn chủ mưu, cầm đầu khi đấu tranh cũng phải lượng hình, mục đích để họ biết hối tội. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Vấn đề tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta luôn là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động lòng dân hòng phá hoại thành quả cách mạng. Do vậy, việc giải quyết vấn đề tôn giáo nói chung cũng như bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng phải đặt trong tổng thể những giải pháp và chiến lược bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạng, thành tựu của công cuộc đổi mới và phát huy không ngừng những giá trị tốt đẹp.

  • Quan tâm, giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề rất nhạy cảm, thường nảy sinh trực tiếp từ những điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa và trình độ nhận thức của người dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Ở đó, người dân thiếu thốn cả điều kiện kinh tế lẫn trình độ nhận thức còn hạn chế, do đó vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo khá phức tạp. Để giải quyết được nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo cho đồng bào dân tộc thiểu số, một mặt Nhà nước cần chăm lo, chú trọng đặc biệt đến việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác cần đầu tư và thực hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội hợp lý để cải thiện sinh hoạt, nâng cao mức sống cho đồng bào tôn giáo. Cần phê phán những luận điệu sai trái về vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền; cần xây dựng và phát triển hệ thống lý luận khoa học vững chắc về tôn giáo cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để làm cơ sở cho hoạt động giáo dục, tuyên truyền và chỉ đạo thực hiện trong tình hình hiện nay.

  • Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Những năm qua cùng với việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được tăng cường, dần đi vào nề nếp; các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, thuần túy tôn giáo và tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, có nơi, có lúc vẫn xảy ra tình trạng một số cơ quan trong bộ máy Nhà nước và tổ chức tôn giáo cũng có lúc vi phạm pháp luật. Hậu quả của vấn đề này làm hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp, tạo ra sự căng thẳng không cần thiết giữa các tôn giáo với chính quyền. Do vậy, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cả tổ chức, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng cần phối kết hợp với nhau và phối hợp với Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và nhân dân để kiểm tra và tăng cường giám sát chất lượng việc thực thi chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Tăng cường chất lượng và hiệu quả giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước đối với các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức và công dân trong việc thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

  • Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội

Các tổ chức tôn giáo là một bộ phận trong xã hội, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do vậy, cần phải tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo để thực hiện một trong những chức năng quan trọng của tôn giáo. Nên tạo cho các tổ chức tôn giáo khả năng và quyền hạn pháp lý để có thể tham gia tích cực hơn vào các lĩnh vực xã hội. Sự mở rộng như vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu của các tổ chức tôn giáo mà còn phát huy được những tiềm năng sẵn có của các tổ chức đó.

Trong tôn giáo, các chức sắc tôn giáo đều làm việc bằng trí tuệ, đạo tâm và đạo lực vốn có của mình, họ làm việc bằng tinh thần tự nguyện, nhiệt tình mong muốn đem lại niềm vui cho đồng bào. Sức ảnh hưởng to lớn của tôn giáo trong đời sống tín ngưỡng của người dân cũng tạo điều kiện cho các tổ chức này tạo nên sức lan tỏa trong cộng đồng bằng những việc làm thiện nguyện. Với những thuận lợi đó, Đảng, Nhà nước ta cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, nhất là từ phía chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội; sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể, chi tiết các hoạt động xã hội từ thiện của tôn giáo thì sẽ phát huy và đóng góp nhiều hơn nữa cho xã hội.

3.2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

  • Tính cấp thiết của việc sửa đổi pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng và ban hành trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới đất nước, trong đó có đổi mới về chính sách tôn giáo qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo Pháp lệnh được ban hành. Pháp lệnh đã khẳng định chính sách đúng đắn của Nhà nước về quản lý hoạt động tôn giáo; tạo hành lang pháp lý quan trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo hiến chương, điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Tuy nhiên, qua tổng kết 10 năm thực hiện pháp lệnh và các văn bản quy định chi tiết thi hành, cho thấy những bất cập trong các quy định của Pháp lệnh chưa phù hợp tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và có những vấn đề phức tạp phát sinh.

