Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam khu vực miền Trung dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trại giam không chỉ là nơi thi hành các biện pháp trừng phạt người phạm tội mà còn mang một mục đích cao cả hơn là giáo dục cải tạo họ trở thành một công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Do vậy, công tác giáo dục pháp luật trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý và giáo dục phạm nhân của các trại giam.
Trong thời gian qua, tại các trại giam khu vực Miền Trung, công tác giáo dục pháp luật cho các phạm nhân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Giáo dục pháp luật giúp phạn nhân nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra và góp phần hình thành ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Tuy nhiên, công tác giáo dục pháp luật trong các trại giam cũng đã bộc lộ rất nhiều hạn chế và bất cập như số người tái phạm tội chiếm tỷ lệ cao, tồn tại tình trạng một số phạm nhân vi phạm nội qui, quy chế trại giam như: trốn trại, đánh nhau, mang vật cấm, chống đối lao động…
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam ở khu vực Miền Trung, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện về mọi mặt những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân để từ đó đưa ra một số biện pháp khác có hiệu quả. Đây là một đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và chính trị,thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Xuất phát từ lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam khu vực miền Trung” làm đề tài thực hiện luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn, tiêu biểu là:
- Sách chuyên khảo: “Bàn về giáo dục pháp luật” của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2005.
- Luận án tiến sĩ luật học: “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam” của Ngô Văn Trù, Học viện chính trị quóc gia Hồ Chí Minh 2015.
- Luận án tiến sỹ xã hội học: “Vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc Bộ Công an”, Trường Đại học Khoa học, xã hội & nhân văn Hà Nội, 2014.
- Bài viết “Nâng cao tri thức pháp luật: một nội dung quan trọng của giáo dục pháp luật trong phòng ngừa tội phạm” của tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc . – Tạp chí Khoa học Giáo dục Số 9, 2006.
- Bài viết “Đặc trưng của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam Việt Nam” của tác giả Ngô Văn Trù , Tạp chí Pháp luật và phát triển online, 2014.
Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể thấy các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài còn khá ít. Riêng đối với các trại giam tại Miền Trung với những đặc thù riêng về điều kiện địa lý,vật chất và tình hình phạm nhân… vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam ở khu vực Miền Trung, ghi nhận những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế bất cập, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những tồn tại. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho tại các trại tam giam khu vực Miền Trung. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, những nghiên cứu của luận văn càng nhằm góp phần bảo đảm quyền con người của phạm nhân, trang bị những kiến thúc cơ bản nhất của pháp luật, tạo điều kiện tốt cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng. Khi họ chấp hành xong án phạt tù, để họ trở thành những công dân lương thiện, mẫu mực trong xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về hoạt động giáo dục pháp luật cho các phạm nhân như vai trò, các nguyên tắc, đặc trưng, các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục pháp luật tại trại giam.
Thứ hai, đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật trong các trại giam tại Miền Trung.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích các nguyên nhân của những bất cập, tồn tại, dựa trên định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục pháp luật cho các trại giam Miền Trung nói trên và các trại giam trong cả nước nói chung.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: luận văn nghiên cứu công tác giáo dục pháp luật tại các trại giam ở khu vực Miền Trung.
- Về thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2012 – 2016 (05 năm).
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác giáo dục pháp luật cho các phạm nhân tại các trại giam. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
- Nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng trong luận văn để phân tích các quy định pháp luật tại Chương 1 và phân tích các tình huống thực tiễn tại Chương 2 để làm căn cứ đưa ra các kết luận.
- Phương pháp thống kê: được sử dụng trong luận văn để thống kê tình hình vi phạm pháp luật, các trường hợp tái phạm sau khi chấp hành xong hình phát tại trại giam.
- Phương pháp quy nạp: sử dụng các kết quả nghiên cứu đã công bố để đưa vào luận văn của mình.
- Phương pháp điều tra xã hội học: để thu thập các thông tin, nhằm đưa ra các luận cứ thuyết phục.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở kế thừa những công trình khoa học đã công bố, luận văn đi sâu nghiên cứu về công tác giáo dục pháp luật trong các trại giam khu vực Miền Trung nhằm hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo, góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận về giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng đặc biêt: các phạm nhân trong trại giam.
Về mặt thực tiễn: Với những kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ làm công tác quản lý và giáo dục phạm nhân trong trại giam nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật. Bên cạnh đó, luận văn có ý nghĩa xã hội rất lớn trong việc góp phần giáo dục cải tạo phạm nhân, ngăn ngừa tình trạng tái phạm tội, giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng và trở thành người công dân tốt sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam
- Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam khu vực miền Trung
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam khu vực miền Trung
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO PHẠM NHÂN TẠI CÁC TRẠI GIAM
1.1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò của công tác giáo dục pháp luật tại các trại giam
1.1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật tại các trại giam
Trong ngành học thuật khoa học giáo dục, khái niệm giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Giáo dục theo nghĩa rộng bao hàm tất cả những tác động xã hội đến cá nhân và trong mối quan hệ của cá nhân đó với các quan hệ xã hội nhằm làm hình thành, biến đổi và phát triển nhân cách của cá nhân. Quá trình giáo dục tổng thể được hiểu là một quá trình bao gồm nhiều quá trình giáo dục bộ phận tồn tại, vận động và phát triển trong sự thống nhất với nhau, đều hướng mục đích là làm cho người được giáo dục tự giác, chủ động, tích cực chiếm lĩnh các tri thức, giá trị, chuẩn mực xã hội; từ đó, hình thành và phát triển nhân cách phù hợp với mục đích giáo dục. Theo nghĩa hẹp, trong từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng do tác giả Hoàng Phê biên soạn năm 2005: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”.
Giáo dục pháp luật là một trong những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học pháp luật. Sự phân tích, làm rõ nội hàm khái niệm Giáo dục pháp luật có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định nội dung của nhiều khái niệm khác có liên quan mật thiết tới Giáo dục pháp luật; đồng thời, có tác dụng định hướng đối với hoạt động thực tiễn Giáo dục pháp luật nói chung, Giáo dục pháp luật cho từng đối tượng xã hội cụ thể nỏi riêng. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiện nay khái niệm Giáo dục pháp luật vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, nghĩa là còn có những quan điểm, cách hiểu khác nhau.
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, công tác Giáo dục pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Giáo dục pháp luật được coi là cầu nối quan trọng giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội, là phương thức đưa pháp luật vào thực tế cuộc sống, giúp cho các thành viên trong xã hội biết sống và làm việc theo pháp luật. Đó cũng là đòi hỏi tất yếu, khách quan của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với yêu cầu phải luôn đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn. Để đội ngũ Cán bộ công chức nhà nước các cấp, các ngành cũng như đông đảo các tầng lớp nhân dân có kiến thức, hiểu biết về pháp luật, biết sống và làm việc theo pháp luật thì công tác Giáo dục pháp luật phải được đặt ra một cách nghiêm túc, khoa học và phải được giải quyết đúng đắn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trên diễn đàn khoa học pháp lý hiện nay, khái niệm Giáo dục pháp luật thường được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ những góc độ rộng, hẹp khác nhau tùy thuộc vào xuất phát điểm nghiên cứu và mục tiêu, yêu cầu của việc vận dụng vào Giáo dục pháp luật cho đối tượng cụ thể.
Theo nghĩa rộng, Giáo dục pháp luật được coi là một bộ phận, một hệ thống con của hệ thống giáo dục nói chung, là một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con khác, như kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức… tạo nên một hệ thống các quan hệ xã hội tác động đến cá nhân, làm hình thành nên bản chất lịch sử – xã hội của con người. Quan niệm Giáo dục pháp luật này xuất phát từ nghĩa rộng nhất của thuật ngữ Giáo dục pháp luật, đồng nhất Giáo dục pháp luật với quá trình xã hội hóa cá nhân trong môi trường có sự tác động, điều chỉnh của pháp luật và các loại chuẩn mực xã hội khác. Nhân cách con người được hình thành và phát triển là do tác động, ảnh hưởng của tổ hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, lễ nghi… trong quá trình các cá nhân tham gia vào những quan hệ xã hội đó. Quan niệm Giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng này có hai ý nghĩa quan trọng: Một là, thấy được quá trình xã hội hóa cá nhân nói chung và Giáo dục pháp luật nói riêng chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố xã hội khác nhau. Chủ thể giáo dục có thể chủ động khai thác, phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những ảnh hưởng xấu của các yếu tố tiêu cực. Hai là, không đồng nhất, không coi Giáo dục pháp luật đã có hoặc được lồng ghép trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Theo nghĩa hẹp, Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch mà chủ thể Giáo dục pháp luật vạch ra nhằm chuyển tải, truyền đạt những nội dung pháp luật nhất định tới đối tượng giáo dục dựa trên những phương pháp giáo dục khoa học và bằng những hình thức giáo dục phù hợp; qua đó, hiện thực hóa những mục tiêu, nhiệm vụ Giáo dục pháp luật nhất định. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Cách diễn đạt có thể khác nhau, song đa số các định nghĩa về Giáo dục pháp luật đều tiếp cận theo nghĩa hẹp nói trên. Có nhiều định nghĩa về Giáo dục pháp luật đã được các nhà nghiên cứu đưa ra, đề cập ở những mức độ khác nhau nội hàm của khái niệm; tác giả luận văn đồng tình với định nghĩa sau đây:
Từ đó, có thể coi giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục pháp luật, tác động đến đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật.
