Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, nó đã đang và và sẽ tồn tại trong một thời gian dài. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng trở nên phong phú và đa dạng thì các vấn đề liên quan đến văn hóa được Đảng và Nhà nước ta xác định là vấn đề quan trọng tác động mạnh mẽ đến tinh thần của nhân dân trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Trong quá trình phát triển văn hóa nói chung, nó biểu hiện nhiều những vấn đề bất cập giữa việc bảo tồn bản sắc dân tộc và phát triển điều này diễn ra ở mọi quốc gia đang phát triển, kém phát triển và những nước phát triển, có trình độ khoa học – công nghệ tiên tiến. Ở Việt Nam, tình hình và hoạt động phát triển văn hóa từ thành thị đến nông thôn Đảng và nhà nước ta đều hướng đến việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vấn đề về văn hóa nói chung và vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng được xem là một trong những vấn đề có tác động, mang ý nghĩa lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển về kinh tế – văn hóa, về an toàn xã hội và cộng đồng nhân dân, tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân, đáp ứng với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình mới.

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” là kim chỉ nam mà Đảng và Nhà nước trao cho ngành văn hóa để phát huy hơn nữa có hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa trong thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay. Nhờ vậy mà chúng ta đã thu được nhiều kết quả khả quan đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng với yêu cầu của hoạt động xây dựng và phát triển đất nước. Có thể nói rằng, vấn đề văn hóa là nền tảng của mỗi một dân tộc, trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, quản lý nhà nước tốt sẽ giúp cá nhân và cộng đồng phát huy được năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người đồng thời giảm thiểu được những rủi ro, tiêu cực cho sự phát triển của xã hội;

Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở các địa phương giúp cho việc hiện thực hóa và điều chỉnh các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, góp phần vào sự phát triển của văn hóa quốc gia. Nhất là hoạt động quản lý văn hóa trên các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các chủ trương của Đảng, cơ chế và chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý nhà nước theo đúng những quy định của Pháp luật hiện hành. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Với tinh thần coi trọng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Các cấp ủy Đảng và Chính quyền tại thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung đã coi trọng và quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, đặt ngang hàng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Chính vì vậy hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố và tỉnh thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan.

Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, trung tâm của vùng Tây Nguyên, là một trong những thành phố lớn, có 47 dân tộc anh em cùng chung sống, có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển của địa phương, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, hòa nhập với nền kinh tế chung của khu vực. Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước về văn hóa ở đây có nhiều vấn đề rất quan trọng mà chính quyền địa phương nơi đây đã rất quan tâm và chú trọng. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì những khó khăn của địa bàn Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng đã làm hạn chế đến hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về văn hóa của cơ quan chức năng. Do vậy tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Từ tình hình đặt ra nói trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” qua trường hợp của thành phố Buôn Ma Thuột để làm luận văn thạc sĩ. Hy vọng rằng, với đề tài này, tôi sẽ góp một phần nhỏ vào một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cấp bách không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

2. Tình hình nghiên cứu

Quản lý Nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng là một trong những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc luôn là điều mà Đảng và nhà nước hướng tới. Vấn đề văn hóa được được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau, thể hiện ở nhiều công trình như:

Các Tài liệu về Giáo trình Khoa học quản lý (2001) của Trường Đại học Kinh tế quốc dân [26]; Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước (2011) của Học viện Hành chính quốc gia[15]; Giáo trình Luật hành chính (2008; 2015) của Trường Đại học Luật Hà Nội [16;17]; Giáo trình Cơ sở lý luận về quản lý văn hóa, Quản lý hoạt động văn hóa (2014) của trường Đại học Văn hóa Hà Nội [6].… là những tài liệu mà Luận văn nghiên cứu tìm hiểu ở góc độ lý thuyết nghiên cứu và một số khái niệm mà tác giải sử dụng trong nghiên cứu đề tài.

Các tài liệu nghiên cứu chung về quản lý văn hóa ở Việt Nam của tác giả TS. Nguyễn Vinh Hưng – Đại học Quốc gia Hà Nội “Chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế”, hoặc Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (1992 – 1994) “Quản lý nhà nước về Văn hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường” do Trần Quốc Bảng làm chủ nhiệm [2], đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng về quản lý trong ngành văn hóa – thông tin trong thời kỳ đổi mới. Trình bày những quan điểm cơ bản về quản lý văn hóa – nghệ thuật, xác định cơ chế quản lý trong cơ chế thị trường và Kiến nghị những giải pháp về quản lý nhà nước về văn hóa – nghệ thuật trong cơ chế thị trường. Hoặc Sách “Xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của tác giả Nguyễn Khoa Điềm [11]; “Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Tình [37], … Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Một số Luận văn của các tác giả như: Bùi Quốc Chiều, Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên [5]; của tác giả Lê Thị Thu Hương “Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”[25]; của tác giả Trần Xuân Lực “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”[29]; của tác giả Lại Trung Dũng“Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”[7]; của tác giả Trần Thị An, “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” [1]…Các công trình này đã khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa cụ thể ở các địa phương như Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội từ những kết quả đã đạt được và những tồn tại hạn chế của hoạt động này các tác giả đã có đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phù hợp với thực tiễn phát triển của các địa bàn mà đề tài đã đia sâu nghiên cứu.

Bên cạnh đó là một số các văn kiện của Đảng như: chỉ thị, nghị quyết, … đều nhấn mạnh đến nhiệm vụ trung tâm của văn hóa, văn nghệ nước ta là bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức tâm hồn, tình cảm, lối sống, tạo cho mỗi người nhân cách vững vàng có bản lĩnh ngang tầm sự nghiệp đổi mới đất nước, mau chóng bắt kịp xu thế phát triển của thời đại. Bên cạnh đó là các kế hoạch hoạt động về văn hóa và du lịch của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk và nhiều những bài báo nghiên cứu khác liên quan đến đề tài…

Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề văn hóa và quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động văn hóa. Các công trình đó sẽ được tác giả kế thừa sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho đề tài luận văn này. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Xuất phát từ vị trí chiến lược quan trọng của Tây Nguyên trong việc phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng khu vực. Đây là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc anh em. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng phát triển kinh tế văn hóa xã hội ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng các Dân tộc thiểu số Tây Nguyên cùng với các dân tộc khác đã đoàn kết đứng lên chống kẻ thù và xây dựng đất nước hôm nay. Vì thế Đảng, nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển KT-XH-VH, củng cố An ninh quốc phòng ở khu vực này. Tác giả Bùi Minh Đạo, trong “Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát triển bền vững”[7], nghiên cứu về văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên, tác giả đề cập đến sự biến động về đời sống vật chất, phong tục tập quán truyền thống của tộc người. Đồng thời đưa ra những nhận định và kiến nghị nhằm giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc hiểu rõ đặc điểm chung, riêng của từng tộc người để có các chính sách bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc Tây Nguyên.