Một số quy định của Pháp lệnh còn thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người như quy định về hoạt động tín ngưỡng, đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo, hoạt động quốc tế.

Vấn đề tổ chức tôn giáo Việt Nam gia nhập tổ chức tôn giáo quốc tế; việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử cho người có quốc tịch nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; việc người nước ngoài vào tu tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam,… chưa được quy định, gây ảnh hưởng đến tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như quy định tại Điều 24 của Hiến pháp 2013. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo chưa được quy định cụ thể trong pháp lệnh, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này và hoạt động của tổ chức, cá nhân tôn giáo…

Những hạn chế, bất cập này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Luật thay thế Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, thực hiện chủ trương của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”.

  • Yêu cầu đặt ra khi sửa đổi pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004

Một là, phải bám sát Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác tôn giáo và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.

Hai là, bảo đảm tính kế thừa pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2004; sửa đổi những quy định chưa rõ ràng, không phù hợp; bổ sung những quy định chưa được điều chỉnh trong Pháp lệnh mà thực tiễn đang đòi hỏi phải sớm có quy định để điều chỉnh; bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Ba là, bảo đảm tính khả thi, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Bốn là, nội dung sửa đổi phải bám sát yêu cầu của thực tiễn đòi hỏi, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào của mọi người; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp trong tôn giáo; bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ; giảm thời gian, tiết kiệm chi phí cho tổ chức, cá nhân tôn giáo.

Năm là, các quy định sửa đổi, bổ sung phải phù hợp với pháp luật quốc tế và xu hướng phát triển, tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

  • Kiến nghị sửa đổi một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

Mặc dù quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện song việc cụ thể hóa trong các văn bản luật còn chưa có, hệ thống văn bản pháp luật và pháp quy về tôn giáo hiện nay của chúng ta còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình thực tế, thiếu về các quy định và điều khoản thi hành dẫn đến làm giảm hiệu quả của việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Từ Hiến pháp cho đến pháp lệnh đều không có giải thích thế nào là tôn giáo, tín ngưỡng và thế nào là mê tín, dị đoan. Chính sự không giải thích này dẫn đến nhiều người không hiểu và phân biệt được để có những hành động, cư xử đúng với quy định của pháp luật. Nên chăng quy định rõ hai điều trên để từ đó đưa ra quy định xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật như mê tín dị đoan.

Điều 1, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định tại Điều 24 Hiến pháp 2013, theo đó, đã sửa đổi cụm từ “Công dân” bằng cụm từ “Mọi người”. Việc sửa đổi, bổ sung theo tinh thần quy định của Điều 24 Hiến pháp đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của con người, mọi người đều được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền đó được thực hiện trên thực tế, không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam. Đây là một bước tiến lớn trong việc thể chế quy định bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta.

Khoản 4, Điều 3, nên thay khái niệm “tổ chức tôn giáo cơ sở” bằng “tổ chức tôn giáo trực thuộc”, bởi vì khái niệm này bao quát hết được các tổ chức cấp dưới của tổ chức tôn giáo khác nhau. Khắc phục được thực tế và đáp ứng nhu cầu chính đáng của tín đồ, tổ chức tôn giáo trong việc thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc.

Bổ sung khái niệm “sinh hoạt tôn giáo” nhằm phân biệt sinh hoạt tôn giáo và hoạt động tôn giáo vì một số điều khoản trong Pháp lệnh có quy định về sinh hoạt tôn giáo: “Sinh hoạt tôn giáo là việc thực hành nghi thức thờ cúng, cầu nguyện, bày tỏ niềm tin tôn giáo”. Bổ sung khái niệm “tà đạo” để làm căn cứ, cơ sở nhận biết những dấu hiệu của hoạt động tà đạo, làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước xử lý đối với các hoạt động này khi họ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội: “Tà đạo là hoạt động mang hình thức tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân hay nhóm người trái pháp luật, xâm phạm an ninh trật tự, trái với thuần phong mỹ tục, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam”.

Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định ba điều kiện để công nhận cơ sở tôn giáo có tư cách pháp nhân nhưng còn quy định về tài sản của cơ sở tôn giáo thì chưa có quy định, điều này dẫn đến nhiều hệ lụy, phiền toái cho các cơ sở tôn giáo như: thiếu cơ sở pháp lý bảo đảm cho tính minh bạch của tài sản giáo hội; nguy cơ bị cá nhân hoặc tổ chức tài trợ tài chính thâu tóm, chi phối trong trường hợp giáo hội phải lệ thuộc vào cá nhân hoặc tổ chức tài trợ ấy để hoạt động;… dẫn đến những mất ổn định trong chính cơ sở đó. Vì vậy kiến nghị cần quy định thêm điều kiện về tài sản khi công nhận tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Đồng thời bổ sung thêm quy định cụ thể về pháp nhân tôn giáo ngoài những tiêu chí công nhận pháp nhân chung nên cụ thể hóa cho phù hợp với tổ chức tôn giáo như có thể gồm các tiêu chí: có tên gọi của tổ chức tôn giáo, không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được công nhận; tổ chức tôn giáo phải có mục đích, tôn chỉ, hiến chương, điều lệ hành đạo phù hợp với truyền thống văn hóa, lợi ích dân tộc và không trái với pháp luật; tôn giáo phải có cơ sở thờ tự.

Về quyền và nghĩa vụ của các bên, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo chưa quy định cụ thể đối với từng chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về tôn giáo nên trong quá trình thực hiện pháp luật còn gặp nhiều vướng mắc. Do đó cần có sự điều chỉnh trong dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo trong thời gian sắp tới để xác định rõ những quyền và nghĩa vụ cơ bản của các chủ thể như tổ chức, chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo, cơ quan quản lý Nhà nước các cấp và mọi tổ chức, cá nhân khác liên quan.

Bổ sung quy định tại điều 12 cho phù hợp với tình hình thực tiễn, Điều 12 Pháp lệnh 2004 chỉ quy định tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm còn các tổ chức tôn giáo cấp trên cơ sở thì không quy định, quy định này nhằm yêu cầu các tổ chức tôn giáo (trung ương hoặc trực thuộc) phải có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo diễn ra hàng năm, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về tôn giáo trong tình hình mới.

Điều 33, sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh theo hướng mở rộng, quy định cho tổ chức tôn giáo được tham gia hoạt động và thành lập các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giáo dục mầm non, lớp ngoại ngữ, tin học; cơ sở dạy nghề; cơ sở bảo trợ xã hội như các tổ chức khác Khoản 2 nhằm khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động hoặc thành lập các cơ sở hoạt động vì mục đích từ thiện nhân đạo. Quy định này nhằm khắc phục được hạn chế của Điều 33 Pháp lệnh 2004, phù hợp với chủ trương về xã hội hóa của Đảng, Nhà nước, phù hợp với văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, phát huy tối đa được các tiềm năng, nguồn lực, thế mạnh của các tôn giáo trong lĩnh vực này, góp phần cùng với Nhà nước và toàn xã hội giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra. Thể hiện chinh sách bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước khi tổ chức tham gia vào các quan hệ pháp luật. Quy định này được ban hành sẽ được các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong và ngoài nước ủng hộ, đón nhận và không trái với quy định của pháp luật liên quan.

Các quy định pháp luật về Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được chứa đựng trong nhiều ngành luật thuộc nhiều lĩnh vực khác có liên quan, do đó cũng cần phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tránh chồng chéo, mâu thuẫn nhau.

