Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn theo ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Quan điểm hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn
3.1.1. Hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hoá đời sống nhà nước, đời sống xã hội ở nước ta hiện nay
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: ”Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [34].
Như vậy, bằng việc bảo đảm về mặt hiến định, chúng ta đang tạo ra những nền tảng cần thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một tiến trình lâu dài và có tính đặc thù. Nhà nước pháp quyền phải là sự kế thừa, phát triển của Nhà nước dân chủ nhân dân ở tầm cao mới trên cơ sở bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
Hạt nhân của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là các quan hệ xã hội chủ yếu được điều chỉnh bằng pháp luật, trong đó quan hệ HN&GĐ giữ vị trí quan trọng, bởi gia đình là tế bào của xã hội; pháp luật giữ vị trí điều chỉnh chủ đạo trong toàn xã hội, trong hoạt động xử sự của những chủ thể trong xã hội. Các cơ quan nhà nước, một mặt sử dụng pháp luật để quản lý từng ngành, từng lĩnh vực, nhưng ở mặt khác, khi tham gia các quan hệ pháp luật thì cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Nói một cách khác, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà ở đó, pháp luật là ý chí của toàn thể nhân dân, pháp luật giữ vị trí thống trị. Quản lý nhà nước bằng pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội văn minh, công bằng, dân chủ; là phương pháp cơ bản bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật, bảo đảm cho toàn xã hội nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Trên cơ sở đó, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo đảm, khắc phục sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước.
3.1.2. Hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn phải trên cơ sở đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Trong số các quyền con người, quyền công dân thì quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung quan trọng, cần phải được quan tâm.
Để có thể đáp ứng được yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, đòi hỏi phải xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình. Bởi, về nguyên tắc, pháp luật là ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa, là tiếng nói của công lý và ý trí. Do đó, nếu xét về mặt hình thức pháp lý, thì các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình phải điều chỉnh một cách bao quát, toàn diện các quan hệ giữa Nhà nước và đương sự; nếu xét về mặt nội dung pháp lý, quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình phải thể hiện và đáp ứng được nhu cầu khách quan của xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – văn hóa – chính trị -xã hội… Về cấu trúc, pháp luật về quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình phải là một thể thống nhất, chặt chẽ về thứ bậc, trong đó Hiến pháp giữ vai trò là “Đạo luật gốc”. Về mặt luật thực định, với việc đề cao hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, vai trò của quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình đòi hỏi phải được nâng cao và tăng cường hơn nữa.
Vì vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình phải đảm bảo quyền tham gia tố tụng, các đương sự phải bình đẳng với nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
3.1.3. Hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn phải thể hiện được chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp
Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách bộ máy nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước chống lại sự lạm quyền, vi phạm quyền công dân; chống lại sự tùy tiện của công quyền để bảo vệ quyền con người; đó cũng là nơi mà mọi mặt hoạt động của Nhà nước đều đặt trên cơ sở pháp luật.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, để bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình thì phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa việc mở rộng quyền của đương sự với việc hoàn thiện và mở rộng thẩm quyền của Tòa án. Vấn đề cần phải nhận thức hai chiều ở đây là: Các quy định của pháp luật nhằm tôn trọng và bảo vệ bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, nhưng các quy định đó cũng đồng thời phải bảo đảm rằng khi thực hiện quyền ấy, đương sự không gây khó khăn, cản trở hoạt động xét xử bình thường của Tòa án.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương thực hành chính sách đổi mới nhằm kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan tư pháp.
3.2. Giải pháp hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
3.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức
- Nâng cao nhận thức về nội dung và vai trò quyền của phụ nữ khi ly hôn
Có thể khẳng định rằng, không phải mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức ở Việt Nam hiện nay đều đã nhận thức đúng đắn về nội dung cũng như vai trò của quyền phụ nữ khi ly hôn. Quy định về quyền của phụ nữ khi ly hôn trên phương diện pháp luật đã khó, nhưng thực hiện trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì vậy, về mặt nhận thức, cần giải quyết những vấn đề sau:
Trước hết, cần nhận thức đầy đủ và chính xác về quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về HN&GĐ. Nội dung quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về HN&GĐ đã dựa vào tính khoa học, triết lý mạch lạc về quyền con người với những luận điểm được kiểm chứng tại mọi quốc gia và trong thực tiễn tổ chức tại Việt Nam.
Cần xây dựng được quyết tâm chính trị cao từ phía các nhà lãnh đạo, nhà quản lý chính trị và lãnh đạo nhà nước; trước hết là từ các cơ quan TAND trong việc ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền phụ nữ khi ly hôn. Trên cơ sở đó mới có thể xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm quyền phụ nữ khi ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, xây dựng nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về quyền con người nói chung, quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân nói riêng, trong đó có quyền phụ nữ khi ly hôn. Nếu phụ nữ không có sự hiểu biết nhất định về pháp luật Tố tụng dân sự thì rất khó khăn trong việc thực hiện quyền phụ nữ khi ly hôn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trước Tòa án. Hơn nữa, BLTTDS năm 2015 đã có rất nhiều điểm mới liên quan đến quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về HN&GĐ mà đương sự có thể chưa biết hết những quy định này cũng như chưa biết thực hiện những quy định đó như thế nào. Bên cạnh đó, thực tế vẫn còn có một bộ phận người dân cố tình không chấp hành pháp luật, không hợp tác với Tòa án, nhằm gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ việc HN&GĐ.
- Nghiên cứu đầy đủ các yếu tố tác động đến xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn
Quyền của phụ nữ khi ly hôn chịu sự tác động chủ yếu của các yếu tố: Thể chế chính trị; điều kiện kinh tế – xã hội; các yếu tố về lịch sử, dân tộc, văn hóa, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán, trình độ dân trí…. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn.
Thể chế chính trị là kim chỉ nam của pháp luật; Điều kiện kinh tế – xã hội có vai trò bảo đảm để xây dựng, hoàn thiện và vận hành pháp luật có hiệu quả; Các yếu tố về lịch sử, dân tộc, văn hóa, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán…..là những yếu tố tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội; có nhiều yếu tố đã “ăn sâu, bén rễ”, hình thành thói quen ứng xử của người dân đối với nhau. Một dân tộc có lịch sử văn minh, có truyền thống đạo đức, có văn hoá chính trị, có những phong tục, tập quán tốt đẹp sẽ là môi trường thuận lợi để xây dựng thể chế pháp lý nói chung, trong đó có quyền phụ nữ khi ly hôn. Bên cạnh đó, trình độ mặt bằng dân trí được nâng cao cũng là yếu tố thúc đẩy hoàn thiện và thực thi nghiêm túc quyền phụ nữ khi ly hôn.
