Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Từ những vấn đề nghiên cứu được đặt ra trong chương thứ nhất, chúng tôi tiến hành làm rõ đến việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học. Chúng tôi cũng đề xuất một khung phân tích bài học phù hợp để đánh giá mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học.

2.1. Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược (Fipped Classroom)

Mô hình lớp học đảo ngược là một mô hình dạy học “đảo ngược” so với mô hình dạy học truyền thống, nó có nghĩa là người học được cung cấp học liệu và được yêu cầu tìm hiểu nội dung bài học trước khi đến lớp, và thời gian ở lớp chủ yếu dành cho các thảo luận. Mô hình lớp học đảo ngược là một phương pháp dạy học tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm được hình thành nhằm nâng cao chất lượng giờ học trong lớp. Nói chung, gần đây phương pháp này được ứng dụng chủ yếu trong lớp học cũng thu hút sự quan tâm của nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và giảng viên trong các lĩnh vực khác nhau. Các phương pháp đổi mới có thể thay đổi mô hình giảng dạy toán học và truyền cảm hứng cho giảng viên tán thành những ý tưởng mới và đạt được những kinh nghiệm mới.

Khái niệm lớp học đảo ngược xuất hiện khởi đầu trong công trình của Lage và đồng nghiệp (Lage et al., 2000), sau đó được phổ biến như là một phương pháp dạy học tích cực (Bergmann & Sams, 2014). Các nhà nghiên cứu này đã phác họa mô hình lớp học đảo ngược như là một môi trường dạy và học năng động trong đó người học đảm nhận vai trò chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của mình, từ đó tăng cường diễn ngôn tương tác và sự gắn kết tạm thời giữa giáo viên và học sinh. Về bản chất, mô hình lớp học đảo ngược nhấn mạnh khía cạnh lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm, thúc đẩy sự tham gia toàn diện của học sinh vào quá trình dạy học.

Pinnelli et al. (2018) khẳng định rằng lớp học đảo ngược cho phép học sinh tiếp cận nội dung dạy học một cách thuận tiện, vượt qua những rào cản về không gian và thời gian. Học sinh có quyền xem và tương tác với các học liệu từ bất kỳ địa điểm nào và vào bất kỳ thời điểm nào trước khi tương tác trực tiếp trong lớp học. Sau đó, trong lớp học, học sinh được tự do tham gia vào một không gian cho phép họ nói lên ý kiến của mình và chia sẻ kiến thức thông qua các hoạt động hợp tác và hợp tác.

Theo Suwarna & Muniandy, (2021), sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động trước (bên ngoài) lớp học và trong lớp học cũng rất quan trọng đối với mô hình lớp học đảo ngược. Việc cung cấp các tài liệu giáo khoa, các bài giảng được tuyển chọn, các trò giải trí kỹ thuật số mang tính tương tác và các câu hỏi đánh giá trước khi tương tác trực tiếp đóng vai trò như một chiếc la bàn trí tuệ, giúp người học làm quen với lĩnh vực chủ đề để khám phá hoặc thảo luận trong các buổi giảng dạy trực tiếp sau đó.

Theo Mạng lưới học tập đảo ngược FLN (2016), giáo viên nên kết hợp bốn trụ cột (F-L-I-P) sau đây vào hoạt động dạy học của mình, như là một cách thể hiện việc vận dụng lớp học đảo ngược: Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

  • Môi trường linh hoạt (F): Giáo viên cần sắp xếp lại môi trường dạy và học để cho phép học sinh tương tác và suy ngẫm về việc học của mình theo yêu cầu lựa chọn thời gian và địa điểm mà học sinh muốn học.
  • Văn hóa học tập (L): Thời gian trên lớp nên dành cho việc tìm tòi, học sâu hơn các khái niệm cụ thể của bài học; tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các hoạt động có ý nghĩa; làm cho học sinh thấy việc học có ý nghĩa đối với cá nhân.
  • Nội dung có chủ ý (I): Các khái niệm sử dụng trong giảng dạy trực tiếp được ưu tiên để người học tự tiếp cận; nội dung học có thể truy cập được và phù hợp với tất cả học sinh.
  • Nhà giáo dục chuyên nghiệp (P): Giáo viên sẵn sàng tiếp đón tất cả học sinh để đưa ra phản hồi cho cá nhân, nhóm nhỏ hoặc toàn thể lớp trong thời gian thực theo yêu cầu.

Trong lớp học đảo ngược, quá trình dạy và học không bị giới hạn trong lớp học và học sinh có thể tiến bộ theo nhịp độ riêng của mình theo cách tương tác cả trong và ngoài lớp học. Giáo viên có thể cung cấp hướng dẫn hiệu quả cho học sinh hơn là đưa thông tin trực tiếp (Chen, Wang, Kinshuk, & Chen, 2016).

Tiếp theo đó, Hwang, Lai, & Wang, (2017) cho thêm ý kiến là hầu hết giảng viên toán không am hiểu về bí quyết công nghệ nhưng có nhận thức tích cực về việc tích hợp công nghệ trong lớp học toán của họ. Một đóng góp của giảng viên toán trong tích hợp công nghệ là công cụ quan trọng trong việc nâng cao quá trình dạy và học. Và sinh viên học hiệu quả hơn khi sử dụng công nghệ vì các bài học được thiết kế hấp dẫn và thú vị hơn. Người ta cũng nhận thấy rằng giảng viên có nhận thức tích cực về hiệu quả của việc tích hợp công nghệ trong lớp học toán. Các nghiên cứu sâu hơn có thể tập trung vào việc sử dụng công nghệ thực tế trong lớp học, giảm các yếu tố cản trở giảng viên kết hợp công nghệ trong hướng dẫn, cũng như sự hỗ trợ của chính phủ và các bên liên quan khác đối với giảng viên trong việc cố gắng tích hợp công nghệ vào quá trình dạy và học là cần thiết.

Trong đó, Lai & Hwang, (2018) đã đề nghị phương pháp tiếp cận lớp học đảo ngược tự điều chỉnh để cải thiện kết quả học tập của sinh viên trong một khóa học Toán học được tổ chức học ngoài giờ: sinh viên tự học kiến thức cơ bản thông qua xem video, hướng dẫn trên web hoặc các tài liệu hướng dẫn khác; tập trung vào mức độ kiến thức ghi nhớ và thông hiểu. Trong giờ lên lớp: tương tác trong lớp học thực hiện các hoạt động thực hành, học tập theo dự án hoặc thảo luận; giải quyết các vấn đề cụ thể do sinh viên đề xuất. Học tập tự điều chỉnh: 1) Giai đoạn suy nghĩ trước, 2) Giai đoạn thực hiện, 3) Giai đoạn phản ánh bản thân. Và Song & Hill, (2007) đã nói rằng định dạng lớp học đảo ngược liên quan đến sinh viên nhận được hướng dẫn bên ngoài lớp học thông qua các bài đọc hoặc các bài giảng video và làm việc trên bài tập về nhà của sinh viên trong giờ học. Các chiến lược để tạo ra các bài học cho sinh viên để xem bên ngoài lớp học, bài học của các buổi học trong lớp, phản ánh về việc học của sinh viên và nhận xét từ sinh viên.

Tuy nhiên, lớp học đảo ngược hiện là một phương pháp sư phạm sáng tạo có tiềm năng cao để chuyển đổi việc giảng dạy toán học (Cevikbas & Kaiser , 2022). Tương tự như Hwang, Lai, & Wang, (2017) đã mô tả phần chi tiết về khái niệm về lớp học đảo ngược được đề xuất bởi Bergmann & Sams, (2014) nói rằng sinh viên có thể chuẩn bị bài học bằng cách xem các video và có thể hình thành kiến thức cơ bản trước khi đến lớp. Giảng viên cung cấp các video trực tuyến để cho phép sinh viên xem các nội dung giảng dạy một cách thuận tiện hơn. Qua quá trình học tập đảo ngược này, giảng viên đã thu được những kết quả đáng kể, truyền cảm hứng cho giảng viên sử dụng phương pháp dạy học này nhiều hơn (tức là hướng dẫn qua video trực tuyến) trước các lớp học. Do đó, có thể tiến hành thảo luận hoặc thực hành nhiều hơn trong lớp để thu hút sinh viên học tập sâu hơn và làm rõ mọi nội dung. Hơn nữa, Bergmann & Sams, (2014) đề xuất rằng “Lớp học đảo ngược nên được áp dụng cho người học ở mọi cấp học”.

Đặc biệt ở Việt Nam, Lê Thị Phượng & Bùi Phương Anh (2019); Cù Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, & Nguyễn Thi Minh Bích (2021) cho định nghĩa là tất cả các hoạt động dạy học được thực hiện đảo ngược so với thông thường. Sự “đảo ngược” ở đây được hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm thực hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học. Lớp học đảo ngược, giảng viên giao những bài giảng, những video về lý thuyết và bài tập cơ bản, chia sẻ qua mạng cho các sinh viên xem trước tại nhà, còn thời gian ở lớp dành cho việc giải đáp thắc mắc của sinh viên, làm bài tập khó hay thảo luận sâu hơn về kiến thức. Hơn nữa, Nguyễn Thị Hương Huế & Thái Thị Hồng Phúc, (2020) nói rằng mô hình lớp học đảo ngược là một mô hình dạy kết hợp, có thể ứng dụng công cụ công nghệ thông tin trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai lớp học đảo ngược. Cụ thể, các công cụ công nghệ thông tin sẽ hỗ trợ sinh viên. Do đó, về mặt lý luận, mô hình này dựa trên cơ sở lý thuyết về học tích cực. Đây là một phương pháp dạy học chủ động khám phá, tiếp cận kiến thức thông qua quá trình tương tác và tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập vì sinh viên có thể tìm hiểu trước các kiến thức cần thiết chuẩn bị cho các bài học, sinh viên có thêm tìm tòi trước các kiến thức thay vì chờ sự truyền đạt kiến thức.

2.2. Nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Nguyên lí chung của mô hình lớp học đảo ngược là sinh viên sẽ tự tìm hiểu nội dung bài giảng ở nhà thông qua các bài giảng trực tuyến, ở lớp học sinh viên sẽ tương tác cùng giảng viên và các bạn học để củng cố, mở rộng kiến thức. Các sinh viên có thể tham gia trước lớp với nội dung và bắt đầu hiểu, ghi nhớ, mô tả và giải thích. Trong lớp học, họ có thể tham gia vào các hoạt động như áp dụng, phân tích và đưa ra lý thuyết, sau đó tham gia trong các hoạt động như đánh giá, sáng tạo, đưa ra giả thuyết, phản ánh,…

Trong lớp học, giảng viên sẽ đảm bảo có sự kết nối giữa nội dung trước khi đến lớp và các nhiệm vụ trên lớp. Điều này tạo cơ hội cho các sinh viên thể hiện và áp dụng những gì họ học được vào thực tế cuộc sống. Giảng viên có thể thảo luận và xem xét các ý tưởng, kịch bản, hàm ý, khả năng, ứng dụng, Điều quan trọng đối với việc học là giảng viên có mặt khi sinh viên cố gắng phân tích và áp dụng kiến thức mới. Sau khi học, sinh viên có thể tham gia vào các nhiệm vụ tư duy bậc cao như tạo tác phẩm video, bài thuyết trình,… . Một kết nối rõ ràng giữa tài liệu trước lớp học, trong lớp học và sau lớp học là điều cần thiết. Nhiều phương pháp tiếp cận lớp học đảo ngược sẽ thất bại nếu sinh viên không thể nhìn thấy mối liên hệ giữa ba chiều này. Trên thực tế, lớp học đảo ngược được thiết kế kém có thể tạo ra sự phân chia giữa các chiều này và có thể khiến sinh viên thất vọng và rời xa (Reyna, 2017).