Vấn đề xử phạt hành chính trong lĩnh vực tôn giáo cũng cần có quy định rõ ràng mặc dù đã có Pháp lệnh xử phạt hành chính, Luật cán bộ công chức, tuy nhiên cũng nên có văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc, kết tinh từ sự đa dạng các nền văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc. Đồng thời, Việt Nam cũng là quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo, mọi tôn giáo đều bình đẳng và được tôn trọng, bảo đảm. Các tôn giáo cùng tồn tại và phát triển cùng xã hội và gắn với dân tộc, gắn với nhân quyền. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho tín đồ tôn giáo, bảo đảm cho các tôn giáo luôn được phát triển hài hòa, đồng hành cùng dân tộc.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Do vậy, bảo đảm Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước ta khẳng định qua các kỳ đại hội, được ghi nhận không chỉ trong Hiến pháp mà còn cả trong Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành. Đó luôn là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng. Hiếm có một quốc gia nào có tinh thần khoan dung tôn giáo như Việt Nam, đây là một đặc trưng cơ bản của sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Theo dòng chảy lịch sử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ra đời từ khá sớm, ở Việt Nam nó gắn liền với quá trình cách mạng, quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề tôn giáo bằng những chủ trương, chính sách cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ một số hạn chế do xuất phát từ những nhận thức lý luận mới về tôn giáo, về nhà nước thế tục và mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với tôn giáo và từ kinh nghiệm quốc tế về giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo. Hệ thống pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo chưa phù hợp với thực tế, việc thực hiện pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo mỗi nơi mỗi lúc một khác. Chính sách về tôn giáo ở mỗi địa phương có sự khác nhau, không đồng nhất, có những địa phương vẫn còn quá cứng nhắc trong việc xử lý vấn đề về tôn giáo, thậm chí còn không theo chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy cần bổ sung, hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo một cách chi tiết, cụ thể để có sự đồng bộ giữa các địa phương và áp dụng đúng nội dung, tinh thần chính sách của Đảng và Nhà nước. Vừa phải tạo điều kiện cho đồng bào tôn giáo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa phải tạo điều kiện cho đồng bào tôn giáo thực hiện quyền của mình. Tăng cường các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chú trọng biện pháp thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của hệ thống cơ quan làm công tác tôn giáo các cấp. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Nâng cao nhận thức không chỉ trong đồng bào tôn giáo mà trong cả cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo. Trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu khống, xuyên tạc, làm sai lệch đi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thì chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các tầng lớp nhân dân, nhất là chức sắc, tín đồ tôn giáo hiểu rõ quan điểm, chính sách tốt đẹp về tín ngưỡng; phải chỉ cho họ thấy rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân không chỉ được quy định trong Hiến pháp mà còn được pháp luật bảo vệ và thực thi trên thực tế. Do đó, giải quyết vấn đề tôn giáo luôn là đấu tranh tư tưởng chính trị mà muốn làm được điều đó, trước hết cần phải nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo bởi chính họ là người sẽ truyền đạt, giải thích những chính sách của Đảng, Nhà nước và cũng chính họ là người giúp đồng bào tôn giáo hiểu đâu là quyền tự do tín ngưỡng và đâu là vi phạm pháp luật.

Ngoài việc chăm lo đến đời sống tinh thần cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như không có tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta cũng đã chú trọng đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho các đồng bào có đạo cũng như không có đạo. Tuy nhiên, cũng cần cụ thể hóa hơn nữa những chính sách về tôn giáo trong hệ thống pháp luật, nhất là nên bổ sung một số quy định cụ thể vào trong dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo sắp tới. Bởi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, xã hội, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, do đó cần xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp, tạo điều kiện, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức có tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời, để đảm bảo sự bình đẳng giữa các tôn giáo, pháp luật về tôn giáo phải tạo ra được hành lang pháp lý với những quy định thực sự bình đẳng cho các tôn giáo hoạt động.

Trong xu thế thế tục như hiện nay thì việc bình đẳng giữa các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo với các tổ chức khác là rất cần thiết. Cần mở rộng hơn nữa quyền bình đẳng của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo, họ cũng có quyền làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của mình. Chính quyền các cấp nên tạo điều kiện cho họ được hoạt động và tham gia trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo thay vì kiểm soát họ một cách chặt chẽ. Thiết nghĩ, để quyền của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm thì Nhà nước nên coi các tổ chức này như những tổ chức xã hội bình thường khác, nên cho phép họ thành lập các phòng khám, bệnh viện tư nhân, trường mầm non, trường dạy nghề hay các trung tâm bảo trợ xã hội nhằm phát huy nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn trí tuệ của chức sắc nhằm góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Với những nội dung thể hiện trong luận văn, tác giả đã cố gắng phân tích đúng theo từng mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra. Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian cũng như khả năng nghiên cứu nên luận văn còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự đóng góp của thầy, cô và độc giả quan tâm./. Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464