Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các quy định pháp luật hiện hành về quyền của phụ nữ khi ly hôn

2.1.1. Các quy định về quyền nhân thân

Thứ nhất, quyền được yêu cầu ly hôn

Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Theo đó, quyền của người vợ trong việc yêu cầu ly hôn được thể hiện ở những nội dung sau:

Người vợ có quyền được yêu cầu ly hôn trong cả hai trường hợp: Thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 và ly hôn do một bên vợ yêu cầu tại Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Quy định về trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác trong gia đình có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 và có ý nghĩa thiết thực trong bảo vệ quyền của người phụ nữ, trong trường hợp khi người vợ là nạn nhân của bạo lực gia đình do người chồng gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần cho người vợ thì cha mẹ, người thân thích của người vợ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Mục đích của quy định này là gắn trách nhiệm của người chồng trong việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi, cũng là bảo vệ lợi ích của xã hội.

Thứ hai, quyền xác lập quan hệ hôn nhân mới với người khác Khi ly hôn, hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực. Các bên không còn bị ràng buộc vào quan hệ hôn nhân, họ là những người độc thân và có quyền kết hôn với người khác.

Thứ ba, các quy định liên quan đến con cái.

  • Quyền lựa chọn họ, tên cho con

Nếu khi ly hôn, người vợ đang mang thai và sinh con trong hoặc sau khi ly hôn thì người phụ nữ có quyền trong việc lựa chọn họ, tên cho con. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Quyền của phụ nữ trong việc lựa chọn họ, tên cho con thực hiện thông qua thỏa thuận với chồng kể cả trong thời kỳ hôn nhân hay đang trong quá trình làm thủ tục ly hôn hoặc sau khi ly hôn. Theo đó, họ, tên của con có thể theo họ mẹ. Đây là quy định mở tạo điều kiện cho người vợ có vị trí ngang bằng với người chồng, hạn chế ảnh hưởng của phong tục, tập quán.

  • Quyền bình đẳng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con

Quyền của người mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. sự bình đẳng của người vợ đối với người chồng thể hiện ở quyền được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, đảm bảo cho con không phải sống trong sự ngược đãi, hành hạ hoặc bị xúc phạm.

  • Quyền bình đẳng trong việc đại diện cho con

Quyền của người phụ nữ trong việc đại diện cho con được thể hiện trong các quy định tại khoản 3 Điều 69 và khoản 1, khoản 2 Điều 73 của Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, vợ cùng chồng là người đại diện của con, vợ và chồng có thể thỏa thuận một trong hai người là người đại diện cho con trong các giao dịch dân sự.

Các quy định trên tạo cho người phụ nữ được đảm bảo quyền bình đẳng đối với người chồng trong mối quan hệ với các con, thúc đẩy sự nghiệp bình đẳng giới kể cả khi đã ly hôn.

2.1.2. Quyền tài sản

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Điều 59 và phân chia tài sản trong một số trường hợp cụ thể từ Điều 60 đến Điều 64.

Một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 là thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Vì vậy, nếu vợ chồng có thỏa thuận tài sản trong đó có thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng phân chia theo thỏa thuận tài sản đó; trường hợp thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại Điều 59 đến Điều 64 luật này để giải quyết.

  • Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật HN&GĐ đã quy định về phương thức phân chia cũng như các nguyên tắc của việc phân chia này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ khi ly hôn.

  • Thứ nhất, phương thức tự thỏa thuận: Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”.

Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận. Theo quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 thì trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014, nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm: “Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng: quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan, tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản…”[35, Khoản 1, Điều 48]. Thỏa thuận này vẫn có thể được sửa đổi, bổ sung sau khi kết hôn hoặc bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 49 và 50 của Luật này. Quy định này góp phần giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình trạng hiện nay. “Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận…

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó;…”[35, Khoản 1 Điều 59].

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đề cao ý chí của các bên, quyền tự định đoạt của vợ chồng. Tuy nhiên, về nguyên tắc việc tự thỏa thuận này không được trái với những nguyên tắc mà pháp luật đã quy định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, nhất là của phụ nữ và con cũng như tránh sự lợi dụng những quy định này nhằm mục đích tư lợi, không lành mạnh của vợ chồng. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Trường hợp các bên thỏa thuận được về chia tài sản cùng với việc tự nguyện ly hôn và việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của vợ và con thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014. Trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, phương thức yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014: “…Nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 2,3,4,và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63, và 64 của Luật này. …nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2,3,4 và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63 và 64 của Luật này để giải quyết”[35].

Phương thức này nhờ Tòa giải quyết khi các bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật quy định nhưng không thỏa thuận được. Khi giải quyết, Tòa án cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và các trường hợp cụ thể quy định trong Luật HN&GĐ.

  • Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy định tương ứng của luật định để phân chia [17, Điều 59]. Ngoài ra, do tính chất đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình nên nó có một số đặc điểm riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động không có tài sản riêng để nuôi sống mình.

Nếu không thỏa thuận được thì khi có yêu cầu của vợ, chồng hoặc của cả vợ chồng Tòa án giải quyết phân chia theo nguyên tắc sau: Về cơ bản tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố:

  • Một là, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.
  • Hai là, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.
  • Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
  • Bốn là, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng;
  • Năm là, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị. Bên nào nhận được phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
  • Sáu là, tài sản riêng của vợ chồng thuộc quyền sở hữu riêng của người đó trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật HN&GĐ.
  • Bảy là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình [35, Điều 59].

Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc khác đặt ra buộc các bên phải tuân thủ khi chia tài sản chung của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng đó là “bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản riêng để tự nuôi mình”[35, khoản 5, Điều 59]. Bảo vệ bà mẹ, trẻ em trước hết là trách nhiệm của gia đình sau đó mà trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội. Việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thể hiện tính nhân đạo và bản chất tốt đẹp của Nhà nước. Hiện nay, phụ nữ ngày càng bình đẳng và tham gia vào công tác xã hội nhiều hơn nhưng cũng còn nhiều phụ nữ không có công việc ổn định hoặc không đi làm mà chỉ làm việc nhà. Vì vậy, khi ly hôn, họ là đối tượng dễ bị tổn thương và thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Do đó, cần căn cứ vào điều này để khi phân chia tài sản đảm bảo quyền lợi của người vợ, đặc biệt hơn nữa những đứa trẻ chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất khả năng lao động, mất năng lực hành vi dân sự và không có tài sản để tự nuôi mình.

2.1.3. Quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948, lần đầu tiên quyền lợi của phụ nữ trong vai trò làm mẹ được Nhà nước và xã hội đặc biệt chú trọng và bảo vệ, do vậy tại khoản 2 điểu 25 quy định“Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt”.

Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (ICESCR) năm 1966 ngoài việc yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo không có sự phân biệt đối xử nào giữa phụ nữ và đàn ông khi tham gia các công việc như nhau, còn cam kết “Cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước và sau khi sinh con. Trong khoảng thời gian đó, các bà mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi an sinh xã hội” [14,Khoản 2, Điều 10]. Công ước này có sự ưu tiên đặc biệt đối với các bà mẹ trong thời gian trước và sau khi sinh con bởi đây là khoảng thời gian mà các bà mẹ cần phải được nghỉ ngơi có hưởng lương và các chế độ phúc lợi khác.

Những quy định mang tính quốc tế đó đã đề ra cho pháp luật các quốc gia một đòi hỏi về sự bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của phụ nữ. Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam hay ngay trong Bộ luật lao động thì khái niệm này cũng không được nhắc tới. Mặc dù xét về hình thức diễn đạt có thể không giống nhau nhưng nội hàm của khái niệm được nhìn nhận khá thống nhất.

Cụ thể: Quyền làm mẹ của phụ nữ được hiểu là quyền sinh con, chăm sóc con cái và quyền được nhận nuôi con nuôi không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của họ [5, tr.48]. Như vậy, quyền làm mẹ là thuật ngữ dùng để chỉ quyền của người phụ nữ có khả năng được thực hiện, thừa nhận việc có con. Quyền làm mẹ bao gồm hai nhóm nội dung đó là quyền sinh con, chăm sóc con và quyền của phụ nữ trong việc cho và nhận con nuôi. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Bảo đảm quyền, theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể chính sách, pháp luật cùng các điều kiện khác như kinh tế, chính trị, văn hóa và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trên thực tế. Còn theo nghĩa hẹp, quyền làm mẹ chỉ bao gồm thể chế (chính sách, pháp luật) và thiết chế tương ứng để bảo đảm thực thi quyền trên thực tế. Như vậy, với sự phân tích khái niệm quyền làm mẹ ở trên, có thể hiểu một cách đầy đủ và khái quát nhất khái niệm bảo đảm quyền làm mẹ, đó là tổng thể các chính sách, pháp luật cùng các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa liên quan đến khả năng của người phụ nữ trong việc thực hiện hoặc thừa nhận việc có con đẻ hoặc con nuôi mà không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân cùng các cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế. Với đối tượng phụ nữ thì nội dung bảo đảm quyền làm mẹ bao gồm quyền được làm việc, bảo đảm sức khỏe sinh sản, bảo đảm quyền được mang thai và sinh con, bảo đảm khả năng chăm sóc và nuôi dạy con trong quá trình làm việc…

Phụ nữ khi ly hôn có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

  • Trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau. Nhìn chung tòa sẽ dựa trên 3 yếu tố sau:

  • Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
  • Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.
  • Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Được cấp dưỡng để nuôi con, Pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý.

  • Quyền của phụ nữ khi không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về quyền thăm nom tới đâu thì pháp luật không có quy định cụ thể, nhưng miễn là việc thăm nom đó không trái đạo đức xã hội và không gây ảnh hưởng tới việc sinh hoạt và làm việc của gia đình vợ anh.

2.1.4. Quyền cấp dưỡng Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

  • Quyền yêu cầu cấp dưỡng

Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định 24 thì cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cũng như theo phong tục, tập quán của Việt Nam có quy định: Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Theo đó:

Căn cứ Điều 115, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Ðể nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn được xác lập, cần có một bên sống trong cảnh túng thiếu và bên kia có đủ điều kiện để hỗ trợ. Sự túng thiếu của một bên, trong suy nghĩ của người làm luật, có nguồn gốc từ tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Thế nào là không có khả năng lao động tùy thuộc vào sự đánh giá của thẩm phán. Người thất nghiệp chưa chắc là không có khả năng lao động; người khuyết tạt cũng có thể có khả năng lao động. Bên vợ- chồng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu phải chứng minh sự khó khăn, túng thiếu của mình. Nói chung, được coi là có lý do chính đáng khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu là do những điều kiện ngoại cảnh mang lại, ví dụ như ốm đau, bệnh tật hay gặp tai ương bất ngờ. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên thì khi ly hôn phụ nữ có thể thỏa thuận với người chồng về việc cấp dưỡng và mức cấp dưỡng cho mình trong khi chờ có được việc làm hay trong giai đoạn khó khăn. Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

  • Mức cấp dưỡng

Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn chấm dứt khi bên được cấp dưỡng kết hôn với người khác.

Đây là một quy định của pháp luật thể hiện tính nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục và nâng cao giá trị đạo đức xã hội, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, thể hiện tình nghĩa vợ chồng ngay cả khi quan hệ vợ chồng đã không còn được pháp luật bảo hộ.

2.1.5. Quyền lưu cư

Luật HN&GĐ năm 2014 còn bổ sung quy định quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [35, Điều 63].

Đây là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 thể hiện tính nhân văn của pháp luật đã được luật hóa từ quy định tại Điều 30 Nghị định số 70/2001/NĐ – CP. Quy định này góp phần tạo điều kiện cho bên vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở có điều kiện và thời gian để tìm, tạo lập chỗ ở mới. Còn việc thanh toán cho bên không phải là chủ sở hữu nhà một phần giá trị căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà thì Luật HN&GĐ năm 2014 đưa vào nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn [35, khoản 4, Điều 59].

2.2. Thực trạng thực hiện quy định pháp luật hiện hành về quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

2.2.1. Về thực hiện quyền nhân thân

Pháp luật Việt Nam nói chung, hôn nhân gia đình nói riêng ngày càng được hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết để đảm bảo tốt lợi ích của phụ nữ nói chung và quyền của phụ nữ khi ly hôn nói riêng. Đặc biệt quyền lợi quan trọng gắn với mỗi cá nhân là quyền nhân thân.

Trong quá trình thực hiện, nhìn chung nhiều quyền lợi về nhân thân của phụ nữ khi ly hôn đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tương đối kịp thời và nghiêm túc; công tác tuyên truyền ngày càng có hiệu quả đảm bảo cho người phụ nữ tiếp cận dễ dàng hơn với các thông tin liên quan đến quyền lợi của mình.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn những bất cập. Việc đảm bảo quyền và lợi ích của người phụ nữ trên thực tế vẫn còn gặp khó khăn và hạn chế khi ly hôn. Vấn đề này có nguyên nhân từ chính là từ người chồng.

Thực tế có những trường hợp người mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự. Lưu ý, cần đảm bảo quyền bình đẳng của người mẹ bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong việc chăm sóc con.

Luật HN&GĐ năm 2014 chưa có những quy định mở rộng trong việc đảm bảo quyền của người phụ nữ khi họ bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền của họ vẫn được đảm bảo trong việc chăm sóc, bảo vệ con cái bằng cách quy định người thân trong gia đình như ông bà, anh chị, em… có quyền được thay người mẹ chăm sóc, giáo dục cháu, cũng như quy định trách nhiệm của những người thân thích có quyền được xem xét, giám sát khi người chồng có những hành vi bạo lực đối với người con để phát hiện kịp thời, đảm bảo cho quyền lợi của người mẹ cũng như sự phát triển sau này của trẻ.