Giáo dục pháp luật là lĩnh vực hoạt động diễn ra theo một quá trình, bao gồm các công đoạn: định hướng Giáo dục pháp luật, lập chương trình, kế hoạch giáo dục pháp luật, sử dụng các phương pháp và áp dụng các hình thức Giáo dục pháp luật nhất định; triển khai thực hiện chương trình Giáo dục pháp luật; kiểm tra, đánh giá kết quả Giáo dục pháp luật; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác Giáo dục pháp luật. Về cơ bản, quá trình Giáo dục pháp luật cho một đối tượng xã hội là thể thống nhất các thành tố: mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức Giáo dục pháp luật.
Dưới tác động của những nguyên nhân, điều kiện chủ quan và khách quan cũng như xuất phát từ mục đích, động cơ nhất định mà có những người dính líu vào hành vi phạm tội. Cái giá mà những người phạm tội phải trả cho hành động sai lầm của họ là phải nhận bản án nghiêm khắc do tòa án tuyên với hình phạt chính và có thể kèm theo hình phạt bổ sung tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng hành vi phạm tội cụ thể. Theo bản án đã có hiệu lực pháp luật, những người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân, nếu không có quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của cơ quan có thẩm quyền, thì sẽ phải đi chấp hành án tại các TG theo quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010, trong thời gian chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân trong các TG họ được gọi là phạm nhân. “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” [khoản 2, Điều 3 Luật Thi hành án hình sự]. Hình phạt tù là hình phạt tương đối nghiêm khắc, áp dụng đối với những người phạm tội có tính chất, mức độ cao hơn so với hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, nhưng thấp hơn so với hình phạt tử hình. Người chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chấp hành án phạt tù tại TG dưới sự quản lý, giáo dục của TG.
Về cơ bản, cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo PN trong các TG. Ngoài ra, theo quy định và quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, vẫn có một bộ phận PN được tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo tại các trại tạm giam; song, các hoạt động đó được thực hiện tại phân trại riêng với các nguyên tắc, quy định giống như đối với TG. TG là cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm trực tiếp tổ chức thi hành án phạt tù, là nơi người bị kết án phạt tù phải chấp hành hình phạt. TG cũng là cơ sở giam giữ những người đang chấp hành án phạt tù, được xây dựng, trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án phạt tù với lực lượng cán bộ chuyên trách có trang bị vũ khí, phương tiện chuyên dụng, các trang thiết bị khác phục vụ việc quản lý, giáo dục, cải tạo PN. TG là cơ quan chuyên trách có trách nhiệm quản lý, giáo dục, cải tạo PN theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục, cảm hóa PN, giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù, ngăn ngừa họ phạm tội mới, bảo đảm đạt được mục đích của hình phạt và bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của PN theo quy định pháp luật. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Trong quá trình chấp hành án phạt tù tại TG, PN bị tước và hạn chế một số quyền công dân, như bị tước quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; bị hạn chế quyền đi lại…; song họ vẫn còn những quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản, như lao động, học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tiếp cận thông tin chính trị thời sự, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.v.v. Trong quá trình quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo PN, TG có trách nhiệm tổ chức cho PN thực hiện các quyền, nghĩa vụ nói trên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và các văn bản Quy phạm pháp luật khác có liên quan; trong đó có việc tổ chức, thực hiện giáo dục công dân, Giáo dục pháp luật, học văn hóa, cung cấp thông tin chính trị, thời sự cho PN.
Giáo dục pháp luật cho PN là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mà TG phải thực hiện nhằm giúp cho PN nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra; biết được chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với PN và một số quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; nắm bắt được một số nội dung pháp luật thực định liên quan trực tiếp đến quá trình PN chấp hành án phạt tù (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá, Quy chế trại giam…). Từ đó, giúp PN ổn định tư tưởng, yên tâm lao động, học tập, phấn đấu tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo tốt và chuẩn bị cho mình hành trang tri thức, hiểu biết pháp luật để có thể tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù.
Như vậy, theo quan điểm cá nhân tác giả có thể định nghĩa: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch, chương trình nhất định; được các trại giam triển khai thực hiện thông qua các phương pháp đặc thù và bằng những hình thức phù hợp, hướng tới trang bị cho phạm nhân những thông tin, kiến thức pháp luật về các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung, các nội dung pháp luật cụ thể liên quan đến quá trình chấp hành án phạt tù trong trại giam nói riêng; làm hình thành ở phạm nhân tri thức, hiểu biết pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân; giúp họ có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù.
1.1.2. Đặc trưng của giáo dục pháp luật cho phạm nhân Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG, trước hết, là hoạt động Giáo dục pháp luật cho một đối tượng xã hội cụ thể, nên nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của Giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội cụ thể, như tính có mục đích và hướng tới đạt được những mục tiêu xác định; đặc điểm về chủ thể và đối tượng; đặc điểm về nội dung, phương pháp và hình thức Giáo dục pháp luật… Bên cạnh đó, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG còn có những nét đặc trưng riêng.
Thứ nhất, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là dạng hoạt động giáo dục được thực hiện thông qua sự tương tác giữa chủ thể Giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận Giáo dục pháp luật; là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch, tuân theo những nội dung Giáo dục pháp luật cụ thể được chủ thể Giáo dục pháp luật xây dựng dành riêng cho đối tượng PN đang chấp hành án phạt tù trong các TG, dựa trên các phương pháp và thông qua những hình thức Giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện của từng TG cũng như phù hợp với đặc điểm tình hình PN trong các TG.
Trong hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN tại các TG, sự tương tác giữa chủ thể Giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận Giáo dục pháp luật được thể hiện thông qua hoạt động dạy của chủ thể Giáo dục pháp luật (phổ biến, thuyết trình, đối thoại, truyền đạt những thông tin, kiến thức pháp luật cho đối tượng) và hoạt động học của đối tượng tiếp nhận Giáo dục pháp luật (nghe, nắm bắt, tiếp thu, lĩnh hội các thông tin, kiến thức pháp luật được truyền đạt từ chủ thể). Hoạt động dạy và hoạt động học, do đó, luôn luôn nằm trong mối liên hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau.
Tính có mục đích của hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam phản ánh những đòi hỏi tất yếu, khách quan của quá trình quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, thể hiện tính nhân đạo trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với PN, tạo các điều kiện tốt nhất có thể để đưa họ trở về với con đường lương thiện, trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù. Mục đích mà hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN hướng tới là khắc phục nguyên nhân thiếu hiểu biết pháp luật dẫn họ tới hành vi phạm tội trước đây; tạo cơ hội để họ tiếp thu những kiến thức pháp luật cần thiết, biết sống, làm việc theo pháp luật. Mục đích đó chỉ có thể đạt được khi mỗi PN thực sự cầu thị, chủ động, tự giác chiếm lĩnh những thông tin, kiến thức pháp luật mà chủ thể cung cấp cho họ, biến việc học tập pháp luật trong TG trở thành nhu cầu nội tại, mục đích tự thân của mỗi PN. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Tính có tổ chức, có kế hoạch của hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN thể hiện sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của chủ thể Giáo dục pháp luật trong việc xác định, lựa chọn những nội dung Giáo dục pháp luật thực sự cần thiết, phù hợp với nhu cầu của PN; từ đó, tìm ra được những nội dung, phương pháp, hình thức Giáo dục pháp luật phù hợp để có thể hiện thực hóa một cách tối ưu mục tiêu Giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng này.
Thứ hai, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là hoạt động giáo dục diễn ra trong một môi trường đặc biệt và dành cho những đối tượng đặc biệt: môi trường trại giam và đối tượng là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân. Vì lẽ đó, hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG có những đặc điểm, tính chất phức tạp, khó khăn hơn nhiều so với Giáo dục pháp luật cho các nhóm đối tượng xã hội khác. Môi trường TG là môi trường tổ chức thực hiện việc quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo PN, luôn nằm trong sự kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt, mang tính cưỡng chế rất cao, tạo ra một thứ “kỷ luật thép” đối với PN. Môi trường đó, một mặt, có thể tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN nhờ vào sự quản lý khá chặt chẽ, nghiêm túc; song, mặt khác, tính tự giác, chủ động, tích cực của PN trong quá trình tham gia học tập pháp luật lại thường “tỷ lệ nghịch” với mong muốn của chủ thể Giáo dục pháp luật do những nguyên nhân chủ quan từ phía PN, bởi họ thường tham gia các lớp học tập pháp luật với tâm thế miễn cưỡng, đối phó nhiều hơn là hào hứng, chủ động.