Phương pháp sư phạm cốt lõi cho mô hình lớp học đảo ngược được gọi là “Học tập tích cực”, nơi sinh viên học bằng cách làm việc thay vì nghe một cách thụ động. Học tập tích cực cung cấp cho sinh viên cơ hội để suy nghĩ chín chắn về kiến thức với một loạt các hoạt động có thể bao gồm: học tập hợp tác, học tập dựa trên dự án, học tập dựa trên câu hỏi, học tập dựa trên vấn đề, học tập bạn và nghiên cứu tình huống. Những hoạt động này mang lại ý nghĩa cho những gì sinh viên học được và giúp họ đạt được sự hiểu biết, để bộ não của họ ghi lại điều này vào bộ nhớ dài hạn thay vì ngắn hạn.

Sử dụng các video có sẵn trên Youtube để làm các bài giảng, quan trọng là phải hướng dẫn sinh viên cách sử dụng, giữ liên lạc và cung cấp cho sinh viên hướng dẫn kịp thời. Bài giảng video cần được thiết kế theo một kịch bản dạy học hoặc giảng viên tự quay lại bài giảng trực tiếp. Cần có nhiều hình ảnh liên quan đến nội dung bài học được dùng trong các video (Davies, Dean, & Ball , 2015; Hwang, Lai, & Wang, 2017; Hwang & Lai, 2019; Feudel & Fehlinger, 2022). Khi có được các phương tiện thích hợp, giảng viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của sinh viên trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho sinh viên những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của sinh viên tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe – thấy – làm (những gì nghe được không bằng những gì tự tay làm) nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giảng viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của sinh viên và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các sinh viên (Elmaadaway, 2019; Murillo-Zamorano, 2021). Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Theo lớp học truyền thống sinh viên đến lớp học bài giảng dưới sự hướng dẫn, truyền đạt của giảng viên và mỗi bài học chỉ có một thời lượng nhất định. Trong một lớp học thường gồm các nhóm đối tượng sinh viên có nhận thức, năng lực khác nhau mà giảng viên phải dạy theo một khung quy định về thời gian nên việc giảng dạy cho tất cả sinh viên nắm vững kiến thức là rất khó, hơn nữa giảng viên vẫn không có thêm thời gian để dạy lại. Nhưng với lớp học đảo ngược sinh viên được học mọi lúc, mọi nơi và được học đi học lại những phần kiến thức còn chưa hiểu do không giới hạn thời gian học. Do vậy, để nắm vững kiến thức sinh viên cần phải hiểu kiến thức của bài cũ rồi mới chuyển sang bài mới tiếp theo, nếu ban đầu làm bài kém chất lượng thì phải chỉnh sửa lại bài đó đến khi nào hoàn chỉnh mới sang bài mới. Như vậy, ở lớp học đảo ngược việc nắm vững kiến thức mới được thực hiện triệt để đối với từng đối tượng sinh viên (Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, 2019; Đỗ Tùng & Hoàng Công Kiên, 2022). Nguyên tắc tổ chức hoạt động theo mô hình lớp học đảo ngược đảm bảo nguyên tắc phải lấy sinh viên làm trung tâm. Thời gian ở trên lớp được dành cho sinh viên khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra các cơ hội học tập thú vị hơn. Còn những bài giảng của học kết hợp, những video giáo dục trực tuyến được thiết kế nhằm truyền tải nội dung kiến thức bên ngoài lớp.

Theo mô hình lớp học đảo ngược, sinh viên phải xem video và các bài giảng ở nhà qua mạng. Giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu. Sinh viên chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn. Các sinh viên có thể tiếp cận video bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú kiến thức, câu hỏi và xem lại nếu cần (điều này là không thể nếu nghe giảng viên giảng dạy trên lớp). Công nghệ E-Learning giúp sinh viên hiểu kỹ hơn về lí thuyết, từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp. Như vậy, việc học tập của sinh viên sẽ hiệu quả hơn, người học chủ động hơn, tự tin hơn trong việc tích lũy kiến thức. Với lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy thông qua những giáo trình E-Learning đã được giảng viên chuẩn bị trước cùng thông tin do sinh viên tự tìm kiếm, nhiệm vụ của sinh viên là tự học kiến thức mới này và làm bài tập mức thấp ở nhà. Khi học trên lớp, các sinh viên được giảng viên tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập nâng cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của giảng viên và các bạn cùng nhóm. Cách học này đòi hỏi sinh viên phải dùng nhiều đến hoạt động trí não, như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được hiện bởi cả giảng viên và sinh viên (Cù Thị Ngọc Anh et al., 2021).

Về nguyên tắc về thiết kế quy trình thực hiện “lớp học đảo ngược”, tác giả Lê Thị Minh Thanh (2018) đã nói rằng học ở lớp, làm bài tập ở nhà chuyển thành từ học ở nhà qua video bài giảng, học trực tuyến, trao đổi qua mạng đến lớp làm bài tập. Ngoài ra, do điều kiện tiếp cận với những ứng dụng Công nghệ thông tin ngày càng dễ dàng, sinh viên ở lớp học đảo ngược thường xuyên ghi lại những bài giảng hay của các thầy cô dạy giỏi rồi đưa lên mạng và kĩ năng sử dụng Công nghệ thông tin của giảng viên ngày càng được nâng cao, đó là cơ sở để tin tưởng rằng mô hình lớp học đảo ngược phù hợp với điều kiện hiện nay. Hơn nữa, chúng tôi sẽ mô tả phần chi tiết của các bước thực hiện lớp học đảo ngược trong một số ví dụ như sau: Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Theo ba bước thực hiện trên lớp học đảo ngược đối với sinh viên của tác giả Lê Thị Minh Thanh (2018): Trước giờ học trên lớp giảng viên tạo 1 video hoặc Slide bài giảng. Lớp học đảo ngược có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và kĩ năng sử dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy của giảng viên. Tất cả năng lực của giảng viên được thể hiện qua việc xây dựng video bài giảng một cách khoa học, phù hợp với đối tượng sinh viên. Kịch bản sư phạm cũng như giáo án của cách dạy đảo ngược sẽ khác về bản chất với dạy học truyền thống. Kịch bản và giáo án của giảng viên gồm hai phần chính: video bài giảng truyền thống và các tình huống giảng viên tương tác với sinh viên ở lớp.

Giữa nội dung video bài giảng cho sinh viên xem trước ở nhà với nội dung thảo luận trên lớp phải đảm bảo kết cấu hài hòa và hợp lý. Không ngừng cập nhật những nội dung mới, những tình huống mới trong thực tế để đưa vào bài giảng video các năm sau để bài giảng luôn được tươi mới. Sinh viên tự học, tự nghiên cứu video bài giảng của giảng viên và chuẩn bị phần thực hành trên lớp. Việc học tập bị đảo ngược là nhằm hướng vào sinh viên, thay vì giảng viên điều khiển sinh viên, giờ đây sinh viên chủ động nghiên cứu các đoạn video bài giảng để hình thành những ý kiến riêng, các câu hỏi xung quanh nội dung và trước khi đến lớp đã có những hiểu biết xung quanh khái niệm liên quan. Kỹ năng cần có của sinh viên là kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin, kỹ năng tìm kiếm kiến thức trên mạng, kỹ năng tự học và cá nhân hóa việc học tập của bản thân.

Trong giờ học trên lớp: Giảng viên trao đổi, thảo luận, kiểm tra đánh giá sinh viên tại lớp. Giảng viên chủ yếu hướng dẫn các sinh viên làm bài tập, tìm hiểu các kiến thức sinh viên chưa hiểu, tìm ra những cách thức làm bài hay nhất, tối ưu nhất cho sinh viên. Do tính cá nhân hóa ở sinh viên nên việc dạy của giảng viên ở các lớp khác nhau thì tình huống cũng như cách xử lí sư phạm sẽ khác nhau. Sinh viên thực hành ứng dụng các khái niệm chính cùng với phản hồi từ giảng viên và sinh viên khác. Bằng cách làm này, sinh viên được phát triển các kỹ năng cần thiết, đó là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ứng dụng công nghệ. Công việc trên lớp của giảng viên và sinh viên như giảng viên hướng dẫn sinh viên đào sâu kiến thức, sinh viên thực hiện các hoạt động nhóm phù hợp cũng như dành nhiều thời gian hơn trong việc luyện tập và tư duy,…

Sau giờ học trên lớp: Kết thúc giờ học trên lớp, nếu những nội dung trao đổi trên lớp chưa hoàn thiện, Giảng viên sẽ hưỡng dẫn và giải đáp các thắc mắc của sinh viên qua mạng. Sinh viên kiểm tra lại kiến thức đã học trong giờ học và tự tìm hiểu mở rộng thêm. Sinh viên có thể viết nhật kí, cập nhật những gì họ đã học được hoặc cần phải tập trung cho những gì tiếp theo. Sinh viên cũng có thể sử dụng nhật kí của mình để đánh dấu một lưu ý bất kì.

Sau bước 3, giảng viên chuyển sang bước 1 để tạo video bài giảng mới hoặc bổ sung video bài giảng cũ sao cho phù hợp với trình độ tiếp thu bài giảng của sinh viên hiện tại. Sinh viên cũng chuyển về bước 1 để nghiên cứu video bài giảng mới của giảng viên, xem Hình 2.1.