2.2.2. Về thực hiện quyền tài sản Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Phân chia tài sản sau ly hôn (gồm nhà, đất, tài sản có giá trị, tiền mặt…) theo pháp luật nhìn chung là chia đôi, trong đó có quan tâm đến quyền và lợi ích của phụ nữ. Từ 2012 – 2017, trong số các cặp vợ chồng ly hôn, có trên một nửa là chưa có nhà đất (55,8%) –với tỷ lệ khá như nhau ở cả nông thôn và thành thị. Với những cặp có nhà đất và phải phân chia sau khi ly hôn, có 19,1% là chia đều cho cả vợ và chồng, và tỷ lệ vợ hoặc chồng được phân chia nhà đất sau khi ly hôn là khá ngang bằng nhau, 12,5% và 12,7%. Những trường hợp không phân chia nhà đất đa số bao gồm những trường hợp ở chung với cha mẹ, thuê nhà ở, ở nhờ, v.v. trước khi ly hôn.

Việc phân chia nhà ở khá khác biệt giữa nông thôn và đô thị. Tại các khu vực đô thị, phân chia sở hữu nhà ở bằng nhau giữa vợ và chồng là cao nhất (25,2%), tiếp theo là quyền sở hữu của người vợ, và chỉ có 6,9% chồng có quyền sở hữu độc lập. Tại các khu vực nông thôn, sở hữu bằng nhau chiếm tỷ lệ thấp nhất (10,5%), và chồng sở hữu là cao nhất (20,6%). Có thể nói rằng bình đẳng giới trong sắp xếp nhà ở tại các khu vực đô thị tốt hơn so với khu vực nông thôn. Các ông chồng ở các khu vực nông thôn chủ động và chiếm ưu thế hơn trong xác định quyền sở hữu nhà ở sau hôn nhân

Có khác biệt thành thị / nông thôn trong phân chia bình đẳng về quyền sở hữu nhà. Kết quả cho thấy, các cặp vợ chồng đô thị có nhiều khả năng để phân chia quyền sở hữu bằng nhau so với các cặp vợ chồng nông thôn. Điểm thú vị là mức sống có tác động lớn đến việc phân chia tài sản nhà ở sau ly hôn, giả định các biến số khác không đổi. Trong mô hình đầu tiên, các cặp vợ chồng khá giả hơn trao quyền sở hữu nhà cho vợ cao hơn hai lần so với các cặp vợ chồng nghèo hơn. Các cơ hội nắm quyền sở hữu nhà của người vợ cũng cao hơn đối với các cặp có mức sống trung bình. Ảnh hưởng của mức sống rất mạnh trong mô hình cuối cùng trong kiểm tra khả năng của cả hai vợ chồng cùng sở hữu nhà sau khi ly hôn. Mô hình này cho thấy, khả năng các cặp vợ chồng khá giả phân chia quyền sở hữu nhà bằng nhau cao hơn khoảng bốn lần so với các cặp vợ chồng nghèo.

Con cái cũng là một biến số có tác động đáng kể đến các quyết định phân chia nhà ở. Các cặp vợ chồng không có con phân chia nhà ở cho người chồng cao hơn gấp hai lần so với các cặp vợ chồng có con cái (không kể giới tính của con). Ảnh hưởng này là dương với cả phân tích tương quan hai chiều, cho thấy nếu người vợ không có con thì gần như không có khả năng được sở hữu nhà ở sau ly hôn. Những cặp vợ chồng có cả con trai và con gái thường phân chia quyền sở hữu nhà ở như nhau, vì hầu hết số họ cũng chia sẻ trách nhiệm nuôi con. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Nhìn chung việc thực hiện quyền tài sản của phụ nữ khi ly hôn được bảo đảm nhưng có một số trường hợp trong việc phân chia tài sản khi ly hôn để đảm bảo quyền của phụ nữ còn một số khó khăn như các trường hợp sau:

  • Chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

Ở Việt Nam có rất nhiều cặp vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc gia đình bên chồng và kéo dài cho đến ngày chấm dứt hôn nhân. Trong quá trình chung sống, vợ chồng và các thành viên khác cùng lao động sản xuất tạo lập khối tài sản chung của đại gia đình. Trong trường hợp này, nếu như hai vợ chồng ly hôn, một bên sẽ ra đi, bên còn lại sẽ tiếp tục cuộc sống chung với đại gia đình. Do đó, Tòa cần cân nhắc vấn đề công sức đóng góp vào khối tài sản chung của họ một cách thận trọng, để từ đó có cách giải quyết hợp lý nhất. Tòa án phải dựa vào nhiều yếu tố, căn cứ khác nhau để phân chia một phần tài sản cho bên ra đi trong khối tài sản chung của đại gia đình sao cho quyền lợi các bên đều được đảm bảo.

  • Khi xem xét giải quyết trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, cần chú ý trường hợp sau đây:

Nếu vợ chồng sống chung với đại gia đình nhưng hoàn toàn không có quan hệ kinh tế chung; vợ chồng có công ăn việc làm độc lập; tích lũy tài sản chung của vợ chồng một cách riêng biệt với các thành viên khác của đại gia đình, họ chỉ đóng góp các chi phí thiết yếu nhằm duy trì cuộc sống chung thì khi vợ chồng ly hôn, Tòa án không áp dụng Điều 61 Luật HN&GĐ năm 2014 để giải quyết tài sản cho các bên vợ chồng trong trường hợp này.

Xuất phát từ tính chất phức tạp của việc xác định nguồn gốc tài sản, phân định tài sản chung, tài sản riêng, việc phân chia một tài sản cho mỗi bên sao cho thỏa đáng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn. Điều 61 Luật HN&GĐ năm 2014 trên cơ sở kế thừa Điều 96 Luật HN&GĐ năm 2000, nhưng đã bổ sung thêm điều khoản dẫn chiếu ở khoản 2. Theo quy định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, việc phân chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp này tùy thuộc vào tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có xác định được hay không mà sẽ có cách chia khác nhau cụ thể, như sau:

  • Trường hợp, tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được

Theo khoản 1 Điều 61 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định, trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Công sức đóng góp của người vợ hoặc chồng là căn cứ chủ yếu để xác định phần tài sản được chia, trong trường hợp này được xác định dựa trên thời gian đóng góp và hình thức đóng của vợ, chồng vào khối tài sản của gia đình. Về cơ bản, hình thức đóng góp được xác định như trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng dựa trên các hoạt động lao động sản xuất như lao động tạo ra của cải, nội trợ, chuyển tài sản riêng thành tài sản chung; tuy nhiên, thời gian chung sống với đại gia đình của người ra đi và các thành viên khác là không bằng nhau, không giống nhau như khoảng thờ gian bằng nhau mà hai vợ chồng cùng tạo lập cuộc sống riêng nên không thể nói công sức đóng góp của người này và những người khác là ngang nhau, và phần được hưởng cũng không bằng phần của những nguời khác.