Ở tỉnh Đắk Lắk, vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu cụ thể, vấn đề mới chỉ được đề cập trong các báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk… qua các năm và trên một số bài báo ra hàng ngày của tỉnh. Vì vậy hướng đề tài mà tôi lựa chọn, hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay và đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu:

Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở tỉnh Đắk Lắk, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh.

3.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

  • Một là, tìm hiểu một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về văn hóa.
  • Hai là, làm rõ tình hình thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở tỉnh Đắk Lắk.
  • Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong tình hình mới. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

  • Là công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa ở một số lĩnh vực như: quản lý hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, quản lý các thiết chế văn hóa, quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, quản lý các dịch vụ văn hóa, di sản văn hóa và nhất là vấn đề bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu.

Về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh Đắk Lắk, trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột là chính.

Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về văn hóa chủ yếu trong giai đoạn 2015 – 2020.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn:

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa và quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa. Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk.

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: Chương 1, sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Hệ thống hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các tài liệu, các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước và Văn hóa của các tác giả đi trước.

Chương 2 và chương 3 sử dụng pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp, đặc biệt chú trọng đến phương pháp tổng kết thực tiễn.

6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

  • Luận văn sẽ mang lại những đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện những quy định của chính sách pháp luật về quản lý nhà nước về văn hóa.
  • Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để tham mưu xây dựng chủ trương, biện pháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ở tỉnh Đắk Lắk.
  • Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh ngành Luật và ngành Văn hóa.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia ra làm 3 chương.

  • Chương 1. Những vấn đề lý của quản lý nhà nước về văn hóa
  • Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
  • Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm văn hóa rất phức tạp, các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Từ đó, khái niệm văn hóa cũng được thể hiện một cách đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Căn cứ vào mục đích, phạm vi nghiên cứu các nhà nghiên cứu văn hoá đã đưa ra nhiều khái niệm về văn hoá đa dạng, đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hoá.

Thực hiện đề tài “Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”, trên cơ sở nghiên cứu các giải pháp quản lý nhà nước về văn hoá, đề tài sử dụng định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO đưa ra vào năm 1944.

  • Khái niệm văn hóa theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.

  • Khái niệm văn hóa theo quan điểm của UNESCO

Định nghĩa của UNESCO về văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng thì Văn hóa là một tổng hợp các lĩnh vực tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm…tạo nên bản sắc của một dân tộc, một quốc gia, …Văn hóa không chỉ là nghệ thuật, văn chương mà còn là lối sống, là truyền thống, tín ngưỡng của một tộc người… Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Theo nghĩa hẹp thì Văn hóa là cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, mang bản sắc riêng. Khái niệm này được nhiều nhà nghiên cứu văn hoá vận dụng trong quá trình nghiên cứu của mình.

Mặc dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng nhìn chung khi nghiên cứu văn hóa của một tộc người, thường được đi sâu vào những vấn đề chính,như: Một là, văn hóa ngoài việc chứa đựng văn học và nghệ thuật còn chứa đựng cả cách sống, phương thức chung sống… Tại Hội nghị quốc tế do UNESCO (1982) ở Mexico, văn hóa được cho là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng, vì lẽ sinh tồn loài người mới sáng tạo ra văn hóa, bao gồm: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Tất cả những lĩnh vực nói trên đã tạo nên nền văn hóa của một tộc người. Văn hóa, với những nét đặc trưng cơ bản, là một hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần nảy sinh thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người, trong sự tương tác, ứng xử của con người với môi trường sống đã hình thành nên bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Nhu cầu cơ bản của con người là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, từ nhu cầu này nảy sinh hai loại hoạt động chính là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Từ đó, văn hoá thường được xem xét ở hai khía cạnh: vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, việc phân biệt giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần đôi khi không thực sự rõ ràng, trong thực tế văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau, và có thể chuyển hoá cho nhau.

Hoạt động quản lý ra đời khá lâu, song thuật ngữ “quản lý” vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tùy các góc độ và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau mà người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý. Quan điểm coi quản lý là một quá trình từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát những công việc cụ thể của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra. Quan điểm khác thì cho rằng, quản lý là sự tác động có định hướng lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những qui luật nhất định.

Quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa…là một công việc bắt buộc trong quá trình vận động của một Nhà nước. Nghiên cứu về quản lý nhà nước, không thể không bàn đến khái niệm quản lý nhà nước, đặc biệt là khái niệm quản lý nhà nước trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý”. Với cách hiểu thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra. Với ý nghĩa trên, có thể thấy rằng, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

  • Chủ thế quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
  • Đối tượng quản lý: Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.

Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp. Bởi, quản lý nói chung là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Các ngành khoa học khác nhau thì sẽ có một định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó được hiểu sâu rộng hơn trong mọi hoạt động của lĩnh vực đó. Mọi lao động xã hội nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý cũng như một dàn nhạc luôn luôn phải có một nhạc trưởng. Theo cách hiểu như vậy thì, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây, người ta đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Dưới góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý, tiếp cận dưới góc độ này thì quản lý chính là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Điều này cho thấy, quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra. Hoặc tiếp cận thông qua mục đích thì quản lý được hiểu là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động của các thành viên tham gia vào quá trình hoạt động này.

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu mà chủ thể quản lý đề ra khi lập kế hoạch. Việc tác động theo cách nào sẽ tuỳ thuộc vào thực tiễn của địa bàn nghiên cứu và cách nhìn khác nhau ở từng lĩnh vực tiếp cận của chủ thể quản lý.

  • Như vậy, khái niệm về quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa”[14]. Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Dưới góc độ pháp lý: Nhà nước là người đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền có trong Hiến pháp cho công dân về văn hóa, điều tiết sự hài hòa cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa của các nhóm xã hội. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước ngày càng tăng trong việc định hướng, điều tiết và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội. Khuyến khích các khuynh hướng nhiều triển vọng theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Có thể nói, quản lý nhà nước là chức năng quan trọng bảo đảm hoạt động của xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa vận động theo một đường lối nhất định do nhà nước pháp quyền đặt ra nhằm xác lập trật tự ổn định, phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Đây chính là việc hướng dẫn các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa phải tuân thủ theo đúng hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu hoạt động quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn được nhà nước giao nhiệm vụ, đồng thời có sự phối kết hợp của các cơ quan ban ngành liên quan trên từng lĩnh vực cụ thể. Nếu các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp hoặc cùng phối hợp thực hiện thì sẽ do nhà nước uỷ quyền hoặc trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật.