  • Hình 2.1 Các bước thực hiện lớp học đảo ngược của SV (Le, 2018)

Theo Lê Duy Cường (2023) ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy: Trước giờ học: giảng viên tạo lớp học online, quay video, tải lên youtube; sinh viên vào phòng học online, xem trước video theo hướng dẫn, làm bài tập viết tay, chụp ảnh. Trong giờ học: giảng viên chữa bài tập; giải đáp thắc mắc; sinh viên chữa bài làm; thảo luận. Sau giờ học: giảng viên tương tác với sinh viên; căn cứ vào phản hồi để cải thiện chất lượng video; sinh viên xem lại phần bài tập đã chữa; xem video và làm bài tập của bài mới. Kiểm tra đánh giá, dạy online; đã tiến hành 3 lần; cách thức kiểm tra online;

Theo Cù Thị Ngọc Anh et al., (2021) “Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học”: Trước giờ học trên lớp: Trong mô hình lớp học đảo ngược, đây là bước quan trọng trong việc hình thành kiến thức cơ bản cho sinh viên. Bước đầu, giảng viên cần xây dựng một lớp học ảo trên mạng ví dụ tạo ra một lớp học ảo trên Google Classroom. Sau đó, sinh viên sẽ được cung cấp tài khoản tham gia và thực hiện các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giảng viên. Sinh viên sẽ được cung cấp các học liệu trên mạng, video bài giảng, PowerPoint, tài liệu tham khảo,… tự tìm hiểu và hình thành các kiến thức cơ bản của bài học. Giờ học trên lớp: Giảng viên tổ chức cho lớp thảo luận các vấn đề theo cách thức bình luận. Lúc này, giảng viên sẽ đưa ra cho sinh viên những video, sinh viên sẽ xem và bình luận về vấn đề. Từ những vấn đề lớn, nhỏ, sinh viên sẽ phải tự tìm ra hướng tiếp cận của mình. Sau đó, giảng viên mới kết luận và đưa ra các luận điểm chung, ghi nhận những luận điểm mới của sinh viên. Sau cùng, giảng viên nhận xét, đánh giá, giải đáp, chốt lại kiến thức, giao bài tập về nhà và nhiệm vụ mới để sinh viên chuẩn bị cho bài học sau. Sau giừ học: Trong mô hình lớp học ảo với nguồn học liệu và tài liệu tham khảo phong phú, đa dạng, ngoài việc được củng cố lại kiến thức đã học bằng cách xem lại PowerPoint bài giảng, sinh viên có thể tiếp tục phát triển năng lực đọc hiểu bằng việc phân tích các bài học khác cùng đề tài, không có trong sách giáo khoa. Ngoài ra các sinh viên có thể thực hiện các bài nghiên cứu nhỏ và đăng công khai trên nhóm học tập để chia sẻ với mọi người, tạo hứng thú tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Theo Đỗ Tùng & Hoàng Công Kiên (2022) việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến bằng phần mềm MS TEAMS: Trước giờ lên lớp: Hoạt động giảng viên sẽ lựa chọn nội dung, bài dạy thích hợp; thiết kể bài giảng, video, chia sẻ các tài liệu cho sinh viên; giao nhiệm vụ học tập cho sinh viên. Hoạt động người học xem/nghiên cứu bài giảng, tài liệu, video ở nhà để hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao. Môi trường tương tác (Máy tính, mạng Internet, hệ thống quản lý lớp học MS TEAM, các mục Pots, File,…). Trong giờ lên lớp, hoạt động giảng viên chủ trì tổ chức hoạt động thảo luận, trao đổi các nội dung bài học; Kết luận các vấn đề chính của bài dạy học. Hoạt động người học, thảo luận nhóm, trao đổi với nhau và với giảng viên. Môi trường tương tác, trực tiếp giờ giảng theo thời gian thực trên MS TEAM (sử dụng tính năng tham gia các phòng giảng bài trực tuyến do giảng viên tạo ra). Sau giờ lên lớp, hoạt động giảng viên hỗ trợ, trao đổi, giải đáp thắc mắc của người học về nội dung đã học; kiểm tra, đánh giá việc tiếp nhận kiến thức, kỹ năng của sinh viên. Hoạt động người học thảo luận, trao đổi và thực hiện các nhiệm vụ của giảng viên giao. Môi trường tương tác: Máy tính, mạng Internet, hệ thống quản lý lớp học MS TEAM (các mục Pots, File,…) dùng để đăng bài, tương tác với giảng viên, upload/download tài liệu và làm bài tập.

Điều quan trọng chính trong sử dụng mô hình lớp học đảo ngược đảm bảo nguyên tắc phải lấy người học làm trung tâm: 1) sinh viên tự quản lý học tập, 2) đảo ngược lớp học để tận dụng tốt nhất thời gian trực tiếp, và 3) tư duy bậc cao thúc đẩy các hoạt động trong lớp (Seth, 2019). Thời gian ở lớp được dành để khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra những cơ hội học tập thú vị. Trong khi đó, những bài giảng, những video giáo dục trực tuyến được thiết kế để truyền tải nội dung bên ngoài lớp học. Trong lớp học đảo ngược, việc truyền tải nội dung có thể ở nhiều hình thức, do giảng viên thiết kế. Quy trình chung dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược là: 1) lựa chọn chủ đề dạy học thích hợp, 2) giảng viên thiết kế các bài giảng, video, chia sẻ các tài liệu tham khảo lên mạng, 3) sinh viên xem bài giảng, video, tài liệu ở nhà,

4) lên lớp sinh viên thực hành, thảo luận, trao đổi với nhau và với giảng viên (Lê Thị Phượng & Bùi Phương Anh , 2019). Lớp học đảo ngược, giảng viên thực hiện những bài giảng, những video về lý thuyết và bài tập cơ bản, chia sẻ qua mạng cho các sinh viên xem trước tại nhà, trong khi thời gian ở lớp dành cho việc giải đáp thắc mắc của sinh viên, làm bài tập khó hay thảo luận sâu hơn về kiến thức. Theo mô hình lớp học đảo ngược, sinh viên xem các bài giảng ở nhà qua mạng. Giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu. Với lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi sinh viên (thông qua những giáo trình E-Learning đã được giảng viên chuẩn bị trước cùng thông tin do sinh viên tự tìm kiếm). Nhiệm vụ của sinh viên là tự học kiến thức mới này và làm bài tập mức thấp ở nhà. Sau đó vào lớp các sinh viên được giảng viên tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập bậc cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của giảng viên và thành viên trong nhóm. Cách học này đòi hỏi sinh viên phải dùng nhiều đến hoạt động trí não nên được gọi là “High thinking”. Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả giảng viên và sinh viên (Strayer, 2014; Lê Thị Phương & Bùi Phương Anh , 2021).

Tuy nhiên, hầu hết nhà nghiên cứu đã được trải nghiệm về mô hình lớp học đảo ngược. Đặc biệt, trường hợp học ngoài lớp và học trên lớp như ví dụ sau đây: Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Học đảo ngược (Học ngoài lớp) có hai vấn đề: bài tập về nhà trên lớp và bài học ở nhà là một cách để tạo thêm thời gian trên lớp và không làm mất thời gian học và làm bài tập. Một mô hình giảng dạy mới cho phép sinh viên ghi lại kế hoạch bài học trên video theo cùng một cách mà nó sẽ được trình bày cho sinh viên. Cấu trúc của video là tổng quan về bài học, nội dung và kết thúc bằng phần tóm tắt. Các sinh viên có thể giải quyết các vấn đề. Sinh viên có thể truy cập các bài học trên bất kỳ máy tính hoặc điện thoại thông minh. Và theo ALRowais (2016) trong mô hình này, nội dung bài giảng sẽ chuyển ra bên ngoài lớp học và gửi đến sinh viên qua video trực tuyến để có thời gian học tập tích cực.

Học đảo ngược (Học trên lớp): Về vấn đề này, McLaughlinet et al. (2015) nhấn mạnh trong việc tạo môi trường học tập linh hoạt để các lớp học trước khi học và học trực tiếp được hài hòa, hiệu quả. Điều đó rất quan trọng để cấu trúc thành một hệ thống bài giảng trực tuyến được tổ chức chặt chẽ. Video bài giảng cung cấp trước khi đến lớp thực sự rất hữu ích cho sinh viên để hiểu rõ hơn nội dung của bài học. (Toh & Kirschner (2022), các buổi học trực tuyến trước khi đến lớp nên được kết nối chặt chẽ với việc học trên lớp thực tế. Hơn nữa, Toh & Kirschner, (2022) xem xét khả năng học tập tự định hướng của sinh viên đã được cải thiện trong bối cảnh học tập đảo ngược. Vì sinh viên tích cực tham gia vào video học trước để chuẩn bị cho các lớp học trực tiếp. Thậm chí trong thời gian chuẩn bị học tập trực tuyến giảng viên cần cố gắng để cung cấp phản hồi dựa trên nhu cầu của sinh viên. Đồng thời, Yi & Lim (2022) đề xuất sự thận trọng của việc học qua video (một video bài giảng nên được sản xuất với nội dung cốt lõi từ 10 đến 15 phút) của học đảo ngược và trình bày các bài nghiên cứu, cơ sở để hỗ trợ kiểm định giá trị giáo dục của học đảo ngược, được nêu trong Bảng 2.1

  • Bảng 2.1 Phân biệt đặc điểm của lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược

Các thực hành trong lớp học có thể gọi là giai đoạn đào sâu vào kiến thức, giai đoạn này diễn ra ở lớp học, sinh viên và giảng viên tương tác với nhau, sinh viên tương tác với bạn học trong lớp về bài học đã tìm hiểu trước đó ở nhà. Nhiệm vụ của giảng viên và sinh viên, giảng viên tổ chức thảo luận theo nhiều hình thức khác nhau, nhận xét, đánh giá, giải đáp các câu hỏi của sinh viên, chốt lại kiến thức trọng tâm. Sau đó, sinh viên đặt câu hỏi để làm rõ vấn đề, nghe giảng viên giải đáp, giảng giải và làm việc nhóm. Ngoài ra, sinh viên có thể tham gia các trò chơi để củng cố kiến thức và nghe nhận xét của giảng viên cùng đào sâu, thực hành, làm bài tập để đạt đến các bậc học cao hơn. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Các thực hành ngoài lớp học có thể gọi là giai đoạn tìm hiểu thông tin mới, giai đoạn này diễn ra hoàn toàn ở nhà, giảng viên và sinh viên sẽ tự làm việc hoặc học tập một mình. Nhiệm vụ của giảng viên và sinh viên cho thấy giảng viên tìm hiểu thông tin, xác định nội dung, mục tiêu bài học, chuẩn bị bài giảng hấp dẫn cho sinh viên. Sau đó, giảng viên quay video bài giảng và cung cấp học liệu cho sinh viên qua mạng. Còn sinh viên xem video bài giảng, đọc sách và tài liệu, học các kiến thức mà giảng viên đã gửi, ghi chép lại các kiến thức thu nhận được, tự đặt câu hỏi, làm bài tập cấp thấp. Đồng thời, sinh viên thảo luận trên diễn đàn, ghi lại các câu hỏi thắc mắc, chuẩn bị dự án nhóm. Trong một số trường hợp, sinh viên còn có thể tương tác trước với giảng viên hoặc sinh viên trên hệ thống quản lý giáo dục. Những bài giảng cũng như các yếu tố thường thấy trong lớp học trực tuyến được chuyển vào tương tác cá nhân trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà, nếu có thắc mắc, các sinh viên có thể trao đổi với giảng viên hay thảo luận với bạn học thông qua các diễn đàn như facebook, zalo, zoom, Google Classroom,… . Sự hỗ trợ kịp thời này sẽ giúp các sinh viên hiểu bài một cách cơ bản nhất, tránh được hiện tượng chán nản mỗi khi gặp bài khó và học tập hiệu quả hơn. Giờ học trên lớp cũng chú trọng tăng cường kĩ năng làm việc nhóm và tập trung vào các hoạt động tương tác như thảo luận, giải đáp thắc mắc, trình bày hiểu biết. Các sinh viên sẽ làm việc cùng nhau, trao đổi và học hỏi lẫn nhau nhiều hơn để xây dựng kiến thức cho mình.