Thứ ba, điểm khác biệt cơ bản so với Giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác thể hiện ở chỗ, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là quá trình hoạt động diễn ra theo cơ chế/mô hình “vừa xây, vừa chống”. “Xây” ở đây có nghĩa là chủ thể Giáo dục pháp luật phải tìm cách khơi gợi, thức tỉnh, từ đó nuôi dưỡng, bồi đắp những phẩm chất tốt đẹp vốn có/vẫn còn trong con người mỗi PN; bằng hoặc thông qua tác động của Giáo dục pháp luật để giúp PN nhận thức được tội lỗi mà họ đã gây ra trước đây, biết ăn năn, hối hận, hình thành động cơ phấn đấu học tập, cải tạo tốt, tự giác lĩnh hội kiến thức pháp luật, biết thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp để sau này tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. “Chống” ở đây là thông qua công tác giáo dục cải tạo nói chung, Giáo dục pháp luật nói riêng để loại bỏ những yếu tố tâm lý tiêu cực, tư tưởng cực đoan, chống đối; hướng tới chỉnh sửa, uốn nắn những suy nghĩ lệch lạc đang còn thường trực trong tâm lý, nhận thức của mỗi PN; giúp họ ổn định về mặt tư tưởng, thông suốt về chính sách, pháp luật đối với PN, đưa họ trở lại với con đường lương thiện, không phạm phải tội mới trong quá trình chấp hành án phạt tù trại TG. Trong trường hợp cần thiết còn phải áp dụng biện pháp “giáo dục cá biệt” đối với từng PN bằng cách gặp gỡ riêng để vận động, tuyên truyền, giải thích cho họ hiểu rõ về các quy định của pháp luật. “Xây” và “chống” cũng là “mục tiêu kép” mà hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam cần đạt được.
Thứ tư, nhìn bề ngoài, có thể nhiều người cho rằng hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG có nhiều điều kiện thuận lợi, dễ thực hiện hơn so với Giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác vì hoạt động này diễn ra trong một môi trường đặc biệt là TG – nơi mà việc học tập pháp luật là bắt buộc đối với mỗi PN; quan hệ quản lý từ phía chủ thể Giáo dục pháp luật đối với PN là quan hệ mang tính chất mệnh lệnh – phục tùng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ Giáo dục pháp luật cho PN được Nhà nước đầu tư.v.v. Quan niệm đó đúng, nhưng mới chỉ phản ánh được một phần đặc điểm, tính chất của Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG và nếu chỉ nhìn nhận dưới góc độ chủ thể Giáo dục pháp luật thực hiện cho xong nhiệm vụ được giao, không cần tính đến chất lượng, hiệu quả của công tác này. Trên thực tế, để có thể bảo đảm chất lượng, hiệu quả thực sự thì Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG lại là hoạt động không kém phần khó khăn, phức tạp và chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố chủ quan (ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức, thực hiện của chủ thể Giáo dục pháp luật; trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận kiến thức pháp luật của các PN; các nhân tố tâm lý) và các yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế; môi trường giáo dục cải tạo, lao động, sinh hoạt trong TG; chính sách và thực hiện chính sách của Nhà nước đối với PN…). Điều đó giúp giải thích tại sao trong cùng điều kiện, hoàn cảnh như nhau, có thể hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN ở TG này thì diễn ra chủ động, tích cực, đạt hiệu quả cao; còn ở TG khác lại thụ động, cầm chừng và kém hiệu quả.
Thứ năm, kết quả, đồng thời là thước đo đánh giá hiệu quả của hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là những mục tiêu cụ thể mà hoạt động này cần đạt được. Đó là mục tiêu về nhận thức (PN tiếp thu, tích lũy được những thông tin, kiến thức pháp luật cơ bản phục vụ trực tiếp cho quá trình chấp hành án phạt tù cũng như sau khi trở về hòa nhập cộng đồng); mục tiêu về thái độ, tình cảm (làm hình thành ở PN sự ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội trước đây; có thái độ tôn trọng pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, tuân thủ nội quy, quy chế TG; có niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật…); mục tiêu về hành vi (giúp PN có khả năng vận dụng kiến thức pháp luật tiếp thu được qua việc học tập pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ của PN trong quá trình chấp hành án phạt tù; xây dựng, củng cố hành vi pháp luật tích cực, lối sống theo pháp luật sau khi chấp hành xong án phạt tù). Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
1.1.3. Vai trò giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại trại giam
Với tình hình, tính chất phạm nhân và người vi phạm pháp luật, một yêu cầu đặt ra là cần tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, người vi phạm pháp luật tại các cơ sở giam giữ, giáo dục, cải tạo; công tác này có ý nghĩa to lớn đối với xã hội và bản thân người phạm tội, bởi những lý do sau đây:
Một là, hoạt động giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, người vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước.
Hai là, cách ly người phạm tội để có điều kiện thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ về tội phạm phục vụ công tác điều tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm bởi phạm nhân, người vi phạm pháp luật là những người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hơn ai hết, họ là người biết rõ những thông tin về tội phạm. Mặt khác, có thể ngay chính bản thân những người này trước đây đã từng thực hiện hành vi phạm tội khác nhưng trong quá trình xác minh, điều tra, truy tố, xét xử, chúng ta chưa phát hiện được.
Ba là, giáo dục cải tạo để phạm nhân, người vi phạm pháp luật nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục, cải tạo ở các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng của chúng ta còn thiếu về biên chế, trình độ năng lực chuyên môn về công tác giáo dục, cải tạo, dạy nghề, kiến thức pháp luật, kiến thức tâm lý học và kỹ năng sư phạm của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn hạn chế.
Việc một người thực hiện hành vi phạm tội, bị kết tội, bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân và buộc phải chấp hành án phạt tù đó trong các TG ở Việt Nam luôn xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan nhất định. Trong số các nguyên nhân chủ quan dẫn đến hành vi phạm tội thì thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật luôn là nguyên nhân chủ yếu, có thể nói là đứng ở vị trí hàng đầu. Trong chính sách pháp luật đối với PN, Nhà nước ta luôn chú trọng công tác Giáo dục pháp luật cho PN, coi đó vừa là chế độ, chính sách, vừa là biện pháp tác động tích cực nhằm giáo dục, cải tạo, cảm hóa PN. “Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hoá, học nghề” [khoản 1, Điều 28 Luật Thi hành án hình sự]. Vai trò của công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam thể hiện trên các phương diện sau:
- Giáo dục pháp luật giúp cho phạm nhân trong trại giam nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Nhiều cá nhân, khi thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật, đã không biết rằng hành vi đó đồng thời là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; không hình dung được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, những thiệt hại mà hành vi đó gây ra cho xã hội, cho cá nhân và không lường trước được hậu quả pháp lý hình sự mà họ phải gánh chịu. Nguyên nhân của tình trạng đó là do họ thiếu một nền tảng trình độ học vấn, hiểu biết xã hội nhất định; đặc biệt là thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng. “Về nguyên tắc, người thực hiện hành vi phạm tội thì phải chịu hình phạt, hình phạt là hệ quả của việc họ đã thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội và theo quy định của pháp luật họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý hình sự bất lợi đó là hình phạt”.