  • Quản lý nhà nước về văn hóa

Trong hoạt động quản lý về văn hóa hiện nay, có nhiều cách hiểu đó là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng đến các yếu tố có liên quan của hoạt động văn hóa thông qua một hệ thống đồng bộ các kĩ thuật và các biện pháp khác nhau nhằm đạt được kết quả, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện thực tế ở địa phương do chủ thể quản lý là các cơ quan chuyên môn được nhà nước giao nhiệm vụ tiến hành. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa là một trong những lĩnh vực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia, nó tác động không nhỏ đối với cộng đồng.

Quản lý nhà nước về văn hóa gắn liền với quyền lực nhà nước. Hơn bất cứ lĩnh vực nào, văn hóa là lĩnh vực yêu cầu có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhà nước cũng đảm nhiệm một phần quan trọng trực tiếp quản lý những công trình văn hóa phục vụ cho nhu cầu văn hóa của nhân dân. Đảm bảo cho hoạt động văn hóa có cơ sở vật chất vững chắc thì cần đến sự đầu tư của Nhà nước và sự đóng góp tự nguyện của nhân dân hoặc Nhà nước và Nhân dân cùng làm, lập quỹ bảo trợ văn hóa….nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương, vùng, miền và quốc gia cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội, hoặc sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách một cách hoàn thiện hơn. Trong quá trình hoặc động, nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong quá trình hoạt động nhằm đảm bảo cho hoạt động về văn hóa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và đúng chức năng nhiệm vụ của ngành Văn hóa. Hoạt động quản lý nhà nước là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; Tổ chức thực hiện; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật khi tiến hành các chương trình, đề án, dự án về văn hóa. quản lý nhà nước về văn hóa thực hiện theo đúng luật pháp sẽ góp phần tích cực vào việc thiết lập trật tự kỷ cương trên lĩnh vực hoạt động văn hóa, trong bối cảnh Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng của nhà nước.

Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

  • Quản lý nhà nước về văn hóa có các đặc điểm sau:

Một là, chủ thể quản lý là Nhà nước, Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, quản lý được phân cấp, phân quyền từ trung ương đến địa phương: cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản lý Nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan Nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý. Quản lý Nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì Ủy ban Nhân dân xã là chủ thể quản lý Nhà nước. Công chức làm công tác văn hóa – xã hội ở cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban Nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp xã.

Hai là, khách thể quản lý nhà nước về văn hóa là văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Văn hóa với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theo nghĩa cụ thể là: Các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hóa, hoạt động sáng tạo…) và các giá trị văn hóa (cụ thể là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể). Mặt khác, theo sự phân công trong hệ thống các cơ quan nhà nước các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hóa quản lý. Văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ… do cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý.

Ba là, quản lý nhà nước về văn hóa là việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; Chỉ đạo tổ chức thực hiện; Tiến hành thanh tra, kiểm tra các chương trình, đề án, dự án nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, đặc biệt là văn hóa các Dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới làm giàu thêm kho tàng văn hóa truyền thống của Việt Nam đồng thời vẫn đảm bảo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở cơ sở phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh thực tiễn của địa phương, cụ thể như: đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì mục đích ở từng cấp là gì (tỉnh, huyện, xã, thôn (xóm, buôn, làng) đều phải được xác định một cách cụ thể. Có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả.

Bốn là, cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước là Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới Luật. Đối với việc quản lý nhà nước về văn hóa chính là Hiến pháp với những điều, khoản về văn hóa. Hiến pháp 1992 của Việt Nam có dành chương III với một số quy định để đảm bảo tính chất của nền văn hóa Việt Nam và sự vận hành của các hoạt động văn hóa. Nhà nước ban hành các đạo luật riêng về từng lĩnh vực hoạt động văn hóa như Luật về bảo vệ di sản văn hóa, Luật về bảo hộ bản quyền tác giả… Hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy chính là công cụ của nhà quản lý văn hóa. quản lý nhà nước về văn hóa bắt buộc phải quản lý bằng pháp luật. Hiện nay, ở nước ta vấn đề xây dựng và thi hành pháp luật đang là nhu cầu cấp thiết để quản lý văn hóa, một số chính sách mà Chính phủ ban hành cho văn hóa không thể thay thế luật pháp trong quản lý.

Năm là, phương thức quản lý văn hóa thông qua chính sách và đầu tư cho văn hóa. Chính sách văn hóa, thể hiện qua các hình thức pháp luật, văn bản pháp quy, quy hoạch và kế hoạch. Một số chính sách văn hóa cơ bản và lâu dài được thể hiện trong pháp luật như trong Hiến pháp, Luật dân sự, Luật văn hóa. Còn lại, đa số là các chính sách văn hóa cụ thể được thể hiện bằng phương thức ban hành các văn bản của Chính phủ. quản lý nhà nước về văn hóa thường thể hiện ở các biện pháp cơ bản là: Xây dựng môi trường pháp lý cho văn hóa; Tổ chức bộ máy quản lý văn hóa; Xây dựng cơ sở hạ tầng cho văn hóa; Đầu tư tài chính cho văn hóa. Đầu tư cho văn hóa, nghĩa là đầu tư cho tất cả mọi lĩnh vực trong các hoạt động văn hóa. Theo Luật Ngân sách hiện hành của Việt Nam thì lĩnh vực văn hóa được chia làm hai nguồn: Ngân sách trung ương do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch quản lý đối với các thiết chế văn hóa thuộc Sở. Còn các thiết chế văn hóa cấp huyện (quận), xã (phường), do phòng tài chính huyện (quận) trực tiếp quản lý cấp phát.

Đối với người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa phải nắm vững phương thức quản lý nhà nước về văn hóa, nắm vững luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, hiểu rõ môi trường và điều kiện thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước nơi mình công tác, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý nhà nước của mình để thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất.

1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Văn hoá là một lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp và đa chiều được phản chiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Để đảm bảo sự bảo tồn, phát huy và phát triển những giá trị văn hóa của dân tộc, thì quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa hiệu quả sẽ góp phần định hướng sự phát triển văn hóa dân tộc trong quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở cơ sở sẽ giúp kiểm soát những sai phạm trong việc triển khai các chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.