2.3. Thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

2.3.1. Nghiên cứu về thuận lợi khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học

Nghiên cứu về học tập kết hợp đã trở thành một khía cạnh thiết yếu của nghiên cứu về dạy và học. Lớp học đảo ngược là một mô hình học tập kết hợp sáng tạo, trong đó sinh viên được làm quen với nội dung bài học ở nhà và giải quyết vấn đề cũng như thảo luận trong giờ học. Trong lớp học đảo ngược, giáo viên giúp đỡ sinh viên thay vì chỉ cung cấp thông tin. Ngược lại, sinh viên phải chịu trách nhiệm về quá trình học tập của chính mình và tự điều chỉnh góc độ học tập của mình (Lai & Hwang, 2018). Ngày nay, mô hình lớp học đảo ngược đã được triển khai ở nhiều ngành, trường đại học khác nhau trên toàn thế giới (Hao & Lee 2018).

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng lớp học đảo ngược mang lại nhiều kết quả giáo dục tích cực. Những nghiên cứu này cho thấy lớp học đảo ngược giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng thiết yếu của sinh viên (Eugenia & Lai, 2014; Eugenia, 2020; Elmaadaway, 2020; Voig, Fredriksen, & Rasmussen, 2022). Hơn nữa, lớp học đảo ngược giúp nâng cao chất lượng thảo luận trực tiếp và thúc đẩy sự tham gia cũng như sự hài lòng của sinh viên (Zainuddin, 2020; Awidi & Paynter, 2021).

Trong các nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu thu hút sự chú ý đến những thách thức liên quan đến lớp học đảo ngược. Các thách thức có thể bao gồm cần nhiều thời gian hơn để thiết kế lại khóa học theo mô hình lớp học đảo ngược, khó khăn của sinh viên trong việc sắp xếp thời gian hợp lý để theo dõi nội dung học tập ngoài lớp học (Lai & Hwang, 2018). Các tài liệu cho thấy lớp học đảo ngược bao gồm cả thuận lợi và thách thức.

Lợi thế của việc áp dụng phương pháp học đảo ngược bao gồm: sinh viên sẽ di chuyển theo góc độ của riêng mình, giảng viên có thể biết được những khó khăn của sinh viên khi làm bài tập trên lớp, giảng viên có thể dễ dàng cập nhật giáo trình và cung cấp dựa trên nhu cầu của sinh viên, hoạt động trong lớp học tích cực và hiệu quả hơn, giảng viên có thể dễ dàng quan sát sự quan tâm của sinh viên và họ sẽ sử dụng các công cụ công nghệ như là một phương tiện học tập phù hợp nhất hiện nay. Ngoài ra, ưu điểm chính của lớp học đảo ngược là thiết kế học, cũng có thể thúc đẩy sự tìm hiểu cá nhân, nỗ lực hợp tác, tương tác xã hội, phản xạ và kỹ năng học tập độc lập. Phương pháp học đảo ngược giúp giảng viên rời xa hướng dẫn trực tiếp như công cụ giảng dạy chính của họ để hướng tới phương pháp lấy sinh viên làm trung tâm (O’Flaherty & Phillips, 2017).

Học đảo ngược không phải là về cách sử dụng video trong bài học của sinh viên. Đó là về cách sử dụng tốt nhất thời gian trên lớp của giảng viên với sinh viên. “Sử dụng thời gian học trực tiếp tốt nhất”. Nếu nhìn từ góc độ nhận thức theo thang do tư duy Bloom thì phương thức dạy học này giúp sinh viên phát triển nhận thức qua từng cấp bậc: ghi nhớ, hiểu (giai đoạn tiếp cận với tài liệu và công cụ hỗ trợ dạy học thông qua mạng). Chắc chắn sinh viên phải tìm hiểu bài học thông qua các phương tiện hỗ trợ chẳng hạn như: Công cụ trình chiếu (PowerPiont), Công cụ học tập xã hội (Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: E-mail, Group page, Google Classroom, Google Form, …). Bài giảng trở thành bài tập ở nhà mà sinh viên phải chuẩn bị trước khi lên lớp. Toàn bộ thời gian trên lớp giảng viên sẽ ứng dụng theo thang do tư duy Bloom: ứng dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo (giai đoạn xử lý thông tin, sáng tạo kiến thức thông qua các hoạt động học tập do giảng viên tổ chức trên lớp) thông qua các phương tiện hỗ trợ tức là Công cụ học tập. Công cụ sau đây giúp giảng viên chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu quả: Kahoot, Mentimeter, Polleverywhere, Canva, Flipgrid, … nghĩa là thời gian trên lớp sẽ dành cho các hoạt động giải bài tập, ứng dụng lí thuyết bài giảng vào giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm để xây dựng hiểu biết dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Thay vì thuyết giảng, trong lớp học giảng viên đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, có thể giúp sinh viên giải quyết những điểm thắc mắc trong bài học mới và đồng thời đánh giá nhận thức của sinh viên, điều này cũng cho thấy một phản ứng trái chiều về sự ưa thích của sinh viên đối với phong cách giảng dạy.

Tuy nhiên, Akçayır & Akçayır, (2020) làm rõ những tiềm năng và ràng buộc của học đảo ngược, chỉ ra rằng thuận lợi được báo cáo thường xuyên nhất của mô hình lớp học đảo ngược là cải thiện hiệu quả học tập của sinh viên. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã báo cáo nhiều ưu điểm của mô hình này như nâng cao động lực học tập, thái độ và kỹ năng tích cực của sinh viên, cũng nhận thấy một số thách thức trong mô hình này. Nghiên cứu bổ sung là cần thiết để xem xét những thuận lợi và thách thức của mô hình này và liệu việc sử dụng rộng rãi hơn có thể dẫn đến sự tự tin, mức độ tương tác và thái độ tích cực hơn của sinh viên hay không!. Hơn nữa, ưu điểm chính của lớp học đảo ngược là thiết kế học để thúc đẩy sự tìm hiểu cá nhân, nỗ lực hợp tác, tương tác xã hội, phản xạ và kỹ năng học tập độc lập. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Phương pháp học đảo ngược giúp giảng viên rời xa hướng dẫn trực tiếp như công cụ giảng dạy chính của họ để hướng tới phương pháp lấy sinh viên làm trung tâm hơn. Học đảo ngược không phải là về cách sử dụng video trong bài học của sinh viên mà đó là về cách sử dụng tốt nhất thời gian trên lớp của giảng viên với sinh viên. “Sử dụng thời gian học trực tiếp tốt nhất” (Bergmann & Sams, 2014), có thể nói rằng: mô hình này cũng giúp tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập bởi người học có cơ hội học tập theo nhịp độ của riêng mình và trở nên có trách nhiệm với việc xây dựng kiến thức thay vì chờ sự truyền đạt kiến thức của giảng viên. Nếu nhìn từ góc độ nhận thức theo thang đo tư duy Bloom thì phương thức dạy học này giúp sinh viên phát triển nhận thức qua từng cấp bậc: ghi nhớ, hiểu (giai đoạn tiếp cận với tài liệu và công cụ hỗ trợ dạy học thông qua mạng). Sinh viên phải tìm hiểu bài học thông qua các phương tiện hỗ trợ chẳng hạn như: Công cụ trình chiếu (PowerPiont), Công cụ học tập xã hội (Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: E-mail, Group page, Google Classroom, Google Form, …). Bài giảng trở thành bài tập ở nhà mà sinh viên phải chuẩn bị trước khi lên lớp. Toàn bộ thời gian trên lớp giảng viên sẽ ứng dụng theo thang đo tư duy Bloom: ứng dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo (giai đoạn xử lý thông tin, sáng tạo kiến thức thông qua các hoạt động học tập do giảng viên tổ chức trên lớp) thông qua các phương tiện hỗ trợ, tức là công cụ học tập. Các công cụ sau đây sẽ giúp giảng viên chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu quả: Kahoot, Mentimeter, Polleverywhere, Canva, Flipgrid, … nghĩa là thời gian trên lớp sẽ dành cho các hoạt động giải bài tập, ứng dụng lí thuyết bài giảng vào giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm để xây dựng hiểu biết dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Thay vì thuyết giảng, trong lớp học giảng viên đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, có thể giúp sinh viên giải quyết những điểm thắc mắc trong bài học mới và đồng thời đánh giá nhận thức của sinh viên.

Mô hình lớp học đảo ngược được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về học tập tích cực. Mô hình này mang lại nhiều lợi ích cho các sinh viên và giảng viên:

Đối với sinh viên: Nó sẽ giúp tiết kiệm thời gian nghe giảng trên lớp vì sinh viên có thể xem bài giảng trên video ở nhà. Hoạt động trong lớp sẽ được sử dụng để giải quyết các vấn đề và tổ chức các cuộc thảo luận. Trong lớp học đảo ngược, sinh viên xem video bài giảng ở nhà, thay thế cho hướng dẫn trực tiếp trong lớp học và trong khi ở trong lớp học, các sinh viên thực hiện nhiều hoạt động tương tác và tích cực hơn như làm việc với bạn học. Do đó, lớp học đảo ngược sẽ tiết kiệm thời gian của sinh viên và giảng viên; thời gian quý báu có thể được sử dụng trong lớp học để thảo luận hơn là nghe giảng. Lớp học đảo ngược sẽ giúp cho việc giảng dạy và hoạt động hiệu quả hơn trong giờ học và vì sinh viên đã chuẩn bị tài liệu học tập trước khi đến lớp nên các sinh viên phải tự chịu trách nhiệm về việc học của mình và giảng viên sẽ đóng vai trò là người hỗ trợ để hướng dẫn nhiều hơn trong học tập thay vì giảng dạy. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Trong khi theo Huang & Hong, (2018), với sự hướng dẫn của phương tiện công nghệ, sinh viên sẽ tự chủ hơn trong hoạt động học tập và giảng viên sẽ đóng vai trò là người hỗ trợ và động viên. Trong số những phương pháp học đảo ngược được áp dụng nhiều nhất cho sinh viên: hoạt động học tập sẽ tiếp tục không chỉ trong lớp học, nội dung học tập sẽ được thiết kế theo nhu cầu của sinh viên với sinh viên sự tương tác của giảng viên có thể tăng lên. Sinh viên sẽ chuẩn bị học tập chăm chỉ bên ngoài lớp học, khi trong lớp học, các sinh viên sẽ thảo luận. Hoặc giải thích năm lý do để được hưởng lợi từ việc học đảo ngược: tập trung vào thảo luận tương tác trong lớp học, cung cấp sự tự do cho giảng viên, giảng viên có thể thiết lập giao tiếp cá nhân với sinh viên về chủ đề, bài tập về nhà và bất kỳ tiến độ nào khác, thiết lập một công việc nhóm phù hợp và tăng sự tham gia của sinh viên.