- Quán triệt đúng, đầy đủ, kịp thời nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân trong việc hoàn thiện quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn
Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền con người, quyền công dân là một trong những định chế quan trọng nhất. Trong thời gian tới, việc hoàn thiện quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc về HN&GĐ cần phải quán triệt đầy đủ, kịp thời những nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013, đúng như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 01/2016) đã nêu ra nhiệm vụ: “Lãnh đạo việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật theo các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước”. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn
- Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình
Để bảo đảm quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc HN& GĐ thì Nhà nước cần rà soát lại các chính sách và hệ thống pháp luật, đặc biệt là các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình để xóa bỏ những nội dung, điều luật cản trở sự bình đẳng cũng như bảo vệ được quyền và lợi ích của người phụ nữ nhất là trong quan hệ nhân thân, tài sản, con cái giữa vợ và chồng. Trên cơ sở nghiên cứu, luật văn đưa ra một số đề xuất để bảo vệ tốt hơn nữa quyền của người phụ nữ nói riêng và quyền bình đẳng vợ chồng nói chung trong quá trình giải quyết vụ việc HN&GĐ như sau:
Theo quy định tại Điều 104 BLTTDS năm 2015 thì một hoặc các bên đương sự có quyền yêu cầu thực hiện việc định giá tài sản tranh chấp bằng Hội đồng định giá (do Tòa án ra quyết định thành lập) hoặc bằng tổ chức thẩm định giá. Tuy nhiên, trong trường hợp bên đương sự này yêu cầu định giá tài sản bằng Hội đồng định giá, còn bên kia lại yêu cầu định giá bằng tài sản bằng tổ chức thẩm định giá, Tòa án sẽ giải quyết mâu thuẫn này như thế nào? Trong trường hợp giữa kết quả định giá của Hội đồng định giá và kết quả định giá của tổ chức thẩm định giá có sự khác nhau và chênh lệch rất lớn, Tòa án sẽ căn cứ vào kết quả định giá nào để giải quyết vụ-việc dân sự (BLTTDS 2004; BLTTDS 2011 và BLTTDS 2015 đều quy định rằng kết quả của 2 hình thức định giá này có giá trị pháp lý như nhau). Vì vậy, trong trường hợp xảy ra như thế, Tòa án sử dụng kết quả định giá nào cũng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của một bên đương sự, không đảm bảo quyền bình đẳng giữa các đương sự.
Các đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cung cấp chứng cứ nhưng BLTTDS 2015 lại không quy định chế tài khi các chủ thể đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cố tình không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự (Điều 106 BLTTDS 2015). Trong khi đó, BLTTDS 2015 lại quy định rằng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, mà họ đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 106; 489 BLTTDS 2015). Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ đã gây khó khăn cho đương sự trong việc thu thập chứng cứ nhưng không bị xử lý nghiêm theo các quy định vừa viện dẫn.
BLTTDS không quy định trách nhiệm của Thẩm phán phải giải thích cho đương sự quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự trước khi xét xử sơ thẩm. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi vì đương sự có hiểu biết đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình thì họ mới có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó khi tham gia Tố tụng dân sự, cũng như có thể bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, trong thực tiễn, đã xảy ra nhiều trường hợp đương sự không biết hoặc không biết đầy đủ về quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự của mình nên họ đã không được thực hiện đầy đủ quyền của mình, thí dụ như quyền sao chụp tài liệu, chứng cứ; quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp hoặc do Tòa án thu thập; quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ khi tự mình không thể thu thập tài liệu, chứng cứ…. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Điều 269 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định rằng khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện ở giai đoạn phúc thẩm thì Tòa án chỉ cần hỏi ý kiến của bị đơn. Tuy nhiên, nếu xảy ra trường hợp trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà họ vẫn giữ yêu cầu độc lập đó, không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì luật Sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chưa dự liệu. Bên cạnh đó, “Bộ luật Tố tụng dân sự mới chỉ đề cập đến việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn mà chưa có quy định về việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút lại yêu cầu phản tố, rút lại yêu cầu độc lập của mình hoặc nguyên đơn rút một phần yêu cầu của mình ở giai đoạn phúc thẩm” [32, tr.134]. Việc Bộ luật Tố tụng dân sự không dự liệu về những trường hợp vừa nêu, đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các đương sự tham gia Tố tụng dân sự. Do đó, Bộ luật Tố tụng dân sự cần bổ sung phần quy định thành phần đương sự trong việc dân sự (bao gồm người có yêu cầu giải quyết việc dân sự; người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ ). Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự cũng cần quy định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự để phù hợp với địa vị pháp lý của từng đương sự. Các quy định này sẽ là cơ sở pháp lý để các đương sự trong việc dân sự xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tạo cho họ những căn cứ pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự trên nguyên tắc bình đẳng.
- Hoàn thiện quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn căn cứ vào công sức đóng góp
Việc xác định công sức đóng góp của vợ chồng đối với khối tài sản chung trong vụ án hôn nhân và gia đình là vấn đề khó khăn, phức tạp. Cho đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn trường hợp nào tính công sức, trường hợp nào không được tính công sức và việc định lượng công sức như thế nào cho hợp lý. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn giải quyết các vụ án HN&GĐ, tác giả xin có một số kiến nghị khi xem xét công sức trong vụ án HN&GĐ như sau: Cần xác định có công sức hay không? là công sức tạo lập, phát triển tài sản; công sức giữ gìn, bảo quản tài sản; hay công sức chăm sóc, nuôi dưỡng… và việc tính công sức phải dựa vào các tiêu chí: nguồn gốc tài sản, sức lực, thời gian bảo quản, giữ gìn; kết quả chi phí sức lực, thời gian cho việc bảo quản, giữ gìn; giá trị tài sản. Đặc biệt, người tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần ưu tiên xem xét tới yếu tố công sức đóng góp để chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về thời điểm xác lập tài sản riêng của vợ chồng Luật hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn về thời điểm xác định khối tài sản riêng của vợ chồng. Do đó, có nhiều cách hiểu khác nhau về thời điểm “có” tài sản. Nếu áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để xác định tài sản thì không đảm bảo được quyền lợi cho chủ sở hữu và không phù hợp với căn cứ xác lập tài sản chung. Do đó, tác giả kiến nghị pháp luật cần bổ sung quy định hướng dẫn theo hướng công nhận thời điểm xác lập tài sản riêng là thời điểm “có” tài sản trên thực tế. Theo đó, tại khoản 1 Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014 cần sửa đổi như sau: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có được trên thực tế trước khi hôn nhân; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân,…”[35]. Quy định này tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và đảm bảo được quyền lợi của vợ, chồng – chủ sở hữu tài sản khi ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về xác định tài sản chung của vợ chồng. Luật HN&GĐ năm 2014 đã có định nghĩa tài sản chung của vợ chồng theo phương pháp liệt kê. Theo đó tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp tài sản chung của vợ chồng đã được phân chia trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của Luật HN&GĐ; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng [35,Khoản 1, Điều 33]. Đây là vấn đề cơ bản cần phải xác định khi có yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng. Việc xác định chính xác tài sản chung của vợ chồng là cơ sở, điều kiện tiên quyết để phân chia tài sản chung của vợ chồng được đúng đắn. Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng.