Nhà nước với trách nhiệm của mình phải lựa chọn các phương thức quản lý nhà nước để vừa bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá thời đại để làm giàu thêm cho văn hoá dân tộc. Môi trường văn hoá quốc tế lành mạnh hay chưa lành mạnh, phù hợp hay chưa phù hợp có ý nghĩa quyết định để nhà nước tạo dựng các phương thức quản lý nhà nước định hướng nền văn hoá phát triển theo hướng mở hay khép kín…Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông thì vai trò quản lý nhà nước là vấn đề hệ trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa. Nếu các cấp quản lý vẫn duy trì phương thức quản lý quan liêu, mệnh lệnh – hành chính, chủ quan, áp đặt từ trên xuống thì chẳng những về chất lượng quản lý nhà nước sẽ thấp và nghèo nàn, mà ngay cả hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa bị giảm sút; hoặc nếu buông lỏng vai trò quản lý nhà nước sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Vì thế, phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức, điều hành quản lý nhà nước về văn hóa, thay đổi cách thức quản lý và cung ứng dịch vụ công, nhằm đề cao trách nhiệm, hiệu lực quản lý của Nhà nước; kiên quyết loại trừ cơ chế “xin – cho” trong đầu tư cho văn hóa. Mọi kế hoạch phát triển văn hóa ở các địa phương phải xây dựng dựa trên nhu cầu, điều kiện thực tiễn và chiến lược phát triển tổng thể của ngành văn hóa và đất nước…

1.2. Các lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

1.2.1 Thẩm quyền quản lý nhà nước về văn hóa

Tại Điều 54 và 55 Luật di sản văn hóa 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định quản lý nhà nước về di sản văn hóa, đây là cơ sở quan trọng và tiền đề cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa ở nước ta trong tình hình giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay và đáp ứng với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, cụ thể như sau:

  • Tổ chức bộ máy quản lý, triển khai hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở nước ta hiện nay

Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý của dân tộc Việt Nam, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới cần thiết phải tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; Điều 5, Luật DSVH của Việt Nam quy định rằng, Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân (Di sản văn hóa được hiểu là Di sản Văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể).

Điều 55 (Luật Di sản Văn hóa 2001) và khoản 2,và 3 điều 2 (Luật Di sản Văn hóa sửa đổi 2009), quy định rằng, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá. Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hoá. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hoá theo phân công của Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hoá ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

Thực hiện việc quản lý nhà nước trong hoạt động xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý Di sản văn hóa và quản lý văn hóa xã hội cho các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các tỉnh thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các tỉnh, căn cứ hướng dẫn chuyên môn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân các tỉnh về việc quản lý nhà nước chuyên ngành văn hóa có nhiệm vụ: Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về di sản văn hóa cho các cấp cơ sở và những đơn vị ban ngành có liên quan; Có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định, chính sách về hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa; Xây dựng quy hoạch quản lý nhà nước về văn hóa trình Ủy ban nhân dân tỉnh, sau khi được tỉnh phê duyệt lập kế hoạch để phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan để triển khai, đồng thời thực hiện việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa đối với các đối tượng tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh. Các đơn vị quản lý nhà nước ở cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức, cá nhân liên quan triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch đã được cấp tỉnh phê duyệt trên địa bàn huyện mình quản lý về di sản văn hóa, trường hợp di sản văn hóa ở địa phương liền kề thì thực hiện phối hợp theo quy định của pháp luật về Di sản văn hóa. Cấp xã chịu sự chỉ đạo của cấp huyện quản lý nhà nước về văn hóa ở cơ sở do mình quản lý.

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Sự quản lý nhà nước đối với văn hoá chính là để định hướng cho văn hoá phục vụ cho mục đích của dân tộc, của đất nước. Văn hoá là một lĩnh vực rộng, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy nhà nước phải xây dựng được một hình thức quản lý hiệu lực và hiệu quả nhất. Quản lý theo pháp luật là một trong những hình thức cơ bản nhất trong quản lý nhà nước về văn hoá. Vấn đề này bắt nguồn sâu xa từ chính đặc trưng của văn hoá và vai trò của pháp luật cả ở lý luận và trong thực tiễn.

Bằng hệ thống pháp luật và bộ máy tổ chức, Nhà nước tác động có mục đích đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và liên quan để hướng dẫn, điều chỉnh các đối tượng tham gia mọi hoạt động trong lĩnh vực văn hóa đúng theo quy định của pháp luật, tránh những sai lệch hoặc tùy tiện khi thực thi quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa .

Thứ nhất, quản lý nhà nước về văn hóa được phân cấp, phân quyền thống nhất từ cấp trung ương, cấp tỉnh (và tương đương), cấp huyện (và tương đương), cấp xã (phường). Cán bộ các cấp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa được coi là chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn.

Thứ hai, không phải tất cả các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước mà do sự phân công của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp về quản lý văn hóa. Điều này xuất phát từ thực tế là tất cả mọi lĩnh vực trong các bộ/ngành, hiệp hội đều có hoạt động văn hóa.

Thứ ba, hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa trong mọi hoạt động cụ thể của văn hóa thì điều cơ bản là phải xác định được mục đích cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với khu vực, vùng, miền và phù hợp với phong tục tập quán của tộc người. Ví dụ, quản lý nhà nước chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì tùy từng cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã) mà xây dựng mục đích một cách cụ thể, có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả.

Thứ tư, triển khai việc Quản lý nhà nước về văn hóa tùy theo tình hình thực tế ở từng địa phương, vùng miền, nhưng phải luôn dựa trên cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước là hệ thống luật, người làm công tác quản lý nhà nước phải luôn tôn trọng pháp luật, thực thi nhiệm vụ được giao theo Hiến pháp, Pháp luật, và các văn bản có tính pháp quy.