Trong quá trình bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, bị kết tội, người phạm tội đã dần dần nắm bắt được tính chất, mức độ, hậu quả nguy hại mà hành vi của mình đã gây ra cho xã hội nói chung, cho người bị hại/nạn nhân nói riêng; bởi lẽ, bản thân quá trình hoạt động tố tụng, tranh tụng, xét xử cũng đã phần nào mang tính chất phổ biến, Giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử hình sự có vai trò giúp chuẩn bị tâm lý, tư tưởng, kiến thức pháp luật để bị cáo yên tâm học tập, cải tạo trong quá trình chấp hành án phạt tù tại trại giam. Tuy nhiên, mỗi hành vi phạm tội lại có những đặc điểm riêng về tính chất, mức độ nguy hiểm, về hậu quả gây ra cho xã hội và cá nhân; về phương thức, thủ đoạn phạm tội; về tính chất, mức độ lỗi của người phạm tội; về điều kiện, hoàn cảnh xảy ra hành vi phạm tội. Ngoài ra, những đặc điểm về nhân thân người phạm tội ở từng đối tượng PN cụ thể cũng khác nhau, như tiền án, tiền sự, giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, thể chất, bệnh tật… Tất cả những đặc điểm riêng đó khiến cho người phạm tội không thể ngay lập tức nhận thức đầy đủ về tội lỗi của mình. Sau khi được chuyển đến TG, một số PN vẫn tỏ thái độ ương ngạnh, lỳ lợm, bướng bỉnh, bất hợp tác hoặc chống đối vì cho rằng bị kết tội oan, mức án quá nặng, không “tâm phục, khẩu phục”; vẫn còn những PN che giấu đồng phạm hoặc không khai báo hành vi phạm tội khác mà họ đã thực hiện, thậm chí tiếp tục vi phạm quy chế TG, phạm tội mới khi đang chấp hành án phạt tù…
Tình hình nêu trên đòi hỏi hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở nước ta hiện nay cần phải được triển khai thực hiện một cách mạnh mẽ với một trong những yêu cầu quan trọng là giúp cho PN nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Ngoài Giáo dục pháp luật chung cho tất cả PN, hình thức Giáo dục pháp luật mang lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu nêu trên là hình thức Giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật cho từng PN. Trên cơ sở phân hóa đối tượng PN, nắm vững hồ sơ bản án, nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của đối tượng, cán bộ Giáo dục pháp luật của TG tiến hành gặp gỡ riêng từng PN để giải thích cho họ các nguyên tắc, quy định pháp luật hình sự liên quan đến hành vi phạm tội mà họ đã gây ra; phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; khẳng định với PN rằng, bản án mà cơ quan tòa án đã tuyên với họ là đúng người, đúng tội, thấu tình đạt lý, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Cán bộ Giáo dục pháp luật cũng cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của PN, động viên họ ổn định tư tưởng, yên tâm học tập, cải tạo tốt để được hưởng chính sách khoan hồng, có thể chấp hành xong bản án trước thời hạn để trở về đoàn tụ với gia đình. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Thông qua hoạt động Giáo dục pháp luật chung cũng như Giáo dục pháp luật cá biệt, cán bộ Giáo dục pháp luật của TG giúp cho PN nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà họ đã gây ra; từ đó, PN yên tâm học tập, lao động, chấp hành tốt kỷ luật TG để có thể sớm rời TG, trở về đoàn tụ với gia đình và tái hòa nhập cộng đồng. Như vậy, hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN, ở mức độ khác nhau, giúp PN nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà họ đã gây ra.
- Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam có vai trò cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù.
Trên thực tế, không ai muốn mình trở thành người phạm tội, bị kết án và phải chấp hành án phạt tù trong các TG; song, dù lỗi cố ý hay vô ý, một khi đã “sa chân lỡ bước” vào TG theo bản án đã có hiệu lực pháp luật thì tất cả các PN đều buộc phải thích nghi với cuộc sống trong môi trường TG. Trong quá trình chấp hành án phạt tù tại các TG ở Việt Nam, PN rất cần biết: mình được phép và không được phép làm gì, làm như thế nào; phải tuân thủ những quy tắc, yêu cầu nào; có các quyền và nghĩa vụ gì; được hưởng những chế độ, chính sách nào dành cho PN theo quy định của pháp luật; nếu chấp hành, thực hiện tốt các quy định về học tập, lao động, cải tạo thì sẽ được hưởng chính sách khoan hồng và nếu vi phạm quy chế TG sẽ bị kỷ luật ra sao… Cùng với giáo dục đạo đức, học văn hóa, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG sẽ đáp ứng tất cả những nhu cầu thông tin đó.
Hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG chính là phương thức truyền đạt, chuyển giao những thông tin pháp luật, nội dung các nguyên tắc, quy định pháp luật nói chung, pháp luật về thi hành án hình sự nói riêng đến với PN, giúp họ tiếp thu, nắm bắt các quy định pháp luật một cách nhanh chóng, kịp thời thay cho việc tự tìm hiểu, học tập thường tốn nhiều thời gian, công sức và PN cũng không có đủ những điều kiện cần thiết để thực hiện. Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam là phương thức hỗ trợ chủ động, tích cực từ phía Nhà nước, Bộ Công an là con đường nhanh chóng và hiệu quả nhất để cung cấp, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho PN trong quá trình chấp hành án phạt tù.
Thông qua Giáo dục pháp luật, cán bộ Giáo dục pháp luật của TG, các chuyên gia pháp luật bên ngoài được mời đến TG sẽ lên lớp để truyền đạt cho PN các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với PN đang chấp hành án phạt tù, ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của những đường lối, chính sách đó; giảng giải các nguyên tắc, quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự; pháp luật về đặc xá; pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội; nội quy, quy chế TG; quyền và nghĩa vụ của PN… Đây đều là những nội dung pháp luật có liên quan trực tiếp đến PN và rất cần thiết đối với họ trong quá trình chấp hành án phạt tù tại TG. Việc tiếp thu, lĩnh hội, nắm vững những thông tin, kiến thức pháp luật được cung cấp là cơ sở, nền tảng định hướng cho PN ổn định về tư tưởng, vững tâm về niềm tin, xác định được đúng đắn phương hướng, mục tiêu phấn đấu trong lao động, học tập, chấp hành nội quy, quy chế TG. Như vậy, hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG có vai trò trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho PN trong quá trình chấp hành án phạt tù.
- Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam góp phần định hướng, hình thành thái độ tích cực, xây dựng, củng cố niềm tin đối với pháp luật cho phạm nhân Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Trong môi trường TG, các Quy phạm pháp luật liên quan đến cuộc sống, học tập, lao động, sinh hoạt của PN chỉ có thể được các PN chấp hành, thực hiện nghiêm túc và phát huy hiệu quả khi họ thực sự tin tưởng vào tính đúng đắn, công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Khi và chỉ khi nào từng PN nhận thức đúng, đầy đủ các Quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chấp hành án phạt tù, thấy được triển vọng ra khỏi TG trước thời hạn nếu chấp hành tốt các Quy phạm pháp luật đó thì họ mới có thể tự nguyện, tự giác, chủ động, tích cực tuân thủ, chấp hành pháp luật mà không cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế. Từ việc cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho PN trong quá trình chấp hành án phạt tù, hoạt động Giáo dục pháp luật góp phần làm hình thành ở PN thái độ tích cực trước các yêu cầu pháp luật, xây dựng, củng cố niềm tin của PN đối với pháp luật.
Thái độ tích cực trước các yêu cầu pháp luật, niềm tin đối với pháp luật là nhân tố định hướng cho hành vi pháp luật của mỗi PN; niềm tin đối với pháp luật trong mỗi PN càng vững chắc bao nhiêu thì càng là cơ sở chắc chắn để họ thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp bấy nhiêu. Khi PN trong các TG có niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật thì họ sẽ tự biết ăn năn, hối cải, tự nhận thức được tội lỗi của mình, biết tự vấn lương tâm, hối hận vì đã thực hiện hành vi phạm tội; biết tự uốn nắn, chỉnh sửa những suy nghĩ, tư tưởng lệch lạc; tự xác định được động cơ, mục tiêu phấn đấu trong thời gian chấp hành án mà không cần tới bất kỳ sự tác động cưỡng bức hay tác động tâm lý từ phía Cán bộ giáo dục pháp luật hay cán bộ quản giáo của TG. Có niềm tin vững chắc vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, mỗi PN sẽ biết cách thực hiện hành vi pháp luật phù hợp với các yêu cầu pháp luật một cách tự nguyện, tự giác. Niềm tin đối với pháp luật được hình thành qua Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG cũng sẽ trở thành hành trang theo họ trở về cuộc sống đời thường sau khi chấp hành xong án phạt tù.
Tăng cường hoạt động Giáo dục pháp luật để hình thành thái độ tích cực, xây dựng, củng cố niềm tin đối với pháp luật cho PN tại các TG càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, khi mà một số thế lực thù địch vẫn núp bóng, lợi dụng các chiêu bài chính trị, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đối với PN. Việc PN trong các TG ở nước ta hiện nay được tạo những điều kiện thuận lợi để yên tâm lao động, cải tạo, được Giáo dục pháp luật, có niềm tin đối với pháp luật, được chuẩn bị hành trang tri thức để trở về tái hòa nhập cộng đồng sẽ là câu trả lời đanh thép, đạp tan những luận điệu, chiêu trò của các thế lực phản động, thù địch.
- Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam góp phần củng cố, nâng cao ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, tự giác và chủ động thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho phạm nhân.