Các quy định về việc nhập tài sản riêng của vợ chồng vào tài sản chung của vợ chồng cần phải có sự quy định rõ ràng thể thức của thỏa thuận sáp nhập tài sản đó. Đối với những quan hệ sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực cũng như các quy định khác về đăng ký tài sản, các nhà làm luật cần xây dựng các án lệ để tạo ra những quy tắc chung giúp có căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng trong những tình huống như vậy trên căn cứ nguyên tắc suy đoán. Ví dụ như Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao [2].
Đối với các tài sản có giá trị lớn bất động sản, xe ô tô… pháp luật về đăng ký tài sản cần quy định rõ việc ghi nhận quyền sở hữu chung của các đồng chủ sở hữu (cả vợ và chồng) nếu đó là tài sản chung. Pháp luật cần quy định thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện để việc đăng ký sở hữu tài sản được thuận lợi, nhanh chóng, tránh tâm lý do ngại thủ tục hành chính phức nên không muốn thực hiện quyền lợi của mình trên thực tế.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về giải quyết tài sản chung của vợ chồng là quy ền sử dụng đất do được bố mẹ tặng cho.
Tình trạng tặng cho tài sản mà không lập thành văn bản xảy ra khá phổ biến, để đảm bảo quyền lợi của các bên tác giả xin có một số kiến nghị như sau:
- Cần xác định rõ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, xem xét Quyền sử dụng đất đó thật sự là tài sản của bố mẹ hay chỉ là thuộc sở hữu riêng của bố hoặc mẹ; trong quá trình sử dụng mảnh đất đó, vợ chồng có công sức đóng góp gì để tôn tạo và phát triển giá trị sử dụng mảnh đất đó hay không?
- Cần xác định ý chí của bố mẹ trong việc tặng cho này thông qua việc xem xét hình thức tặng cho một cách linh động theo hướng: Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Nếu Quyền sử dụng đất đó là do bố mẹ nhận chuyển nhượng hoặc có nguồn gốc là của bố mẹ nhưng vợ chồng người con đã sử dụng trong một thời gian dài, được bố mẹ đồng ý cho vợ chồng đứng tên trong sổ địa chính hoặc bố mẹ biết việc vợ chồng người con đứng tên nhưng không phản đối (không phụ thuộc vào việc được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất hay chưa), chỉ đến khi ly hôn, bố mẹ mới phủ nhận việc tặng cho ấy, thì bố mẹ phải đưa ra được chứng cứ chứng minh, nếu không Quyền sử dụng đất sẽ thuộc sở hữu của vợ chồng người con. Ngược lại, nếu như bố mẹ đăng ký kê khai và đứng tên trong giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thì không thể chỉ dựa vào căn cứ thời gian sử dụng lâu dài của vợ chồng người con, kể cả trường hợp người con đã xây nhà kiên cố trên đất để xác định đây là Quyền sử dụng đất của người con mà cần tham khảo ý chí của bố mẹ về việc tặng cho này hoặc ý kiến của những nhân chứng hoặc dùng những chứng cứ chứng minh khác để xác định.
Nếu Quyền sử dụng đất do bố mẹ và vợ chồng người con cùng bỏ tiền ra mua, hợp đồng chỉ có tên vợ chồng người con và vợ chồng này cũng đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, xây nhà kiên cố, sử dụng liên tục. Sau đó bố mẹ mất, một bên chồng hoặc vợ không có ý kiến gì, chỉ đến lúc ly hôn mới cho rằng đó là tiền bố mẹ cho vay nay đòi lại hoặc bố mẹ mua nhưng nhờ vợ chồng đứng tên dùm thì Tòa án không chấp nhận những lập luận đó mà phải công nhận Quyền sử dụng đất trong trường hợp này thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Tuy nhiên, nếu đến thời điểm vợ chồng ly hôn, bố mẹ khẳng định rằng trước đây vợ chồng có vay tiền bố mẹ để nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng đất thì vợ chồng lúc bấy giờ phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền đó cho bố mẹ.
QSDĐ có nguồn gốc là của bố mẹ nhận chuyển nhượng rồi cùng vợ chồng người con xây nhà ở chung thì Tòa nên công nhận Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bố mẹ, chỉ có phần nhà trên đất mới thuộc sở hữu chung của bố mẹ và vợ chồng người con, từ đó ngôi nhà sẽ được phân chia theo công sức đóng góp của mỗi thành viên.
Bố mẹ giúp vợ chồng người con vay tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng người con đã đứng tên trên giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Nếu như đến khi vợ chồng ly hôn, bố mẹ vẫn chưa thanh toán hết khoản nợ đã vay trong trường hợp này thì vợ chồng người con phải thanh toán cho chủ nợ và thanh toán cho chủ nợ và thanh toán cho bố mẹ khoản tiền bố mẹ đã bỏ ra trả nợ cho họ. Trường hợp này, bố mẹ được xem như là người đứng ra vay nợ dùm cho vợ chồng người con. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Nếu như quyền sử dụng đất được bố mẹ tặng cho có điều kiện nhưng vợ chồng người con đã không thực hiện những điều kiện đó thì bố mẹ có quyền đòi lại.