Giảng viên nên sáng tạo trong việc thiết kế quá trình dạy học, sử dụng bất kỳ loại phương tiện nào phù hợp để tương tác bên ngoài lớp học và chia sẻ các video liên quan đến việc học của sinh viên. Lớp học đảo ngược là một trong những mô hình giúp sinh viên tích cực và tương tác hơn cả trong lớp học và bên ngoài lớp học. Khi giảng viên áp dụng học dảo ngược, nghĩa là họ áp dụng phương pháp học tích cực.

Học tập tích cực đã được nhiều nhà lý luận giáo dục nhấn mạnh trong thế kỷ trước. Vì vậy, nó không phải là một cái gì đó mới mẻ như một cách tiếp cận học tập trong giáo dục. Theo Vũ Văn Tuấn, (2024) cho thấy cách tiếp cận trong dạy học theo quy trình cũng như thực hiện tổ chức dạy học theo mô hình này không chỉ tạo sự chủ động, hứng thú học tập cho sinh viên mà còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học, giúp rèn luyện, đồng thời sự phát triển tư duy sáng tạo cũng như các kỹ năng cho sinh viên và có ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập của sinh viên tức là sự phát triển kỹ năng tự học và tính kỷ luật cho sinh viên; sinh viên tích cực trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề, khám phá, lĩnh hội kiến thức để có thể tiến tới các cấp độ cao trong tư duy (Seery, 2016; Vũ Văn Tuấn, 2024). Theo Luccretia M. & Janis, (2017), sinh viên trong lớp học đảo ngược phát hiện sự tự tin và sẵn sàng thảo luận ý kiến trong lớp học cao hơn so với các sinh viên trong lớp học truyền thống.

Trong một nghiên cứu của Eugenia, (2020) cho rằng sinh viên rất tích cực về các hoạt động trong lớp học. Các hoạt động học tập, giảng dạy và đánh giá khác nhau đã cho phép sinh viên và giảng viên hoàn thành bảy nguyên tắc để hỗ trợ và phát triển việc học tập tự điều chỉnh của sinh viên. Hơn nữa, Seery, (2016) sinh viên trong lớp học đảo ngược có trách nhiệm trong việc học tập của bản thân; học hỏi trong các hoạt động; khả năng áp dụng kiến thức nhiều hơn. Đồng thời, mô hình lớp học đảo ngược có thể tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập cho sinh viên vì họ có thể tìm hiểu trước các kiến thức cần thiết chuẩn bị cho các bài học cũng như có thể tìm tòi trước các vấn đề liên quan thay vì chờ đợi sự truyền đạt kiến thức của giảng viên trên lớp (Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, 2019; Vũ Văn Tuấn, 2024). Hơn nữa, Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, (2019) nói rằng môi trường học tập linh hoạt của lớp học đảo ngược cho phép sinh viên lựa chọn cách thức, vị trí và thời gian học tập phù hợp với điều kiện của cá nhân, tạo không gian để sinh viên năng động hơn trong việc thu nhận kiến thức, hợp tác, trao đổi với thầy cô và bạn học, có thể đánh giá được kết quả học tập của bản thân. Và theo Yougwei & Kathryn S, (2018), giảng viên còn tập trung điều hành học tập hiệu quả, phương thức giảng dạy, quản lý lớp học và sự tham gia của sinh viên. Điều đó, được phát hiện từ sự khảo sát về việc sử dụng công nghệ và hiệu quả giảng dạy, thuận lợi về công nghệ và thái độ đối với công nghệ. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Tuy nhiên, Peters, Willis, & Tiffany, (2018) còn gợi ý rằng công nghệ trong lớp học đảo ngược cần đóng một vai trò hỗ trợ sinh viên để tăng cường hiệu quả học tập. Tương tự, các sinh viên sử dụng mô hình lớp học đảo ngược được đạt điểm cao hơn đáng kể trên tất cả các thang điểm so với những sinh viên ở các lớp học truyền thống (Peters, Willis, & Tiffany, 2018; Akçayır & Akçayır, 2020; Vũ Văn Tuấn, 2024). Ngược lại, Yough, Merzdorf, Fedesco, & Cho, (2019) sinh viên trong phương pháp học tập truyền thống có kết quả học tập cao, nhưng sinh viên trong phương pháp đảo ngược lại có điểm số cao trong một số chỉ số của yếu tố liên quan. Hơn nữa, về tính tương tác của Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, (2019), sinh viên có cơ hội tương tác nhiều hơn với giảng viên và các bạn cùng lớp. Do đó, sẽ phát huy vai trò chủ động tích cực khi tham gia vào mô hình lớp học đảo ngược tăng cường tính tự học, tự nghiên cứu, tự giác trong học tập. Chủ động trong học lý thuyết trên hệ thống giáo dục và tích cực tham gia các hoạt động trên lớp do giảng viên thiết kế biên soạn như làm việc theo cặp, theo nhóm thực hành. Sinh viên cần chủ động trao đổi với giảng viên về những khó khăn trở ngại khi tham gia vào mô hình lớp học đảo ngược. Và có thể phát triển các cơ hội học tập của sinh viên về toán học, học đảo ngược khuyến khích sinh viên nâng cao khả năng tư duy phản biện, hỗ trợ làm rõ mục tiêu học tập hợp tác và suy nghĩ về các vấn đề toán học trước khi tham gia các hoạt động trong lớp học (Voigt, Fredriksen, & Rasmussen, 2022).

  • Bảng 2.2 Tổng quan những thuận lợi của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học

Đối với giảng viên: Theo Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, (2019) nói rằng giảng viên có nhiều cơ hội hơn trong quan sát, tiếp cận để hỗ trợ, đánh giá từng sinh viên. Giảng viên không chỉ lên lớp truyền giảng như thường lệ mà có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động học tập, định hướng, giúp đỡ sinh viên, xây dựng các nội dung giúp sinh viên tự học định hướng. Đồng thời, Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, (2019) cũng cho rằng giảng viên cũng có thêm thời gian để tương tác, đánh giá điểm mạnh, yếu của mỗi sinh viên để dạy học hiệu quả. Để phát triển kỹ năng nghiên cứu và sáng tạo, giảng viên cần tìm tòi, sáng tạo ra những nội dung và cách trình bày kiến thức sinh động, thú vị để thu hút sinh viên vào bài học. Giảng viên không phải nói nhiều và tiếp xúc với bụi phấn bảng. Trong đó, các nhà nghiên cứu gợi ý rằng lớp học đảo ngược có thể dẫn một số phương pháp học tập nhất định. Mặc dù đã được nhiều giảng viên tin rằng lớp học đảo ngược có thể là tối ưu để hỗ trợ động lực của sinh viên (Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, 2019; Yough, Merzdorf, Fedesco, & Cho, 2019).

Bên cạnh đó, giảng viên sẽ có nhiều thời gian để kèm cặp những sinh viên yếu hơn. Những sinh viên nào chưa nắm vững bài giảng hay gặp khó khăn khi giải quyết bài tập thì giảng viên sẽ chú ý hướng dẫn, hỗ trợ nhiều hơn. Điều này rất quan trọng, giúp nâng cao chất lượng của buổi học. Tuy nhiên, giảng viên cần tích cực, chủ động tham gia xây dựng hệ thống bài giảng tương tác với sinh viên thông qua giáo án điện tử và tài liệu cập nhật trên lớp. Khai thác tối đa sự tự chủ học tập của sinh viên, khuyến khích sinh viên tích cực tham gia các hoạt động trên lớp. Giảng viên cần có các hoạt động giảng dạy đa dạng và có các kịch bản sư phạm phù hợp đối với từng nhóm sinh viên khác nhau trong một lớp. Cần gắn kết chặt chẽ nền tảng với hoạt động cập nhật bài giảng trên hệ thống lớp học. Ngoài ra, giảng viên không ngừng trao đổi cập nhật kiến thức công nghệ thông tin cũng như các hoạt động sư phạm chuyên môn nhằm tạo môi trường học tập hiệu quả đối với sinh viên trong lớp học mô hình đảo ngược.

Chúng tôi thấy rằng các thành tố liên quan đến tiềm năng của mô hình lớp học đảo ngược đối với giảng viên gồm: giảng viên cảm thấy tự do trong việc hỗ trợ sinh viên học tập, có thể quản lý dữ liệu lớp học, có cơ hội phát triển kỹ năng sư phạm cho bản thân, trở nên năng động hơn trong giảng dạy, kỹ năng công nghệ thông tin của giảng viên được nâng cao.

2.3.2. Nghiên cứu về thách thức của sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy và học Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

  • Quá trình dạy học mô hình lớp học đảo ngược mang lại thách thức cho cả giảng viên và sinh viên như:

Đối với sinh viên: Phần lớn trong phương pháp này có liên quan đến các hoạt động bên ngoài lớp học, chẳng hạn như nhiều báo cáo cho rằng sinh viên chuẩn bị không đầy đủ trước khi đến lớp (Akçayır & Akçayır, 2020). Có ý kiến phản đối cho rằng: sinh viên chỉ nên học trên lớp, ở nhà để phát triển các kỹ năng khác và vui chơi. Với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc ở vùng sâu vùng xa thì đây là một trở ngại. Vì không phải ai cũng có máy tính, điện thoại thông minh, internet và thành thạo công nghệ để học tại nhà. Phương pháp đòi hỏi tính chủ động học tập của sinh viên rất cao, sinh viên phải tự học, trang bị kiến thức mới qua bài giảng, tìm hiểu trước các vấn đề, làm các bài tập cấp thấp ở nhà, chuẩn bị câu hỏi thắc mắc. Điều này đòi hỏi sinh viên phải chủ động trong mọi khâu và sử dụng nhiều trí não hơn. Một số sinh viên có thể không thích hợp với việc học tập độc lập, sinh viên tiếp thu chậm, không có khả năng tự học sẽ gặp khó khăn khi phải tự học tại nhà. Điều này có thể dẫn đến việc các sinh viên này thiếu kiến thức nền tảng và khó khăn trong việc khám phá thêm kiến thức. Nhiều sinh viên chưa có thói quen tự học, tự khám phá kiến thức. Nếu không có sự giám sát, các sinh viên sẽ mải chơi, xao nhãng, dễ sa vào các kênh giải trí hấp dẫn khác, quên cả việc học. Sinh viên cũng có thể bị mất tập trung khi nghe tiếng chuông báo tin nhắn trên mạng xã hội.