Ý thức của mỗi PN trong việc tự giác chấp hành pháp luật, tuân thủ nội quy TG chỉ có thể được củng cố và nâng cao thông qua hoạt động Giáo dục pháp luật. Từ chỗ được cung cấp, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết, có thái độ phản ứng tích cực trước các yêu cầu pháp luật và có niềm tin đối với pháp luật, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của mỗi PN sẽ từng bước được nâng cao. Trên cơ sở ý thức pháp luật cá nhân được hình thành, củng cố qua quá trình tham dự Giáo dục pháp luật, mỗi PN sẽ biết vận dụng các quy định pháp luật tiếp thu được để đối chiếu, đánh giá hành vi của bản thân và của những PN khác; từ đó, biết cách tự giác, chủ động lựa chọn thực hiện những hành vi phù hợp với quy định pháp luật, biết khước từ cũng như khuyên nhủ PN khác không vi phạm pháp luật; biết đồng tình, ủng hộ cái đúng, những hành vi, việc làm hợp pháp và biết phê phán cái sai, lên án những hành vi bất hợp pháp. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Để có thể củng cố, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tự giác và chủ động thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho PN trong quá trình chấp hành án phạt tù thì trong công tác giáo dục pháp luật, chủ thể Giáo dục pháp luật cần chú trọng lồng ghép việc giáo dục tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm và tình cảm không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật. Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho PN biết nhìn nhận, đánh giá một hành vi nào đó xảy ra là đúng hay sai để từ đó, bày tỏ thái độ bất bình, phê phán, lên án cái sai; bênh vực, ủng hộ và đấu tranh bảo vệ cái đúng dựa trên cơ sở những kiến thức, hiểu biết pháp luật có được. Giáo dục tình cảm trách nhiệm là làm cho PN ý thức được bổn phận, nghĩa vụ pháp lý của mình để thực hiện hành vi pháp luật phù hợp, biết rõ trách nhiệm pháp lý của mình và sống có trách nhiệm trong quan hệ với các phạm nhân khác. Giáo dục tình cảm không khoan nhượng đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm, về thực chất, là giáo dục cho PN có ý thức, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, không khoan nhượng trước hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội của các PN khác trong quá trình chấp hành án phạt tù; từ đó, hình thành ở họ thái độ phê phán, lên án hành vi phạm pháp, phạm tội, không a dua theo cái sai, ngăn ngừa PN tiếp tục phạm pháp, phạm tội trong quá trình chấp hành án phạt tù. Tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm pháp lý, tình cảm không khoan nhượng trước các hành vi phạm tội là những nhân tố thuộc về niềm tin đối với pháp luật, là động lực nội tâm thúc đẩy PN thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp.
- Giáo dục pháp luật góp phần chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù, trở thành công dân có ích cho xã hội, không phạm tội mới.
Trong quá trình lao động, học tập, cải tạo tại TG, thông qua hoạt động Giáo dục pháp luật, chủ thể giáo dục đã cung cấp cho PN không chỉ những thông tin, kiến thức pháp luật liên quan đến quá trình chấp hành án phạt tù, quyền và nghĩa vụ của PN, quy chế TG…, mà còn trang bị cho PN các thông tin, kiến thức pháp luật chung, như một số nội dung của Hiến pháp năm 2013 về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội.v.v. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, hai tháng trước khi PN hết hạn chấp hành án phạt tù, TG có trách nhiệm tổ chức Giáo dục pháp luật cho PN (GDPL đầu ra) nhằm phổ biến những thông tin thời sự, chính sách, pháp luật, thông tin về tình hình kinh tế – xã hội của đất nước, về thị trường lao động, trang bị những kiến thức cần thiết khác và hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho PN.
Nội dung Giáo dục pháp luật cho những phạm nhân sắp hết hạn chấp hành án phạt tù bao gồm một số nội dung cơ bản của pháp luật hành chính về giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Luật Giao thông đường bộ; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Lao động; Luật Cư trú. Luật Hôn nhân và gia đình… Đó đều là những thông tin, kiến thức pháp luật hết sức hữu ích, cần thiết cho PN, giúp họ chuẩn bị sẵn sàng về tâm lý, xác định tâm thế để xóa bỏ mặc cảm tội lỗi, tự tin trở về với cuộc sống đời thường. Điều đó nói lên vai trò rất quan trọng của công tác Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các TG ở Việt Nam: góp phần chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật cần thiết để PN tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù, trở thành công dân có ích cho xã hội, không phạm tội mới.
1.2. Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục pháp luật trong các trại giam ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam được cấu thành từ các yếu tố: mục tiêu Giáo dục pháp luật; chủ thể và đối tượng của Giáo dục pháp luật; nội dung, phương pháp và hình thức Giáo dục pháp luật.
1.2.1. Các nguyên tắc giáo dục pháp luật
Sự khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội gắn liền với quá trình không ngừng nâng cao ý thức và tính tích cực tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ pháp luật. Tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa (mà một trong những yếu tố cấu thành là sự phát triển của nhận thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân), mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ sẽ không có ý nghĩa khi không thực hiện được một cách toàn diện, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân.
Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân.
Đặc trưng rõ nét của ý thức pháp luật – thể hiện thái độ của các thành viên trong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối với xã hội được ghi nhận, chấp nhận, khi mà nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người. Bởi thế có thể coi ý thức pháp luật như là tiền đề tư tưởng cho sự củng cố và phát triển nền pháp chế.
Trong thực tế, không phải lúc nào việc chấp hành pháp luật cũng trở thành ý thức tự nguyện. Bởi vậy trong điều kiện hiện nay, vai trò của giáo dục pháp luật là hình thành ý thức pháp luật, góp phần giúp mỗi người nhận ra tính công bằng của pháp luật, chấp hành pháp luật trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mà không phải do sự sợ hãi trước sự trừng phạt.
Tuân thủ pháp chế Xã hội chủ nghĩa còn phụ thuộc không nhỏ vào trình độ văn hoá pháp lý của nhân dân.
Trình độ văn hóa pháp lý không chỉ phản ánh sự hiểu biết các quy định của pháp luật một cách tổng thể, cần thiết cho mỗi con người, gắn liền với các nghĩa vụ của họ mà còn là sự hiểu biết một cách sâu sắc ý nghĩa của pháp luật trong cuộc sống xã hội, sự tôn trọng pháp luật và biết vận dụng pháp luật một cách đúng đắn.
Tóm lại, giáo dục pháp luật với những phương thức khác nhau, trong đó có phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của người dân. Đồng thời, sự phát triển của văn hóa pháp lý cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước. Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hoá pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức; phụ thuộc vào việc họ thức thi đúng pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật. Bởi vậy, thực hiện nhiệm vụ nâng cao văn hoá pháp lý đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độ văn hoá chung của nhân dân mà còn phải tăng cường năng lực thực thi pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan Nhà nước. Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do trình độ văn hoá pháp lý của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, công chức còn thấp. Rõ ràng, việc nâng cao văn hoá pháp lý có quan hệ gắn bó mật thiết với việc tiếp tục tăng cường pháp chế.
Do vậy, giáo dục pháp luật tại trại giam cần chú trọng những nội dung sau:
- Một là, đề cao tính Đảng trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Pháp luật và đường lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, đường lối chính sách của Đảng là “linh hồn” của pháp luật. Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng chính là việc phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng.
Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới Nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được khẳng định. Do đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao giờ cũng phải đề cao tính Đảng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể là phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật, có thể tuyên truyền về việc thực hiện và áp dụng pháp luật, phổ biến từ cái chung đến cái cụ thể đều phải đề cao đến tính Đảng. Sự lơ là, coi thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí, phiến diện. Bởi vì đường lối chính sách của Đảng bao giờ cũng phản ánh quy luật khách quan của quá trình vận động xã hội, nêu lên những yêu cầu, đòi hỏi và đường lối phát triển kinh tế, văn hoá xã hội. Pháp luật cụ thể hoá đường lối đó, nhưng không phải là cụ thể hoá tất cả, chi tiết hoá đầy đủ thành các quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mặt khác, các quan hệ xã hội luôn biến đổi vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phải lấy đường lối chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho các hoạt động đó.
Muốn đề cao tính Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì phải hiểu biết, quán triệt đầy đủ đường lối chính sách của Đảng đối với từng thời kỳ, từng vấn đề và đường lối chung xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội. Đường lối chính sách của Đảng cũng như pháp luật là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế, do đó nó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và có quá trình vận động như các hiện tượng khác. Chính vì thế, phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng phải luôn bắt nhịp được với những thay đổi trong đời sống chính trị – pháp luật của đất nước.
- Hai là, đảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không giống với việc tuyên truyền phổ biến về văn hoá văn nghệ. Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hoá văn nghệ, người ta có thể nhân cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của họ.
Phổ biến, giáo dục pháp luật khác với các loại hình phổ biến giáo dục khác ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó. Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thông tin cho người nghe về pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản pháp luật và những điều luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và các điều luật đó. Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong giải thích pháp luật là phải bảo đảm tính khoa học. Tính khoa học trong giải thích pháp luật.