Ngoài ra, trong quy định về các trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng bị vô hiệu, Luật HN&GĐ năm 2014 đã trao quyền cho bên có quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu nếu nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, lại không quy định cho họ quyền được yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng để bên có nghĩa vụ riêng với người thứ ba có tài sản thực hiện nghĩa vụ với mình. Điều này đã được quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015. Như vậy, có thể thấy quy định của Luật HN&GĐ chưa phù hợp với quy định của luật chung. Về vấn đề này, Tác giả Nguyễn Thị Hạnh cũng có quan điểm tương tự: “pháp luật cần quy định rõ: Trong trường hợp người có quyền có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thỏa thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người có quyền có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán các khoản nợ. Yêu cầu của người có quyền sẽ không được Tòa án công nhận nếu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình của người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có nghĩa vụ có đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ” [9].
3.2.3. Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình
Đây là biện pháp đóng vai trò quan trọng trong công tác nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn nói riêng. Bởi lẽ, pháp luật chỉ có thể thực thi sứ mệnh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người khi người mà nó hướng tới bảo vệ thực sự hiểu nó. Hơn nữa, ở một quốc gia có truyền thống tâm lý “trọng nam khinh nữ”, “xuất giá tòng phu” như Việt Nam thì việc bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em khi ly hôn không phải dễ dàng thực hiện một cách triệt để. Hoạt động tăng cường này có thể được triển khai dưới nhiều hình thức như tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo chuyên đề, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hôn nhân và gia đình… Việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật cùng với những thay đổi trong cách nhìn nhận về vai trò và quyền lợi của phụ nữ và trẻ em đã xóa bỏ những định kiến vốn là yếu tố cản trở việc đảm bảo nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong quá trình áp dụng pháp luật nói chung và trong giải quyết tài sản khi ly hôn nói riêng.
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn. Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, cùng lúc kéo theo những biến đổi trong văn hóa, đạo đức xã hội, làm giá trị đạo đức truyền thống trong mỗi gia đình cũng đang dần bị phá vỡ, tình trạng ly thân, ly hôn gần đây có xu hướng năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong các gia đình trẻ. Viện Nghiên cứu gia đình và Giới vừa cho biết, cả nước trung bình có trên 60.000 vụ ly hôn/năm, tỉ lệ 30% tức là cứ 10 cặp vợ chồng kết hôn thì có 3 cặp ly hôn. Xu hướng này tiếp tục tăng ở cả thành phố và nông thôn. Điều đáng nói, 70% số vụ ly hôn thuộc về các gia đình trẻ, vợ hoặc chồng trong độ tuổi từ 18-30; trong đó có 60% ly hôn sau khi kết hôn từ 1-5 năm, nhiều trường hợp chỉ mới cưới nhau được vài tháng… Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu gia đình và Giới cho thấy mâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng đầu (27,7%) dẫn đến ly hôn. Các yếu tố tiếp theo là ngoại tình (25,9%), kinh tế (13%), bạo lực gia đình (6,7%), sức khỏe (2,2%), xa nhau lâu ngày là 1,3%.
Phân tích về nguyên nhân ly hôn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Cừ cho rằng, có những lý do bắt đầu từ chính những biến động mang tính tích cực của xã hội hiện đại. Theo ông, chính sự bình đẳng giới đã đem lại sự chủ động, độc lập về kinh tế, cũng như sự đòi hỏi đáp ứng nhu cầu cá nhân ngày càng cao khiến con người không dễ chấp nhận hoặc cam chịu dẫn đến tỷ lệ ly hôn ở các gia đình ngày càng tăng.
Nhìn vào thực tế, tỷ lệ ly hôn ở những gia đình mà vợ chồng là viên chức, trí thức, các nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại cao hơn những gia đình công nhân, nông dân. Điều kiện kinh tế phát triển, dân trí càng cao, điều kiện tiếp xúc xã hội càng nhiều, thì sự đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu cá nhân càng lớn, và điều đó đang là một trong những nguyên nhân khiến gia đình ngày càng kém bền vững. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Tiến sĩ xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng, nếu gia đình có nền giáo dục căn bản, truyền thống đạo đức thì nguy cơ đổ vỡ phần nào sẽ được ngăn chặn [46]. Và điều quan trọng nhất là bản thân mỗi cặp vợ chồng phải biết nghĩ về nhau, tôn trọng nhau, tôn trọng những giá trị của truyền thống gia đình. Sự yêu thương, chia sẻ, tôn trọng và nhường nhịn lẫn nhau cùng hướng đến một mái nhà hòa thuận. Thực tế đã chứng minh, gia đình nào có sự giáo dục cơ bản, có truyền thống đạo đức thì tình trạng ly hôn, đổ vỡ rất khó xảy ra.
Theo ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh án TAND Thành phố Thủ Dầu Một, nhiều đôi vợ chồng có tuổi đời dưới 30 quyết định chia tay chỉ vì đơn giản họ lấy nhau do… sự khích bác từ bạn bè [48]. Từ nhận định này của ông Thanh có thể thấy, dư luận xã hội có vai trò lớn trong việc hạn chế sự gia tăng ly hôn. Nói về vấn đề này, ThS. Hoàng Thị Ái Hoa – Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế cho rằng, phát huy vai trò của dư luận là vấn đề cần thiết để lên án những tệ nạn xã hội dễ trở thành những nguyên nhân gây ra ly hôn như ngoại tình, cờ bạc, bạo lực gia đình. Theo bà Ái Hoa, thường xuyên khơi dậy truyền thống gia đình, nền nếp gia phong, mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên, tính tôn ti trật tự, chữ hiếu… đang là ưu thế riêng có của Huế hiện nay trong vấn đề kiềm chế sự đổ vỡ của gia đình. “Những giải pháp này thì không chỉ Huế mà các tỉnh, khác cũng vẫn có thể vận dụng để làm sao giảm được tỷ lệ ly hôn trong các gia đình ngay từ nội tại của chính các gia đình và các mối quan hệ giữa gia đình và xã hội” [48]
Một khía cạnh khác, sau ly hôn cha hoặc mẹ tái hôn, cảnh sống chung với cha dượng hoặc mẹ kế, tình trạng “con anh, con em”, dẫn đến các bậc cha mẹ có thể thiếu trách nhiệm trong việc giáo dục con cái (bỏ mặc, ngược đãi) tác động sâu sắc không những lên sự nhận thức còn rất non nớt của các em mà con gây ra những bất hòa và tổn thương tâm lý khó hàn gắn được.
Hôn nhân tan vỡ không chỉ làm ảnh hưởng đến gia đình, người thân mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Bởi gia đình là tế bào của xã hội, khi tế bào không “khỏe” thì xã hội bị ảnh hưởng nhiều mặt. Sau những cuộc hôn nhân không thành là những đứa con vô tội phải sống trong cảnh thiếu tình thương và sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha hoặc mẹ. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng.