Thậm chí, nhiều sinh viên còn ỷ lại vào thông tin có sẵn trên mạng, lười học, đạo văn. Không thật sự phù hợp với nhu cầu học để thi. Theo mô hình lớp học đảo ngược, nhiều thông tin được chia sẻ làm cho sinh viên cảm thấy bối rối khi lựa chọn thông tin ôn thi. Mô hình này cũng không nhằm tới mục đích cải thiện và nâng cao điểm số. Hơn nữa, việc sinh viên dành nhiều thời gian chuẩn bị cho các kỳ thi có thể làm gián đoạn quy trình của lớp học đảo ngược. Kho dữ liệu bài giảng chưa có nhiều video để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Mô hình dạy học này vẫn chưa được Bộ Giáo dục và đào tạo công nhận. Một mô hình sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ giảng dạy, bất lợi lớn nhất của nó dường như nằm ở chính công nghệ. Sự thiếu bình đẳng về công nghệ có thể là rào cản đối với việc học tập của những sinh viên thiếu điều kiện tiếp cận với công nghệ do điều kiện kinh tế và hoàn cảnh từng vùng miền khác nhau của sinh viên và sự thiếu hụt về cơ sở vật chất phục vụ cho mô hình học tập.

Chúng tôi thấy rằng các thành tố liên quan đến ràng buộc của mô hình lớp học đảo ngược đối với sinh viên bao gồm: sinh viên gặp khó khăn với kỹ năng sử dụng công nghệ, chưa có ý thức chủ động tự học trước, chưa có đủ điều kiện công nghệ để học (mạng Internet, máy tính, điện thoại, …) chưa quen với cách làm việc nhóm. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Đối với giảng viên: giảng viên cần có nhiều kỹ năng hơn so với lớp học truyền thống, phải biết định hướng, xây dựng nội dung bài giảng phù hợp với sinh viên. Trong quá trình giảng dạy trên lớp, giảng viên phải liên tục quan sát, đưa ra những phản hồi thích hợp vào thời điểm cần thiết, đánh giá bài làm, thảo luận của sinh viên. Đồng thời, kết hợp với các giảng viên khác để cùng cải tiến phương pháp, nâng cao kết quả dạy học, cần có nhiều thời gian chuẩn bị và nỗ lực hơn, phải biết cách tích hợp nhiều kiến thức, dành thời gian quay video, ghi âm, sửa và đăng tải các bài giảng. Trình độ tiếng Anh và công nghệ hạn chế làm cho nhiều giảng viên không thể tự tìm và tận dụng được kho bài giảng, tài liệu, tư liệu của các thư viện, trường học nước ngoài. Còn những hạn chế về công nghệ làm cho giảng viên khó khăn khi xây dựng video bài giảng và gửi cho sinh viên. Có thể gây ra những tác dụng ngược. Bên cạnh đó, mô hình dạy học này đòi hỏi giảng viên phải là những nhà sư phạm chuyên nghiệp. Vai trò của một nhà sư phạm chuyên nghiệp với các lớp học đảo ngược thậm chí còn khắt khe hơn trong các lớp học truyền thống. Muốn thực hiện các bài giảng E-learning để tổ chức hoạt động học tập trong lớp thì đòi hỏi giảng viên phải giỏi về công nghệ và vững về phương pháp.

Những khó khăn đối với giảng viên. Thông thường, các giảng viên có nhiệt huyết rất lớn trong việc chuyển cách học truyền thống sang phương pháp học đảo ngược, nhưng sinh viên chưa sẵn sàng cho sự thay đổi này. Khi giảng viên rất nhiệt tình trong việc áp dụng lớp học đảo ngược, sinh viên sẽ phản ứng tiêu cực và không phải tất cả các sinh viên đều muốn xem video bên ngoài lớp học. Tuy nhiên, thành phần quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về việc hiểu nội dung bằng một công cụ trực tuyến có thể thúc đẩy sinh viên trở nên tự tin hơn, đạt được sự hiểu biết sâu sắc về các khái niệm, thu được kiến thức quan trọng, học cách phân tích, đánh giá phê bình và học cách áp dụng các khái niệm khoa học để giải quyết vấn đề (Carver, Todd, Hahn, & Mukherjee, 2015).

Trong thời gian trên lớp giảng viên phải thường xuyên bao quát sinh viên của mình để hỗ trợ các sinh viên đúng thời điểm, đánh giá đúng năng lực của sinh viên. Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược có những khó khăn cần phải quan tâm giải quyết. Đó là việc tổ chức dạy học này đòi hỏi giảng viên mất nhiều công sức, dành nhiều thời gian để tương tác với sinh viên hơn (trước, trong, sau giờ học); giảng viên thiếu dụng cụ hỗ trợ nên phần tương tác, trao đổi trực tiếp còn hạn chế; đường truyền Internet cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của các giờ lên lớp (Đỗ Tùng & Hoàng Công Kiên, 2022). Hơn nữa, một ràng buộc của giảng viên là kinh nghiệm thiết kế cho lớp học đảo ngược, cũng như các bài giảng được ghi âm trước và cách cấu trúc của các buổi học trên lớp.

Chúng tôi thấy rằng các thành tố liên quan đến ràng buộc của mô hình lớp học đảo ngược đối với giảng viên bao gồm: giảng viên mất nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị bài giảng, học liệu so với dạy học truyền thống, cảm thấy không thoải mái vì phải dạy theo một cách khác với truyền thống, đòi hỏi giảng viên phải sử dụng được nhiều công cụ công nghệ hơn. Những thách thức có thể bao gồm thời gian cần thiết hơn để thiết kế lại khóa học như một lớp học đảo ngược, sinh viên khó sắp xếp thời gian để theo dõi nội dung học ngoài lớp (Lai & Hwang, 2018). các hành vi tự điều chỉnh thấp của sinh viên. Các kết quả cho thấy lớp học đảo ngược có cả những thuận lợi và thách thức. Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất về những thuận lợi và thách thức của phương pháp lớp học đảo ngược.

  • Bảng 2.3 Tổng quan những thách thức của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học

2.4. Học tập tự định hướng và mối liên hệ với lớp học đảo ngược (Self-directed learning) Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Học tập tự định hướng được hiểu như là bất kỳ sự gia tăng nào về kiến thức, kỹ năng, năng lực hoặc sự phát triển cá nhân mà người học có được thông qua nỗ lực riêng của họ, bằng cách sử dụng bất kỳ phương pháp nào tại bất kỳ thời điểm nào. Trong ngữ cảnh dạy học, học tập tự định hướng đề cập đến việc người học đảm nhận dần hầu hết các bước trong mô hình dạy học được định hướng bởi người dạy cho đến khi người học thiết kế và thực hiện được các hoạt động học riêng phù hợp với họ (Gibbons, 2002). Kỹ năng học tập tự định hướng ngày càng trở nên quan trọng trong thế kỷ 21 vì sự thay đổi nhanh chóng của các công cụ công nghệ. Sự thay đổi nhanh chóng này đòi hỏi một chuyển đổi trong các mô hình dạy học từ tập trung vào người dạy sang tập trung nhiều hơn vào người học (Toh & Kirschner, 2022).

Theo Garrison (1997), học tập tự định hướng là một tiếp cận mà người học được thúc đẩy để đảm nhận trách nhiệm cá nhân và kiểm soát hợp tác bằng cách tự giám sát và tự quản lý. Caffarella (1993) thì xem học tập tự định hướng như là một thái độ đối với việc học tự khởi xướng. Tác giả sử dụng ba nguyên tắc để minh họa quá trình học tập tự định hướng: một quá trình tự khởi xướng việc học, một cảm nhận về tính tự chủ của cá nhân, và tính kiểm soát người học lớn hơn. Mong đợi của chiến lược học tập tự định hướng là người học được giả sử có trách nhiệm chính đối với việc học riêng của họ, phụ thuộc vào nhu cầu đặc thù và mục tiêu cá nhân của từng người (Caffarella, 1993). Ở đây, tính tự chủ cá nhân kéo theo tính độc lập, tự do lựa chọn và phản ánh một cách hợp lý. Tính kiểm soát người học lớn hơn có nghĩa rằng người học là người xem xét nội dung, cách tiếp cận và giá trị của những trải nghiệm học tập (Candy, 1988; Loyens et al., 2008; Butt, 2016).

Mô hình học tập tự định hướng của Garrison (1997) bao gồm ba khía cạnh chồng chéo lên nhau, bao gồm: tự quản lý, tự giám sát, và tạo động lực. Tự quản lý đòi hỏi người học kiến tạo nghĩa thông qua phản ánh và phản biện. Tạo động lực là một yếu tố then chốt đối với sự khởi xướng và duy trì nỗ lực cá nhân đối với việc học. Người học tích cực là những người có thể khởi xướng, định hướng, và duy trì bền vững một nhiệm vụ học tập. Song và Hill (2007) nhấn mạnh một khía cạnh nữa của học tập tự định hướng, đó là ngữ cảnh học tập và tác động của nó đến các trải nghiệm học tập. Ngữ cảnh học tập có thể có một tác động đáng kể đến quá trình học, chẳng hạn như việc giám sát, lên kế hoạch, và đánh giá. Đặc biệt, với xu thế học tập trực tuyến và mô hình lớp học đảo ngược như hiện nay, vấn đề ngữ cảnh học tập càng trở nên có ý nghĩa đối với người học. Tự học trong học tập dựa trên vấn đề và mối quan hệ của nó với việc học tập tự điều chỉnh (Loyens, Magda, & Rikers, 2008). Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Mô hình lớp học đảo ngược có thể phát triển đa dạng năng lực, đặt biệt phát triển năng lực tự học cho sinh viên. Hơn nữa, tác động đến thành tích học tập, thái độ của sinh viên. Do đó, để đạt được thành công trong công việc học tập tự định hướng phải có yêu cầu cấu trúc, hướng dẫn rõ ràng (Thomas & Edward, 2017). Trong khi đó, việc cải thiện khả năng tự điều chỉnh của sinh viên như một phương tiện để cải thiện khả năng tiếp cận với chương trình học tập Toán học cùng với lập kế hoạch và sử dụng thời gian học tập phù hợp cũng như nhận thức về cách tiếp cận và thái độ đối với toán học. Sinh viên dễ dàng tiếp cận kiến thức và tạo thói quen học tập độc lập để sinh viên thực sự thành thạo khái niệm toán (Maciejewski, 2017; Lai & Hwang, 2018; El-Senousy & Alquada, 2019; Sofya & Marie, 2024). Hơn nữa, tác động của học trực tuyến trên lớp học đảo ngược đến học tập tự định hướng của sinh viên, sinh viên có nhiệm vụ việc học, tự lựa chọn thời gian rèn luyện khả năng tự học là động lực học tập, cần tăng cường khả năng học tập chủ động. Sinh viên sẽ tự ý thức về nhiệm vụ học tập theo góc độ của bản thân trong quá trình học tập, nó tác động tích cực đến niềm tin và hiệu quả học tập của bản thân Jensen, Kummer, & Godoy, 2017).