1.2.2. Nội dung giáo dục pháp luật Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Sinh thời, V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Tuyên truyền là cần thiết và chúng ta không nên sợ phải lặp đi lặp lại… Và nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã quá chú ý nhiều đến việc tuyên truyền, thì cần nói rằng chúng ta còn phải làm việc đó nhiều hơn gấp trăm lần nữa”. Điều đó có nghĩa là, hoạt động tuyên truyền, Giáo dục pháp luật cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục, thực hiện càng nhiều nội dung, phong phú về hình thức, không chỉ bằng lời nói mà bằng hình ảnh minh họa, thực hiện càng nhiều càng tốt, khi nào hoạt động tuyên truyền đến với đối tượng được tuyên truyền biến thành hành động trong thực tế thì hoạt động tuyên truyền, PBGDPL mới thực sự có hiệu quả.
Những nội dung Giáo dục pháp luật cho PN nêu trên được thể hiện trong Bộ tài liệu “Giáo dục công dân” gồm 3 tập do Tổng cục VIII phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) biên soạn, mỗi tập đều có phần Giáo dục pháp luật với những nội dung cụ thể:
Nội dung Giáo dục pháp luật trong Tập I gồm: 1) Chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người phạm tội; 2) Một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù và Quy chế TG; 3) Tôn trọng Nội quy TG; 4) Quyền và nghĩa vụ của PN.
Nội dung Giáo dục pháp luật trong tập II gồm: 1) Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 2) Quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; 3) Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản của công dân, của Nhà nước và lợi ích công cộng; 4) Nghĩa vụ công dân trong việc bảo vệ môi trường; 5) Phòng chống tệ nạn xã hội; 6) Phòng chống HIV/AIDS và các bệnh tuyền nhiễm; 7) Một số nội dung cơ bản của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự; 8) Một số nội dung cơ bản của Luật Đặc xá. Ngoài 8 nội dung Giáo dục pháp luật bắt buộc cho PN nêu trên còn có phần tự chọn, linh hoạt: một số vấn đề cơ bản của Luật Giao thông đường thủy nội địa; pháp luật và chính sách của Nhà nước về tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc; quyền trẻ em; quyền phụ nữ.
Nội dung Giáo dục pháp luật ở tập III gồm: 1) Giữ gìn trật tự an toàn xã hội; 2) Giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ; 3) Một số nội dung cơ bản của Luật Cư trú; 4, Quyền và nghĩa vụ công dân trong hôn nhân, gia đình.
Như vậy, những nội dung Giáo dục pháp luật cho PN đã được biên soạn tương đối cụ thể, chi tiết và những nội dung này cũng đã được Cán bộ giáo dục pháp luật truyền đạt tương đối đầy đủ cho PN. Nếu các PN tích cực học tập thì sẽ đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin, kiến thức pháp luật của họ trong suốt quá trình chấp hành án phạt tù cũng như tái hòa nhập cộng đồng sau khi hết hạn tù. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Theo kết quả khảo sát 92,0% phạm nhân trả lời có được học chương trình giáo dục pháp luật trong quá trình chấp hành theo quy định của pháp luật, 71,0% phạm nhân trả lời được học tập về chính trị, học tập về văn hoá 87,9%. Như vậy trong thời gian chấp hành án thời gian chấp hành án phạt tù tỷ lệ khá cao các nội dung giáo dục pháp luật được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật.
Muốn đạt được mục tiêu Giáo dục pháp luật cho PN thì phải có nội dung Giáo dục pháp luật. Nội dung Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là toàn bộ những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về phòng, chống ma túy, tệ nạn xã hội… mà chủ thể Giáo dục pháp luật có trách nhiệm truyền đạt, chuyển tải cho các đối tượng PN, giúp họ có được những thông tin, kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật.
Trong Giáo dục pháp luật, nội dung Giáo dục pháp luật là hệ thống các văn bản Quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nội dung Giáo dục pháp luật có quan hệ và tác động trực tiếp tới nhiều đối tượng Giáo dục pháp luật khác nhau, nên nội dung Giáo dục pháp luật vừa phải có tính trực tiếp, cụ thể cho từng nhóm đối tượng, lại vừa phải có tính rộng rãi chung cho toàn xã hội.
Do đó, nội dung Giáo dục pháp luật phải mang tính cụ thể, trực tiếp về các văn bản pháp luật để đối tượng được giáo dục nắm bắt và thực hiện. Phạm vi nội dung Giáo dục pháp luật bao gồm hệ thống pháp luật thực định, các văn bản pháp luật; các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật và thực tiễn pháp luật, các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật; kết quả xử lí các vi phạm pháp luật; thông tin phản hồi của các tầng lớp nhân dân góp ý, đề xuất ý kiến về việc xây dựng, thực hiện và hoàn thiện pháp luật; v.v…
Bên cạnh những đặc điểm chung, nội dung Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG còn có đặc điểm riêng xuất phát từ mục tiêu Giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Căn cứ vào Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT, có thể chỉ ra nội dung Giáo dục pháp luật cụ thể cho PN trong TG ở nước ta hiện nay, bao gồm:
- Những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước liên quan đến PN và tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù; Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của PN được quy định trong Luật Thi hành án hình sự; Luật Đặc xá và các văn bản hướng dẫn thi hành khác;
Các quy định về tội phạm, hình phạt, về hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, về đặc xá, xóa án tích và những nội dung cơ bản, cần thiết khác được quy định trong các Nghị quyết của Quốc hội, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Cư trú, Luật Giao thông đường bộ, Luật Dạy nghề, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đặc xá, Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống HIV/AIDS…;
- Nội quy trại giam và các quy định về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, xếp loại chấp hành án phạt tù;
- Những quy tắc cơ bản về nếp sống trật tự, văn minh trong TG, trại tạm giam, nhà tạm giữ;
- Các chuẩn mực đạo đức xã hội trong các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với gia đình và cộng đồng;
- Các kỹ năng sống cơ bản, cần thiết đối với phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù và tái hòa nhập cộng đồng.
Những nội dung Giáo dục pháp luật nêu trên đều rất cần thiết cho PN, giúp họ có thông tin, kiến thức pháp luật làm nền tảng để tự xác định mục tiêu phấn đấu học tập, cải tạo tốt để có thể sớm trở về tái hòa nhập cộng đồng.
1.2.3. Hình thức giáo dục pháp luật
Hình thức tổ chức thành các lớp học tập trung tại hội trường; Hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho phạm; Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của trại/phân trại, ở buồng giam phạm nhân; Hình thức giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, pa – nô, áp – phích, tranh cổ động.
Hình thức Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là những mô hình tổ chức triển khai thực hiện, những cách làm cụ thể mà thông qua đó, chủ thể thực hiện hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN. Với cách tiếp cận này, có thể đưa ra định nghĩa hình thức Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam như sau: hình thức Giáo dục pháp luật cho PN trong các trại giam là tập hợp các mô hình tổ chức triển khai thực hiện, những cách làm cụ thể, đa dạng khác nhau; thông qua đó, chủ thể giáo dục pháp luật chuyển giao các nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân; hướng tới đạt được mục đích, mục tiêu giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Ở nước ta hiện nay, đối với công tác Giáo dục pháp luật nói chung, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định các hình thức phổ biến, Giáo dục pháp luật cho các đối tượng, gồm: 1) Họp báo, thông cáo báo chí; 2) Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; 3) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư; 4) Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; 5) Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; 6) Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở; 7) Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; 8) Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả [Điều 11 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật].
- Đối với PN trong các TG, hình thức Giáo dục pháp luật cho họ gồm:
Thực hiện thông qua chương trình học pháp luật, giáo dục công dân và lồng ghép trong chương trình học văn hoá, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng; phổ biến thông tin thời sự, chính sách; sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng và các hình thức phù hợp khác [khoản 2, Điều 21 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật].
- Còn theo Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP- BGDĐT, các trại giam:
Có thể tổ chức giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân bằng nhiều hình thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị, với khả năng của giáo viên và nhận thức của phạm nhân. Hình thức chủ yếu là tổ chức thành các lớp học có giáo viên lên lớp hướng dẫn bài giảng, quản giáo tổ chức thảo luận theo đội, tổ. Việc phổ biến tài liệu, hướng dẫn nội dung giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân có thể thực hiện thông qua các hệ thống phát thanh, truyền hình cáp nội bộ, băng, đĩa video, thi tìm hiểu pháp luật và các hình thức phù hợp khác [khoản 2, Điều 9].