Chính vì vậy, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân (nhất là nông dân, người dân tộc thiểu số), lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức về Hiến pháp, pháp luật về quyền bình đẳng và Luật bình đẳng giới…, lên án những hành vi vi phạm và kìm hãm việc thực hiện quyền bình đẳng giới như: tình trạng bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em, phân biệt đối xử giới, những hủ tục và quan điểm trọng nam khinh nữ, những vấn đề về công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ so sinh, về vai trò và vị trí của phụ nữ, trẻ em trong cuộc sống, trong học tập, công việc, gia đình và tham gia đoàn thể xã hội cần được chú trọng. Bên cạnh đó, tăng cường tuyên truyền về vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo nghề cho phụ nữ và trẻ em ở nông thôn, vùng dân tộc thiểu số; việc xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ, chỉ tiêu bổ nhiệm cán bộ nữ trong cơ cấu cán bộ lãnh đạo của các cơ quan, đơn vị, địa phương…nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vị thế của phụ nữ trong xã hội. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
- Nâng cao công tác xét xử bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn
Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp. Muốn nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn, bên cạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác nâng cao chất lượng xét xử là một yêu cầu quan trọng. Muốn vậy, cần nâng cao trình độ, kĩ năng nghiệp vụ pháp lý của đội ngũ cán bộ tư pháp. Hôn nhân và gia đình có một đặc trưng là bên cạnh góc độ pháp lý còn mang yếu tố tình cảm. Vì vậy, trong quá trình xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình đòi hỏi Thẩm phán phải huy động mọi kiến thức pháp lý, kinh nghiệm sống và khả năng phán đoán tâm lý để đưa ra phán quyết đúng đắn, hợp tình hợp lý nhất. Do đó, nên chăng thành lập một hệ thống cơ quan riêng chuyên xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.
Việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn có ý nghĩa to lớn và quan trọng về cả lý luận và thực tiễn. Tuy chưa được thể hiện một cách triệt để, toàn diện, nhưng việc ghi nhận nguyên tắc này trong chế định ly hôn cho thấy sự tiến bộ của pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Nó tạo nên sự thống nhất về những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Nhà nước trong toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, đồng thời, tạo nên khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng những quy tắc này vào thực tiễn, nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em ngày càng tốt hơn trong xã hội hiện đại.
Điều 14 : Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 quy định ly hôn là “việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”[35].Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, trong trường hợp ly hôn xảy ra, khi Toà án xét xử cho ly hôn sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý về quan hệ nhân thân của vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng, việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn, giao con chung cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đóng góp phí tổn nuôi dưỡng giáo dục con…Khi giải quyết các vụ việc ly hôn, Tòa án phải thực thi hoạt động của mình và ra phán quyết cho thật hợp tình, hợp lý, bảo đảm quyền của phụ nữ theo nguyên tắc “bình đẳng và ưu tiên” đã được khẳng định trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Như đã nêu ở trên,các vụ, việc liên quan đến hôn nhân và gia đình chiếm tỷ lệ trên 60% trong tổng số các vụ án và có xu hướng ngày càng gia tăng. Đa số vụ ly hôn thường là các cặp vợ chồng trẻ, cá biệt có nhiều vụ chỉ kết hôn được mấy tháng đã ra tòa ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Mặt khác, việc xét xử và giải quyết án hôn nhân và gia đình gặp nhiều khó khăn do nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của các cặp vợ chồng còn hạn chế; các tranh chấp về việc phân chia tài sản chung, quyền nuôi con, nợ chung sau khi ly hôn diễn ra phức tạp.
Để giải quyết án hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả cao, tránh được những sai sót và bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ, các thẩm phán, thư ký tòa án nêu cao tinh thần, trách nhiệm ngay từ bước thu thập chứng cứ, tài liệu làm cơ sở giải quyết ly hôn. Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung, thẩm phán, thư ký tập trung xác định, thẩm định chính xác tài sản chung, riêng của vợ chồng; xác định vai trò, đóng góp của mỗi bên trong việc duy trì, phát triển tài sản chung.
Khi đưa ra quyết định về quyền nuôi con cho cha hay mẹ, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, điều kiện vật chất, tinh thần để xem xét, phán quyết giao con chung cho bên nào nuôi. Các nội dung này được thể hiện rõ trong bản án, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em; phòng ngừa các hành vi bạo lực gia đình.
Cùng với đó, tòa án nhân dân hai cấp quan tâm đến công tác kiện toàn tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; quán triệt, giáo dục cán bộ, thẩm phán thực hiện nghiêm quy chế văn hóa công sở và quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Tòa án nhân dân; làm tốt công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, trao đổi nghiệp vụ và rút kinh nghiệm công tác xét xử.
Ngành Toà án tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ tập trung vào việc khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong công tác của tòa án nhân dân cấp huyện; bổ sung cán bộ, thẩm phán cho các đơn vị còn thiếu so với yêu cầu công tác; phát động các phong trào thi đua gắn với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn…
Căn cứ vào chỉ tiêu được giao, Tòa án Nhân dân hai cấp tổ chức ký giao ước thi đua giữa các đơn vị, tạo khí thế thi đua sôi nổi, trở thành động lực, cổ vũ mỗi cán bộ, thẩm phán, thư ký phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, kết quả công tác giải quyết, xét xử các tranh chấp trong án hôn nhân và gia đình trong thời gian qua đạt kết quả đáng ghi nhận.
Đồng chí Phạm Thị Thúy Mai, Phó Chánh án Tòa án Dân sự, Tòa án Nhân Dân tỉnh Vĩnh Phúc cho biết: Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ly hôn ngày càng cao, đặc biệt ở các cặp vợ chồng trẻ, do họ có cái “tôi” quá lớn, chưa coi trọng giá trị của đối phương, thường xuyên có tư tưởng sẵn sàng ly hôn mỗi lần xảy ra mâu thuẫn…[46]. Nhưng khi ra tòa, được thẩm phán, thư ký động viên, chia sẻ, họ tự động rút đơn về ở với nhau. Có thể nói, công tác hòa giải có ý nghĩa quan trọng giúp những tranh chấp, mâu thuẫn được giải quyết không vượt quá giới hạn. Tuy nhiên, quá trình giải quyết các vụ, việc liên quan đến hôn nhân và gia đình không hề đơn giản, bởi vì nó tác động sâu sắc đến tình cảm, tâm lý của các thành viên trong gia đình.