Hơn nữa, Lai & Hwang, (2018) nhấn mạnh đến sở thích và khả năng học tập tự chủ của sinh viên trong việc học hàng ngày là việc thúc đẩy sinh viên học tập trải nghiệm tự định hướng. Và Hwang, Lai, & Wang, (2017) sử dụng video học tập đảo ngược cung cấp sự hướng dẫn và định hướng giáo dục tốt cho việc học tự định hướng của sinh viên. Đây là bước khởi đầu để rèn luyện thói quen tích cực khám phá, tìm tòi mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau, nâng cao dần lên thì sinh viên sẽ chủ động, tự lực nghiên cứu, độc lập, tự giác trong học tập (Hwang & Lai, 2019). Ngoài ra, Seery, (2016) một lớp học đảo ngược: sinh viên được khuyến khích cải thiện kỹ năng tư duy phản biện và đánh giá việc học của chính họ vì giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn và cố vấn trong quá trình này. Và Tabieh & Hamzeh, (2022) nhấn mạnh về tác động của học tập lên kỹ năng tư duy sáng tạo trong toán học, cụ thể: lưu loát, linh hoạt và độc đáo, giúp sinh viên khắc phục những hạn chế trong lớp học truyền thống và có thể nâng cao năng lực tư duy sáng tạo toán học.

Chúng tôi thấy rằng học tập tự định hướng là một thành phần rất quan trọng, có quan hệ với lớp học đảo ngược vì mô hình lớp học đảo ngược đã giúp sinh viên có nhiều thời gian hơn cho việc luyện tập, vận dụng và hợp tác trên lớp. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên được tham gia nhiều hoạt động học tập đa dạng, giúp sinh viên chủ động, tích cực và rất hào hứng trong giờ học. Các hướng dẫn, trao đổi trực tuyến của giáo viên và bạn học đã giúp mỗi sinh viên chủ động, trách nhiệm hơn với các nhiệm vụ tự học ở nhà.

2.5. Tính gắn kết học tập của người học trong môi trường lớp học đảo ngược (Learning engagement) Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Tính gắn kết học tập của người học thường được xem như là một yếu tố thành tích học tập (Froiland & Oros, 2015). Theo mô hình của Reeve (2014), tính gắn kết học tập được đặc trưng bởi bốn khía cạnh khác biệt nhưng có tính tương hỗ cao, đó là gắn kết hành vi, gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức và gắn kết tác nhân.

Gắn kết hành vi là mức độ mà người học thể hiện và duy trì chú ý đến nhiệm vụ, nỗ lực mạnh mẽ hướng đến hoạt động học. Khả năng tiếp thu và tập trung vào nhiệm vụ của học sinh có thể được chuyển thành sự chú ý. Với sự nỗ lực, học sinh sẽ đóng góp toàn bộ khả năng của mình vào cách họ đang làm, thay vì dừng lại và trải nghiệm. Với sự kiên trì, người học sẽ đóng góp những nỗ lực của mình sau một khoảng thời gian (O’Donnell et al., 2013; Suwarna & Muniandy, 2021).

Gắn kết nhận thức đề cập đến cách mà người học cố gắng xử lý thông tin và học hỏi một cách có chiến lược bằng cách sử dụng các phương pháp học phức tạp hơn là học không sâu. Những học sinh không có sự gắn kết nhận thức có thể làm việc giống như những học sinh tích cực nhận thức, nhưng họ thường làm như vậy chỉ để trốn tránh thử thách (O’Donnell et al., 2013; Suwarna & Muniandy, 2021).

Gắn kết cảm xúc là mức độ mà người học thể hiện cảm xúc khi thực hiện nhiệm vụ. Chẳng hạn, những người học có sự gắn kết cảm xúc là những người thường thể hiện sự quan tâm và tò mò trong hoạt động học. Họ học và thực hành chăm chỉ và họ làm vậy vì đam mê, hứng thú và cảm thấy cần thiết phải làm. Những người học thiếu gắn kết có xu hướng thể hiện cảm xúc muốn rút khỏi nhiệm vụ hoặc khó chịu (O’Donnell et al., 2013; Suwarna & Muniandy, 2021).

Gắn kết tác nhân đề cập đến mức độ háo hức và lợi ích hữu ích của người học trong quá trình hoạt động dưới dạng đặt câu hỏi, truyền đạt sở thích và nhận biết được những gì người khác muốn và cần. Người học có tính gắn kết tác nhân thường nêu lên ý tưởng, đề xuất các hoạt động, chỉ ra mong muốn của mình và từ đó đóng góp vào các cuộc thảo luận trong lớp. Trong khi đó, những người học không có tính gắn kết thường sẽ tiếp thu bài học một cách thụ động (O’Donnell et al., 2013; Suwarna & Muniandy, 2021).

Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng mô hình lớp học đảo ngược có ảnh hưởng tích cực đến tính gắn kết học tập của người học. Chẳng hạn, nghiên cứu của Clark & Falls (2015) cho thấy rằng học sinh trung học phổ thông có mức độ gắn kết học tập cao sau một khoá học được dạy bằng phương pháp lớp học đảo ngược. Mclaughin et al., (2015) so sánh mức độ gắn kết học tập của sinh viên năm thứ nhất sau một khoá học được thực hiện theo mô hình lớp học đảo ngược. Ban đầu, sinh viên được giảng dạy theo phương pháp truyền thống và được đánh giá mức độ gắn kết học tập. Sau đó, các sinh viên này tham gia một khoá học theo mô hình lớp học đảo ngược. Cuối cùng, họ đánh giá mức độ gắn kết học tập của sinh viên vào cuối khoá học. Kết quả cho thấy rằng điểm trung bình về mức độ gắn kết học tập của những sinh viên này đã được nâng cao so với thời điểm trước khoá học. Một số nghiên cứu khác cũng góp phần khẳng định những ảnh hưởng tích cực của mô hình lớp học đảo ngược đến sự gắn kết học tập của người học (Mok, 2016; Seery, 2016; Suwarna & Muniandy, 2021). Chẳng hạn, Suwarna & Muniandy (2021) xem xét ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đến mức độ gắn kết học tập của sinh viên dự bị đại học ngành khoa học máy tính. Hai tác giả đánh giá mức độ gắn kết học tập của sinh viên qua bốn thành tố, bao gồm gắn kết hành vi, gắn kết nhận thức, gắn kết cảm xúc và gắn kết tác nhân. Nghiên cứu cho thấy điểm của bốn thành tố này của sinh viên lớp thực nghiệm (được học theo hình thức lớp học đảo ngược) đều cao hơn so với lớp đối chứng. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Nguyên nhân quan trọng của sinh viên đối với sự tham gia học tập tích cực là thiết kế hoạt động học tập phù hợp, cấu trúc có hướng dẫn rõ ràng. Sinh viên rất coi trọng việc đánh giá linh hoạt thông qua nhiều hình thức để có cái nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn (Thomas & Edward, 2017). Hơn nữa, nghiên cứu của chúng tôi muốn và yêu cầu mục tiêu rõ ràng, tư duy sáng tạo trong môi trường học tập. Giảng viên sẵn sàng truy cập công cụ công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ giảng dạy và thúc đẩy sinh viên tham gia tích cực thông qua các cuộc thảo luận hoặc giải quyết vấn đề hay các nhiệm vụ khác, cả hoạt động học trực tiếp và hoạt động học tập ngoài giờ Maciejewski, (2017).

Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đã chứng minh rằng: Tính tương tác, trách nhiệm giải trình và tính sáng tạo ảnh hưởng đến sự tham gia của sinh viên với các tài liệu trước lớp trong học tập đảo ngược (Arabacıoğlu, Yazıcı, & Özen-Ünal, 2022). Với việc thu hút thành công sinh viên vào các hoạt động trước giờ học thông qua việc sử dụng công nghệ và mẫu thiết kế lớp học đảo ngược, Anathan Bergmann và Aaron Sams cho rằng sự gắn kết học tập của sinh viên như “cổng vào” của học tập đảo ngược. Chẳng hạn, sự tương tác của sinh viên với các video trước giờ học trong quá trình phát triển khóa học từ truyền thống sang đảo ngược là một ví dụ cũng như thúc đẩy hoạt động học tập tích cực, cải thiện sự tương tác và gắn kết của sinh viên.

Các công cụ và kỹ thuật gắn kết học tập trong lớp học đảo ngược và sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động trực tuyến có thể nâng cao kết quả học tập. Nhưng sinh viên đòi hỏi giảng viên phải được trang bị đầy đủ kiến thức và thúc đẩy sự gắn kết học tập của sinh viên, giảng viên tải lên các ghi chú bài giảng, và thiết kế đúng các hoạt động học tập. Phương pháp tiếp cận lớp học đảo ngược là đáp án cho việc học tập trong tương lai và thúc đẩy sự gắn kết học tập trong quá trình học đảo ngược đảo ngược. Thiết kế hướng dẫn cho người học tích cực và phản xạ trong lớp học đảo ngược để phát triển sự gắn kết học tập của sinh viên. Có thể hỗ trợ sự gắn kết học tập của sinh viên và thúc đẩy tư duy có phản biện cao hơn vì sinh viên được yêu cầu áp dụng thông tin có sẵn vào nhiều tình huống khác nhau mà quá trình thiết kế lớp học đảo ngược có những thách thức và cơ hội, khi dạy toán vai trò trung tâm của giảng viên, sinh viên và bạn học có thể thay đổi lẫn nhau (Cronhjort, Filipsson, & Weurlander, 2019).

Hơn nữa, lớp học đảo ngược có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhiều người sử dụng nó để thúc đẩy thời gian giải quyết vấn đề của sinh viên. Cần lưu ý chất lượng của các tài liệu học tập thích hợp cho sinh viên để tăng cường tương tác và sự tham gia học tập của sinh viên (Saman & AZhan, 2016). Ngoài ra, các yếu tố của học tập kết hợp, tích hợp cả học trực tiếp trong lớp thông qua thảo luận nhóm và học từ xa bên ngoài lớp bằng cách xem các bài học video và cộng tác trực tuyến. Trong các hoạt động của mô hình lớp học đảo ngược, sinh viên tham gia tích cực thông qua các cuộc thảo luận hoặc giải quyết vấn đề hay các nhiệm vụ khác (Maciejewski, 2017). Sinh viên được giao các nhiệm vụ cụ thể (riêng) và chia sẻ nội dung học tập lẫn nhau có thể thúc đẩy sự gắn kết học tập, cải thiện hiệu suất học tập và tối đa hóa tiềm năng của họ (Cronhjort, Filipsson, & Weurlander, 2019), cũng như sự tham gia tích cực vào quá trình học tập và đánh giá học tập linh hoạt, sinh viên rất coi trọng việc đánh giá linh hoạt thông qua nhiều hình thức để có cái nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn (Thomas & Edward, 2017).

