Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) là hiện tượng xã hội luôn được các nhà triết học, xã hội học, luật học nghiên cứu, là một hình thái đặc biệt của quan hệ con người, nó không những phản ánh chế độ xã hội mà còn thể hiện sự tiến bộ, văn minh của xã hội đó. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào nhỏ nhất của xã hội trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội.

Đời sống hôn nhân của vợ chồng vô cùng phong phú và đa dạng, ở đó không những chỉ phát sinh quan hệ nhân thân mà còn tồn tại quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Ly hôn là mặt trái của kết hôn, việc giải quyết ly hôn và hậu quả của nó luôn mang đến những hệ lụy nhất định. Vấn đề được các bên quan tâm và thường xảy ra tranh chấp khi ly hôn chính là giải quyết quyền lợi của vợ chồng.

Dưới sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, tính chất mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi. Vì vậy, các quy định điều chỉnh quyền lợi của vợ chồng luôn được các nhà làm luật quan tâm và xây dựng để trở thành một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong xã hội hiện đại, để bảo đảm đời sống chung của gia đình và lợi ích thiết thực của bản thân mỗi thành viên trong gia đình, vợ chồng có nhu cầu tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Khi tình cảm vợ chồng rạn nứt, đổ vỡ, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận việc chia tài sản chung, quyền nhân thân và một số quyền khác của họ, nhưng khi họ không thỏa thuận được thì việc vận dụng những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình để giải quyết quyền của vợ chồng, đặc biệt là quyền của người phụ nữ khi ly hôn là điều cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình mà Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dành sự quan tâm to lớn đối với vấn đề HN&GĐ. Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi ích của gia đình và xã hội. Với tư cách là một mặt của quan hệ hôn nhân, pháp luật hôn nhân và gia đình xây dựng một phần gọi là chế định ly hôn, nhằm điều chỉnh quan hệ nhân thân, tài sản giữa các đối tượng muốn ly hôn và con cái họ. Phụ nữ là các đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt nên pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã ghi nhận quyền của phụ nữ như một nguyên tắc cơ bản mang tính chất dẫn đường xuyên suốt toàn bộ luật. Chế định ly hôn cũng không nằm ngoài nguyên tắc cơ bản này. Do những đặc thù của việc ly hôn nên việc đảm bảo nguyên tắc bảo vệ quyền của người phụ nữ khi ly hôn là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với xu hướng thời đại. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế – xã hội, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ HN&GĐ cũng bị tác động mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê của Tòa án các cấp, trong cả nước hàng năm số lượng các vụ án về HN&GĐ mà Tòa án đã thụ lý giải quyết trên 165.000 vụ việc (số liệu thống kê của Tòa án Nhân Dân tối cao báo cáo cho thấy năm 2014 Tòa án cả nước thụ lý 165.032 vụ án, năm 2015 thụ lý 181.939 vụ), chủ yếu là ly hôn và tranh chấp tài sản mà phần thiệt chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Tới nay Việt Nam đã có những chính sách khá đầy đủ và một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong các vụ án ly hôn. Điều này được thể hiện ở các quy định pháp luật HN&GĐ, các công ước quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, việc bảo vệ quyền lợi của người vợ và con trong các vụ án ly hôn liên quan đến vấn đề tài sản còn nhiều vướng mắc và bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ, trong đó bao gồm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ khi ly hôn là hết sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Xuất phát từ lý do nêu trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo Pháp luật Việt Nam hiện nay ” làm công trình nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập trực tiếp hoặc có liên quan tới vấn đề quyền của phụ nữ khi ly hôn như sau:

Nhóm luận văn, luận án: Ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu như:

Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận án Tiến sĩ luật học, của Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004 [6]. Luận văn đề cập chủ yêu đến chế độ tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung hợp nhất cả trong quá trình hôn nhân và trường hợp chia tài sản vợ chồng khi ly hôn, từ đó đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về chế định tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình năm 2000.

“Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, Luận văn Thạc sĩ luật học, của Bùi Thị Mừng, Trường Đại học Luật Hà Nội [23]. Trong luận văn đề cập đến vấn đề bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của phụ nữ theo luật hôn nhân gia đình năm 2000, trong đó có nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn về những quyền nhân thân, quyền tài sản, quyền làm mẹ.. của phụ nữ. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn Thạc sĩ luật học của Phạm Thị Ngọc Lan, Khoa Luật – Đại học Quốc gia, 2008 [11]. Luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam về hôn nhân gia đình năm 2000.

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thu Lý, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008 [19]. Khóa luận tốt nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức khái quát những vấn đề lý luận về các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Khóa luận tốt nghiệp, của Nguyễn Thị Phương Thảo, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 [38]. Đã luận bàn về các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn.

Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn, Khóa luận tốt nghiệp, của Hồ Thị Nga, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007 [25]. Khóa luận đề cập đến quyền lợi của con – người bị động, yếu thế trong quan hệ ly hôn.

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội của Lê Thu Trang, 2012 [40].

Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (2014), Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội của Đinh Thị Minh Mẫn [21], cũng đã đề cập được một phần nội dung quyền tài sản của người vợ khi ly hôn.

Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội; Nguyễn Thị Hạnh (2012) [9]. Tác giả Đinh Thị Hạnh đã nêu ra được những vấn đề lý luận về pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng tại tỉnh Bình Định.

Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội của Nguyễn Thanh Mai (2012) [20], đã nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn ở Việt Nam trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận cũng như phân tích thực trạng pháp luật hiện hành.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa sơ sở lý luận về quyền của phụ nữ khi ly hôn thông qua việc làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung cũng như các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm.
  • Đánh giá có hệ thống và khái quát về thực trạng pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn ở Việt Nam. Nêu rõ ưu điểm, hạn chế và đưa ra được nguyên nhân có những ưu điểm và hạn chế đó.
  • Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn ở Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

  • Các quan điểm khoa học liên quan đến quyền của phụ nữ khi ly hôn.
  • Các chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền của phụ nữ khi ly hôn.
  • Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn ở Việt Nam hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Các quy định về bảo đảm quyền của phụ nữ trong quan hệ nhân thân, trong quan hệ tài sản, trong việc thực hiện quyền của cha mẹ đối với con khi ly hôn ở Việt Nam hiện nay.
  • Về không gian: Trên lãnh thổ Việt Nam
  • Về thời gian: Từ khi có Hiến pháp 2013 đến

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Phương pháp luận Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lenin; Các nguyên tắc nền tảng của luật nhân quyền quốc tế; Các quan điểm về quyền bình đẳng giới, về quyền bình đẳng vợ chồng và quyền của phụ nữ khi ly hôn.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp quy nạp: Dùng để phân tích luận giải các các khái niệm đặc điểm và quá trình thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn.
  • Phương pháp lịch sử: được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu quyền của người phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến quyền của người phụ nữ khi ly hôn và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn.
  • Phương pháp so sánh: được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật một số nước khác quy định về quyền của người phụ nữ khi ly hôn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
  • Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận được nhìn nhận dưới góc độ quyền con người về quyền của phụ nữ khi ly hôn; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền và đảm bảo quyền của phụ nữ khi ly hôn.
  • Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên ngành luật và không chuyên ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án HN&GĐ tại TAND nói chung.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền của phụ nữ khi ly hôn
  • Chương 2: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quyền của phụ nữ khi ly hôn theo ở Việt Nam hiện nay

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ KHI LY HÔN

1.1. Ly hôn

1.1.1. Khái niệm Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân nói chung, ly hôn nói riêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) thừa nhận quan hệ hôn nhân xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, tự do và tự nguyện của đôi nam nữ, điều này được thể hiện trong việc kết hôn cũng như ly hôn. Có thể nói, quyền tự do ly hôn xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội. Ở chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ duy nhất xây dựng một nền dân chủ thực sự mà trong đó quyền lợi của tất cả mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đều được đảm bảo. Ly hôn chính là sự giải phóng cho vợ chồng khi bản chất cuộc hôn nhân không tồn tại trên thực tế và Nhà nước cho phép họ ly hôn. Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợ chồng mà còn bảo vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội.

Chấm dứt hôn nhân bằng cách ly hôn là một biện pháp được thừa nhận từ rất sớm trong luật Việt Nam. Tại Bộ Quốc triều hình luật Ðiều 308 có ghi: Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng), thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn 1 năm. Vì việc quan phải đi xa, thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ, mà lại ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm. Thực ra, điều luật được viết không tốt lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được ghi nhận. Việc ly hôn cũng được thừa nhận tại Bộ luật Giai Long Ðiều 108 (thuận tình ly hôn).

Trong thời kỳ thuộc địa, chế định ly hôn được xây dựng dựa theo khuôn mẫu Pháp (Dân Luật giản yếu thiên thứ VI, Bộ luật dân sự (Bộ luật Dân sự) Bắc Ðiều 116 đến 150; Bộ luật dân sự Trung Ðiều 115 đến 147). Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ly hôn được thừa nhận như là một trong những biện pháp giải phóng phụ nữ khỏi sự kìm hãm của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến. Có một thời kỳ ngắn, người làm luật miền Nam cấm ly hôn vì lý do tôn giáo (Luật gia đình năm 1959 Ðiều 55); nhưng quy định cấm này có tuổi thọ không dài lắm. Nói chung, chế định ly hôn được liên tục hoàn thiện trong luật Việt Nam hiện đại. Lúc đầu, chế định ly hôn được phát triển dựa trên tư tưởng giải phóng phụ nữ nhưng dần dần, việc quan tâm hoàn thiện chế định này được thôi thúc nhiều hơn bởi yêu cầu bảo đảm sự phát triển lành mạnh của con trong môi trường gia đình không hạnh phúc và đổ vỡ do những mâu thuẫn không thể điều hòa giữa cha và mẹ. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Cần lưu ý rằng trong luật cổ, việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống có thể đạt được không chỉ bằng con đường ly hôn mà còn bằng cách rẫy vợ. Biện pháp rẫy vợ cho phép người chồng, trong những trường hợp được luật dự kiến, đuổi người vợ ra khỏi nhà và chấm dứt quan hệ hôn nhân mà không cần tiến hành các thủ tục tư pháp. Trong thời kỳ thuộc địa, việc rẫy vợ bị cấm ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ sau khi có các Bộ luật dân sự Bắc (Ðiều 116) và Trung (Ðiều 115) [5] ; trong khi đó, do Bộ dân luật giản yếu không có quy định rõ ràng, các Tòa án Nam Kỳ không có thái độ nhất quán ở điểm này.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ly hôn được xem như một trong những biện pháp giải phóng phụ nữ khỏi sự kềm hãm của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến. Văn bản đầu tiên có những quy tắc pháp lý mới về ly hôn là Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950, một văn bản rất ngắn gọn và không có đầy đủ các quy tắc cần thiết, nhưng thể hiện được chủ trương của người làm luật xoá bỏ hệ thống pháp lý về ly hôn dựa trên quan niệm bất bình đẳng giữa nam và nữ (Sắc lệnh thừa nhận khả năng ly hôn do lỗi, do một bên mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo, thậm chí do không hợp tính tình (Điều 2), cũng như do có sự thuận tình giữa vợ và chồng về việc chấm dứt cuộc sống chung (Điều 3). Nói chung, các trường hợp ly hôn trong Sắc lệnh được dự kiến trên cơ sở tham khảo ). Đến năm 1959, người làm luật bắt đầu xây dựng chế độ ly hôn mới dựa trên tư tưởng chủ đạo theo đó, việc ly hôn được cho phép một khi “tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Điều 26). Trong chế độ ly hôn mới đó, các trường hợp ly hôn được phân loại tùy theo yêu cầu ly hôn xuất phát từ ý chí của cả vợ và chồng hay của một trong hai người, chứ không căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các sự kiện được coi là nguyên nhân của sự tan vỡ quan hệ vợ chồng, như trước.