Để hòa giải thành công, người thẩm phán phải biết lắng nghe, chia sẻ, cảm thông với hoàn cảnh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn; quy trình hòa giải đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi, lợi ích của các bên đương sự. Những vụ, việc không thể hòa giải được phải đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử tạo mọi điều kiện để các bên đương sự tranh tụng, đưa ra tài liệu, chứng cứ bảo vệ quan điểm của mình, từ đó tòa đưa ra quyết định đúng đắn”. Kết quả xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình đảm bảo đúng pháp luật, rõ ràng, có sức thuyết phục. Qua đó, kịp thời bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân nói chung và của phụ nữ, xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Qua bốn năm thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trong tổng số các vụ việc hôn nhân và gia đình Tòa án các cấp giải quyết thì số lượng vụ việc ly hôn chiếm tỉ lệ lớn nhất. Mặc dù số lượng vụ án tranh chấp ly hôn đưa ra xét xử không nhiều nhưng các vụ án đưa ra xét xử đều mang tính phức tạp cao, liên quan đến nhiều quyền lợi quan trọng của các đương sự trong vụ án. Nhìn chung, kết quả xét xử các vụ án ly hôn của tòa án thời gian vừa qua đạt yêu cầu, bảo đảm quyền lợi chính đáng của đương sự. Tuy nhiên, trong công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, đội ngũ cán bộ, công chức của Tòa án nhân dân các cấp nhìn chung chưa đủ về số lượng, một bộ phần còn bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác. Thẩm phán còn gặp nhiều khó khăn trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, dẫn tới chất lượng giải quyết nhiều vụ việc về hôn nhân và gia đình còn chưa cao. Việc phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phối hợp giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình hoặc trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền về hôn nhân và gia đình của người dân còn nhiều bất cập .
Mặt khác, hoạt động giải quyết án ly hôn của Tòa án còn chịu sức ép về số lượng và thời hạn giải quyết vụ án, nhiều vụ án ly hôn đưa ra xét xử nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết dứt điểm là những trở ngại đối với việc bảo đảm thực thi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ khi ly hôn. Các sai sót, tồn tại xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, tập trung vào cả ba vấn đề khi giải quyết án ly hôn gồm: hôn nhân, con chung và tài sản chung. Thực tế áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong những năm qua cho thấy, mặc dù đã điều chỉnh có hiệu quả nhiều quan hệ về hôn nhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn, nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập như: một số quy định liên quan đến thực hiện quyền con người, đặc biệt là về bình đẳng giới còn mang tính hình thức, không thực chất và không khả thi; một số vấn đề hôn nhân và gia đình chưa được luật quy định cụ thể hoặc không quy định.Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 vừa được ban hành có nhiều điểm mới, tiến bộ nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và bảo đảm thực hiện quyền phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng đặt ra yêu cầu cần được nghiên cứu, đề xuất áp dụng trong thực tiễn. Trên cơ sở xem xét phù hợp với các quy định của Hiến pháp mới 2013 và các điều ước quốc tế Việt Nam tham gia, cần cải tiến hoạt động giải quyết các vụ việc ly hôn của Tòa án trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ quyền của phụ nữ nhằm góp phần thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền con người, quyền công dân.
Tham khảo cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử án hôn nhân và gia đình của các nước cho thấy: hiện nay, nhiều nước thuộc các hệ thống luật khác nhau trên thế giới đã thành lập Tòa án Gia đình là mô hình tòa án có vai trò tăng cường tính chuyên môn đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Theo đó, cơ cấu nhân sự của Tòa án Gia đình có Điều tra viên đóng vai trò quan trọng trong việc điều tra sự thật trong xét xử hôn nhân gia đình, cũng như liên kết với cơ quan phúc lợi xã hội, đánh giá tâm lý, các công việc mang tính hỗ trợ. Thẩm phán Tòa án gia đình hoạt động chuyên trách, được lựa chọn là những người có độ tuổi, kinh nghiệm nhất định và có kiến thức về tâm lý học, xã hội học…Với mô hình Tòa án gia đình, hoạt động giải quyết các vụ việc ly hôn có tính chuyên môn cao, phán quyết của Tòa án được đưa ra trên cơ sở các bên đương sự đã được tư vấn, hòa giải bằng nhiều hình thức, quyền lợi của các bên đương sự đều được xem xét, cân nhắc kỹ càng. Việt Nam đang trong tiến trình nghiên cứu, chuẩn bị triển khai áp dụng mô hình Tòa án Gia đình nên hoạt động giải quyết án ly hôn của Tòa án cần tiếp tục được cải thiện nhằm tạo ra một cơ chế bảo đảm và thực thi quyền phụ nữ khi ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Trong hoạt động giải quyết tranh chấp ly hôn, tòa án các nước có những quy định, thủ tục và cách thức giải quyết khác với Việt Nam, trong đó có những nội dung tiến bộ cần tham khảo, nghiên cứu áp dụng. Ví dụ, tại Australia, điều kiện xét yêu cầu ly hôn là cuộc hôn nhân đã hoàn toàn đổ vỡ, không thể cứu vãn được và phải ly thân ít nhất là 12 tháng trước khi nộp đơn ly dị. Nếu kết hôn dưới 2 năm thì phải đi tư vấn về gia đình hoặc xin phép Tòa trước khi nộp đơn ly dị. Còn ở Mỹ, đã có sự thay đổi lớn trong những đạo luật về ly hôn theo chiều hướng chuyển từ những đạo luật mang tính hạn chế (thế kỷ XIX) sang ly hôn không có lỗi (thế kỷ XX). Các bên chỉ đơn giản giải thích rằng có những khác biệt không thể hòa giải giữa họ và rằng cuộc hôn nhân không còn giá trị nữa. Tuy nhiên, thực tiễn ly hôn ở Mỹ cho thấy giải quyết những vấn đề như tranh chấp về tài sản, tranh chấp về chăm sóc con, hỗ trợ tiền cho con, quyền thăm nom con là những nội dung thường xuyên có bất đồng và Tòa án phải rất cẩn trọng khi đưa ra phán quyết nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự nói chung và quyền lợi của người phụ nữ nói riêng. Ở Hàn Quốc, yếu tố lỗi được xét đến khi có yêu cầu ly hôn, người muốn thuận tình ly hôn phải được Tòa án gia đình hướng dẫn về ly hôn. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án gia đình có thể khuyến khích đương sự nhận hỗ trợ tư vấn chuyên môn từ chuyên gia có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn. Bên yêu cầu xác nhận ly hôn lên Tòa án gia đình có thể được xác nhận ly hôn sau một thời gian cân nhắc. Trong thời gian cân nhắc, Tòa án tổ chức hoạt động nhằm hàn gắn, hòa giải cho vợ chồng như tổ chức dã ngoại có con cùng tham gia, tư vấn tâm lý. Trong trường hợp có lý do cấp bách như một bên đương sự phải chịu hành vi bạo lực, có thể rút ngắn hoặc miễn thời gian cân nhắc. Trường hợp có sự tranh chấp nuôi con khi ly hôn, Tòa án có những biện pháp giám sát, theo dõi thái độ, nhu cầu của trẻ, đồng thời cử Điều tra viên điều tra về các điều kiện nuôi dậy con để Tòa án có cơ sở quyết định giao con cho bố hay mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng…Đây là những quy định, thủ tục có tính ưu việt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cả vợ và chồng khi ly hôn, đảm bảo sự bình đẳng và cũng đồng thời là bảo vệ quyền của người phụ nữ khi ly hôn. Trên cơ sở Tòa án đưa ra những quyết định, bản án thấu tình đạt lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ sẽ giúp họ tự tin trước cuộc sống, tin tưởng rằng pháp luật luôn bên cạnh họ, bảo vệ quyền lợi cho họ.