Tỉ lệ phần tài sản của người ra đi nhận được so với giá trị chung rất khó xác định cụ thể, đó chỉ là kết quả xác định một cách tương đối, có thể chấp nhận được.

  • Trường hợp tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo thành phần

Theo khoản 2 Điều 61 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định, trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo thành phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Về cơ bản nội dung của quy định này giống quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật HN&GĐ năm 2000, nhưng có bổ sung hướng dẫn cụ thể hơn về việc chia tài sản trong trường hợp này. Cụ thể, phần tài sản chung của vợ chồng sẽ được xác định và trích ra từ khối tài sản chung của gia đình, sau đó phân chia theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014.

  • Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

Thực tiễn xét xử cho thấy việc chia Quyền sử dụng đất là vấn đề gây khó khăn và phức tạp hơn cả trong việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Quyền sử dụng đất là loại tài sản đặc biệt, có giá trị cao trong khối tài sản chung và đặc biệt gắn với những quy chế quản lý của nhà nước về đất đai và tài sản. Do đó, việc chia Quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn không chỉ tuân theo quy định tại Điều 62 Luật HN&GĐ năm 2014 mà còn tùy thuộc vào từng loại đất và điều kiện của vợ chồng.

  • Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản.

Căn cứ vào nhu cầu sử dụng và điều kiện trực tiếp sử dụng đất để quy định việc giải quyết cho các cặp vợ chồng khi ly hôn, cụ thể quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 Luật HN&GĐ năm 2014, gồm các trường hợp sau:

Thứ nhất, trong trường hợp cả hai vợ chồng đều có nhu cầu sử dụng đất và có điều kiện trực tiếp sử dụng thì Quyền sử dụng đất được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Thứ hai, trong trường hợp chỉ có một bên có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị Quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.

Sở dĩ pháp luật căn cứ vào nhu cầu sử dụng và điều kiện trực tiếp sử dụng đất để quy định cách phân chia như vậy là nhằm đảm bảo giá trị sử dụng của các loại đất trên, cũng như giải quyết quyền lợi thiết thực của bên thật sự cần tiếp tục sử dụng diện tích đó. Thực tế cho thấy, những loại đất này đòi hỏi người sử dụng đất phải chăm sóc thường xuyên, thu hoạch trong thời gian ngắn nên cần thiết phải giao cho người có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng để tránh lãng phí đất.

Trên thực tế trong một số trường hợp vì hoàn cảnh đặc biệt của vợ chồng mà việc xác định và phân chia tài sản chung cần phải có hướng dẫn cụ thể mà Luật HN&GĐ năm 2014 đã đề ra một số trường hợp. Đối với tài sản là bất động sản (nhà ở, quyền sử dụng đất) thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cho nên Luật HN&GĐ 2014 đã quy định về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở, quyền sử dụng đất; các trường hợp mà vợ chồng còn sống với gia đình bên cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng [17, Điều 61, Điều 62]. Trong trường hợp vợ chồng cùng chung sống với gia đình bên vợ hoặc gia đình bên chồng thì việc xác định tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung với gia đình là rất khó khăn.

2.2.3. Về thực hiện quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ

Phân tích các hồ sơ ly hôn của tòa án nhân dân một quận ở Hà Nội và một huyện ở Hà Nam giai đoạn 2012-2017 cho thấy, trong số tất cả các cặp vợ chồng ly hôn, trẻ em được quyết định sống với mẹ sau khi ly hôn là xu hướng phổ biến, chiếm 62,3% các trường hợp. Chia sẻ quyền nuôi con chiếm 18,7%, khi các cặp vợ chồng có ít nhất hai con. Người cha nhận được quyền nuôi con chiếm 16,5% các vụ ly hôn. Các trường hợp trẻ em sống với người khác rất ít ở Việt Nam; chỉ chiếm 2,4% tất cả các cuộc ly dị . Những phát hiện này phù hợp với các kết quả trước đó của Viện Gia đình và Giới (2006), cho thấy sau khi ly hôn, trẻ em thường sống với mẹ (64,3%). Tỷ lệ trẻ em sống với mẹ sau khi ly hôn ở các hộ nghèo cao (68,6%) so với trẻ em sống với bà mẹ trong các gia đình khá (57,8%). Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Trong khoảng thời gian từ năm 2012-2017, con sống với mẹ là xu hướng chủ đạo trong các cặp vợ chồng ly dị. Từ 2012-2017, tỷ lệ trẻ em sống với bà mẹ sau khi ly hôn giảm nhẹ từ 68,4% năm 2012 xuống 45,7% trong năm 2017. Trong cùng thời gian, tỷ lệ trẻ em sống chung với cha của họ là khoảng 20%, và tỷ lệ sống với cả cha và mẹ tăng nhẹ. Từ 2012-2017, tỷ lệ chia sẻ quyền nuôi con tăng từ 6% năm 2012 lên 17,6% trong năm 2017.

Theo thống kê, người chồng, gia đình thường đã tạo ra tâm lý thoải mái gián tiếp giúp người phụ nữ sau ly hôn yên tâm thực hiện tốt thiên chức làm mẹ của mình. Đồng thời, người phụ nữ cũng có một chỗ dựa ổn định để đảm bảo cho cuộc sống, có điều kiện để chăm lo tốt hơn về đời sống vật chất cho con cái của mình, theo đó chức năng làm mẹ cũng được hoàn thành tốt hơn.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quyền được đảm bảo thiên chức làm mẹ của phụ nữ sau khi ly hôn chưa được thực hiện tốt, như:

Thứ nhất, Người chồng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, biến cấp dưỡng nuôi con thực sự trở thành món nợ khó đòi.

Thứ hai, thực tế có trường hợp người cha không có tài sản để nuôi sống chính bản thân, vì vậy không thể đủ điều kiện để cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Căn cứ vào quy định, Người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật HN & GĐ năm 2014 là người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó. Căn cứ vào quy định đó có thể thấy rằng người cha trong trường hợp này là người không có thu nhập thường xuyên cũng như không có tài sản. Do đó, trường hợp này người cha sẽ được chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định: “Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, trường hợp này, dù bất khả kháng nhưng đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con sau ly hôn cũng như gián tiếp gây trở ngại cho quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ của người phụ nữ.