- Từ các quy định pháp luật nêu trên, có thể chỉ ra những hình thức cơ bản, phù hợp với Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở nước ta hiện nay, bao gồm: Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Hình thức tổ chức thành các lớp học tập trung tại hội trường: Cán bộ chỉ huy, giáo viên được phân công trực tiếp lên lớp giảng bài cho PN theo từng chủ đề pháp luật trong chương trình, cán bộ quản giáo tổ chức và hướng dẫn PN thực hiện hoạt động thảo luận các nội dung bài học theo đội, tổ.
Hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho PN: Các TG cần xây dựng thư viện, tủ sách pháp luật, phòng đọc sách dành cho PN, trong đó trang bị các loại sách, báo pháp luật; các loại tài liệu pháp luật nói chung, liên quan đến Luật Thi hành án hình sự nói riêng; giáo trình, tập bài giảng theo nội dung các chương trình Giáo dục pháp luật dành cho PN… Trên cơ sở đó, từng TG tổ chức cho PN đọc sách tại phòng đọc hoặc cho phép PN mượn sách, tài liệu mang về buồng giam để đọc theo thể thức, nội quy hoạt động của thư viện.
Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của trại/phân trại, ở buồng giam PN: Hình thức này đòi hỏi thông tin pháp luật phải ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu đối với PN. Những thông tin được niêm yết chủ yếu là quy chế TG, nội quy buồng giam; chế độ, chính sách pháp luật mới đối với PN…
Hình thức Giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động: Các phương tiện thông tin đại chúng phù hợp với PN trong TG gồm báo in, báo nói, báo hình với những nội dung liên quan đến pháp luật; hệ thống loa truyền thanh được trang bị trong TG; các panô, áp- phích, tranh cổ động được đặt ở những vị trí hợp lý trong TG. Đặc tính cơ bản của các loại hình nêu trên là tính phổ cập thông tin pháp luật nhanh chóng, kịp thời và rộng rãi. Chủ thể cần xây dựng băng ghi âm, ghi hình phục vụ Giáo dục pháp luật một cách hiệu quả, truyền tải thông tin, kiến thức pháp luật đến với PN thông qua tiếng nói, hình ảnh. Trong Giáo dục pháp luật, các phương tiện truyền thông có vai trò rất quan trọng, là phương tiện hữu hiệu đưa pháp luật tới từng PN, giúp họ dễ dàng tiếp thu, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
Hình thức tổ chức cho PN làm báo tường, thi tìm hiểu pháp luật: Các hình thức này được tổ chức nhằm động viên, khuyến khích các PN trong cùng buồng giam thiết kế, xây dựng những tờ báo tường theo một nội dung, chủ đề pháp luật nhất định; tham gia tìm hiểu pháp luật thi hành án hình sự, tìm hiểu chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với PN; qua đó, giúp PN nâng cao nhận thức pháp luật, yên tâm học tập, cải tạo trong quá trình chấp hành án.
Hình thức Giáo dục pháp luật thông qua lồng ghép trong chương trình học văn hóa, học nghề, hoạt động văn hóa – văn nghệ, thể thao, sinh hoạt tổ, đội: Việc lồng ghép đòi hỏi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của chủ thể Giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục pháp luật cho PN. Chẳng hạn, có thể tổ chức sâu khấu hóa nội dung Giáo dục pháp luật thông qua việc dàn dựng các tiểu phẩm sân khấu, kịch nói; viết thư gửi lời xin lỗi người bị hại, thân nhân người bị hại…
Hình thức Giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật riêng cho từng PN: Đối với hình thức này, lãnh đạo, chỉ huy hoặc Cán bộ giáo dục pháp luật có uy tín, có kinh nghiệm, hiểu sâu tâm lý tội phạm, có kiến thức tội phạm học, xã hội học tội phạm… gặp gỡ riêng những PN cá biệt nhằm răn đe, uốn nắn nếu họ có nhận thức, hành vi lệch lạc; giải thích, động viên, khích lệ tinh thần nếu họ có thái độ tự ti, mặc cảm, thiếu hòa nhập trong sinh hoạt TG; trao đổi, tìm hiểu, chia sẻ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho PN hoặc gợi mở, giúp họ tìm ra biện pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề mà PN đang gặp phải. Bên cạnh đó, có thể dùng PN đặc biệt đã qua giáo dục có tiến bộ, có hiểu biết và có uy tín, sự lôi cuốn để giáo dục lại số PN cá biệt đang còn có thái độ, biểu hiện chống đối cũng rất hiệu quả trong giáo dục cá biệt; hoặc cũng có thể cho kèm cặp giúp đỡ, gặp gỡ thường xuyên và đi liền với kiểm tra, giám sát chặt chẽ, có khuyến khích, động viên và uốn nắn kịp thời.
1.2.4. Phương pháp giáo dục pháp luật Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Trong quá trình giáo dục pháp luật cho phạm nhân được thực hiện bằng các phương pháp sau:Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật;Phương pháp thông tin pháp luật;Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật; Phương pháp nêu gương điển hình; Phương pháp tạo dư luận xã hội trong phạm nhân để giáo dục pháp luật; Phương pháp giảng dạy pháp luật trên hội trường, trong lớp học.
Mỗi nội dung Giáo dục pháp luật đòi hỏi phải vận dụng phương pháp chủ đạo và có sự phối hợp với nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp Giáo dục pháp luật phù hợp là điều kiện quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả Giáo dục pháp luật cho các đối tượng. Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG cũng không nằm ngoài tính quy luật đó.
Phương pháp Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là tổ hợp cách thức tổ chức hoạt động dạy và học được chủ thể (thực hiện hoạt động dạy, truyền đạt) và đối tượng PN (thực hiện hoạt động học, tiếp thu) sử dụng nhằm chuyển hóa nội dung Giáo dục pháp luật thành kiến thức, hiểu biết pháp luật của PN; qua đó, hiện thực hóa mục tiêu Giáo dục pháp luật cho đối tượng này.
Các nội dung pháp luật không thể tự đến được với mỗi PN, mà phải thông qua phương pháp Giáo dục pháp luật để truyền đạt cho PN. Phương pháp Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là một thành tố rất quan trọng trong quá trình Giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Từ mục tiêu, nội dung Giáo dục pháp luật cho PN cần lựa chọn, sử dụng các nhóm phương pháp Giáo dục pháp luật tương ứng, phù hợp và hiệu quả.
- Để Giáo dục pháp luật nhằm hình thành, củng cố ý thức pháp luật cho PN, có thể sử dụng các phương pháp Giáo dục pháp luật sau:
Phương pháp thông tin pháp luật: Phương pháp này được sử dụng cùng với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện truyền thông, như báo chí, các chương trình truyền hình, hệ thống loa truyền thanh, phim, ảnh…, để chuyển tải các nội dung pháp luật tới PN. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật: Phương pháp này được sử dụng khi chủ thể cần phổ biến các quy định pháp luật mới liên quan đến các chế độ, chính sách đối với PN.
Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật: Chủ thể Giáo dục pháp luật tổ chức cho PN nghe nói chuyện về các chủ đề pháp luật hoặc trò chuyện, trao đổi về các sự kiện, tình huống pháp luật xảy ra trong thực tiễn xã hội hoặc trong môi trường TG; qua đó, giáo dục cho PN cách nhìn nhận, đánh giá một sự việc, sự kiện pháp lý, hình thành tình cảm pháp chế, niềm tin vào pháp luật.
Phương pháp tạo dư luận xã hội trong PN để Giáo dục pháp luật: Chủ thể Giáo dục pháp luật chủ động tạo ra các luồng dư luận xã hội trong toàn thể PN tại TG trên cơ sở các sự việc, sự kiện pháp luật có thật xảy ra ngoài xã hội hoặc trong TG; từ đó, tạo dựng cho mỗi PN ý thức phê phán, lên án hành vi phạm pháp, phạm tội; củng cố, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tuân thủ nội quy TG của PN.
Phương pháp giảng dạy pháp luật trên hội trường, trong lớp học: Chủ thể Giáo dục pháp luật tổ chức cho PN tập trung trên hội trường lớn hoặc biên chế PN theo các lớp học nhỏ và bố trí Cán bộ giáo dục pháp luật, giáo viên lên lớp giảng bài, truyền đạt nội dung pháp luật cho PN. Cán bộ giáo dục pháp luật khi lên lớp có thể sử dụng phối kết hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau một cách hài hòa, như thuyết trình, phát vấn, trực quan, thảo luận nhóm, luyện tập, thực hành… Ngoài ra, tùy theo điều kiện thực tế, chủ thể Giáo dục pháp luật có thể tổ chức các hoạt động Giáo dục pháp luật ngoài giờ lên lớp, như giao bài tập về nhà cho PN.