Về mức độ tham gia và hiệu suất kỹ năng của các sinh viên cho thấy, sinh viên thích tham gia hoạt động học tập. Cụ thể, về mức độ tương tác trong lớp học, những sinh viên tham gia thể hiện sự tương tác nhiều hơn về hành vi và cảm xúc, có thể nghiên cứu nội dung bài học ở nhà trước, từ đó chuẩn bị cho bản thân để tham gia vào các hoạt động có liên quan trong lớp, đặt câu hỏi và tham gia giải quyết vấn đề với bạn học. Giảng viên có thể di chuyển tự do trong lớp học, hỗ trợ trực tiếp cho những sinh viên tham gia trong từng trường hợp cụ thể (Elmaadaway, 2019). Các hạn chế nên được giải quyết cho nghiên cứu trong tương lai và giảng viên nên tập trung vào thiết kế dạy học và hiệu quả của việc học đảo ngược cho sinh viên. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

2.6. Kỹ năng làm việc nhóm và mối liên hệ với lớp học đảo ngược (Teamwork skills)

Sinh viên học tập trong môi trường lớp học đảo ngược có thể bắt đầu học tập lẫn nhau hiệu quả hơn và bắt tay vào thực hiện trách nhiệm về việc học của mình, đem lại kết quả học tập tốt hơn vì sinh viên tham gia nhiều hơn vào nội dung học tập (Sams & Bergmann, 2014; Mohamed & Ebrahim, 2016; Huang & Lin, 2019) cũng hỗ trợ hiệu quả hơn trong việc học tập lẫn nhau (Halili & Zainuddin, 2017). Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện cho sinh viên tham gia hợp tác trong các nhóm và thảo luận như là một thành phần cấu trúc quan trọng cho hoạt động học tập có ý nghĩa (Fredriksen, 2023). Việc thảo luận hoặc làm việc theo cặp, nhóm là một khía cạnh quan trọng có liên quan đến sự tương tác của sinh viên (Naccorato & Karakok, 2017). Hơn nữa, theo Taner , Ersen , & Deniz (2022), trải nghiệm học đảo ngược của sinh viên trong sự đóng góp tích cực của sinh viên do lớp học đảo ngược tạo ra. Sinh viên cũng nhận thấy rằng quy trình làm việc nhóm trong lớp trở nên thú vị và học tập đồng đẳng đã được thực hiện và cảm giác thân thuộc đã đóng góp tích cực vào thành tích học tập trong quá trình làm việc theo nhóm.

Theo McLaughlinet et al. (2015) nhấn mạnh trong việc cung cấp các hoạt động học tập trong lớp học trực tiếp, kiểm tra cá nhân câu trả lời của sinh viên và sự hiểu biết của họ thông qua các câu hỏi cũng như các hoạt động cặp đôi và sự chia sẻ. Ngoài ra, đánh giá tình huống, chẳng hạn như thuyết trình của cá nhân, thảo luận nhóm và câu đố nên được áp dụng trong các lớp học trực tiếp. Điều này là quan trọng đối với giảng viên để cung cấp phản hồi cho cá nhân sinh viên và nhóm trong lớp học trực tiếp. Theo Yi & Lim, (2022) các nhóm giải quyết các vấn đề trong lớp bằng cách sử dụng video học đảo ngược là các chiến lược học tập tích cực.

2.7. Kỹ năng sử dụng công nghệ và mối liên hệ với lớp học đảo ngược (Technology skills)

Việc thiết kế lớp học đảo ngược trong dạy học giờ học và ngoài giờ sao cho phù hợp là quan trọng nhất. Do đó, áp dụng công nghệ số trong giáo dục có ảnh hưởng đáng kể đến việc tạo ra ý định, thái độ tích cực học tâp của sinh viên hay nói cách khác nó thay đổi từ mô hình lớp học truyền thống đến mô hình lớp học kết hợp. Trong khi đó, việc áp dụng đa dạng phương tiện trên máy tính, điện thoại thông minh, laptop và trình phát đa phương tiện cá nhân, khả năng truy cập nâng cao của các công cụ dựa trên Web cho mục đích cộng tác, giao tiếp (Saman & AZhan, 2016; Kirange & Sawai, 2023), có thể trợ giúp tạo video bài giảng, trình bày nội dung học tập, sinh viên có thể xem video nhiều lần theo yêu cầu hoặc muốn tạm dừng hoặc tua lại một bài giảng trực tiếp để củng cố các khái niệm (Love et al., 2016; Hwang, Lai, & Wang, 2017; Delozier & Rhodes, 2018; Hwang & Lai, 2019), bao gồm khả năng tiếp cận công nghệ, tính tích cực, tự chủ, đánh giá kết quả, … (Tiêu Thị Mỹ Hồng, 2023).

Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược sẽ đạt được thành công hay không tùy theo các yếu tố như công nghệ thông tin, dụng cụ giảng dạy và nền tảng học tập của sinh viên nhưng phải được giảng viên sử dụng theo cách có mục tiêu phù hợp để thúc đẩy việc học tập. Giảng viên cần phải cẩn trọng đến việc thiết kế lớp học sao cho phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất (Halili & Zainuddin, 2017; David et al., 2021). Thậm chí, Huang & Hong, (2018) chấp nhận việc sử dụng công nghệ dựa trên học trực tuyến trong lớp học đảo ngược và cho thấy sự đón nhận tích cực từ các sinh viên với đề cập đáng chú ý về cải thiện sự tự tin và sự phát triển của các phương pháp tiếp cận học tập tích cực. Hơn nữa, Yi & Lim, (2022) đã gợi ý việc sử dụng video học tập đảo ngược, một video bài giảng nên được sản xuất với nội dung học tập từ 10 đến 15 phút là phù hợp nhất, đối với việc học tự định hướng, học hợp tác. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Ozdamli & Asiksoy (2018) đã nói đến vấn đề công nghệ để áp dụng mô hình lớp học đảo ngược, giảng viên không nhất thiết phải là nhà sản xuất video chuyên nghiệp, có thể sử dụng bất kỳ nguồn nào phù hợp với chủ đề (PDF, âm thanh được ghi lại, trang web). Các giảng viên trong lớp học đảo ngược không cần thiết chuẩn bị video cho chính họ, thay vào đó, họ có thể truy cập các video bài giảng từ các trang web như Khan Academy, YouTube hoặc Ted và chúng có thể được hiển thị để truy cập bằng cách sử dụng hệ thống quản lý học tập. Tabieh & Hamzeh (2022) cung cấp thông tin cho các tổ chức giáo dục thiết kế và sản xuất các hoạt động giáo dục ảo như video 3D, giúp họ khắc phục những hạn chế trong lớp học truyền thống và điều tra vai trò của những phương pháp này trong việc nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo toán học của sinh viên. Tuy nhiên Erol et al., (2024) tác động của mô hình lớp học đảo ngược có thể biểu diễn lập luận đối với thành tích và kỹ năng học tập của sinh viên với ứng dụng kỹ thuật số trong học ngoài lớp không tạo ra sự khác biệt đáng kể về mức độ học tập hoặc thành công trong học của sinh viên giữa phương pháp học truyền thống và phương pháp học đảo ngược. Giao tiếp hiệu quả với các thành viên trong nhóm để hỗ trợ việc học.

2.8. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.8.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là xem xét những thuận lợi và thách thức đối với giáo viên toán và giảng viên trong việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán ở các Trường Đại học Sư phạm Việt Nam: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, Trường Đại học Quy Nhơn, Trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Tây Nguyên. Các Trường đào tạo sư phạm tại Lào: Trường Cao đẳng Sư phạm Savannakhet, Trường Cao đẳng Sư phạm Salavanh, Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, Trương Cao đẳng Sư phạm Luangphrabang, Trường Cao đẳng Sư phạm Ban Gern, Trường Cao đẳng Sư phạm Khangkhai, Trường Cao đẳng Sư phạm Luangnamtha, Trường Cao đẳng Sư phạm Dongkhamxang và 4 trường Đại học: Trường Đại học Quốc gia, Trường Đại học Savannakhet, Trường Đại học Suphanouvong và Trường Đại học Champasac. Hơn nữa, chúng tôi sẽ nghiên cứu về việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học. Cụ thể hơn, nghiên cứu này hướng đến:

  • Mục tiêu 1: Khám phá những thuận lợi, thách thức về việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán ở Việt Nam, Lào.
  • Mục tiêu 2: Xem xét ảnh hưởng của mô hình lớp học đảo ngược đến khả năng kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng sử dụng công nghệ của giáo viên Toán.
  • Mục tiêu 3: Xem xét ảnh hưởng của mô hình lớp học đảo ngược đến khả năng học tập tự định hướng và sự gắn kết học tập của giáo viên Toán.
  • Mục tiêu 4: Đưa ra những khuyến nghị về việc lựa chọn mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán.

2.8.2. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Các phân tích trong chương 1 và chương 2 giúp chúng tôi định vị cách nhìn khoa học đối với vấn đề nghiên cứu đặt ra và cho phép cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu thành các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

  • Q1: Những thuận lợi và thách thức khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán tại Việt Nam, Lào là gì?
  • Q2: Khả năng học tập tự định hướng và sự gắn kết học tập của giáo sinh môn Toán tại Lào thay đổi như thế nào qua một thực nghiệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược?
  • Q3: Kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng sử dụng công nghệ của giáo viên Toán tại Lào thay đổi như thế nào qua một thực nghiệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ?

Kết luận chương 2

Trong chương 2, chúng tôi trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học và đào tạo giáo viên Toán. Hầu hết kết quả nghiên cứu cũng khẳng định tính hiệu quả của sử dụng mô hình lớp học đảo ngược. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán tương lai thì chưa rõ trong các nghiên cứu đã có, đặc biệt là những thuận lợi và thách thức gắn với bản chất toán học và việc dạy học toán. Trong chương này, chúng tôi cũng đã làm rõ các khái niệm lý thiết liên quan đến học tập tự đính hướng, sự gắn kết học tập, kỹ năng công nghệ, khả năng làm việc nhóm của người học. Việc phân tích các yếu tố lý thuyết này cho phép chúng tôi định vị cách tiếp cận vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu, từ đó chúng tôi vận dụng vào ngữ cảnh dạy và học chủ đề sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học. Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Nghiên cứu sử dụng mô hình lớp học đảo ngược

One thought on “Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

  1. Pingback: Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464