Thứ năm, quản lý nhà nước do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao chủ yếu được giới hạn ở các hoạt động nghệ thuật, thông tin và một số công việc văn hóa. Đó là: Hoạt động nghệ thuật (sáng tạo, nghiên cứu, sản xuất và phổ biến); Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và sử dụng tài sản văn hóa dân tộc (di sản văn hóa vật thể và phi vật thể);

  • Hoạt động về sách (thư viện, xuất bản); Hoạt động vui chơi giải trí, câu lạc bộ, sinh hoạt văn hóa dân gian…
  • Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm những nội dung sau: Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Một là, hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá. Bất cứ quốc gia nào có chính sách cho sự phát triển văn hóa của đất nước đều dựa trên một số quan điểm cơ bản. Những quan điểm đó là cơ sở quan trọng để định hướng chiến lược cho các chính sách về văn hóa. Ở nước ta, chính sách văn hoá được xây dựng vì sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước. Bởi vì, Đảng và nhà nước đã nhận thức rõ ý nghĩa to lớn của văn hóa trong chiến lược và sách lược cách mạng. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra những quan điểm, chủ trương đúng đắn để xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đậm đà bản sắc dân tộc. Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay bao gồm: Văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH; Đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, bảo đảm dân chủ, tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hóa, vun đắp tài năng; Bảo tồn và phát huy được truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tính thống nhất và đa dạng của văn hóa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chính những khác biệt văn hóa ấy đã làm nên bản sắc của nền văn hóa Việt Nam; Phát triển kế thừa các giá trị văn hóa dân tộc đi liền với mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam; Văn hóa, văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội, xã hội hóa các hoạt động văn hóa, gắn liền với yêu cầu khắc phục tình trạng hành chính hóa các tổ chức văn hóa, nghệ thuật, hiện đại hoá kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hoá; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hoá…

Thứ hai, hoạt động tổ chức thực hiện của bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá. Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá là Chính phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan tham mưu cho Chính phủ về các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa được giao nhiệm vụ; Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá tại địa phương theo quy định của pháp luật, bằng việc giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan tham mưu trên lĩnh vực văn hóa, với trách nhiệm là: tham mưu các quy hoạch, kế hoạch, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, nhóm cộng đồng, thực hành văn hóa đúng theo quy định của pháp luật; thẩm định; cấp giấy phép, giấy chứng nhận… thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hoá theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra.

Đầu tư kinh phí cho văn hóa được triển khai theo hai hướng: tạo nguồn đầu tư từ phía Nhà nước, từ các tổ chức kinh tế – xã hội và tư nhân. Đồng thời văn hóa cũng là lĩnh vực làm ra lợi nhuận – nguồn đầu tư kinh phí cho văn hóa bằng chính sách văn hóa. Trong điều kiện kinh tế thị trường cần có hướng cho sự phát triển văn hóa theo đúng luật pháp quy định của nhà nước.

Thứ ba, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá. Nội dung thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa bao gồm: Di sản văn hóa; Nghệ thuật biểu diễn; Điện ảnh; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Triển lãm; Quyền tác giả, quyền liên quan; Thư viện; Quảng cáo (không thanh tra việc quảng cáo trên các phương tiện báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm); Văn hóa quần chúng, Văn hóa dân tộc và Tuyên truyền cổ động; Hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa; Văn hóa phẩm (trừ xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật về xuất bản); Xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm; Chương trình quốc gia, dự án đầu tư thuộc lĩnh vực văn hóa; … Hoạt động thanh tra được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, định kỳ và thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao. Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác và cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc nhằm thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đề ra.

1.2.3 Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể (chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý) nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Quyền về văn hoá ở Việt Nam được ghi nhận như một tuyên ngôn trong hoạt động của nhà nước Việt Nam. Quyền văn hoá được Đảng và Nhà nước ta đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong đó, quyền văn hoá là nhân tố hàng đầu cho nhận thức và thực hiện các quyền khác.

Văn hoá nói chung và quyền văn hoá nói riêng được vận dụng trong thực tế như một định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn, hành động của người Việt Nam nhằm hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa người và người, giữa các dân tộc và với môi trường tự nhiên xã hội.Về mặt pháp lý, quyền văn hoá, trong mối quan hệ với các quyền khác là tiền đề, là nhân tố nội sinh cho sự tồn tại và phát triển trong hệ thống pháp luật Việt nam.

Nguyên tắc quyền văn hoá không tách rời nghĩa vụ văn hoá, quyền và nghĩa vụ là hai mặt của quyền văn hoá.

  • Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa

Chủ thể quản lý nhà nước cấp trung ương phải xây dựng được chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng của quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa để trình Chính phủ trên cơ sở các văn bản luật đã được Chính phủ phê duyệt. Tham mưu xây dựng các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

Xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực văn hóa; dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước về văn hóa trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

Xây dựng các quy chế xét tặng các giải thưởng về văn học, nghệ thuật và các danh hiệu vinh dự Nhà nước thuộc lĩnh vực văn hóa trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Căn cứ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quyết định thành lập các Hội đồng quốc gia về lĩnh vực văn hóa, công nhận các ngày kỷ niệm, ngày truyền thống của Việt Nam theo quy định của pháp luật. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Căn cứ vào các luật thuộc lĩnh vực văn hóa, xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn dưới luật bằng thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước về văn hóa.

Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch và các dự án, công trình quan trọng quốc gia đã được ban hành hoặc phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và theo dõi tình hình thi hành pháp luật về các lĩnh vực văn hóa.

  • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bị quản lý về văn hóa

Quan điểm xây dựng quyền văn hoá (một trong những chế định pháp lý về quyền con người) ở Việt Nam, ngoài việc đề cao quyền con người, đề cao tự do cá nhân và những bảo đảm của Nhà nước cho việc thực hiện quyền đó, còn có yếu tố rất quan trọng là đặt quyền văn hoá trong mối quan hệ chặt chẽ với các quyền khác, tạo thành một hệ thống các qui định hết sức chặt chẽ về quyền con người trong điều kiện chúng ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của quyền văn hoá của công dân. Công dân muốn được hưởng quyền văn hoá thì phải gánh vác nghĩa vụ. Việc gánh vác nghĩa vụ là điều kiện bảo đảm cho quyền văn hoá được thực hiện. Mặt khác, Nhà nước Việt Nam bảo đảm cho các quyền văn hoá hợp pháp của công dân thực hiện và Nhà nước cũng đòi hỏi mọi công dân phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ mà pháp luật qui định.