Thứ ba, một số trường hợp mức cấp dưỡng quá thấp. Tại sao lại có những mức cấp dưỡng thấp một cách kỳ cục và bất hợp lý so với mặt bằng cuộc sống đến vậy? Nghiên cứu quy định của luật cho thấy mức cấp dưỡng cho con do cha mẹ thỏa thuận và nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết. Cũng về vấn đề này, Khoản 2 Điều 16 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân – Gia đình quy định, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xác định căn cứ vào vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh…Có thể thấy, quy định của tòa án về mức cấp dưỡng là căn cứ vào mức thu nhập, giá cả thị trường tại thời điểm xét xử vụ án. Mà hầu hết các vụ án ly hôn, con cái còn ở lứa tuổi rất nhỏ, phải 14-16 năm sau mới đủ 18 tuổi. Trong quãng thời gian dài đó, cuộc sống có nhiều biến động mà mức cấp dưỡng lại bất di bất dịch nên đã trở thành gánh nặng cho những người trực tiếp nuôi con.

Thứ tư, một quy định nữa của pháp luật là khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì cơ quan thi hành án phối hợp với cơ quan, tổ chức trực tiếp trả tiền lương, tiền công lao động cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng .Thế những trên thực tế, có những trường hợp theo đơn yêu cầu của người trực tiếp nuôi con, chấp hành viên đã phải đi năm lần bảy lượt đến cơ quan, tổ chức nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang công tác nhưng hầu như lần nào cũng nhận được sự từ chối vì cho rằng đó không phải là nghĩa vụ của họ. Nhưng, trên thực tế chủ yếu là do họ ngại va chạm, nhất là khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng lại là những người có máu mặt trong cơ quan. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Từ những bất cập trên có thể thấy, các quy định về cấp dưỡng vẫn còn rất chung chung, thiếu cụ thể. Điều này khiến cho tòa án khi phán xử chỉ còn biết căn cứ và điều kiện thực tế cụ thể của từng trường hợp. Nhưng cũng chính vì lý do đó mà mức cấp dưỡng mỗi nơi, mỗi vẻ. Mặt khác, việc thiếu các chế tài cứng rắn hơn để ràng buộc những người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác phải có nghĩa vụ hỗ trợ cơ quan tư pháp thực hiện cũng là một cản trở không nhỏ.

2.2.4. Về thực hiện quyền cấp dưỡng

Hiện nay, Luật HN &GĐ 2014 mới ban hành vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại điều 115 LHN&GĐ 2014 quy định thì “sự khó khăn túng thiếu” của 1 bên mà có lý do chính đáng là cơ sở để tòa án quyết định nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ và chồng khi ly hôn. Vấn đề khó cả về lý luận và thực tế là “sự khó khăn, túng thiếu” của một người là dựa vào tiêu chí nào để đánh giá và khi nào thì được coi là có lý do cính đáng. Qua quá trình thu thập thông tin và tài liệu tham khảo, cá nhân tôi tin rằng, tòa án cần phải căn cứ vào những yếu tố sau:

  • Khả năng lao động của người có yêu cầu cấp dưỡng:

Cần xem xét tới độ tuổi và tình trạng sức khỏe của họ:Nếu người được cấp dưỡng là người già yếu hoặc ốm đau bệnh tật nên hạn chế hoặc mất khả năng lao động làm cho họ không có thu nhập hoặc do không có tài sản nên rơi vào tình trạng khó khăn thì nên được cấp dưỡng. Xét người có yêu cầu cấp dưỡng có đang làm nghĩa vụ của cha hoặc mẹ đối với con sau ly hôn hay không: Khi vợ chồng đã ly hôn, nếu bên nhận nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con (chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động) có yêu cầu được cấp dưỡng thì cũng có thể xem đây là căn cứ hợp lý để quyết định cho họ được cấp dưỡng. Thực tế cho thấy những người này luôn gặp phải khó khăn trong cuộc sống. Và khi xem xét vấn đề này thì không cần quan tâm rằng con mà người đó đang nuôi dưỡng là con chung của 2 vợ chồng hay con riêng của bên được cấp dưỡng.

  • Thu nhập thực tế, khả năng về tài sản và nhu cầu thiết yếu của người có nhu cầu cấp dưỡng:

Khi xét vè thu nhập thực tế cần xét đến các khoản thu nhập thường xuyên và không thường xuyên. Khi xét khả năng về tài sản cần xem khối tài sản thuộc sở hữu của người đó. Khi xét nhu cầu thiết yếu cần xét chi phí cho mức sinh hoạt trung bình của người đó tại địa phương. Bên cạnh đó, cần kết hợp xét khả năng lao động như đã nói trên.

Khả năng người có nhu cầu cấp dưỡng có thể tìm việc làm tạo thu nhập: Trong thực tế nhiều người có sức khỏe, khả năng lao động tốt nhưng không có trình độ nên ít đươc tuyển dụng.Cũng có trường hợp trong thời kỳ hôn nhân, một bên thu nhập cao và một bên thu nhập thấp. Bên thu nhập cao yêu cầu bên kia nghỉ việc để lo toan mọi việc trong nhà. Đến khi ly hôn, người này không có cơ hội tìm lại việc làm và cuộc sống của họ không được bảo đảm. Vậy thì yêu cầu được cấp dưỡng của họ cũng đáng được xem xét.2. Về phía người cấp dưỡng: Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ đặt ra khi một bên gặp hoàn cảnh khó khăn và một bên có đủ điều kiện cấp dưỡng. Vì vậy vấn đề quan trọng nữa là đánh giá khả năng cấp dưỡng của bên kia.

Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định là người được cấp dưỡng phải là người có khó khăn, túng thiếu và bản thân họ phải có yêu cầu và yêu cầu đó phải có lý do chính đáng…Thế nhưng, trên thực tế điều luật này cũng không được thực hiện vì lý do đương sự không biết có quy định như vậy hoặc biết, có yêu cầu nhưng bên kia chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Đây cũng là một điều luật khó thực hiện vì thiếu chế tài ràng buộc.

Nhiều trường hợp do tâm lý bất cần sau ly hôn, dù túng quẫn hay rơi vào hoàn cảnh khó khăn về kinh tế những người phụ nữ vẫn không yêu cầu ngừơi chồng cấp dưỡng sau ly hôn. Vì vậy, vô tình bỏ qua quyền được cấp dưỡng của chính bản thân mình.

Có một số trường hợp, có cấp dưỡng từ chồng nhưng rất thấp. Hoặc có trường hợp người chồng sau khi ly hôn một thời gian cũng không có tài sản để nuôi sống chính bản thân,do đó, trường hợp này người chồng sẽ được chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, làm ảnh hưởng đến đời sống của ngừoi phụ nữ khi ly hôn.

2.2.5. Về thực hiện quyền lưu cư

Nhà ở đối với nhiều gia đình là tài sản có giá trị lớn, là nơi ở của cả gia đình trước khi ly hôn do đó việc phân chia nhà ở ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của vợ, chồng và các thành viên khác sống chung với gia đình.