Trong thời kỳ đất nước chia đôi, người làm luật miền Nam có lúc cấm ly hôn vì lý do tôn giáo (Điều 55 Luật Gia đình năm 1959) nhưng quy định cấm này có tuổi thọ không dài lắm. Từ năm 1964 cho đến khi hệ thống luật của chế độ Sài Gòn bị huỷ bỏ, việc ly hôn ở miền Nam được chi phối bởi các quy tắc được xây dựng từ sự pha trộn giữa luật thời kỳ thuộc địa và luật của Pháp, nghĩa là vẫn đặc biệt chú trọng việc bảo vệ các quyền lợi của người chồng.

Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật về ly hôn được tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở quan niệm ly hôn được xây dựng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Lúc đầu, chế định ly hôn được phát triển dựa trên tư tưởng giải phóng phụ nữ; dần dần, việc quan tâm hoàn thiện chế định này được thôi thúc nhiều hơn bởi yêu cầu bảo đảm sự phát triển lành mạnh của con trong môi trường gia đình không hạnh phúc và đổ vỡ do những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cha và mẹ. Yêu cầu đó được khẳng định rõ nét trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và được củng cố trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và hiện tại là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nhìn nhận một cách tổng quát, ly hôn trong luật Việt Nam hiện đại được ghi nhận như một biện pháp bảo đảm tự do cá nhân (của vợ và của chồng) trong quan hệ gia đình, đồng thời bảo đảm sự dung hoà giữa các lợi ích trở nên trái ngược do sự quay lưng của vợ chồng đối với nhau, trong đó có cả (và nhất là) lợi ích của con cái sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa các đương sự. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống. Ðây là biện pháp cuối cùng mà luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà không thể được khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác. Nguyên nhân của sự khủng hoảng khá đa dạng: bất đồng ý kiến kéo dài, đối nghịch về quan niệm sống, thần tượng sụp đổ, ngoại tình… Nhưng tất cả các trường hợp ly hôn đều có chung một đặc điểm: vợ hoặc chồng hoặc cả hai không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân và muốn được tự do.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng và có giá trị pháp lý khi được Tòa án có thẩm quyền công nhận. Đây có thể coi là biện pháp cuối cùng để chấm dứt tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [35].

1.1.2. Các trường hợp ly hôn và căn cứ ly hôn

  • Các trường hợp ly hôn

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam thì có hai thủ tục giải quyết ly hôn là: Thủ tục giải quyết việc dân sự (yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn) và thủ tục giải quyết vụ án dân sự (ly hôn đơn phương theo yêu cầu của một bên vợ/chồng). Từ đó, có thể thấy có hai trường hợp ly hôn là ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương:

  • Ly hôn thuận tình: Là trường hợp giải quyết ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng; trong đó vợ, chồng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết cả ba vấn đề: Quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản và quan hệ nuôi con.
  • Ly hôn đơn phương: Là trường hợp giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng.

Vấn đề thời hiệu không áp dụng đối với quan hệ pháp luật HN&GĐ. Vì vậy, trong mọi khoảng thời gian của thời kỳ hôn nhân (tính từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật), vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn (trừ trường hợp chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi).

  • Căn cứ ly hôn

Căn cứ ly hôn là những tình tiết được quy định trong pháp luật, chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó thì Tòa án mới được xử cho ly hôn. Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó giải quyết ly hôn.

Theo Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hai căn cứ để ly hôn:

  • Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.

Theo Điều 55: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”[35].

Như vậy, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân. Bảo đảm “thật sự tự nguyện ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn. Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn của hai vợ chồng đều phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình họ, phù hợp với yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực, đạo đức xã hội. Đồng thời, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định giải quyết việc ly hôn.

  • Căn cứ ly hôn khi ly hôn theo yêu cầu của một bên

Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau: Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

  1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
  2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
  3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”[35].

Theo đó, khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì Tòa án cần dựa vào một trong ba căn cứ sau đây:

Thứ nhất, đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thứ hai, đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người cụ thể “hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết” (theo từ điển tiếng Việt). Theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích….”[33]. Khoản 2 Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về căn cứ cho ly hôn có đề cập tới trường hợp yêu cầu ly hôn khi một trong hai người mất tích như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”[35].

Thứ ba, đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật HN&GĐ “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”[35] thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì theo Luật HN&GĐ năm 2014, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

1.2. Quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

1.2.1. Khái niệm

Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng không chỉ là nghĩa vụ của nhà nước đối với người dân mà còn là nghĩa vụ của một quốc gia trước cộng đồng quốc tế. Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 vừa có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 có rất nhiều điểm mới phù hợp với Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ phụ nữ. Vì vậy, bài viết đề cập đến một số vấn đề về bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ, đặc biệt là khi họ rơi vào hoàn cảnh hôn nhân tan vỡ.

Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, phản ánh tình trạng hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Vấn đề đặt ra là, cần nhận thức thế nào về sự cần thiết bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ khi ly hôn và việc bảo đảm thực thi quyền đó trong thực tế. V.I Lênin đã từng khẳng định rằng nếu không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn cho phụ nữ và nếu thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với phụ nữ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao vị trí, vai trò của phụ nữ mà còn rất coi trọng sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Theo Người: “trình độ giải phóng phụ nữ được coi là thước đo của trình độ phát triển xã hội”. Bởi, “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội một nửa” [22]. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Khi xem xét việc bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn thì không thể tách rời việc nghiên cứu về quyền và bảo vệ quyền con người của phụ nữ. Theo Mác: “Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người” [13]. Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [13]. Ở Việt Nam cũng đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu chung quyền con người thường được hiểu “là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13]. Và tại Hội nghị thế giới về Quyền con người lần thứ hai tổ chức tại Viên (1993) đã khẳng định: “quyền con người của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời của các quyền con người phổ biến” [13]. Như vậy, cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có hay phải do nhà nước quy định thì để thực hiện các quyền con người phải cần có pháp luật. Pháp luật là phương thức không thể thiếu và là công cụ hiệu quả nhất của nhà nước nhằm bảo vệ quyền con người. Theo đó, “bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải được hiểu là sự ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy, quyền phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới” [16].

Bảo vệ quyền của phụ nữ được ràng buộc chặt chẽ bởi các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, như: Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948, UDHR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (1979, CEDAW),… Theo đó, việc bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kể cả khi ly hôn được nhấn mạnh và quy định rất cụ thể tại Điều 16 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ:

“1. Các quốc gia thành viên phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân và quan hệ gia đình, cụ thể phải bảo đảm những quyền dưới đây, trên cơ sở bình đẳng nam nữ:

  1. Quyền kết hôn như nhau;
  2. Quyền như nhau trong việc tự do lựa chọn người để kết hôn và chỉ kết hôn khi mình được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện; Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.
  3. Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ chồng trong thời gian hôn nhân cũng như khi hôn nhân bị hủy bỏ;
  4. Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha mẹ, bất kể tình trạng hôn nhân như thế nào, về các vấn đề liên quan đến con cái họ. Trong tất cả các trường hợp, lợi ích của con cái phải được coi là điều quan trọng nhất;..“[16]

Dưới góc độ quyền phụ nữ cũng chính là quyền con người, Nhà nước cần phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền đó đúng như những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vì thế, hoạt động bảo vệ quyền con người của phụ nữ phụ thuộc vào năng lực của các hệ thống cơ quan nhà nước mà trước hết là hệ thống Tòa án. Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp…có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [34].

Ở Việt Nam, quyền của phụ nữ thực sự được đề cập đến từ khi nhân dân ta giành được độc lập từ tay thực dân phong kiến. Sau khi giành được chính quyền và “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc” [26]. Theo đó, những văn bản pháp luật đầu tiên về quyền công dân, trong đó có quyền của phụ nữ được ban hành. Tuy nhiên, trong từng điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, nên ở mỗi thời kỳ, các quyền công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng được thể hiện và phát triển vừa có tính kế thừa vừa có sự đổi mới. Hiện nay, những quyền cơ bản của phụ nữ được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật.

Quyền của phụ nữ khi ly hôn là tập hợp các quyền của con người mà người phụ nữ được hưởng, được tôn trọng, được bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các quy định của pháp luật khi ly hôn. Bao gồm:quyền yêu cầu ly hôn, quyền nhân thân,quyền giải quyết tài sản khi ly hôn, quyền lưu cư khi ly hôn, quyền được cấp dưỡng, quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ.

1.2.2. Đặc điểm quyền của phụ nữ khi ly hôn

Quyền phụ nữ khi ly hôn có những đặc trưng rõ ràng để nhận biết và phân biệt với các quyền khác. Các nhà làm luật, các nhà hoạch định chính sách đều thống nhất với nhau về một số đặc điểm cơ bản, cụ thể là:

Tính phổ biến: Quyền phụ nữ khi ly hôn bảo đảm cho phụ nữ khi ly hôn các quyền bình đẳng và giá trị mà họ được thụ hưởng ở bất cứ đâu và bất kỳ lúc nào từ khi ly hôn.

Tính không thể chuyển nhượng: Quyền phụ nữ khi ly hôn là những quyền không thể mang ra mua bán, chuyển nhượng, trao đổi, tức là không thể được ban phát, rút lại hay bị tước đoạt. Quyền phụ nữ khi ly hôn là sở hữu vốn có của mỗi phụ nữ bất kể địa vị của họ, đóng góp cua họ như thế nào trong thời kỳ hôn nhân.

Tính không thể chia cắt: Tính tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Các quyền của phụ nữ khi ly hôn có quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể không thể tách rời. Với đặc trưng này, quyền của phụ nữ khi ly hôn mới có thể bảo đảm cho mỗi người phụ nữ tự do, bình đẳng và có một điều kiện sống tốt đẹp với chân giá trị của mình, nhưng điều cần nhấn mạnh là quyền phụ nữ khi ly hôn có tính phổ biến đối với phụ nữ.

1.2.3. Vai trò của quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Quyền của phụ nữ khi ly hôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như trong việc nâng cao trách nhiệm bảo đảm sự bình đẳng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vai trò của quyền của phụ nữ khi ly hôn được thể hiện trên những phương diện cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn là cơ sở pháp lý bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng có những cơ hội, điều kiện ngang nhau khi tham gia tố tụng. Bảo đảm thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn giúp đương sự có thể bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình tốt hơn trước Toà án khi quyền lợi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Việc ghi nhận quyền này nhằm đảm bảo để vợ chồng khi tham gia các vụ việc HN&GĐ đều được pháp luật xác định có các quyền và nghĩa vụ tố tụng giống nhau; những quyền và nghĩa vụ này được thực hiện giống nhau trong những điều kiện giống nhau, không có sự phân biệt đối xử về dân tộc, thành phần xã hội hoặc giới tính…

Thứ hai, việc ghi nhận và bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn là căn cứ để Toà án có thể giải quyết các vụ việc HN&GĐ một cách công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và đúng đắn. Sự ghi nhận và bảo đảm đó sẽ giúp hạn chế và phòng ngừa những hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình tố tụng, bảo đảm sự công bằng cho các chủ thể tham gia. Chính vì vậy, quyền của phụ nữ khi ly hôn là một trong những yêu cầu để bảo đảm rằng việc giải quyết các vụ việc HN&GĐ được minh bạch và hiệu quả.