Nội dung các quyền văn hoá ở Việt Nam bao gồm: Tự do ngôn luận, tự do báo chí; Tự do tôn giáo, tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác; Quyền được thông tin; Các bảo đảm của Nhà nước để thực hiện quyền văn hoá. Ví dụ như, Luật Di sản văn hoá năm 2001 qui định “Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá…” (Khoản 2, Điều 9 Luật Di sản văn hoá năm 2001). Đây là nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của Nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực của các quyền về văn hoá. Nếu không có sự bảo đảm của Nhà nước (pháp nhân công quyền) không có hiệu quả trên thực tế về các quyền văn hoá. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Các bản Hiến pháp là nguồn cơ bản để các luật và văn bản dưới luật về quyền văn hoá được ban hành một cách đồng bộ: Bộ luật Dân sự năm 2015 với phần thứ sáu về Quyền sở hữu và chuyển giao công nghệ (bao gồm quyền tác giả, quyến sở hữu của chủ sở hữu tác phẩm; hợp đồng sử dụng tác phẩm; quyền của người biểu diễn…); Luật Xuất bản năm 2004 và Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 16/8/2005 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất bản; Luật Báo chí năm 1999 và Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 qui định chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí; Luật di sản văn hóa năm 2001 và sửa đổi năm 2009; Luật điện ảnh năm 2006 và Nghị định số 96/2007/NĐ-CP ngày 06/6/2007 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện ảnh; Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 qui định chi tiết một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác như Thông tư, Chỉ thị của các bộ và cơ quan ngang bộ được ban hành nhằm cụ thể hoá các quy định của pháp luật. Với hệ thống pháp luật này, Việt Nam đã hội nhập được với thế giới về quyền và nghĩa vụ của các thành phần khi tham gia vào các hoạt động văn hoá.

Các phương thức quản lý nhà nước về văn hoá phải là công cụ để phát triển quyền văn hoá chứ không phải là để kìm hãm, ràng buộc sự phát triển của quyền Nhà nước chỉ cần định hướng chính sách văn hoá chứ không thể dùng mệnh lệnh hành chính để cấm đoán quyền tự do về văn hoá…

Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 24 tháng 5 năm 2005 sẽ giúp Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế nhà nước, hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong hoạt động về văn hoá trên cơ sở hệ thống pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.

1.2.4 Cấp phép trong quản lý nhà nước về văn hóa

Mọi tổ chức, cá nhân khi tiến hành các hoạt động văn hóa như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang trước công chúng; triển lãm văn hoá, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác;… phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thực hiện cấp phép theo trình tự thủ tục đã được pháp luật quy định như: Bước 1, Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý, nội dung đăng ký, các giấy tờ văn bản liên quan khác; Bước 2, Thành lập đoàn kiểm tra việc thực hiện các qui định về điều kiện, tiêu chuẩn trong lĩnh vực về văn hóa… đối với cơ sở; Bước 3, Cấp giấy chứng nhận cho các chủ thể có đủ điều kiện. Hiện nay, việc áp dụng các hoạt động này được thực hiện theo quy định tại Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực văn hóa như: Nghị định số 604/VBHN-BVHTTDL về việc ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 21/2/2019.

Việc cấp phép cho các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa là sự thừa nhận của nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi cơ sở được cấp phép và tiến hành hoạt động cơ quan chức năng có trách nhiệm kiểm soát quá trình trước và sau khi thực hiện của các chủ thể về hồ sơ, sổ sách ghi chép có liên quan trong hoạt động văn hóa theo quy định; về việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về văn hóa; Mở sổ theo dõi và ghi chép những thông tin cần thiết. Giám sát các chủ cơ sở trong hoạt động văn hóa theo đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành được thực hiện như thế nào, hướng dẫn những sai sót, tùy tiện và tiến hành xử lý các hành vi vi phạm những quy định có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung.

1.2.5 Xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước về văn hóa

Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về văn hoá, sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người.

Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác. Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đề ra.

Nghị định số 71/2009/NĐ-CP ngày 28/8/2009 của Chính phủ về việc tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về văn hoá, sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều 3 của Nghị định đã nêu rõ Nguyên tắc của hoạt động Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Khi tiến hành thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên Đoàn thanh tra phải tuân theo quy định của pháp luật về thanh tra và quy định của Nghị định này; phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi và quyết định của mình. Tổ chức của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ gồm hai cấp, đó là: Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tùy theo tình hình thực tế của địa phương và mức độ của những vụ việc vi phạm mà chủ động thành lập các đoàn Thanh tra, tổ chức các cuộc thanh kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện quy định quản lý nhà nước về văn hóa. Tùy mức độ vi phạm của các cơ sở hoạt động văn hóa mà tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm và đề xuất các kiến nghị khắc phục vi phạm nhằm giúp các thành phần tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa làm tốt hơn các quy định của pháp luật về lĩnh vực này trong thực tế.

1.3. Các yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

1.3.1 Yêu cầu về xây dựng Thể chế Chính sách quản lý nhà nước về văn hóa

Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần kịp thời triển khai, cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI), là cơ sở để xây dựng và đề xuất ban hành những chính sách mới về văn hóa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Đề xuất những hạn chế, bất cập nhằm điều chỉnh những chính sách phù hợp với ngành văn hóa, nghệ thuật, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển công nghiệp văn hóa phù hợp với thị trường văn hóa. Đề xuất các cấp chính quyền tiếp tục hoàn chỉnh các chính sách về xã hội hóa văn hóa và các chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

1.3.2 Yêu cầu về Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước

Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong môi trường kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập với thế giới, phát triển cách mạng công nghệ 4.0. Vấn đề này rất quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả, hiệu lực, quản lý nhà nước về văn hóa. Ngành văn hóa cần thay đổi cách nghĩ, cách làm trong tổ chức, điều hành các hoạt động văn hóa, không áp đặt từ trên xuống. Cách thức quản lý và cung ứng dịch vụ công cũng cần phải có tư duy mới, nhằm đề cao trách nhiệm, hiệu lực quản lý của Nhà nước; Các kế hoạch phát triển văn hóa khi xây dựng cần dựa trên nhu cầu, điều kiện thực tiễn của địa phương và chiến lược phát triển tổng thể của ngành, chú trọng công tác cải cách hành chính, khắc phục lề lối làm việc; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý văn hóa.

1.3.3. Yêu cầu về Kiểm tra, giám sát quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm của từng cá nhân và từng tổ chức khi để xảy ra sai phạm. Phát huy vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, tập thể dân cư và người dân đối với công tác tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa; khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể, cộng đồng có đóng góp tích cực trong công tác quản lý văn hóa.

  • Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa Thực hiện tốt công tác “chuẩn hóa” cán bộ theo quy định chuyên môn, nghiệp vụ ở tất cả các cấp cả trong hàng ngũ cán bộ quản lý cũng như công chức, viên chức ngành Văn hóa. Thực hiện nghiêm túc chính sách trọng dụng nhân tài, đãi ngộ cán bộ phù hợp; Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý văn hóa cần được nâng cao.
  • Yêu cầu về tăng cường sự phối hợp trong quản lý văn hóa

Trong quản lý nhà nước về văn hóa cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp với các bộ, ban, ngành, đoàn thể, nhất là với các ngành giáo dục, truyền thông, pháp luật, an ninh,… Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng một cách chủ động nhất v.v.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa

Hiệu quả quản lý nhà nước, về bản chất là kết quả hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước với mức độ chi phí các nguồn lực như: kinh phí, công lao động, thời gian… Các kết quả đó được xác định bởi các chỉ số tăng trưởng duy trì sự ổn định và phát triển.

Hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa là kết quả thực hiện các hoạt động gắn liền với chức năng chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước và hoạt động của người thực thi công vụ theo quy định của pháp luật trên lĩnh vực văn hóa. Trong từng giai đoạn khác nhau sẽ có nội dung và mục tiêu quản lý nhà nước khác nhau nên việc xem xét hiệu quả quản lý nhà nước sẽ tương ứng với mỗi giai đoạn cụ thể. Yếu tố chủ yếu tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa ở nước ta hiện nay, gồm: Hiện trạng, nhu cầu phát triển bền vững văn hóa; Mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý văn hóa; Tính pháp quyền trong quản lý nhà nước về văn hóa; Sự tham gia các các bên trong quản lý nhà nước về văn hóa.

1.4.1 Hiện trạng, nhu cầu phát triển bền vững văn hóa

Ở Việt Nam hiện nay, năng lực, chất lượng của nền hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa vừa là hiện trạng đồng thời cũng là nhu cầu của phát triển bền vững văn hóa. Hiện trạng về năng lực, chất lượng của nền hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa biểu hiện ở các yếu tố: thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trong đó chú trọng việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa. Chính vì vậy, trên lĩnh vực công tác này thời gian qua, đã đạt được nhiều kết quả như: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa đã và đang tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý ngành văn hóa được kiện toàn và củng cố, từng bước nâng cao năng lực quản lý, đổi mới phương thức quản lý, thúc đẩy sự phát triển và hạn chế những tiêu cực trong đời sống văn hóa… Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về văn hóa vẫn còn một số hạn chế nhất định, trong đó phải kể đến Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách chưa có sự chú trọng về quy trình, thủ tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; Hệ thống thiết chế văn hóa hiện có tại một số địa phương, từ cấp tỉnh đến cơ sở thiếu kinh phí hoạt động, hiệu quả hoạt động chưa cao… Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Trong xu thế phát triển của thời đại, Việt Nam không tránh khỏi những tác động trực tiếp của mối quan hệ quốc tế đa phương, với những phức tạp khó lường, đặc biệt là trên lĩnh vực giao lưu hội nhập văn hóa sâu rộng trong khu vực và trên toàn thế giới hiện nay. Việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phát triển bền vững trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa là vấn đề quan trọng hàng đầu. Cần nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, chủ động và thích ứng với sự phát triển của công nghệ thông tin trong việc phát triển văn hóa, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về văn hóa.

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý văn hóa

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, ngày 28-11-2013, đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp sửa đổi), đã thể chế hóa Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011).

Xét về mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý văn hóa phải kể tới một trong những nội dung quan trọng của Hiến pháp sửa đổi được quy định tại chương III và các chương có liên quan trong đó có lĩnh vực văn hóa. Những quy định sửa đổi này này đã thể hiện quan điểm, đường lối của Ðảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân ta về đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa.

Về văn hóa, điều 41 của Hiến pháp quy định mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa; đồng thời, Hiến pháp tiếp tục khẳng định Nhà nước và xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân (Ðiều 60). Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi Hiến pháp sửa đổi có hiệu lực từ tháng 01 năm 2014, hàng loạt các Chỉ thị, Nghị quyết của các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo triển khai thi hành Hiến pháp; để xây dựng các Chương trình hành động cụ thể mau chóng đưa Hiến pháp vào cuộc sống. Quán triệt tinh thần này, các cơ quan chức năng đã ban hành hệ thống văn bản dưới luật và bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách về văn hóa ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo quy định rõ ràng, chi tiết và có hướng dẫn cụ thể về phương thức, trình tự, thủ tục, chế tài,… tạo điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, tích cực bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của nhân dân, góp phần làm cho đất nước ta đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới.

Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chế độ, chính sách đặc thù, như chính sách về hoạt động và hưởng thụ văn hóa, nhất là đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chính sách về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; những chính sách khuyến khích và tôn vinh hoạt động sáng tạo đã được được quy định rõ trong các văn bản pháp luật.

Bên cạnh đó, hệ thống văn bản mang tính chất dự báo cũng đã được các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa chú trọng, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành như: Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030…; Quy hoạch phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch phát triển ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030…Các quy định mang tính chất điều chỉnh và hiệu quả được các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm hơn như: chế độ ưu đãi đặc thù đối với nghệ sĩ, học sinh các trường văn hóa – nghệ thuật…; các quy định về thành lập bảo tàng; các quy định, hướng dẫn tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội; việc cúng bái ở các đền chùa hay xây dựng các quy ước về nếp sống vǎn hóa ở khu dân cư…

QLNN về văn hóa ở nước ta hiện nay nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và toàn xã hội. Các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa được quy định như trên đã thể hiện rõ nét sự mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý văn hóa và sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quan tâm đến vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta hiện nay. Các văn bản hướng dẫn thi hành đã và đang góp phần trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa hiện nay đạt được hiệu quả cao, khá nhiều nội dung phù hợp đã tạo điều kiện cho việc xử lý vi phạm pháp luật được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về quản lý nhà nước về văn hóa đã tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta có công cụ hỗ trợ vững chắc trong tiến trình hội nhập, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới hiện nay là vừa xây dựng và phát triển kinh tế xã hội nhưng đề cao vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa nhằm phát triển đất nước một cách bền vững cho hiện tại và cả trong tương lai.

1.4.3 Tính pháp quyền trong quản lý nhà nước về văn hóa Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Đặc điểm hệ thống chính trị của Việt Nam là “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội”, vai trò tác động của Đảng cầm quyền đối với tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính cơ bản có sự khác biệt với nhiều quốc gia trên thế giới, nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự khác biệt chủ yếu và trước hết với các nhà nước pháp quyền khác là ở tính độc lập tương đối của chúng. Cụ thể như: trong hoạt động lập quy, Chính phủ không chỉ cụ thể hóa quy định trong các đạo luật mà còn phải thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng.