Theo quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2014 thì khi nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng đã được đem vào sử dụng chung khi ly hôn nhà ở đó cũng thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác. Đây là quy định cụ thể hóa từ nguyên tắc chia tài sản tại khoản 4 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. “Thông thường khi kết hôn, nếu một trong hai bên đã có nhà thuộc sở hữu riêng của người đó thì bên kia về sống chung”[35]. Quy định này khuyến khích vợ chồng có nơi cư trú chung, phù hợp với phong tục tập quán Việt Nam. Khi ly hôn tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó. Trong trường hợp, vợ hoặc chồng không sở hữu nhà có khó khăn và không tìm chỗ ở mới được mặc dù đã cố gắng hết sức thì được quyền lưu cư lại nhà của bên kia trong thời gian sáu tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt. Đây là quy định mới thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta khi bảo vệ quyền lợi cho người ra đi.

Trên thực tế nhiều trường hợp sau ly hôn, thậm chí trong quá trình ly hôn người phụ nữ đã phải ra khỏi nhà vì không thể chịu được cảnh bạo lực do mâu thuẫn hoặc nguyên nhân từ phía gia đình nhà chồng. Một số trường hợp khác, người phụ nữ muốn ra khỏi   nhà để tự giải thoát mình khỏi bạo lực nhưng lại không được chấp nhận bị cản trở khi thực hiện.

2.3 Nhận xét chung về quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

2.3.1. Ưu điểm

  • Quyền nhân thân

Để đảm bảo thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ tiến bộ, tuân thủ Hiến pháp, Luật HN&GĐ năm 2014 đã ban hành nhiều quy định đảm bảo vấn đề này trong đó có các quy định về quyền nhân thân của phụ nữ khi ly hôn. Những quy định này góp phần ngăn chặn, hạn chế và từng bước xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, củng cố chế độ HN&GĐ mới, tiến bộ hơn. Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ không được coi trọng, bảo vệ; pháp luật chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo với các tư tưởng: phụ quyền, gia trưởng, trọng nam, khinh nữ… đã làm cho quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình không được bảo hộ. Người phụ nữ phụ thuộc vào chồng, con trai trong gia đình, không có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến tài sản, quyền thừa kế tài sản của chồng bị hạn chế…

Hiện nay, quyền phụ nữ được ghi nhận và bình đẳng. Luật HN&GĐ năm 2014 thừa nhận quyền bình đẳng của người phụ nữ trong trong quan hệ nhân thân với người chồng trong quan hệ pháp luật ly hôn. Các quyền cơ bản về nhân thân của người phụ nữ khi ly hôn – quyền tài sản gắn với nhân thân ngày càng được đảm bảo.

  • Quyền tài sản Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Thứ nhất, các quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đã góp phần củng cố chế độ HN&GĐ. Ở nước ta, chế độ HN&GĐ luôn được bảo hộ. Hôn nhân dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập [35, khoản 1 điều 29]. Khi ly hôn, về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: hoàn cảnh gia đình của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung…[35, khoản 2 Điều 59]. Như vậy, các quy định này đã thể hiện quyền bình đẳng của người vợ trong quan hệ tài sản với chồng trong vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Thứ hai, phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, …[35, điểm c khoản 2 Điều 59]. Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận lại tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch mà họ được hưởng, trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác…[35, điều 64].

Thứ ba, việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận góp phần hạn chế các tranh chấp kéo dài khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, thể hiện sự đối mới trong tư duy lập pháp của các nhà làm luật. Luật HN&GĐ nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung đã có những thay đổi trong tư duy xây dựng pháp luật ngày càng phù hợp với nhu cầu pháp lý thực tiễn và truyền thống pháp lý trên thế giới.

Bốn là, bên cạnh tài sản chung tài sản riêng thì việc xác định nợ riêng nợ chung của vợ, chồng cũng được quy định rất cụ thể.

  1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
  2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
  3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
  4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
  5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
  6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”[35].

Năm là, Một trong những ưu điểm của Luật HN & GĐ năm 2014 thể hiện tính nhân văn của phụ nữ đó là công việc nội trợ được coi là có thu nhập. Trước nay việc người vợ hoặc chồng ở nhà nội trợ, chăm lo con cái thường bị xem nhẹ và không được coi như là một công việc thực sự. Do vậy khi cuộc sống hôn nhân không còn “cơm lành, canh ngọt” hay thậm chí là ly hôn thì quyền lợi của những người phụ nữ thường bị thiệt thòi. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Tại Khoản 2, Điều 16, Luật HN & GĐ năm 2014 quy định như sau: “Việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”[35].

Công việc nội trợ là công việc chung các thành viên trong gia đình, mang tính cộng đồng cao, tích hợp các yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội, công việc có thu nhập. Người thực hiện nhiều công việc nội trợ, công việc gia đình là người gần gũi, thường xuyên nuôi dạy con từ chuyện tập ăn, tập nói, tập đi… Đến khi đứa trẻ đủ tuổi để đi thì những người thân trong gia đình có thể đưa đến trường, đón về nhà. Tuy nhiên do thời gian công việc, vai trò chính trong việc đưa đón, giáo dục con vẫn là người thường xuyên thực hiện công việc nội trợ (thường là người vợ trong gia đình). Người nội trợ chịu trách nhiệm về sức khỏe và dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình, họ có nhiều việc như: quản lý, cân nhắc về thu chi, nấu ăn, lập thực đơn ngày, tuần, tiếp khách, giặt quần áo, dọn vệ sinh nhà cửa,…

Từ phân tích trên có thể thấy công việc nội trợ biểu hiện rất rộng như: duy trì, phát triển kinh tế gia đình, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”[35]. Công việc nội trợ tạo ra nhiều sản phẩm vật chất, tinh thần cho các thành viên trong gia đình bảo đảm duy trì cuộc sống và hạnh phúc gia đình.

Có thể khẳng định, từ thực tiễn xã hội với những quy định về công việc nội trợ, lao động trong gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của đời sống hôn nhân và gia đình trong tình hình mới, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

Quy định mới này bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng khi ly hôn, bảo vệ quyền lợi của những người phải từ bỏ công việc xã hội của mình thực hiện công việc nội trợ, dù họ không tạo ra thu nhập trực tiếp nhưng công việc này đóng góp một phần không nhỏ trọng việc làm ra kinh tế gia đình Điểm mới đáng lưu ý trong luật sửa đổi lần này là những quy định về giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Luật mới chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích của người làm công việc nội trợ (đa phần là nữ giới) nên quyền lợi các bên được bảo đảm.

  • Quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Pháp luật Việt Nam về quyền của phụ nữ khi ly hôn, đặc biệt quyền được bảo đảm thiên chức làm mẹ – quyền quan trọng nhất đối với phụ nữ khi ly hôn ngày càng được hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết để đảm bảo tốt lợi ích của người phụ nữ nói chung và người phụ nữ khi ly hôn nói riêng. Quyền lợi của người phụ nữ được đảm bảo về mặt pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo cơ chế cẩn thiết để bảo đảm tốt quyền làm mẹ của người phụ nữ khi ly hôn. So với thời kỳ trước, Người phụ nữ khi ly hôn được tạo điều kiện tốt hơn về mặt thời gian và thu nhập. Theo quy định của pháp luật, người lao động được tiếp cận với nhiều quyền lợi hơn, với quy định tương đối linh hoạt đã bảo đảm cho người phụ nữ có điều kiện để chuyên tâm cho việc sinh con và nuôi con. Trong quá trình thực hiện, nhìn chung nhiều quyền lợi của người phụ nữ khi ly hôn đều được các gia đình, cơ quan, tổ chức, ban ngành thực hiện tương đối kịp thời và nghiêm túc; công tác tuyên truyền ngày càng có hiệu quả đảm bảo cho Lao động nữ tiếp cận dễ dàng hơn với các thông tin liên quan đến quyền lợi của mình.

Bên cạnh những tiến bộ nhất định trong việc chăm lo đời sống cho người phụ nữ khi ly hôn, đảm bảo tốt quyền làm mẹ thiêng liêng, thực tiễn thi hành đã có những kết quả bước đầu khiến cho quyền làm mẹ của người phụ nữ khi ly hôn được đảm bảo

  • Quyền lưu cư

Luật HN&GĐ năm 2014 không chỉ đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của vợ; bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà còn bảo đảm các quan hệ xã hội khác được ổn định, các hoạt động kinh tế, kinh doanh của vợ chồng được duy trì, bảo đảm sau khi chia tài sản chung của vợ chồng các quan hệ này không bị xáo trộn, vợ, chồng sau khi chia tài sản chung cuộc sống của họ vẫn được đảm bảo. Điều này thể hiện luật quy định rõ nguyên tắc khi chia tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là quy định lưu cư đã giúp bảo vệ lợi ích chính đáng của người phụ nữ khi ly hôn để  có điều kiện tối thiểu để tiếp tục sinh sống trong thời gian nhấ định sau ly hôn.

2.3.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

  • Quyền nhân thân

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì vẫn còn nhiều bất cập hạn chế cũng như khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật dẫn đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người phụ nữ. Thực tế, chúng ta có thể nhìn nhận thông qua các vấn đề như sau:

  • Tình trạng bạo lực gia đình còn tồn tại, thậm chí có trường hợp nghiêm trọng

Hiện nay quyền được thương yêu, chăm sóc và quý trọng của người vợ vẫn còn bị xâm phạm. Tình trạng bạo lực được thể hiện qua tỷ lệ người vợ có chồng bị chồng gây các hành vi bạo lực thể xác khác nhau và tỷ lệ các hành vi bạo lực tình dục cụ thể do chồng gây ra theo sự trả lời của phụ nữ vẫn còn tồn tại, thậm chí có trường hợp nghiêm trọng.

  • Tình trạng đứng tên trên giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản

Trong thực tiễn cuộc sống hiện nay, mặc dù nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong gia đình và các quyền cơ bản của người phụ nữ trong gia đình được đảm bảo bởi hệ thống pháp luật, nhưng trên thực tế trong lĩnh vực đứng tên giấy sở hữu, quyền sử dụng một số tài sản chưa thực sự được bảo vệ hợp lý, người phụ nữ chưa được tôn trọng cao, chưa được đảm bảo quyền tự quyết, bình đẳng của mình trong việc đại diện chồng tham gia các giao dịch dân sự, xét dưới góc độ bình đẳng giới.

Việc đảm bảo quyền và lợi ích của người vợ trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế khi ly hôn. Vấn đề này có nguyên nhân từ chính hành vi bạo lực gia đình, mà chủ yếu là từ người chồng.

Nhiều trường hợp chưa ly hôn người phụ nữ đã phải ra khỏi nhà vì không thể chịu được cảnh bạo lực do mâu thuẫn hoặc nguyên nhân từ phía gia đình nhà chồng. Một số trường hợp khác, người phụ nữ muốn ra khỏi nhà để tự giải thoát mình khỏi bạo lực nhưng lại không được chấp nhận bị cản trở khi thực hiện.

  • Quyền tài sản

Việc xác định công sức đóng góp của vợ chồng đối với khối tài sản chung trong vụ án hôn nhân và gia đình là vấn đề khó khăn, phức tạp. Cho đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn trường hợp nào tính công sức, trường hợp nào không được tính công sức và việc định lượng công sức như thế nào cho hợp lý.

Luật hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn về thời điểm xác định khối tài sản riêng của vợ chồng. Do đó, có nhiều cách hiểu khác nhau về thời điểm “có” tài sản.

Luật HN&GĐ năm 2014 đã có định nghĩa tài sản chung của vợ chồng theo phương pháp liệt kê. Đây là vấn đề cơ bản cần phải xác định khi có yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng. Việc xác định chính xác tài sản chung của vợ chồng là cơ sở, điều kiện tiên quyết để phân chia tài sản chung của vợ chồng được đúng đắn.

  • Quyền cấp dưỡng Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Ngoài quy định cấp dưỡng cho con, Luật Hôn nhân và Gia đình còn có quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn (Điều 115). Tuy nhiên, khác với việc cấp dưỡng nuôi con, cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn được quy định chặt chẽ là người được cấp dưỡng phải là người có khó khăn, túng thiếu và bản thân họ phải có yêu cầu và yêu cầu đó phải có lý do chính đáng… Thế nhưng trên thực tế, quy định này cũng không được thực hiện vì lý do đương sự không biết có quy định như vậy hoặc biết có yêu cầu nhưng bên kia chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chứ không cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng. Đây cũng là quy định khó thực hiện thì thiếu chế tài ràng buộc.

Từ những bất cập trên có thể thấy, các quy định về cấp dưỡng vẫn còn rất chung chung, thiếu cụ thể. Điều này khiến cho tòa án khi phán xét chỉ còn biết căn cứ và điều kiện thực tế cụ thể của từng trường hợp. Nhưng cũng chính vì lý do đó mà mức cấp dưỡng mỗi nơi mỗi khác nhau. Mặc khác, việc thiếu các chế tài cứng rắn hơn để ràng buộc những người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác phải có nghĩa vụ hỗ trợ cơ quan tư pháp thực hiện cũng là một cản trở không nhỏ, biến cấp dưỡng nuôi con thực sự trở thành “món nợ khó đòi”.

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện lại xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, về chính sách, quy định của pháp luật chưa tạo được cơ chế khuyến khích để thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn.

Pháp luật bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn tương đối tốt đồng nghĩa với việc những nghĩa vụ xã hội, của người chồng khi ly hôn cũng nhân lên. Do đó, những quy định ưu tiên, ưu đãi mà pháp luật trao cho người phụ nữ dưới góc nhìn của xã hội, của người chồng khi ly hôn lại có vẻ trở thành gánh nặng nhấ định. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Trong khi gánh nặng về nghĩa vụ lớn thì những quy định mang tính chất ưu đãi, khuyến khích không mấy “mặn mà”.