Thứ ba, quyền của phụ nữ khi ly hôn góp phần ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm của các chủ thể tham gia tố tụng trong khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Áp dụng hiệu quả quyền của phụ nữ khi ly hôn là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý những hành vi vi phạm, hành vi cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ góp phần bảo đảm cho mỗi chủ thể, khi tham gia tố tụng, có thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Toà án.

Ngoài ra, việc quy định và thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn còn có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

1.2.4. Ý nghĩa của quyền của phụ nữ khi ly hôn

  • Ý nghĩa về mặt pháp lý: Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Quyền của phụ nữ khi ly hôn là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ vợ chồng như: giải quyết tranh chấp tài sản, giải quyết tranh chấp về nhân thân, con cái… Một trong những nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân là độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, nên khi giải quyết các án kiện về HN&GĐ thì Tòa án phải xét xử trên quy định của Luật HNN&GĐ năm 2014 dựa trên những nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đã quy định ra nguyên tắc bình đẳng vợ trong trong giải quyết vụ việc HN&GĐ. Hơn nữa đây còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết tranh chấp về HN&GĐ được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên, đặc biệt là phụ nữ.

Quyền của phụ nữ khi ly hôn là cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong quá trình giải quyết các vụ việc HN&GĐ cũng như hậu ly hôn. Họ được hưởng những quyền ngang nhau, thực hiện nghĩa vụ như nhau. Đó là các quyền mà họ được Nhà nước trao cho và đảm bảo thực hiện.

Quyền của phụ nữ khi ly hôn là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi người phụ nữa nhằm đảm bao tính khả thi các quyền của phụ nữa được thực hiện trên thực tế đời sống, làm ổn định quan hệ xã hội, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới.

  • Ý nghĩa về xã hội:

Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi tư tưởng lạc hậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng. Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữa vào tình trạng lệ thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình. Quyền của phụ nữ khi ly hôn được khẳng định và thế hiện là một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đẩy lùi tư tưởng lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình đẳng ở nước ta.

Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề HN&GĐ của vợ chồng. Quyền của phụ nữ khi ly hôn là một trong những cơ sở góp phần triển khai chương trình bình đẳng về giới, tránh bạo lực trong gia đình như: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Viên Nam đã phát động phong trào “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”; “Vì sự tiến bộ của phụ nữ”. Tất cả những ỹ nghĩa xã hội trên đều hướng tới sự bình đẳng vợ chồng, sự bình đẳng trong xã hội – cái mà xã hội ta đang vươn tới.

1.2.5. Điều chỉnh pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

  • Quyền nhân thân

Quyền nhân thân (personality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân. Từ xưa đến nay, nói đến quyền nhân thân người ta thường liên tưởng đến ngay những quyền có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu. Do đó, các quyền nhân thân cũng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn.

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt. Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân, có tính chất phi tài sản, luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác, quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.

  • Quyền tài sản

Tài sản của vợ chồng gồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập vấn đề tài sản chung của vợ chồng.

Theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” [35].

Thông thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung đó. Mặc dù sự đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng có thể không có bằng chứng, nhưng đối với sở hữu chung hợp nhất vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung này, khi thực hiện những giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng.

Khi đời sống hôn nhân chấm dứt, vấn đề tài sản luôn được các cặp vợ chồng quan tâm hàng đầu. Cụ thể như việc xác định nguồn gốc hình thành tài sản, việc phân định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng để thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Như vậy, chia tài sản vợ chồng thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án giải quyết khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đảm bảo quyền lợi của các bên, đặc biệt là quyền về tài sản của người vợ khi ly hôn. Mỗi một trường hợp chia tài sản đều mang một ý nghĩa, chia tài sản khi vợ chồng ly hôn nhằm tạo điều kiện cho các bên tạo lập cuộc sống mới sau khi ly hôn, đảm bảo công bằng giữa vợ và chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản.

  • Quyền đảm bảo thiên chức làm mẹ

Hiện nay, cho phụ nữ “Quyền được bảo vệ chức năng sinh đẻ” (Điểm f khoản 1 Điều 11). Những quy định mang tính quốc tế đó đã đề ra cho pháp luật các quốc gia một đòi hỏi về sự bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của phụ nữ. Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam hay ngay trong Bộ luật lao động thì khái niệm này cũng không được nhắc tới. Mặc dù xét về hình thức diễn đạt có thể không giống nhau nhưng nội hàm của khái niệm được nhìn nhận khá thống nhất. Cụ thể: Quyền làm mẹ của phụ nữ được hiểu là quyền sinh con, chăm sóc con cái và quyền được nhận nuôi con nuôi không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của họ [5, tr.48]. Như vậy, quyền làm mẹ là thuật ngữ dùng để chỉ quyền của người phụ nữ có khả năng được thực hiện, thừa nhận việc có con. Quyền làm mẹ bao gồm hai nhóm nội dung đó là quyền sinh con, chăm sóc con và quyền của phụ nữ trong việc cho và nhận con nuôi.