Tính pháp quyền trong quản lý nhà nước về văn hóa thể hiện ở chỗ các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa đều chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của nhân dân. Ví dụ như, vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc mối quan hệ giữa bộ máy hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan lập pháp và tư pháp… đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước. Sự tham gia và ủng hộ của người dân đối với quản lý nhà nước không chỉ góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước, khẳng định bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mà còn là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước.

Hệ thống pháp luật ở Việt Nam luôn hướng đến các giá trị nhân văn và lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích hoạt động của mình; Bên cạnh việc bảo vệ quyền con người còn có sự kết hợp giữa pháp trị và đức trị trong tổ chức hoạt động của nhà nước và quản lý nhà nước. Trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa thì các cơ quan nhà nước luôn tuân thủ quy định của pháp luật nói chung. Việc nhân dân tham gia quản lý nhà nước về văn hóa sẽ đảm bảo tính khách, giúp nhân dân hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác quản lý nhà nước. Đây chính là nét nhân văn nhưng lại đảm bảo tính pháp quyền trong quản lý nhà nước về văn hóa của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

1.4.4 Sự tham gia các các bên trong quản lý nhà nước về văn hóa

Sự tham gia của các bên trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm: Cơ quan công quyền là cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước; về phía người dân sẽ được xem xét qua các nhóm cộng đồng, đó là nhóm các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà khoa học, nhà giáo dục, người làm phim…; nhóm công chúng: công dân và tập thể, công chúng thực hiện và công chúng tiềm năng.

Các quy định trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống chính sách, pháp luật tại Việt Nam đã vận dụng phù hợp và tương đồng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1996 (Điều 25 – ICCPR) và Luật Nhân quyền quốc tế. Các quy định trong Hiến pháp, pháp luật không chỉ bao quát toàn bộ vấn đề về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này, các hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân mà còn quy định cụ thể về lĩnh vực công dân tham gia, mức độ tham gia để công dân lựa chọn, chủ động tham gia.

Việc các đại biểu dân cử, các cơ quan nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết những đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các chương trình, kế hoạch phát triển văn hóa – xã hội… được quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của nhà nước trong các bộ luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức chính quyền địa phương; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật khiếu nại; Luật tố cáo; Luật phòng, chống tham nhũng,… Ngoài ra, người dân còn có thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Hoặc gián tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước khi tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động văn hóa tự quản ở cơ sở…

Sự tham gia phối hợp trong quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó, yếu tố về cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước có bộ máy tổ chức theo hệ thống từ trung ương xuống địa phương, đây chính là các chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa phải thực hiện các chế tài theo pháp luật quy định. Trong quản lý nhà nước về văn hóa, thì nhà nước sẽ đảm nhiệm một phần quan trọng trực tiếp quản lý những công trình văn hóa (công trình lịch sử cũng như nghệ thuật) và những cơ sở hoặc vụ, viện trực tiếp phát triển phục vụ cho nhu cầu văn hóa của nhân dân và đảm bảo cho hoạt động văn hóa có cơ sở vật chất vững chắc thể hiện bằng sự đầu tư của nhà nước.

Về phía người dân, chủ thể bị quản lý nhà nước thì cần được khuyến khích các hình thức tự quản của nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa, bảo đảm được tính đa dạng của văn hóa và đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân. Các đoàn thể quần chúng, hiệp hội nghề nghiệp có vai trò to lớn trong bảo vệ và phát triển văn hóa. Trong đầu tư cơ sở vật chất, thì ngoài hình thức nhà nước ra, người dân đóng góp trên tinh thần tự nguyện, hoặc theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm, hoặc lập quỹ bảo trợ văn hóa… Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Sự hợp tác văn hóa giữa các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực văn hóa và các tổ chức xã hội cần xây dựng một quy chế hoạt động thích hợp và có điều lệ chính thức.

Sự tham gia của các bên trong quá trình quản lý nhà nước về văn hóa muốn đạt hiệu quả cao còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Yếu tố con người, trong đó năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ là quan trọng nhất. Môi trường làm việc tốt của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước và thi hành pháp luật. Quan tâm xây dựng môi trường làm việc tốt cũng như bồi dưỡng nâng cao chất lượng trình độ cho các cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực này là một trong những nội dung, nhiệm vụ hàng đầu mà cơ quan phải thực hiện nhằm đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra. Yếu tố về ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể trong khi tham gia vào quản lý nhà nước về văn hóa là điều kiện nền tảng cho việc thực thi pháp luật đạt được hiệu quả cao, ý thức của mỗi cá nhân, tổ chức trong khi thi hành chức năng nhiệm vụ theo đúng Hiến pháp và pháp luật đó vai trò quan trọng để hoạt động quản lý nhà nước đạt kết quả thiết thực. Yếu tố về cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện không thể thiếu ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như thực thi pháp luật.

Các yếu tố có liên quan này có tác động qua lại, tương hỗ và phối hợp lẫn nhau trong quá trình quản lý nhà nước về văn hóa. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, các chủ thể có liên quan nhất là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần vận dụng và thực hiện cho phù hợp.

Tiểu kết chương 1

Văn hóa là bản sắc của dân tộc, luôn gắn với phát triển đồng thời là nhân tố nội sinh của phát triển trong một quốc gia, vì vậy văn hóa cần được bảo tồn, kế thừa và phát huy một cách đúng đắn, khoa học và hợp lý. Trong xu hướng giao lưu và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, văn hóa tiềm ẩn nguy cơ mai một và biến mất thì vai trò của nhà nước trong quản lý văn hóa là vô cùng thiết yếu. Với đặc thù của quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về văn hóa là được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước thực hiện thông qua hệ thống pháp luật, sự tham gia của người dân nhằm đảm bảo tính khách quan khi thực thi chức trách nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Cùng với đà phát triển của nền kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước ngày càng tăng trong việc định hướng các hoạt động văn hóa, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố của bản thân văn hóa và quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, của các vùng, miền và các dân tộc trong cả nước trước các mâu thuẫn, nghịch lý nảy sinh từ vận động, phát triển của văn hóa trong quá trình đưa pháp luật vào thực tiễn đời sống, áp dụng những quy định trong văn bản luật vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong quản lý nhà nước về văn hóa. Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại Đắk Lắk

One thought on “Luận văn: Quản lý Nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về văn hóa tại Đắk Lắk

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464