Như vậy, với những phân tích trên đây, việc bảo vệ quyền của phụ nữ khi giải quyết các vụ việc ly hôn của Tòa án là một việc vô cùng quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa. Từ việc nghiên cứu vấn đề, trao đổi thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án trong việc bảo đảm thực thi quyền của phụ nữ trong thực tế là cơ sở của sự phát triển và tiến bộ của xã hội.
- Cần thành lập linh hoạt Tòa gia đình và người chưa thành niên
Theo số liệu của các cơ quan tư pháp, những năm gần đây, các vụ việc về HN&GĐ ngày càng tăng và diễn biến phức tạp. Điển hình thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại Hà Nội số vụ việc về HN&GĐ chiếm khoảng 42% tổng số vụ việc đã thụ lý [1].
Luật tổ chức tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014 và Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21 tháng 01 năm 2016 quy định về việc tổ chức các tòa chuyên trách tại tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết các vụ việc như sau: Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
“a) Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác;
- Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người chưa thành niên;
- Các vụ việc hôn nhân gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.”[4]
Tuy đã có quy định về việc thành lập tòa án chuyên trách giải quyết vụ việc HN&GĐ nhưng trên thực tế từ khi ban hành, tại Hà Nội chưa thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên. Công tác giải quyết các vụ việc về HN&GĐ vẫn giao chung vào thẩm quyền của tòa dân sự. Quy trình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình cũng giống như giải quyết các vụ án dân sự khác, chưa quan tâm đến những đặc thù trong quan hệ gia đình. Các thẩm phán và cán bộ tòa án cũng không được phân công chuyên trách thụ lý, giải quyết các vụ việc về HN&GĐ, mà phải kiêm nhiệm, thụ lý nhiều vụ việc dân sự khác nên chất lượng giải quyết các vụ việc về HN&GĐ tại tòa án còn nhiều hạn chế.
Thực tế các Tòa án nhân dân tại Hà Nội cho thấy, những vụ tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt tranh chấp về tài sản khi ly hôn luôn là những vụ án phức tạp và chiếm số lượng lớn (khoảng hơn 30%) so với tổng số các vụ án HN&GĐ mà TAND các cấp thụ lý giải quyết.
Do đó, việc thành lập một cách linh hoạt Tòa gia đình và người chưa thành niên cần phải được nghiên cứu, xem xét thực hiện.
- Kiện toàn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ Tòa, đặc biệt là thẩm phán
Quan hệ hôn nhân và gia đình là một quan hệ chịu sự chi phối bởi yếu tố tình cảm. Cho nên dù pháp luật đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên vợ, chồng nhưng những quy định ấy vẫn chưa được áp dụng một cách triệt để. Nếu Toà án áp dụng pháp luật một cách cứng nhắc thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. Xuất phát từ thực tế trên, Tòa án cần phải vận dụng pháp luật cho linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Nói cách khác, đội ngũ thẩm phán phải giỏi về chuyên môn và tốt về phẩm chất.
Trong những năm qua, cán bộ Tòa án ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán. Tuy vậy, so với tình hình thực tế và thực tiễn xét xử cho thấy, đội ngũ Thẩm phán, thư ký, cán bộ nghiệp vụ còn thiếu năng lực và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, chưa đồng đều. Là cơ quan xét xử, hoạt động của Tòa án sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của người dân. Những sai sót trong quá trình Tòa án xét xử có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khó lường. Do đó, cần tích cực đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao trình độ của Thẩm phán và tính thực thi của pháp luật; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ xét xử các vụ việc về hôn nhân gia đình đặc biệt là vụ việc về chia tài sản chung của vợ chồng để các thẩm phán trao đổi kinh nghiệm, học tập nâng cao kỹ năng xét xử; Tòa án Nhân Dân tối cao định kỳ ban hành các án lệ, các tập hợp án điển hình về các vụ án liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Ngoài ra, hàng năm còn phải chú trọng về công tác đào tạo, đào tạo lại, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ như tập huấn các văn bản hướng dẫn mới, kỹ năng xét xử các vụ án; tập huấn các kiến thức liên quan đến công tác xét xử các vụ án HN&GĐ, nâng cao trình độ chính trị cho cán bộ, công chức trong ngành. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Bên cạnh đó, vai trò của các đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên…trong công tác giải quyết các vụ án HN&GĐ cũng cần được quan tâm. Cần có biện pháp tác động đến đoàn thể như: tổ chức các chương trình, ban hành các chính sách, các quy định để đoàn thể tham gia tích cực trong việc bảo vệ quan hệ gia đình tại địa phương.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình
Nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, kịp thời đảm bảo về mặt quyền lợi của các đương sự thì trong công tác xét xử các vụ án tranh chấp tài sản giữa vợ chồng, Tòa án cần có sự phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Công an, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng khác có liên quan trong việc cung cấp thông tin, chứng cứ, tài liệu liên quan đến công tác giải quyết vụ án.