Quyền theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể chính sách, pháp luật cùng các điều kiện khác như kinh tế, chính trị, văn hóa và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trên thực tế. Còn theo nghĩa hẹp, quyền làm mẹ chỉ bao gồm thể chế (chính sách, pháp luật) và thiết chế tương ứng để bảo đảm thực thi quyền trên thực tế. Như vậy, với sự phân tích khái niệm quyền làm mẹ ở trên, có thể hiểu một cách đầy đủ và khái quát nhất khái niệm bảo đảm quyền làm mẹ của Lao động nữ, đó là tổng thể các chính sách, pháp luật cùng các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa liên quan đến khả năng của người phụ nữ trong việc thực hiện hoặc thừa nhận việc có con đẻ hoặc con nuôi mà không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân cùng các cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế. Với đối tượng phụ nữ là Lao động nữ thì nội dung bảo đảm quyền làm mẹ bao gồm quyền được làm việc, bảo đảm sức khỏe sinh sản, bảo đảm quyền được mang thai và sinh con, bảo đảm khả năng chăm sóc và nuôi dạy con của Lao động nữ trong quá trình làm việc… Nội dung này được điều chỉnh và bảo vệ chủ yếu bởi các quy định của pháp luật lao động và pháp luật bảo hiểm xã hội. Theo đó, pháp luật bảo hiểm xã hội bảo đảm quyền làm mẹ của an sinh xã hội,

  • Quyền cấp dưỡng Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Căn cứ quy định tại Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình” [35].

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Có sự túng thiếu của một bên và sự tồn tại khả năng hỗ trợ của bên kia. Nếu cả hai người đều túng thiếu, thì mỗi người phải tự xoay sở, không ai có trách nhiệm cấp dưỡng cho ai.

Ðể nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn được xác lập, cần có một bên sống trong cảnh túng thiếu và bên kia có đủ điều kiện để hỗ trợ. Sự túng thiếu của một bên, trong suy nghĩ của người làm luật, có nguồn gốc từ tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Thế nào là không có khả năng lao động tùy thuộc vào sự đánh giá của thẩm phán. Người thất nghiệp chưa chắc là không có khả năng lao động; người khuyết tạt cũng có thể có khả năng lao động. Bên vợ- chồng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu phải chứng minh sự khó khăn, túng thiếu của mình. Nói chung, được coi là có lý do chính đáng khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu là do những điều kiện ngoại cảnh mang lại, ví dụ như ốm đau, bệnh tật hay gặp tai ương bất ngờ

  • Quyền lưu cư

Căn cứ Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền của phụ nữ khi ly hôn

  • Phong tuc, tập quán

Dưới chế độ phong kiến người phụ nữ phải nhất nhất theo thuyết “tam tòng tứ đức” và đề cao tột đỉnh giá trị của người con trai, hạ thấp đến mức phủ nhận hoàn toàn giá trị của người con gái “nhất nam viết hữu, thập nữ nhất vô” (Một con trai cũng được coi là có, còn mười con gái cũng bị coi là không). Chủ yếu lấy quan điểm Nho giáo làm nền tảng tư tưởng, Nhà nước phong kiến Việt Nam với những lễ giáo phong kiến như xiềng xích trói buộc người phụ nữ, Nhà nước phong kiến đã phân ra hai hạng người là quân tử và tiểu nhân, trong đó phụ nữ bị coi khinh như tiểu nhân. Nguồn gốc của quan điểm “nam tôn nữ ti” này xuất phát từ quan điểm của Khổng Tử. Khổng Tử cho rằng “Duy nữ tử dữ tiểu nhân nam dưỡng dã. Cận chi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán” (nghĩa là chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó nuôi dạy. Gần thì sinh nhờn mà xa thì oán). Những phong tục, tập quán của con người trong xã hội tự đặt ra được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, phục vụ cộng đồng và được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng.

Thông thường phong tục tập quán về HN&GĐ được áp dụng ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ở đó, Luật HN&GĐ năm 2014 chưa thể thực hiện được một cách đầy đủ, nên cần phải sử dụng phong tục tập quán chính vì vậy chế định áp dụng phong tục tập quán vẫn được ghi nhận ở các Luật HN&GĐ.

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng

Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn. Người vợ hoặc chồng có những khó khăn nhất định trong cuộc sống như: chi trả nhiều cho bệnh tật, nuôi mẹ già… sẽ được xem xét như một tình tiết ưu tiên khi phân chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn. Đây là điểm thể hiện tính nhân đạo của luật pháp cũng như tình nghĩa giữa những người từng là vợ chồng của nhau. Cụ thể, bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận lại tài sản để đảm bảo duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình của vợ chồng trước khi ly hôn cũng quyết định đến khối lượng tài sản chung khi tranh chấp. Thông thường, các trường hợp hoàn cảnh gia đình trước ly hôn khó khăn, tài sản chung không lớn sẽ khiến cho việc giải quyết tranh chấp được diễn ra đơn giản. Ngược lại, những gia đình có khối lượng tài sản chung lớn, tính chất phức tạp trong việc phân định cao và thái độ của vợ và chồng khi tranh chấp cũng mang tính quyết liệt hơn dẫn đến việc giải quyết tranh chấp rất khó khăn.

  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Vợ và chồng là quan hệ vừa mang tính pháp lý vừa mang tính xã hội. Mỗi bên tham gia quan hệ này đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trường hợp các bên không tuân thủ các nghĩa vụ của mình nghĩa là vi phạm nguyên tắc làm vợ hoặc chồng đã được pháp luật và xã hội thừa nhận. Đặc biệt, hậu quả ly hôn bắt nguồn từ lỗi của chồng hoặc vợ sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn theo hướng bất lợi cho người có lỗi.

Luật HN & GĐ năm 2014 cũng đã ghi nhận một nguyên tắc rất quan trọng trong việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là tính đến việc xét lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Điều 51 Luật HN &GĐ năm 2014 cho phép cả vợ, chồng đều có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Theo đó mỗi bên đều có quyền đơn phương nộp đơn ra tòa án để yêu câu giải quyết ly hôn. Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, Điều 56 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định để được tòa án thụ lý đơn ly hôn đơn phương thì cần phải có căn cứ ly hôn, bao gồm: Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Tình trạng hôn nhân trầm trọng ở đây được hiểu là: Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình. Trường hợp nếu chồng hoặc vợ có hành vi ngoại tình, đã bị phát hiện hay bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo, khuyên giải nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình thì được xem là tình trạng hôn nhân trầm trọng, theo Điều 56 Luật HN & GĐ năm 2014, tòa án có căn cứ để xét đơn đơn phương ly hôn, trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 51 Luật HN & GĐ năm 2014 “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”[35].

Theo quy định của Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT –TANDTCVKS NDTC- BTP ngày 06/01/2016 thì “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng” ở đây được hiểu là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ, trường hợp người chồng ngoại tình hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên. Như vậy, việc ly hôn do lỗi ngoại tình của vợ hoặc chồng thì vợ hoặc chồng sẽ có những bất lợi trong tranh chấp tài sản khi ly hôn.

1.3.2. Các điều kiện đảm bảo quyền của phụ nữ khi ly hôn

  • Sự phát triển kinh tế – xã hội

Các Mác cho rằng, quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, do chế độ kinh tế quy định. Là một phạm trù pháp lý thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế. Trong mối liên hệ giữa kinh tế và pháp luật thì kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật. Vì vậy, điều kiện kinh tế – xã hội chi phối đến việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn. Kinh tế – xã hội phát triển sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện đầy đủ các quyền của phụ nữ khi ly hôn trong giải quyết các vụ việc HN&GĐ. Trên cơ sở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật sẽ được hoàn thiện, ý thức pháp luật của mọi người được nâng cao, các hoạt động trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh, Tòa án sẽ có đủ phương tiện cần thiết để giải quyết các vụ việc HN&GĐ. Bên cạnh đó, phụ nữ cũng sẽ có thêm các điều kiện thuận lợi về vật chất để tham gia tố tụng hoặc nhờ người khác tham gia Tố tụng dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn là vấn đề pháp lý mang tính dân chủ sâu sắc nên điều đó chỉ thực sự tồn tại và phát triển trong một xã hội dân chủ – xã hội công dân. Một trong nhiều mục tiêu quan trọng của nhà nước dân chủ, đó là việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng. Ở xã hội dân chủ – xã hội công dân, sự bình đẳng được thừa nhận rộng rãi, các quan hệ dân sự được phát triển rộng rãi trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Trong bối cảnh đó, Nhà nước luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền và các lợi ích chính đáng của phụ nữ khi ly hôn.

  • Quy định của pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn

Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội; mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo cho các quan hệ xã hội hình thành và phát triển theo một trật tự nhất định, pháp luật phải quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, đặc biệt là về sự bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật.

Việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn phụ thuộc phần lớn vào các quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự, nhất là các quy định về quyền, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia Tố tụng Dân sự; trình tự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc HN&GĐ và trình tự, thủ tục Tòa án giải quyết vụ việc HN&GĐ. Pháp luật về Tố tụng Dân sự cũng chính là cơ sở pháp lý cho Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý, giải quyết vụ việc HN&GĐ để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ khi ly hôn.

Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn thì pháp luật cần thiết phải quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc HN&GĐ, từ việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc đến việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải và giải quyết theo thẩm quyền đối với vụ việc HN&GĐ. Trong quá trình đó, ngoài việc quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của những người tiến hành Tố tụng Dân sự, thì quyền và nghĩa vụ Tố tụng Dân sự của chính các đương sự, của người đại diện hợp pháp của đương sự, của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng cần được quy định hết sức đầy đủ, cụ thể và khoa học để tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thuận lợi trong quá trình giải

  • Nhận thức của xã hội và phụ nữ Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Trước tiên, bản thân những người phụ nữ cần nâng cao ý thức, hiểu biết về quyền của mình khi ly hôn. Đồng thời chủ động và quyết liệt hơn trong bảo vệ quyền của mình.

Có thể thấy, ý thức tự bảo vệ là điều rất cần thiết, đòi hỏi những người phụ nữ cần nắm rõ quy định của pháp luật hôn về HN&GĐ, về quyền nhân thân, quyền tài sản, quyền thực hiện thiên chức làm mẹ, quyền lưu trú (nếu cần)…; cần lưu chứng những bằng chứng, chứng cứ ngay sau khi có tranh chấp, mâu thuẫn để bảo đảm không phát sinh tranh chấp không đáng có trong tương lai.

Phụ nữ cũng phải tự nâng cao ý thức trong việc bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân mình. Bởi lẽ từ trước tới nay, phần lớn phụ nữ vẫn chưa có thói quen lưu lại những chứng từ, chứng cứứng minh nguồn gốc tài sản, mâu thuẫn vợ chồng để làm căn cứ yêu cầu xử lý trong từng vụ việc. Đây chính là một thói quen bất lợi cho phụ nữ mỗi khi xảy ra tranh chấp về ly hôn. Vô tình nhiều người phụ nữ đã tự “bỏ qua” quyền lợi mà mình được hưởng.

  • Hoạt động giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình của Tòa án có thẩm quyền

Xixeron, nhà hùng biện nổi tiếng thời La Mã cổ đại đã từng đưa ra một nhận xét: “Quan tòa là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”. Nhận xét đó nói lên vai trò vô cùng quan trọng của Tòa án bởi vì các hoạt động tố tụng dân sự nói chung, giải quyết vụ việc HN &GĐ nói riêng đều dựa trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ, đều phải thông qua Tòa án. Chính vì vậy, mỗi hoạt động tố tụng giải quyết vụ việc HN &GĐ của những người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền của phụ nữ khi ly hôn.

Thực tế đã chứng minh rằng ở nơi nào, vào giai đoạn nào, nếu vai trò của Tòa án được nhìn nhận, đánh giá và sử dụng đúng thì ở đó, kỷ cương, phép nước được củng cố và giữ vững; bảo đảm được trật tự và ổn định xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước; tôn trọng và bảo đảm quyền bình đẳng của các cá nhân, cơ quan và tổ chức.

Để bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án – chủ thể trung tâm của các hoạt động Tố tụng dân sự là điều quan trọng. Trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, ngoài việc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về Tố tụng dân sự, thì còn cần phải hoàn thiện hệ thống tổ chức tòa án, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Tòa án. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

  • Hoạt động hỗ trợ phụ nữ tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Trong giải quyết các vụ việc HN&GĐ, thì các cơ quan, tổ chức như Hội Liên hiệp phụ nữ; cơ quan quản lý nhà nước về Dân số, Gia đình và Trẻ em; tổ chức Công đoàn… là những cơ quan, tổ chức có quyền, nghĩa vụ tham gia Tố tụng dân sự chủ yếu. Vì vậy, việc các cơ quan, tổ chức này tham gia tích cực sẽ có tác động lớn đối với việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn.

Ngoài ra, để quyền của phụ nữ khi ly hôn được thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử thì việc thu thập tài liệu, chứng cứ là cần thiết. Chính vì vậy, trong trường hợp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ việc HN&GĐ đang do các tổ chức, cá nhân quản lý thì phụ nữ cần đến sự giúp đỡ của chính các tổ chức, cá nhân này trong việc thu thập. Để tạo điều kiện cho phụ nữ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án thì các tổ chức, cá nhân đang quản lý tài liệu, chứng cứ phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ liên quan đó.

Trong trường hợp việc cung cấp các chứng tài liệu, chứng cứ liên quan không được thực hiện đầy đủ thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ khi ly hôn sẽ bị hạn chế rất nhiều.

  • Cơ chế giám sát và kiểm sát các hoạt động tố tụng hôn nhân và gia đình

Điều 102 của Hiến pháp năm 2013 xác định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [34]. Theo đó, hoạt động giải quyết vụ việc HN&GĐ của Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, áp dụng đúng pháp luật để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc HN&GĐ đúng pháp luật và đúng thực tế khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống cho thấy rằng quyền lực luôn có khuynh hướng bị lạm quyền nếu thiếu đi sự giám sát, sự kiềm chế và sự cân bằng. Đối với hoạt động giải quyết các vụ việc của Tòa án nói chung và các vụ việc HN&GĐ nói riêng, sự giám sát, kiểm tra càng phải được thực hiện chặt chẽ vì hoạt động của Tòa án dễ bị thiên lệch, xâm phạm đến sự bảo đảm bình đẳng của đương sự cũng như hiệu quả giải quyết vụ việc HN&GĐ. Vấn đề giải quyết vụ việc HN&GĐ không chỉ liên quan đến đời sống vật chất của phụ nữ khi ly hôn mà còn liên quan đến đời sống tinh thần của họ. Nếu việc giải quyết vụ việc HN&GĐ diễn ra theo hướng tùy tiện, điều đó dẫn đến hậu quả nguy hiểm. Khi đó sẽ xảy ra tình trạng những quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ khi ly hôn không những không được bảo vệ; sự bình đẳng trước pháp luật không được bảo đảm, mà những quyền, lợi ích hợp pháp ấy còn có nguy cơ bị xâm phạm. Vì vậy, xuất phát từ hậu quả xấu đã được dự liệu trước, chúng ta có thể thấy sự cần thiết và tính quan trọng của công tác giám sát, kiểm sát hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc HN&GĐ, đây chính là một yêu cầu bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn hiện nay. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

Việc giám sát, kiểm sát các hoạt động tố tụng được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau như: Cơ quan dân cử nghe Tòa án cùng cấp báo cáo công tác xét xử; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án HN&GĐ; Tòa án xét xử công khai; Viện kiểm sát giám sát các hoạt động Tố tụng dân sự về HN&GĐ.

Trong thực tế, mỗi phương thức giám sát, kiểm sát hoạt động tố tụng đều có những yêu cầu và các đặc điểm riêng. Tuy nhiên, mọi phương thức giám sát, kiểm sát đều có tác dụng làm cho hoạt động Tố tụng dân sự đặt dưới sự giám sát, kiểm sát của nhân dân hoặc của Nhà nước, bảo đảm cho hoạt động này được thực hiện đúng đắn và hiệu quả. Vì vậy, hoạt động giám sát, kiểm sát hoạt động giải quyết vụ việc HN&GĐ có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn.

Tiểu kết chương 1

Bản chất của việc ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng đồng thời xác định quyền sở hữu riêng của vợ, chồng đối với khối, phần tài sản riêng được phân chia, quyền nuôi con, quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của người phụ nữ cũng như xác định quyền lưu trú (nếu cần thiết). Những cơ sở lý luận được phân tích, nghiên cứu ở chương 1 cũng là cơ sở lý luận để tác giả phân tích thực trạng pháp luật cũng như từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn ở các chương sau. Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Quyền của phụ nữ khi ly hôn theo theo pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quyền của phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464