Để Giáo dục pháp luật làm hình thành kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử phù hợp với các quy định pháp luật, nội quy, quy chế TG… cho PN, chủ thể Giáo dục pháp luật có thể dùng các phương pháp Giáo dục pháp luật sau:
Phương pháp nêu các yêu cầu pháp luật: Chủ thể Giáo dục pháp luật nêu và nhấn mạnh các quy định, yêu cầu cụ thể về pháp luật, về nội quy, quy chế TG mà các PN phải chấp hành, tuân thủ trong quá trình chấp hành án phạt tù tại TG. Tính bắt buộc phải thực hiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự, nội quy, quy chế TG là nguyên tắc mà PN nhất thiết phải quán triệt và tuân thủ.
Phương pháp tạo tình huống pháp luật: Chủ thể Giáo dục pháp luật sưu tầm, lựa chọn và đưa ra các tình huống có thật hoặc tình huống giả định liên quan tới các quy định pháp luật về những hành vi, việc làm mà PN được phép thực hiện hoặc không được phép thực hiện trong quá trình chấp hành án phạt tù; những tình huống đó đòi hỏi PN phải có kiến thức, hiểu biết pháp luật nhất định thì mới giải quyết được. Bằng cách đó, chủ thể Giáo dục pháp luật đã chủ động gây ra ở các PN tâm trạng, tình cảm, phản ứng và hành vi xử sự cần thiết trước các quy định pháp luật. Việc giải quyết các tình huống pháp luật đó giúp PN củng cố ý thức chấp hành pháp luật, biết cách hành động, ứng xử sao cho phù hợp với các nguyên tắc, quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Phương pháp rèn luyện, thực hành pháp luật: Chủ thể Giáo dục pháp luật tổ chức cho PN rèn luyện, thực hành vận dụng những kiến thức pháp luật, nội quy, quy chế đã được học vào môi trường thực tế trong TG; qua đó, giúp PN biết cách lựa chọn và thực hiện những hành vi đúng đắn, phù hợp với quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
1.3. Các điều kiện bảo đảm cho công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân
Các yếu tố khách quan là những yếu tố tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể và đối tượng Giáo dục pháp luật nhưng có tác động, ảnh hưởng tới kết quả, hiệu quả Giáo dục pháp luật cho chính đối tượng. Các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng tích cực (góp phần làm gia tăng chất lượng, hiệu quả Giáo dục pháp luật) hoặc ảnh hưởng tiêu cực (dẫn tới suy giảm hiệu quả Giáo dục pháp luật cho đối tượng). Trong công tác Giáo dục pháp luật cho PN, các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả Giáo dục pháp luật bao gồm: điều kiện kinh tế; môi trường giáo dục cải tạo, lao động, học tập, sinh hoạt trong TG; chính sách và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước đối với PN.
Trong đó, kinh tế là điều kiện tiên quyết, có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với chất lượng, hiệu quả công tác Giáo dục pháp luật nói chung, Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG nói riêng. Về cơ bản, có thể nhìn nhận, đánh giá sự ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đối với Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG trên các phương diện sau:
1.3.1. Từ phía Nhà nước
Hiện nay, kinh phí phục vụ các mặt hoạt động của các TG, trong đó có Giáo dục pháp luật cho PN, chủ yếu lấy từ nguồn ngân sách nhà nước và được bảo đảm trong dự toán kinh phí hàng năm của Bộ Công an. Kinh tế phát triển, nguồn thu ngân sách nhà nước gia tăng nhanh, bền vững là động lực quan trọng thúc đẩy công tác Giáo dục pháp luật cho PN diễn ra với kết quả, hiệu quả cao hơn. Với tiềm lực kinh tế đủ mạnh, Nhà nước có điều kiện kinh tế để đầu tư kinh phí nhiều hơn cho hoạt động của các TG, trong đó có việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật phục vụ Giáo dục pháp luật cho PN. Chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng mà Nhà nước dành cho đội ngũ cán bộ TG trực tiếp làm công tác Giáo dục pháp luật cho PN có tác dụng động viên, khích lệ họ hăng hái, nhiệt tình hơn với nhiệm vụ được giao. Ngược lại, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nguồn kinh phí Nhà nước đầu tư cho hoạt động của TG hạn hẹp sẽ là trở ngại lớn đối với các mặt hoạt động của trại giam, trong đó có công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
1.3.2. Từ phía các trại giam
Mọi hoạt động của TG hầu như phụ thuộc vào nguồn kinh phí được phân bổ từ ngân sách nhà nước. Là cơ quan thi hành án phạt tù, TG có một trong những nhiệm vụ là tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân, bao gồm cả công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Điều kiện kinh tế nói chung, nguồn kinh phí được cấp nói riêng có ảnh hưởng rất quan trọng tới các mặt hoạt động nghiệp vụ của TG và công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Nguồn kinh phí được cung cấp đầy đủ, kịp thời là điều kiện để các TG đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất (phòng học, thư viện, tủ sách pháp luật, học liệu, thiết bị âm thanh…) phục vụ công tác Giáo dục pháp luật cho PN; chi trả thù lao thỏa đáng cho các cộng tác viên bên ngoài và những cán bộ giáo dục trực tiếp lên lớp giảng bài cho PN. Điều đó có ảnh hưởng tích cực tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này. Còn nếu điều kiện kinh tế không cho phép, nguồn chi ngân sách cho Giáo dục pháp luật eo hẹp thì TG không đủ khả năng đầu tư cho hoạt động Giáo dục pháp luật; do đó, hoạt động này khó mà đạt được kết quả như mong muốn.
1.3.3. Về phía đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác giáo dục pháp luật
Điều kiện kinh tế cũng có tác động quan trọng tới những cán bộ trực tiếp làm công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất được cải thiện và nâng cao, đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật có điều kiện tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, tự trang bị thêm thông tin, kiến thức pháp luật mới; đầu tư thời gian, công sức để soạn bài, xây dựng giáo án điện tử, chuẩn bị các bài tập trắc nghiệm, tình huống pháp lý thực tiễn trước khi lên lớp giảng bài cho PN, tạo ra những giờ giảng hấp dẫn, lý thú, thu hút PN. Đây là điều kiện tiên quyết để Cán bộ giáo dục pháp luật nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chỉ khi thu nhập của Cán bộ giáo dục pháp luật bảo đảm được nhu cầu vật chất của bản thân và gia đình thì họ mới yên tâm công tác, chấp hành kỷ cương, điều lệnh công an nhân dân, tận tâm, tận lực với công tác Giáo dục pháp luật cho PN.
Còn khi điều kiện kinh tế chưa được đảm bảo, đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn thì đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật khó có thể tập trung toàn tâm, toàn ý với công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Như vậy, để công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG thực sự đạt được hiệu quả, có chiều sâu thì vấn đề có tính chất nền tảng trước tiên phải giải quyết chính là nâng cao đời sống vật chất của đội ngũ cán bộ trại giam nói chung, cán bộ trực tiếp làm công tác Giáo dục pháp luật cho PN nói riêng.
1.3.4. Về phía phạm nhân trong các trại giam Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
Phạm nhân là những người tham dự và thụ hưởng thành quả công tác Giáo dục pháp luật dành cho họ cả trong quá trình chấp hành án phạt tù cũng như sau khi mãn hạn tù, trở về với đời sống cộng đồng. Điều kiện kinh tế, đời sống vật chất trong TG có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động học tập pháp luật của họ. Việc Nhà nước, lãnh đạo TG quan tâm đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất của TG ngày càng tiện nghi, đầy đủ hơn chính là nhằm bảo đảm cho cuộc sống, lao động, học tập, sinh hoạt của PN. Với điều kiện kinh tế gia đình khá giả, thân nhân có điều kiện định kỳ thăm gặp, hỗ trợ thêm kinh phí, khích lệ, động viên tinh thần PN sẽ giúp họ yên tâm tư tưởng, phấn đấu học tập, cải tạo tốt. Còn điều kiện kinh tế gia đình không cho phép, người thân ít có cơ hội thăm gặp PN thì dễ khiến họ rơi vào trạng thái tâm lý tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến tinh thần học tập pháp luật.
Kết luận chương 1
Giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo phạm nhân trở thành công dân lương thiện sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Nội dung giáo dục pháp luật được thể hiện trong Bộ tài liệu “Giáo dục công dân” gồm 3 tập do Tổng cục VIII phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) biên soạn.
Hình thức giáo dục pháp luật đa dạng và phong phú như: hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho phạm; Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của trại/phân trại, ở buồng giam phạm nhân; Hình thức giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, pa – nô, áp – phích, tranh cổ động.
Phương pháp Giáo dục pháp luật cũng đa dạng: Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật; Phương pháp thông tin pháp luật; Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật; Phương pháp nêu gương điển hình; Phương pháp tạo dư luận xã hội,…
Mỗi nội dung Giáo dục pháp luật đòi hỏi phải vận dụng phương pháp chủ đạo và có sự phối hợp với nhiều phương pháp khác nhau. Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