Mặt khác, các quy định về thủ tục trên thực tế đối với những người ở khu vực nông thôn còn là rắc rối, phiền hà nên nhiều khi người phụ nữ khi ly hôn cũng e ngại khiến cho chính sách không thực sự đi vào cuộc sống.

Thứ hai, các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn còn yếu.

Mặc dù pháp luật ban hành những nội dung về quyền của phụ nữ khi ly hôn đã bảo đảm dường như tối đa mọi mặt của phụ nữ khi ly hôn, tuy nhiên trên thực tế nhiều quy định không được áp dụng hoặc thường xuyên bị vi phạm. Nguyên nhân chính của tình trạng này là cơ chế bảo đảm thi hành chưa cao, còn bộc lộ nhiều vướng mắc. Cụ thể:

Về hoạt động thanh tra, kiểm tra: Không thể phủ nhận vai trò của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong việc đảm bảo thi hành luật, song hoạt động này trên thực tế chưa thực sự phát huy được hiệu quả để tạo được cơ chế đủ mạnh. Nhiều hành vi vi phạm tồn tại thường xuyên và rõ ràng nhưng phải đến khi báo chí vào cuộc thanh tra mới bắt đầu triển khai. Kết quả hàng năm còn ít, chưa phát hiện và xử lý hết các trường hợp vi phạm pháp luật, chưa đủ sức răn đe đối với các chủ thể vi phạm quyền của phụ nữ khi ly hôn. Vì vậy, vi phạm quyền của phụ nữ khi ly hôn vẫn tiếp tục diễn ra.

Bên cạnh hoạt động thanh tra kiểm tra chưa thực sự phát huy vai trò của mình thì hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được dưới góc độ là biện pháp bảo đảm thi hành luật. Số lượng giải quyết khiếu nại tố cáo về các vụ việc xâm phạm quyền của phụ nữ khi ly hôn còn quá ít so với vi phạm chưa thực sự tạo được lòng tin khi quyền lợi của mình không được đáp ứng.

Xử phạt khi có vi phạm là biện pháp bảo đảm thi hành luật có tính chất răn đe, đánh thẳng vào quyền lợi của chủ thể không tuân thủ quy định của pháp luật. Chính vì vậy, nếu hậu quả pháp lý phải chịu cao hơn so với lợi ích được hưởng các chủ thể sẽ hạn chế tối đa việc xâm phạm quyền của phụ nữ khi ly hôn. Tuy nhiên hiện nay chế tài xử lý trong trường hợp này còn tương đối nhẹ, chưa tạo được áp lực đủ lớn để các chủ thể khác cân nhắc khi thực hiện hành vi vi phạm. Trong pháp luật của một số quốc gia, vi phạm quyền làm mẹ của Lao động nữ bị coi là tội phạm. Đối với pháp luật Việt Nam, vi phạm các quy định về quyền của phụ nữ nói chung, quyền của phụ nữ khi ly hôn nói riêng chỉ được xác định ở mức độ vi phạm hành chính, trong khi đó nhiều chế tài chưa đủ sức răn đe. Với mức phạt như hiện nay, xét trong lợi ích mà NSDLĐ được hưởng khi thực hiện hành vi thì chưa đủ sức ngăn cản việc vi phạm pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn. Bên cạnh mức phạt tương đối nhẹ, cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, khiếu nại, tố cáo còn nhiều yếu kém do đó nguy cơ bị phạt khi thực hiện hành vi cũng chưa cao kéo đến hệ quả thường có tâm lý không thực sự lo sợ khi không đảm bảo chế độ cho phụ nữ khi ly hôn.

Ngoài ra, hiện nay vẫn còn tồn tại những cán bộ có thẩm quyền trong việc xử lý vi phạm hành chính làm việc thiếu trách nhiệm, công tư thiếu phân minh do đó nhiều hành vi vi phạm của phụ nữ khi ly hôn dễ dàng bị bỏ qua. Bất cứ một vấn đề gì cũng vậy, khi chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe thì những hành vi vi phạm sẽ được giảm một cách đáng kể. Trong quan hệ xã hội ở Việt N hung mà quyền của phụ nữ khi ly hôn nói riêng. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Thứ ba, nhận thức về pháp luật của các chủ thể còn hạn chế.

Việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn sẽ rất khó khăn nếu bản thân người phụ nữ không biết nội dung quyền của mình được hưởng như thế nào. Do đó, ngay cả khi bị vi phạm, phụ nữ khi ly hôn cũng không lên tiếng vì không nhận thức được quyền lợi của mình

Bản thân người phụ nữ, còn nhiều người thiếu tri thức về pháp luật và chưa có ý thức sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh hiểu biết pháp luật còn hạn chế của người phụ nữ thì ý thức tuân thủ pháp luật của người chồng, các chủ thể khác khi tha gia vào quan hệ pháp luật ly hôn cũng là một vấn đề đáng ngại. So với nhiều quốc gia, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân Việt Nam thuộc diện kém.

Thứ tư, nhiều quy định của pháp luật còn làm khó người phụ nữ khi ly hôn.

Mặc dù về mặt lý thuyết, nhiều quy định của pháp luật thực sự bảo đảm quyền phụ nữ khi ly hôn, tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng còn được coi là “rất khó” trên văn bản. Nguyên nhân bởi chính người phụ nữ muốn đòi hỏi quyền lợi cho mình cũng rấ khó vì quy định còn mới, thiếu văn bản hướng dẫn do đó người phụ nữ khi ly hôn không biết làm cách nào.

Song song với việc đưa ra những chế tài, Nhà Nước nên đưa ra những chính sách khuyến khích, đảm bảo quyền lợi cho người lao động đồng thời đơn giản hóa các thủ tục để người phụ nữ khi ly hôn dễ dàng tự đòi hỏi quyền lợi cho chính bản thân mình.

Tiểu kết chương 2

Qua chương 2, luận văn đã làm rõ thực trạng quy định pháp luật về quyền của người phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam, đồng thời có sự so sánh những điểm mới, tiến bộ so với pháp luật hôn nhân gia đình cũ. Nhìn chung thì pháp luật hôn nhân & gia đình quy định tương đối hoàn thiện và điều này đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết để đảm bảo tốt lợi ích của người phụ nữ nói chung và quyền của phụ nữ khi ly hôn nói riêng.

So với thời kỳ trước, quyền của phụ nữ khi ly hôn được tạo điều kiện tốt hơn để đảm bảo quyền lợi của mình nhưng trên thực tế vấn đề thực hiện cũng còn nhiều hạn chế. Qua việc phân tích thực trạng việc thực hiện pháp luật trên thực tế với những thành công, kết quả đạt được, luận văn cũng chỉ ra còn nhiều hạn chế trong vấn đề đảm bảo quyền phụ nữ khi ly hôn trong một số phương diện. Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật.

Từ những phân tích về quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn cũng thực trạng thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn, tác giả lấy đó làm tiền đề để đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn tại chương 3.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464