Cần kiện toàn lại quy chế, từng bước khắc phục những hạn chế, vướng mắc giữa các bên nhằm bảo đảm công tác phối hợp xử lý trong từng vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đạt được kết quả tốt nhất, phòng tránh những sai sót liên quan trong công tác tố tụng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
- Tăng cường công tác tổng kết, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng xét xử và thống nhất áp dụng pháp luật
Tổng kết, rút kinh nghiệm đưa ra hướng giải quyết đúng đắn và thống nhất là vấn đề cần thiết cho việc xét xử. Thường xuyên tổng kết, cập nhật số liệu về tình hình thực hiện đăng ký tài sản chung của vợ chồng để rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng triển khai thực hiện quy định pháp luật hiệu quả hơn. Cùng với đó, việc áp dụng các quy định pháp luật đúng đắn và thống nhất cũng rất quan trọng. Để đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất, Tòa phải tổng kết lại, xem xét lại quá trình xét xử trong cơ quan, trong nhiều cấp xét xử và trong toàn ngành để đưa ra hướng giải quyết thống nhất và đúng đắn trong quá trình giải quyết.
Điều này cũng được áp dụng trong trường hợp các quan hệ xã hội mà pháp luật không thể đưa ra một tiêu chí nhất định điều chỉnh như vấn đề công sức đóng góp,… cho nên muốn áp dụng khi có tình tiết xảy ra cần điều chỉnh thì phải có một hướng chung giải quyết đó là tổng kết, rút kinh nghiệm và đưa ra hướng giải quyết đúng đắn nhất và thống nhất ở mọi cấp xét xử. Thực tiễn cho thấy, các giải pháp về rút kinh nghiệm công tác xét xử có tác dụng tích cực, hạn chế các sai sót trong quá trình giải quyết các vụ án nói chung và án HN&GĐ nói riêng và trình độ về chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân cũng được nâng cao. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
- Thực hiện xã hội hóa bảo vệ quyền của người phụ nữ khi ly hôn
Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng không chỉ là nghĩa vụ của nhà nước đối với người dân mà còn là nghĩa vụ của một quốc gia trước cộng đồng quốc tế. Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 vừa có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 có rất nhiều điểm mới phù hợp với Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ phụ nữ. Vì vậy, bài viết đề cập đến một số vấn đề về bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ, đặc biệt là khi họ rơi vào hoàn cảnh hôn nhân tan vỡ.
Khi xem xét việc bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn thì không thể tách rời việc nghiên cứu về quyền và bảo vệ quyền con người của phụ nữ. Theo Mác: “Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người”[5]. Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [13]. Ở Việt Nam cũng đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu chung quyền con người thường được hiểu “là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [5]. Và tại Hội nghị thế giới về Quyền con người lần thứ hai tổ chức tại Viên (1993) đã khẳng định: “quyền con người của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời của các quyền con người phổ biến”. Như vậy, cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có hay phải do nhà nước quy định thì để thực hiện các quyền con người phải cần có pháp luật. Pháp luật là phương thức không thể thiếu và là công cụ hiệu quả nhất của nhà nước nhằm bảo vệ quyền con người. Theo đó, “bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải được hiểu là sự ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy, quyền phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới” [5].
Bảo vệ quyền của phụ nữ được ràng buộc chặt chẽ bởi các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, như: Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948, UDHR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (1979, CEDAW),… Theo đó, việc bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kể cả khi ly hôn được nhấn mạnh và quy định rất cụ thể tại Điều 16 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ: Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
“1. Các quốc gia thành viên phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân và quan hệ gia đình, cụ thể phải bảo đảm những quyền dưới đây, trên cơ sở bình đẳng nam nữ:
- Quyền kết hôn như nhau;
- Quyền như nhau trong việc tự do lựa chọn người để kết hôn và chỉ kết hôn khi mình được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện;
- Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ chồng trong thời gian hôn nhân cũng như khi hôn nhân bị hủy bỏ;
- Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha mẹ, bất kể tình trạng hôn nhân như thế nào, về các vấn đề liên quan đến con cái họ. Trong tất cả các trường hợp, lợi ích của con cái phải được coi là điều quan trọng nhất:“[16]
Dưới góc độ quyền phụ nữ cũng chính là quyền con người, Nhà nước cần phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền đó đúng như những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vì thế, hoạt động bảo vệ quyền con người của phụ nữ phụ thuộc vào năng lực của các hệ thống cơ quan nhà nước mà trước hết là hệ thống Tòa án. Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp…có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [34, Điều 102].
Từ những vấn đề nêu trên, việc bảo vệ quyền của phụ nữ khi họ rơi vào hoàn cảnh ly hôn là cực kỳ cần thiết, bởi vì phụ nữ được xác định là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, cần được quan tâm đặc biệt. Khi họ rơi vào hoàn cảnh ly hôn, hơn lúc nào hết, việc bảo đảm thực thi quyền con người của phụ nữ trong thực tế là việc làm ý nghĩa cho họ niềm tin vào công lý và giúp họ ổn định tinh thần, cuộc sống sau khi ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Tiểu kết chương 3
Ly hôn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người phụ nữ và trẻ em, sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật tạo ra khung pháp lý để nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn là một đòi hỏi cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn thi hành Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014.
Trên cơ sở lý luận và thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn tại chương 1 và chương 2 tác giả đưa ra những giải pháp để hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn.
Pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ khi ly hôn cần phải được xây dựng và hoàn thiện theo kịp với quá trình hoàn thiện pháp luật về hôn nhân gia đình và các văn bản pháp luật có liên quan. Đồng thời bổ sung các quy định về bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con nhiều hơn nữa, bởi phụ nữ và trẻ em là đối tượng hay bị thua thiệt khi vợ chồng ly hôn.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nâng cao năng lực hoạt động trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị – pháp lý và có một lịch sử phát triển lâu dài. Quyền con người là quyền vốn có, không thể tách rời đối với con người; không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu; không phân biệt giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội. Quyền con người là bình đẳng. Mọi cá nhân trong xã hội đều được thừa nhận giá trị con người và xứng đáng được tôn trọng.
Quyền của phụ nữ khi ly hôn là một quyền con người. Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau.
Bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trong những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn thì điều kiện kinh tế – xã hội; các quy định của pháp luật về HN&GĐ, về Tố tụng dân sự, về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự; hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; hoạt động hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng của các tổ chức, cá nhân; cơ chế giám sát, kiểm soát các hoạt động tố tụng…là những yếu tố có tính quyết định bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ việc HN&GĐ, quyền của phụ nữ khi ly hôn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó có Tòa án ghi nhận và bảo đảm thực hiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đòi hỏi phải khắc phục nhằm mục đích bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của của phụ nữ khi ly hôn nói riêng.
Để hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn, cần áp dụng đồng thời cả 3 nhóm giải pháp: Từ nâng cao nhận thức đến hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật