Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Hoàn thiện chế định về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam
3.1.1 Định hướng hoàn thiện chế định trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, trên cơ sở các nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, trong bối cảnh mà quyền lợi của người tiêu dùng chưa được bảo vệ một cách có hiệu quả và còn có sự thiếu tôn trọng từ phía doanh nghiệp, cần tiếp tục áp dụng các chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt ở Việt Nam là cần thiết. Chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt sẽ góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về trách nhiệm đối với xã hội, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý và kiểm soát chất lượng, cung cấp các sản phẩm bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, giúp đào thải những doanh nghiệp có năng lực quản lý yếu kém hoặc thiếu trách nhiệm, từ đó giúp nâng cao hơn sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sức cạnh tranh chung của nền kinh tế khi tham gia vào sân chơi chung của quốc tế.
Thứ hai, về phạm vi áp dụng trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam cần quy định một số sản phẩm đặc thù trong các văn bản chuyên ngành như sau: Sản phẩm được cung cấp thương mại hiện nay có hai nhóm là hàng hóa và dịch vụ. Về lý thuyết, bất kỳ sản phẩm nào cũng có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng do những khuyết tật trong sản phẩm. Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia mới dừng ở việc áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm đối với hàng hóa. Lý do có thể là do tính vô hình của sản phẩm dịch vụ, vì vậy, việc xác định khuyết tật đối với dịch vụ cũng là vấn đề phức tạp ảnh hưởng lớn đến lợi ích của doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Ngoài ra, đối với sản phẩm hàng hóa, việc mở rộng phạm vi hàng hóa cũng cần cân nhắc đặc biệt là đối với các sản phẩm là điện, nông sản hay bất động sản.
Thứ ba, về khuyết tật của sản phẩm: Ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Khuyết tật sản phẩm có thể là (i) việc không đáp ứng được những tiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định được áp dụng đối với sản phẩm đó, tức là căn cứ vào quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa hiện hành thì sản phẩm đó không bảo đảm chất lượng theo quy định và việc không đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng đối với sản phẩm là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng; trong trường hợp không có tiêu chuẩn , quy chuẩn cụ thể áp dụng đối với sản phẩm hoặc sản phẩm đã đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng đối với sản phẩm đó nhưng vẫn gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì có thể áp dụng (ii) là sản phẩm có những đặc tính gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng mặc dù được người tiêu dùng sử dụng đúng với công dụng và hướng dẫn sử dụng của người cung cấp.
Thứ tư, để bảo đảm sự cân bằng quyền lợi của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa với NTD và việc xác định trách nhiệm có căn cứ, pháp luật Việt Nam cũng cần xác định các trường hợp miễn trừ có thể vận dụng từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới như: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Trường hợp người tiêu dùng có lỗi đối với thiệt hại xảy
- Trường hợp người tiêu dùng đã sử dụng sản phẩm quá hạn đối với sản phẩm có hạn sử dụng.
- Trường hợp doanh nghiệp không cung cấp sản phẩm ra thị trường như hàng hóa đang trong quá trình thử nghiệm và chưa được đưa ra khai thác thương mại nhưng được người không có thẩm quyền đưa ra thị trường.
- Trường hợp người phải chịu trách nhiệm chỉ ra được lỗi của chủ thể và lỗi đó là nguyên nhân gây ra toàn bộ hay một phần thiệt hại, trong trường hợp này, phần miễn trừ sẽ tương ứng với mức độ thiệt hại do lỗi của chủ thể kia gây
Thứ năm, về thời hiệu áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm: thời hiệu này đồng nghĩa với thời hiệu mà một người có thể kiện nhà cung cấp của mình căn cứ vào pháp luật trách nhiệm sản phẩm. Theo Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam, thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại là 2 năm kể từ thời điểm quyền lợi bị xâm phạm. Việc áp dụng quy định về thời hiệu này còn nhiều bất cập cần phải chỉnh sửa.
Tại Việt Nam, vấn đề trách nhiệm sản phẩm là một vấn đề mới mẻ, không chỉ với người tiêu dùng, nhà sản xuất, mà ngay cả với nhà làm luật. Mặc dù vấn đề trách nhiệm sản phẩm đã được đề cập và quy định tại một số điều khoản trong các bộ luật khác nhau, như Bộ luật Dân sự, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật cạnh tranh, luật chất lượng sản phẩm, hay một số các chỉ thị, thông tư… nhưng những quy định này cũng chỉ ở mức hình thức như nhắc nhở, phạt hành chính, mà chưa có tác dụng răn đe trong thực tế. Người tiêu dùng khi gặp phải vấn đề về trách nhiệm sản phẩm thường lúng túng, không biết phải khiếu nại ở đâu, hay khiến kiện theo quy định nào. Còn các doanh nghiệp sản xuất dường như cũng phớt lờ các quy định của nhà nước mà đưa ra thị trường những sản phẩm khuyết tật, nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Các cơ quan quản lý khi gặp phải những bức xúc của nhóm lớn người tiêu dùng lại lúng túng trong cách xử lý… Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Luật bảo vệ người tiêu dùng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời được kỳ vọng sẽ thay đổi hành vi, và thái độ của nhà sản xuất, buộc nhà sản xuất phải chú trọng hơn tới các vấn đề an toàn của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường, và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng giống như các đạo luật khác được ban hành tại Việt Nam, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vẫn cần có một văn bản dưới luật, quy định cách thực thi luật. Vậy là mặc dù luật đã đi vào hiệu lực, nhưng việc thực thi luật ra sao vẫn còn là một dấu hỏi. Không chỉ có vậy, ngay cả khi văn bản hướng dẫn thi hành luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thông qua, cũng giống như nhiều đạo luật khác, việc phổ biến luật tới người tiêu dùng, nhà sản xuất hay nhà phân phối cũng là một vấn đề đáng để lưu tâm.
Mặc dù là một bước tiến mới trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, nhưng luật bảo vệ người tiêu dùng chưa thể điều chỉnh được toàn bộ các vấn đề về trách nhiệm sản phẩm. Phạm vi điều chỉnh của các quy định trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, mà chưa đề cập tới trách nhiệm những cơ quan, tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ công khác, như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ y tế, hay đào tạo tại các cơ quan công lập của nhà nước…
Thực tế cho thấy không ít trường hợp người dân gặp nhiều phiền phức và không được tôn trọng khi sử dụng các dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp.
Tuy nhiên, chưa có một quy định pháp luật nào đề cập tới vấn đề bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân khi sử dụng các dịch vụ công kém chất lượng này.
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành cũng nhằm điều chỉnh trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ dưới giác độ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trên thực tế, với một số doanh nghiệp đang độc quyền cung cấp sản phẩm ra thị trường như điện lực, nước sạch, hay dầu khí… thì rất khó để có thể xử phạt hay kiện các doanh nghiệp này khi doanh nghiệp vi phạm trách nhiệm sản phẩm. Các doanh nghiệp độc quyền này có thế mạnh to lớn trong mối quan hệ nhà sản xuất – người tiêu dùng. Những doanh nghiệp độc quyền này luôn biết dựa vào vị thế của mình để gây sức ép tới người tiêu dùng, buộc người tiêu dùng phải chấp nhận sản phẩm, dịch vụ do họ cung cấp, mà không cần quan tâm tới việc liệu người tiêu dùng có hài lòng với chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay không.
Mặc dù nhà nước đã ban hành một số luật như luật bảo hiểm xã hội, hay luật bảo hiểm y tế, luật điện lực… nhưng những vẫn chưa thể đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, người tiêu dùng, cũng như chưa đủ nghiêm khắc để răn đe các tổ chức, cơ quan độc quyền, hay các tổ chức, cơ quan cung cấp dịch vụ công tới người dân.
Vì vậy, nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện các quy định về vấn đề trách nhiệm sản phẩm nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng, người dân nói chung, và đặc biệt là nâng cao ý thức của các tổ chức sản xuất, kinh doanh hay các tổ chức, cơ quan cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ra thị trường.
3.1.2 Hoàn thiện hệ thống quy định về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng hàng hóa, tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý chất lượng hàng hoá ở nước ta từ năm 1999 đến nay cho thấy hệ thống pháp luật về lĩnh vực này tuy đã được xây dựng nhưng chưa đầy đủ, phân công trách nhiệm quản lý một số đối tượng còn dàn trải và chưa phù hợp mục đích quản lý (an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường), một số lĩnh vực cụ thể còn chồng chéo trong hoạt động thực tiễn, chưa tiếp thu và áp dụng kịp thời khoa học quản lý tiên tiến vào hoạt động quản lý chất lượng… Chính vì vậy, khi có vi phạm về trách nhiệm sản phẩm xảy ra, việc quy kết trách nhiệm cho nhà sản xuất, hay xác định mức độ khuyết tật sản phẩm khó được tiến hành. Để có thể nâng cao việc quản lý trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cần hoàn thiện hơn nữa các quy định về tiêu chuẩn và chất lượng hàng hóa, thông qua các giải pháp như sau:
Đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật về hoạt động chất lượng, phương thức quản lý chất lượng để tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế; Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đồng thời xác định trách nhiệm và phân công hợp lý giữa các cấp, các ngành đối với hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá;
Kế thừa các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý chất lượng đã được thực tiễn kiểm nghiệm và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của các nước để vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam. Đặc biệt, do nước ta còn chưa phát triển về khoa học kỹ thuật nhiều, nên cần cập nhật các thông tin mới nhất về các tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới, để có thể đưa ra những quy định phù hợp với thực trạng đất nước, mà vẫn theo kịp tiến độ phát triển của các quốc gia khác trên thế giới. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Phân chia các sản phẩm thành hai nhóm: sản phẩm để xuất khẩu, và sản phẩm để tiêu thụ nội địa. Từ đó, có thể đưa ra các quy định cho phù hợp.Với nhóm hàng hóa xuất khẩu, cần tập trung nghiên cứu các quy định về trách nhiệm sản phẩm, hay các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm… của nước nhập khẩu, để từ đó có thể đánh giá, kiểm tra chất lượng các mặt hàng xuất khẩu trước khi sản phẩm được xuất đi. Bằng việc kiểm soát như vậy, chúng ta sẽ hạn chế được các sản phẩm bị lỗi, bị trả lại. Còn đối với nhóm hàng hóa tiêu thụ trong nước, cần đảm bảo hàng hóa trước khi đưa vào lưu thông phải đạt các tiêu chuẩn chất lượng ngành đã đề ra.
Việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá cũng cần được làm rõ trên tinh thần đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến tổ chức thực hiện. Nên áp dụng nguyên tắc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá theo lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Bởi nhiều sản phẩm, hàng hoá đặc thù có yêu cầu đặc biệt trong các quá trình nghiên cứu, sản xuất, vận chuyển, lưu giữ và sử dụng; hay có yêu cầu đặc biệt về phòng thử nghiệm và trang thiết bị thử nghiệm để xác định các chỉ tiêu chất lượng. Đối với sản phẩm hàng hóa đặc thù, cần áp dụng cơ chế quản lý chất lượng đặc biệt và chỉ do một hay một số Bộ, ngành nhất định có chức năng và điều kiện quản lý.
Để tham gia vào thị trường quốc tế phải thực hiện các chính sách thuế, các quy định về xuất xứ hàng hóa, phải thống nhất với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, về độ an toàn với hàng hóa xuất khẩu. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, chất lượng sản phẩm vừa là một thách thức vừa là một cơ hội. Là cơ hội vì người tiêu dùng ngày nay trên mọi quốc gia ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ sử dụng; hệ thống thông tin lại mang tính chất toàn cầu nên các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi trong việc học hỏi kinh nghiệm, rút ngắn quãng đường mà những người đi trước đã trải qua. Là thách thức vì các doanh nghiệp trong các quốc gia phát triển đã tiến rất xa trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt. Để lấp được khoảng cách này là một công việc khó khăn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi cách suy nghĩ và cung cách quản lý đã hình thành lâu đời. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Để bảo đảm an toàn tối đa cho người tiêu dùng, tránh những thiệt hại có thể là nguyên nhân của những vụ đòi bồi thường trách nhiệm sản phẩm thì bản than nhà sản xuất phải bảo đảm được rằng sản phẩm của mình không có khuyết tật hoặc khuyết tật đó không gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng. Thực tế diễn ra ở các quốc gia phát triển thường có yêu cầu rất cao về mức độ an toàn của sản phẩm đối với sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng. Theo chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt được quy định cụ thể tại nhiều quốc gia thì người sản xuất kinh doanh sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng ngay cả khi khuyết tật gây ra không phải lỗi của nhà sản xuất. Vì vậy, khi doanh nghiệp Việt Nam đưa sản phẩm của mình ra nước ngoài cần chú ý đến vấn đề chất lượng của sản phẩm ngay từ khâu sản xuất đến khâu phân phối. Nhà sản xuất cũng cần đưa ra những cảnh báo thích hợp cho người sử dụng sản phẩm nếu sản phẩm đó tồn tại những khuyết tật do sản xuất hoặc sản phẩm chứa những nguy hiểm tiềm ẩn do bản chất của sản phẩm đó.
Các quy định về trách nhiệm sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải bảo đảm độ an toàn của sản phẩm khi đưa vào lưu thông và phải cảnh báo cho người tiêu dùng những tác động xấu hoặc đưa sản phẩm vào thị trường. Vi phạm nghĩa vụ này, doanh nghiệp, người sản xuất không những phải bồi thường những tổn hại gây ra cho người sử dụng mà trách nhiệm của nhà sản xuất, xuất khẩu còn phải bồi thường những tổn hại gây ra cho người sử dụng được áp dụng ngay cả khi không có lỗi của người sản xuất hay nhà nhập khẩu. Doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu được sản phẩm sang và tiêu thụ hết ở thị trường các nước phát triển chưa phải là thành công. Thành công chỉ có được khi chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp đảm bảo được tính năng và sự an toàn, không gây tổn hại sức khỏe của người tiêu dùng. Ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với những vụ kiện bồi thường thiệt hại do hiệu lực pháp luạt về trách nhiệm của sản phẩm. Khi rơi vào một vụ kiện, doanh nghiệp phải chịu tổn thất lớn về thời gian, tiền bạc và cả uy tín kinh doanh.
Để các doanh nghiệp tránh được rủi ro về TNSP, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hướng đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng cao cũng như hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm được công nhận của các nước phát triển. Chính vì vậy, để quản lý chất lượng theo xu hướng này, người ta phải coi việc đảm bảo chất lượng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của mình. Nhiệm vụ này được thực hiện nhờ các hoạt động thường xuyên và có kế hoạch của lãnh đạo cấp cao. Việc đảm bảo chất lượng được bắt đầu từ việc đưa nó vào nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp. Sau khi phổ biến công khai các chương trình nâng cao chất lượng tới từng thành viên, tất cả mọi người sẽ nghiên cứu các cách thức tốt nhất để hoàn thành. Chính nhờ vậy, trong các doanh nghiệp đi theo xu hướng này xuất hiện nhiều phong trào chất lượng với sự tham gia của các thành viên. Các phương pháp quản trị chất lượng bao gồm: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Phương pháp quản lý chất lượng đồng bộ (TQM: Total Quality Management)
- Cam kết chất lượng đồng bộ (TQC: Total Quality Committment)
- Cải tiến chất lượng toàn công ty (CWQI: Company Wide Quality improvement)
Áp dụng phương pháp quản lý này không những đảm bảo được chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
3.1.3 Nâng cao năng lực thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng hiện nay là tình trạng yếu kém của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, cần phải hoàn thiện và nâng cao năng lực trách nhiệm của các cơ quan này.
Trước hết, cần phải tăng cường năng lực cho các cơ quan hành chính như Cục quản lý cạnh tranh, cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục quản lý thị trường về các điều kiện như trình độ quản lý, ngân sách hoạt động, thẩm quyền hoạt động, đầu tư nhân lực… để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Hiện nay, hầu hết các cán bộ hoạt động tại các cơ quan này không được đào tạo bài bản, kiến thức chuyên môn chưa sâu về hoạt động quản lý thị trường hay quản lý chất lượng sản phẩm. Thêm vào đó, vấn đề thẩm quyền của các cơ quan nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng còn chồng chéo, mâu thuẫn dễ dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, gây khó khăn cho việc quản lý các doanh nghiệp, hay việc khiếu nại của người tiêu dùng. Một lý do khác góp phần làm cho hoạt động của các cơ quan hành chính quản lý về trách nhiệm sản phẩm chưa làm tròn bổn phẩn của mình đó là kinh phí. Do kinh phí còn hạn hẹp, việc kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm mới chỉ được thực hiện một cách ngẫu nhiên với một số mặt hàng, theo một số đợt, chứ chưa thể quản lý hết tất cả các mặt hàng. Ngoài ra, các cán bộ quản lý cũng thiếu động lực để hoàn thành tốt trách nhiệm của mình, mà thậm chí nhiều cán bộ còn có hành vi tiêu cực, thông đồng với nhà sản xuất, nhà phân phối để lờ đi các sản phẩm có khuyết tật. Để giải quyết được những tồn tại này, nhà nước cần phân định rõ ràng chức năng, quyền hạn của mỗi ban ngành, tăng cường đào tạo chuyên môn, và tăng thêm kinh phí cho nhóm các cơ quan giám sát, quản lý về chất lượng sản phẩm. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Vấn đề thứ hai đáng được lưu ý, đó là cần củng cố năng lực của hệ thống tòa án. Tính đến nay, mặc dù đã có nhiều vụ việc xảy ra, trong đó quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm hại nặng nề, như sữa không đảm bảo giá trị dinh dưỡng như quảng cáo, hay xăng nhập khẩu của Petrolimex… nhưng chưa có vụ việc nào được đưa ra xét xử tại tòa án, hay chưa có phán quyết nào bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng hay chưa biện pháp chế tài thích đáng đối với nhà sản xuất hay người phân phối. Với sự lên tiếng của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng, những vụ việc như trên đã được dư luận biết tới. Tuy nhiên, ngoài việc thay đổi sản phẩm có khuyết tật, thì mọi thiệt hại mà người tiêu dùng phải gánh chịu vẫn bị phí doanh nghiệp phớt lờ, thậm chí, các doanh nghiệp còn không hề lên tiếng thừa nhận sai phạm hay xin lỗi khách hàng. Như vậy, ngoài việc xây dựng và đưa luật tiếp cận gần hơn tới người tiêu dùng, việc tăng cường hiệu quả của tòa án cũng là một việc làm cần thiết. Tòa án khi xét xử các vụ việc liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng có quyền áp dụng các chế tài nghiêm khắc, có tính răn đe cao; các phán quyết của tòa có hiệu lực thi hành cao và bảo vệ triệt để quyền lợi người tiêu dùng. Do vậy, cần phải nâng cao năng lực cho hệ thống tòa án nhân dân, hoàn thiện cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tại tòa án.
Thứ ba, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ người tiêu dùng cần phối hợp đồng bộ với nhau và với các cơ quan có thẩm quyền khác thường xuyên tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức cá nhân kinh doanh, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, nhất là các hành vi vi phạm an toàn chất lượng sản phẩm. Thời gian gần đây, có rất nhiều vụ việc liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, hay các đợt dịch bệnh xảy ra trong cả nước. Các đoàn kiểm tra liên ngành giữa bộ y tế, cục vệ sinh an toàn thực phẩm, hay chi cục thú y đã được thành lập để kiểm tra chất lượng thực phẩm tại địa phương. Đối với lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa nhập khẩu kém chất lượng, nhất là hàng hóa từ Trung Quốc đang tràn ngập tại thị trường Việt Nam, gây nguy hại về tính mạng, sức khỏe, môi trường cho người tiêu dùng Việt Nam nhưng vấn đề quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu vẫn còn bị bỏ ngỏ. Vì vậy, các cơ quan quản lý chất lượng hàng hóa như Cục quản lý thị trường, Cục hải quan cần phải tăng cường các biện pháp quản lý chất lượng các loại hàng hóa nhập khẩu.
Thứ tư, nhằm giúp pháp luật về trách nhiệm sản phẩm được thực thi một cách hiệu quả hơn, đó là các cơ quan chức năng thường xuyên họp báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công bố rộng rãi và nhanh chóng các thông tin liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, như hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ, hay việc bồi thường cho người tiêu dùng, hay công bố về chất lượng hàng hóa… Đặc biệt, cần tránh tình trạng bưng bít thông tin, và việc thông tin không rõ ràng, lâu dần bị chìm lãng. Việc công khai và minh bạch thông tin sẽ tạo niềm tin cho người tiêu dùng đồng thời tác động trực tiếp đến các nhà sản xuất. Không những vậy, việc công khai minh bạch thông tin cũng giúp tuyên truyền hiệu quả tính nghiêm khắc của luật trách nhiệm sản phẩm đối với hành vi vi phạm, và lợi ích của luật đối với người tiêu dùng.
3.2. Giải pháp tăng cường trách nhiệm sản phẩm và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Trong tình hình hiện nay, khi nhiều Hiệp định thương mại tự do như TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN… có hiệu lực, thì công tác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng ngày càng phức tạp. Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 15-3 năm nay, lần đầu tiên “Ngày quyền của người tiêu dùng” với chủ đề “Quyền được an toàn của người tiêu dùng” được tổ chức mang tầm quốc gia, nhằm khẳng định tầm quan trọng của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, góp phần xây dựng môi trường tiêu dùng lành mạnh cho cả người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân kinh doanh…
Trong thời gian tới, ngoài tích cực hưởng ứng “Ngày quyền của người tiêu dùng”, trước hết cần tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định 02/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Tăng cường thông tin cho người tiêu dùng nhận biết về hàng giả, hàng kém chất lượng một cách thường xuyên hơn. Tăng cường giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh, khuyến khích người tiêu dùng lên án, tẩy chay hàng hóa của doanh nghiệp vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Luật Bảo vệ người tiêu dùng trong các tầng lớp nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức xã hội cần cụ thể hóa trách nhiệm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đề cao và giám sát chặt chẽ trách nhiệm cá nhân chủ doanh nghiệp, người đứng đầu, phụ trách sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, sản phẩm phục vụ người tiêu dùng. Người tiêu dùng cần thể hiện sự nhạy bén, thông thái, tự bảo vệ, chung tay bảo vệ cộng đồng và chất lượng cuộc sống. Cộng đồng xã hội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các vi phạm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
3.2.1 Nâng cao đạo đức kinh doanh và ý thức thực hiện trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Các doanh nghiệp cần nắm vững các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
Đối với bản thân mỗi doanh nghiệp thì trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để kinh doanh hiệu quả thì ngoài nguồn vốn, nguồn nhân lực, ý tưởng kinh doanh thì một yếu tố không thể thiếu là nẵm vững luật pháp. Hiện nay việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam được quy định khá cụ thể trong Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Bộ luật Dân sự, Luật Hải quan… Hiểu rõ những đạo luật này làm việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi, tránh những hành vi bị cấm, tránh được những vụ kiện không thỏa đáng gây thiệt hại cho bản thân doanh nghiệp. Hiện nay, các văn bản luật này rất dễ tiếp cận và tìm kiếm qua mạng internet, các hội thảo giới thiệu của các quốc gia phát triển hay các phòng thương mại, trung tâm nghiên cứu của Việt Nam cũng như các nước khác.
Nhưng trong môi trường kinh doanh quốc tế thì những nhà sản xuất kinh doanh còn cần nắm rõ những quy định pháp luật của nước đối tác, đặc biệt là pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, một lĩnh vực luật pháp còn tương đối mới mẻ đối với người tiêu dùng và cả nhà sản xuất kinh doanh nước ta. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể xây dựng bộ phận luật sư nội bộ chuyên trách về pháp luật, hoặc thuê các luật sư, các văn phòng tư vấn luật ở nước đối tác để tư vấn về pháp luật trách nhiệm sản phẩm, cũng như tư vấn về việc soạn thảo hợp đồng.
Doanh nghiệp tự trang bị kiến thức về pháp luật nước nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng để bảo đảm thực thi trách nhiệm sản phẩm.
Để tự trang bị kiến thức pháp luật, các doanh nghiệp cần có bộ phận luật sư nội bộ để hỗ trợ pháp lý cho công ty. Luật sư nội bộ có nhiệm vụ phản ứng tức thì với những câu hỏi xuất phát từ bộ phận quản lý doanh nghiệp, giải quyết các công việc pháp lý hằng ngày của công ty. Các công việc đó có thể là soạn thảo hợp đồng hay cho ý kiến trước một vấn đề cụ thể nào đó. Luật sư nôi bộ hiểu rõ doanh nghiệp cũng như việc ra quyết định của doanh nghiệp nên các giải pháp hoặc ý kiến tư vấn của họ thường phản ánh những gì mà bộ phận quản lý yêu cầu. Luật sư nội bộ sẽ tìm hiểu những quy định pháp luật tại thị trường mà doanh nghiệp hướng tới xuất khẩu, quy định chung, các bộ luật chuyên ngành, tiêu chuẩn kỹ thuật yêu cầu cho từng loại sản phẩm, các yêu cầu về TNSP… Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Thuê tư vấn luật: Nhiều trường hợp các công việc pháp lý của doanh nghiệp quá nhiều mà luật sư của công ty không đủ thời gian để giải quyết cũng như chưa có kiến thức chuyên sâu nên việc lựa chọn luật sư bên ngoài là phù hợp. Mục tiêu của việc thuê luật sư bên ngoài là sử dụng dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp và có chất lượng cao chứ không phải để giảm chi phí. Để dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, đòi hỏi hang luật không những phải hiểu biết hoạt động của doanh nghiệp mà còn phải có kinh nghiệm và kiến thức pháp lý phù hợp.
Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ: các Doanh nghiệp cần phải biết về bộ tiêu chuẩn của luật hiện đại hóa an toàn vệ sinh thực phẩm (FSMA) của Mỹ để giảm rủi ro, tránh chuyện hàng bị trả về. Đặc biệt, nếu không tuân thủ yêu cầu mới thì sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng với các cơ quan chức năng của Mỹ và có nguy cơ bị phạt rất nhiều tiền, bao gồm cả việc bị cấm xuất khẩu sang thị trường này. Theo quy định của FSMA, cứ hai năm một lần, nghĩa là vào các năm chẵn, các DN nước ngoài, trong đó có các DN Việt Nam đang xuất hàng thực phẩm và đồ uống cho người và động vật vào thị trường Mỹ phải đăng ký lại cơ sở sản xuất và người đại diện tại Mỹ với Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) để được cấp mã số kinh doanh hợp lệ mới. Tuy nhiên, theo thống kê gần đây của FDA, trước thời gian cho phép đăng ký lại, Việt Nam có tổng cộng 1.485 cơ sở sản xuất được FDA cấp mã số kinh doanh hợp lệ nhưng con số này hiện giảm xuống chỉ còn 806. Như vậy, có tới 679 cơ sở sản xuất tại Việt Nam đã bị hủy mã số kinh doanh do không tiến hành đăng ký lại hoặc có tiến hành đăng ký lại với FDA nhưng không đúng thủ tục hiện hành vốn đã có nhiều thay đổi so với trước đây.
“Các cơ sở sản xuất tại Việt Nam do không biết mã số kinh doanh với FDA đã bị hủy và không còn giá trị vẫn cứ xuất hàng vào Mỹ sẽ bị từ chối không cho giao hàng hoặc tàu chở hàng bị từ chối không cho cập cảng. Hơn nữa, việc không có mã số kinh doanh hợp lệ của FDA mà vẫn cứ tiến hành giao hàng sẽ cấu thành tội “bị cấm nhưng vẫn làm” và có thể bị xử lý hình sự hoặc bị phạt rất nặng theo đạo luật về thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm của Mỹ”.
Trước thực tế trên, các công ty xuất nhập khẩu hàng thực phẩm và đồ uống cho người và động vật vào thị trường Mỹ cần kiểm tra ngay với FDA xem mã số kinh doanh có còn hợp lệ hay không. Nếu mã số đã bị hủy, cần làm các thủ tục để đăng ký lại cơ sở sản xuất và người đại diện tại Mỹ với FDA để được cấp mã số kinh doanh hợp lệ mới. Tất cả công việc này đều cần phải hoàn tất trước khi xuất hàng vào Mỹ. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Thực hiện tốt công tác quản trị chất lượng
Việc các doanh nghiệp có kiến thức tốt về pháp luật trách nhiệm sản phẩm để phần nào hạn chế được những khuyết tật của sản phẩm và tránh được những vụ bồi thường không thỏa đáng chỉ giúp doanh nghiệp giải quyết tốt vấn đề tranh chấp trong thương mại quốc tế về trách nhiệm sản phẩm chứ không ngăn chặn được những tranh chấp này. Để đảm bảo an toàn tối đa cho người tiêu dùng, tránh những thiệt hại có thể là nguyên nhân của những vụ đòi bồi thường trách nhiệm sản phẩm thì bản thân nhà sản xuất phải đảm bảo được rằng sản phẩm của mình không có khuyết tật, hoặc khuyết tật đó không gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng.
Thị trường các quốc gia phát triển thường có yêu cầu rất cao về mức độ an toàn của sản phẩm đối với sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng. Theo chế độ trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt được quy định cụ thể tại nhiều quốc gia thì người sản xuất kinh doanh sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng ngay cả khi khuyết tật của sản phẩm đó không phải là do lỗi của nhà sản xuất. Như vậy, người sản xuất và xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam khi đưa sản phẩm của mình sang nước đối tác phải hết sức chú ý đến vấn đề chất lượng của sản phẩm, ngay từ khâu sản xuất đến khâu phân phối. Người sản xuất kinh doanh cũng cần phải đưa ra những cảnh báo thích hợp cho người sử dụng sản phẩm nếu sản phẩm đó tồn tại những khuyết tật do sản xuất hoặc sản phẩm chứa những nguy hiểm tiềm ẩn do bản chất của sản phẩm đó.
Trong quản trị kinh doanh hiện đại, vấn đề quản lý chất lượng đã trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình sản xuất, là công cụ quan trọng giúp nhà sản xuất kiểm soát được chất lượng sản phẩm của mình. Quản lý chất lượng không đơn giản chỉ là quá trình kiểm tra và loại bỏ những sản phẩm bị lỗi. Kiểm tra không tạo ra chất lượng sản phẩm mà bản thân quá trình sản xuất mới tạo ra chất lượng, giúp nhà sản xuất loại bỏ nguyên nhân gây ra những khuyết tật của sản phẩm.
Để đảm bảo quá trình quản lý chất lượng sẽ đem lại kết quả thì chất lượng phải được đảm bảo trong mọi quá trình, từ khâu thiết kế, tổ chức sản xuất đến khâu phân phối. Không chỉ nguyên vật liệu, vật tư đầu vào và sản phẩm cuối cùng phải đảm bảo chất lượng mà bản thân quá trình quản lý, mọi quá trình, mọi công việc, mọi thành viên trong tổ chức cũng cần được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp. Đảm bảo chất lượng cần phải trở thành nhiệm vụ chủ yếu, được thực hiện thường xuyên và có kế hoạch từ cấp lãnh đạo. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Hiện nay, trên thế giới có các mô hình quản lý chất lượng được ứng dụng khá phổ biến như phương pháp quản lý chất lượng đồng bộ TQM (Total Quality Management), hệ thống các tiêu chuẩn ISO của tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế, phương pháp quản lý chất lượng toàn diện TQC (Total Quality Control)… Áp dụng những phương pháp quản lý này không những sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm sai sót, khuyết tật trong sản phẩm mà còn tận dụng tối đa nguồn lực con người.
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm thì nhà sản xuất cũng cần đầu tư vào hệ thống máy móc, trang thiết bị sản xuất để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và đồng đều hơn. Một trong những nguyên nhân khiến cho sản phẩm có khuyết tật chính là sự hạn chế về công nghệ, trang thiết bị. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, chưa có đủ tiềm lực đầu tư thì có thể sử dụng hình thức thuê tài chính để cải tiến máy móc, thiết bị. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể cải tiến các trang thiết bị sẵn có, phát huy tính sáng tạo của mọi thành viên trong tổ chức, áp dụng các công nghệ mới… để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, nhà sản xuất cũng cần phải lưu ý tới quá trình kiểm tra, thử nghiệm, kiểm nghiệm sản phẩm, đảm bảo việc mô tả sản phẩm một cách rõ ràng, có kèm theo các hướng dẫn cần thiết. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà sản xuất cũng cần chú ý tới mọi khâu của quá trình sản xuất, thu thập những ý kiến đóng góp của người tiêu dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm để có những điều chỉnh thích hợp. Quan tâm tới những phản hổi từ phí người tiêu dùng là việc làm rất quan trọng đối với một doanh nghiệp vì trong hơn một nửa số trường hợp sản phẩm có khuyết tật, vấn đề được phát hiện thông qua phản hồi của khách hàng. Nếu nhà sản xuất đưa ra được những biện pháp giải quyết tình hình thích hợp ngay khi nhận được ý kiến của người tiêu dùng thì hậu quả của vụ việc chắc chắn sẽ được giảm thiểu. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có khuyết tật và gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất nên tỏ thái độ tích cực để giải quyết vấn đề, xây dựng quy trình thu hồi sản phẩm nếu cần thiết, đồng thời chia sẻ trách nhiệm với các bên liên quan.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp về trách nhiệm sản phẩm có yếu tố quốc tế Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp thường chịu rất nhiều rủi ro. Trong các trường hợp như vậy, ngoài việc chủ động, tích cực tìm hiểu thông tin cần thiết, giải quyết các tranh chấp phát sinh, doanh nghiệp cũng cần phối hợp với các cơ quan chức năng để giải quyết tốt vấn đề.
Các cơ quan có thẩm quyền cần hỗ trợ về thông tin pháp luật hay hỗ trợ nguồn vốn để cải tạo, đổi mới quy trình công nghệ Ngoài ra cần kiểm tra, giám sát việc
bảo đảm chất lượng của doanh nghiệp, cung cấp những thông tin về tiêu chuẩn an toàn đến từng doanh nghiệp, tổ chức các buổi thảo luận về pháp luật trách nhiệm sản phẩm cũng như việc bảo đảm chất lượng sản phẩm cho đối tượng doanh nghiệp. Các cuộc kiểm tra thường có hiệu quả cao nhưng lại không được thực hiện thường xuyên. Vì vậy, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh, phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm để bảo vệ sự an toàn cho người tiêu dùng là hết sức cần thiết.
- Quá trình soạn thảo hợp đồng
Do hợp đồng là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đối với các bên liên quan trong hoạt động kinh doanh quốc tế nên các doanh nghiệp phải hết sức thận trọng khi soạn thảo và ký kết hợp đồng. Ngoài các vấn đề như giá trị hợp đồng, số lượng, chủng loại hàng hóa, thời gian thực hiện hợp đồng, phương thức thanh toán… thì hiện nay, người tham gia buôn bán quốc tế còn phải quan tâm đặc biệt đến các điều khoản về chất lượng, chế độ bảo hành, chế độ bồi thường trách nhiệm sản phẩm. Trong mọi trường hợp, để có được một hợp đồng chặt chẽ, doanh nghiệp nên nhờ tới sự giúp đỡ của các văn phòng tư vấn luật.
Điều khoản chất lượng của hợp đồng cần quy định rõ về mặt kỹ thuật, chẳng hạn như hàm lượng tạp chất cho phép và các chất độc hại khác. Hợp đồng có thể quy định người nhập khẩu sẽ phải chịu trách nhiệm nếu các khuyết tật của sản phẩm được phát hiện sau khi sản phẩm được nhập khẩu. Trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang các nước có quy định nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm bị kiện theo chế định trách nhiệm sản phẩm thì điều khoản chất lượng trong hợp đồng có thể trở thành diều kiện miễn trách cho doanh nghiệp đó. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Một vấn đề khác là việc lựa chọn nguồn luật áp dụng. Một hợp đồng mua bán quốc tế thường chịu sự điều chỉnh bằng ít nhất hai hệ thống pháp luật. Đối với trường hợp của Việt Nam, khi Luật Bảo vệ người tiêu dùng chưa được ban hành thì luật của nước đối tác hoặc luật của nước thứ ba cần được cân nhắc để lựa chọn. Luật của các nước đều có xu hướng bảo vệ người tiêu dùng, nhưng mức độ trách nhiệm của nhà sản xuất quy định tại mỗi nước là khác nhau. Ví dụ, Mỹ là nước có xu hướng đề cao, bảo vệ tối đa lợi ích của người tiêu dùng, định nghĩa sản phẩm được quy định trong Luật Trách nhiệm sản phẩm của Mỹ cũng bao hàm nhiều vấn đề hơn luật của các quốc gia khác.
Ngoài ra, trên bản thân sản phẩm, nhà cung cấp cũng cần đưa ra các thông tin cụ thể, chi tiết về bản thân sản phẩm, các điều kiện bảo hành… vì bản thân nhãn mác của sản phẩm có thể được coi là bản hợp đồng giữa nhà sản xuất với người mua sản phẩm, người tiêu dùng đồng ý với những tiêu chuẩn của sản phẩm đó nên mới quyết định mua hàng. Trên thế giới đã có không ít các vụ kiện trách nhiệm sản phẩm do lỗi không cảnh báo, hoặc cảnh báo không đầy đủ của nhà sản xuất. Một nhãn hiệu hàng hóa, một vỏ bao bì được thiết kế tốt không chỉ là người bán hàng thầm lặng cho nhà sản xuất, mà còn giúp người tiêu dùng và nhà sản xuất tránh được những thiệt hại không đáng có do khuyết tật của sản phẩm gây nên.
- Các giải pháp khác
Ngoài những đề xuất trên thì bản thân mỗi doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động quản trị rủi ro của mình, phải đẩy mạnh việc nghiên cứu, thăm dò thị trường để xác định các rủi ro doanh nghiệp có thể gặp phải, từ đó đưa ra các biện pháp phòng tránh, giải quyết. Đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay, việc đối mặt với một vụ kiện trách nhiệm sản phẩm giống như việc đối mặt với nguy cơ phá sản vì giá trị bồi thường của các vụ kiện này rất lớn. Doanh nghiệp cần đặc biệt đề phòng những rủi ro trách nhiệm sản phẩm như vậy, và nếu cần có thể mua bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm cho doanh nghiệp mình.
Cuối cùng, doanh nghiệp cũng cần có tầm nhìn xa, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, trong đó có tính đến tác động của các quy định về trách nhiệm sản phẩm khi xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thì những hỗ trợ của Nhà nước trong là rất cần thiết. Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, đối với pháp luật trách nhiệm sản phẩm, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp cả về thông tin và tài chính. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Về mặt thông tin, trước tiên, Nhà nước cần xây dựng Luật Trách nhiệm sản phẩm và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có thể hiểu và áp dụng được luật trong nước. Ngoài ra, các doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế không chỉ chịu tác động của luật trong nước mà còn chịu tác động của luật quốc tế, luật nước đối tác. Vì vậy, cần phải có một hệ thống thư viện luật, hệ thống văn phòng tư vấn luật, trong đó doanh nghiệp có thể tìm kiếm được văn bản pháp luật trách nhiệm sản phẩm trên thế giới, các vụ kiện liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, đồng thời nhận được những tư vấn kịp thời trước khi giao dịch, nhất là trong các trường hợp các doanh nghiệp có vướng mắc liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, bị kiện về vấn đề trách nhiệm sản phẩm.
Về mặt tài chính, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu hoạt động theo quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất chế biến, xử lý các chất thải còn nhiều hạn chế, gây nhiều khó khăn trong việc nâng cao và kiểm soát chất lượng sản phẩm. Vì thế, các doanh nghiệp rất cần hỗ trợ tài chính của Nhà nước để nâng cao trình độ công nghệ, cải tiến máy móc thiết bị để hạn chế các khuyết tật của sản phẩm. Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần hỗ trợ về vốn trong hoạt động kinh doanh như các khoản vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, đặc biệt là loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Các loại hình hỗ trợ xúc tiến thương mại khá đa dạng ở Việt Nam, tuy nhiên hiệu quả lại chưa cao. Nhiều công ty bảo hiểm hiện nay cũng đã đưa ra loại hình bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, theo đó các công ty bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại gây ra do khuyết tật của sản phẩm đó. Trong đó:
- Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm là bảo hiểm cho các nhà sản xuất, các công ty, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm đối với các khoản chi phí mà họ có trách nhiệm pháp lý phải trả cho những tổn thất, thiệt hại về người, tài sản hoặc bên thứ ba phát sinh từ việc sử dụng, tiêu thụ và mua bán sản phẩm được bảo hiểm.
- Phạm vi bảo hiểm: Bồi thường cho người được bảo hiểm”
Tất cả các khoản tiền mà người được bảo hiểm có trách nhiệm pháp lý phải bồi thường đối với: Những thiệt hại bất ngờ về người và tài sản gây nên bởi hàng hóa do người được bảo hiểm bán, cung cấp, sửa chữa, thay thế, xử lý hay phục vụ có liên quan đền hoạt động sản xuất kinh doanh do người được bảo hiểm thực hiện và phát sinh trong thời hạn bảo hiểm và trong phạm vi lãnh thổ quy định trong Hợp đồng bảo hiểm. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Tất cả các khoản phí tổn và chi phí kiện tụng: bồi hoàn cho bên nguyên đơn chống lại người được bảo hiểm.
Mức trách nhiệm: mức trách nhiệm bồi thường do người được bảo hiểm đề nghị và đây là mức trách nhiệm của Người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm trong suốt thời hạn bảo hiểm. Mức trách nhiệm bao gồm cả phần thiệt hại thuộc trách nhiệm bồi thường của Người được bảo hiểm và chi phí pháp lý liên quan. Ví dụ điển hình như: Công ty cổ phần Dịch vụ quốc tế Hà Thành (Haseca) – đơn vị chuyên cung cấp suất ăn đã ký hợp đồng với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm hàng không VNI, với mức phí bảo hiểm gần 40 triệu đồng/năm, nhà bảo hiểm sẽ bảo hiểm cho các suất ăn công nghiệp của Công ty với tổng mức trách nhiệm tối đa được hưởng là 5 tỷ đồng/vụ. Có thể thấy rằng, với mức phí bảo hiểm vài chục triệu đồng/năm, nhà bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thương tật thân thể, tử vong và thiệt hại tài sản của bên thứ 3 (người trực tiếp sử dụng thực phẩm, đồ uống, suất ăn đó) phát sinh từ sản phẩm của các đơn vị cung cấp. Tuy nhiên đẻ bảo đảm lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, việc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm cũng được đề ra. Điều này giúp nhà bảo hiểm chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống có phát sinh trách nhiệm và họ có thể đánh giá được mức độ bồi thường tối đa trong tình huống có phát sinh trách nhiệm đối với từng hợp đồng cụ thể. Khi gây thiệt hại, mức trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm có thể rất lớn song mức trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trong phạm vi số tiền bảo hiểm mà các bên đã thỏa thuận, phần trách nhiệm vượt quá giới hạn bảo hiểm đối với người thứ ba, người được bảo hiểm tự chi trả.
3.2.2 Nâng cao ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng
Người tiêu dùng cần phải có ý thức pháp luật, ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình và lợi ích của xã hội; phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các quyền của mình mà pháp luật đã ghi nhận; các cơ chế và biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi giao dịch với các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hành vi vi phạm. Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vị thế thượng tôn và có thể quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Điều đáng sợ nhất đối với một doanh nghiệp là sự “tẩy chay” của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ của họ. Người tiêu dùng cần phải thực hiện kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các quyền khác theo quy định. Phải kiên quyết nói không với thực phẩm bẩn, với hàng giả. Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cần nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và tính trung thực trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Ngoài ra, còn có trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện. Tổ chức xã hội cần nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm khi tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu; Đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng.
Trước thực trạng bảo vệ người tiêu dùng còn nhiều hạn chế và bất cập như hiện nay, mỗi người tiêu dùng cần phải có ý thức tự bảo vệ mình trước những hành vi xâm phạm quyền lợi của mình. Để làm được điều này, cần phải thực hiện một số biện pháp như sau: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Thứ nhất, tiến hành tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ người tiêu dùng một cách rộng rãi và có hiệu quả để người tiêu dùng biết và thực hiện các quyền của mình, đặc biệt là quyền khiếu nại, khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Khi người tiêu dùng ý thức được các quyền và nghĩa vụ của mình thì sẽ khắc phục được tình trạng “ngậm bồ hòn làm ngọt”, quyền lợi bị vi phạm mà ngại không tự bảo vệ chính mình. Để có thể kịp thời tuyên truyền, phổ biến các kiến thức luật mới tới người tiêu dùng, nhà nước cần thông qua các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, hay các phương tiện truyền thông đại chúng, như báo, đài, truyền hình… Như đã đề xuất trong phần giải pháp vi mô: nhanh chóng đưa luật vào …, nhà nước có thể thành lập 1 website về trách nhiệm sản phẩm. Thông qua website đó, không những doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu có thể trao đổi thông tin, cập nhật tình hình về trách nhiệm sản phẩm, mà ngay cả người tiêu dùng cũng có thể truy cập và tìm thông tin cần thiết cho mình. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất thành lập một chương trình truyền hình riêng về trách nhiệm sản phẩm, bởi đôi khi với người già, hay những người ở vùng sâu, vùng xa, internet thường không phổ biến bằng truyền hình. Chương trình truyền hình này có thể được phát sóng hàng tuần, nhằm cập nhật các thông tin về trách nhiệm sản phẩm trong tuần, để từ đó người tiêu dùng được tiếp nhận nguồn thông tin chính thức và đáng tin cậy.
Thứ hai, thực hiện phổ biến, giáo dục các kiến thức tiêu dùng; cung cấp, hướng dẫn thông tin về tiêu dùng an toàn để mỗi người tiêu dùng trở thành “người tiêu dùng thông minh” trong việc lựa chọn các loại sản phẩm, hàng hóa an toàn chất lượng. Hiện nay, người tiêu dùng đang phải sử dụng rất nhiều sản phẩm thực phẩm với nhiều thành phần hóa học có thể không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn không hay biết gì về chất này, hay tác hại của nó. Chính vì vậy, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời cho người tiêu dùng biết về sản phẩm, để người tiêu dùng có lựa chọn đúng đắn. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng nên quy định các nhà sản xuất cần đưa thêm thông tin về sản phẩm khi tung sản phẩm ra thị trường, tránh tình trạng nhà sản xuất giấu diếm thông tin.
Một giải pháp nữa nhằm nâng cao ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng, đó là việc nhà nước chủ trương ủng hộ người tiêu dùng trong các vụ kiện vi phạm trách nhiệm sản phẩm. Cho dù người tiêu dùng có nắm vững luật, hay có ý thức tự bảo vệ mình, nhưng nếu quá trình kiện tụng, tố cáo vi phạm của nhà sản xuất quá rắc rối, phiền hà, hay không có sự hỗ trợ từ một tổ chức nào đó, thì người tiêu dùng sẽ sớm cảm thấy mệt mỏi với quá trình kiện tụng, và tự mình rút lui. Để người tiêu dùng có được sự ủng hộ khi đi kiện, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cần gần gũi hơn nữa với người tiêu dùng, để có thể có những hỗ trợ kịp thời và hợp lý, đồng thời khuyến khích người tiêu dùng trong công cuộc bảo vệ lợi ích của chính mình.
Trong hoàn cảnh luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mới đi vào hiệu lực, doanh nghiệp sản xuất và nhà phân phối không chú trọng tới nghĩa vụ về trách nhiệm sản phẩm của mình, việc nâng cao ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng là việc làm cấp bách và ý nghĩa. Trước hết, nếu người tiêu dùng tự ý thức được quyền lợi của mình, thì dù nhà sản xuất có lờ đi trách nhiệm của mình, cũng sẽ bị người tiêu dùng lên tiếng. Ngoài ra, khi đã có ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình, bản thân người tiêu dùng sẽ tìm hiểu những quy định luật liên quan để có thêm kiến thức, và từ đó, luật cũng trở nên phổ biến và gần gũi hơn với người tiêu dùng. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
3.2.3 Tăng cường quản lý về chất lượng hàng hóa trên thị trường
Hằng năm, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã kết hợp với các ngành chức năng tổ chức kiểm tra hàng hóa lưu thông trên thị trường, đảm bảo cho người tiêu dùng không mua phải hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn khi sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng sản phầm, làm lành mạnh thị trường.
Hoạt động kiểm tra nhằm mục đích kiểm tra các mặt hàng thiết yếu có liên quan đến sức khoẻ người tiêu dùng, môi trường, động vật, quá trình an sinh xã hội. Với mục tiêu đó, hàng năm Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường. cục đã tham mưu cho các cơ quan chức năng xã hội hoá hoạt động tuyên truyền và kết hợp với kiểm tra, uốn nắn, chấn chỉnh các cơ sở kinh doanh thực hiện đúng pháp luật.
Tuy nhiên, việc vi phạm trách nhiệm sản phẩm ngày càng trở nên phổ biến, khiến cho hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa ngày càng khó khăn hơn. Vì vậy, Chi cục tiêu chuẩn đo lường cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát từ khâu sản xuất tới khâu lưu thông trên thị trường và xuất nhập khẩu.
Đối với nhóm hàng phục vụ xuất khẩu, chi cục tiêu chuẩn đo lường cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các bộ Thủy sản, nông nghiệp và phát triển nông thôn hay cá bộ chuyên ngành khác để giám sát chặt chẽ ngay từ đầu khâu chế biến, sản xuất sản phẩm. Ngoài ra, chi cục cũng cần kết hợp với các chi cục hải quan để tăng cường kiểm tra chất lượng của các lô hàng xuất khẩu. Với việc kiểm soát chặt chẽ từ đầu đến cuối, việc các lô hàng kém chất lượng bị nước nhập khẩu trả lại sẽ được giảm đáng kể. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Đối với nhóm hàng sản xuất phục vụ tiêu thụ nội địa trong nước, chi cục tiêu chuẩn đo lường cần chia nhỏ các đoàn kiểm tra tới địa bàn từng phường, xã, khu vực dân cư… nhằm kịp thời kiểm tra chất lượng sản phẩm được phân phối tới tay người tiêu dùng. Ngoài ra, chi cục cũng nên tăng cường các cuộc kiểm tra đột xuất sản phẩm của các nhà máy sản xuất trước khi xuất xưởng để từ đó, doanh nghiệp sẽ có ý thức tốt hơn về việc đảm bảo chất lượng hàng hóa trước khi đưa vào lưu thông.
Ngoài ra, chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế để tăng cường hiểu biết, cập nhật kiến thức, tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ từ các tổ chức khác trên thế giới, để có thể nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
Ngoài những giải pháp trên, cần kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, nâng cao hơn nữa hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thường xuyên rà soát, hệ thống hoá, đề nghị sửa đổi bổ sung, ban hành mới, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương. Quản lý hoạt động về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải tại địa phương. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tư vấn, hỗ trợ và nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền.
Ngoài ra, Nhà nước cần quan tâm đầu tư kinh phí để nâng cao năng lực và kỹ thuật xét nghiệm, phân tích mẫu sản phẩm. Tăng cường kiểm tra, giám định để kết luận sản phẩm có chứa độc tố, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng hay không, có đảm bảo thành phần chất lượng như quảng cáo hay không, có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp chứng cứ để người tiêu dùng thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện ra tòa án. Vì vậy, cần tăng cường trang bị các phương tiện, máy móc để người tiêu dùng có căn cứ phân biệt giữa sản phẩm đạt tiêu chuẩn và sản phẩm không đảm bảo chất lượng, từ đó, có cơ sở để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Đảm bảo cho người tiêu dùng có quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.
3.2.4 Tăng cường năng lực của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng
Ở Việt Nam, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời tương đối sớm nhưng trên thực tế, vai trò của các tổ chức này còn hạn chế, hoạt động chưa hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu công tác, NTD chưa thật sự xem các tổ chức này là địa chỉ để giúp bảo vệ quyền lợi của mình. Cần phải: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
- Xây dựng quỹ và biến nó thành công cụ tài chính hữu hiệu cho việc khởi kiện tập thể. Cũng nên quy đinh trong các vụ kiện thắng, Hội có thể giữ lại một khoản nhỉ để xây dựng quỹ làm nguồn kinh phí hoạt động.
- Bên cạnh đó, nhà nước cần xây dựng cơ chế trách nhiệm của nhà sản xuất, phân phối hàng hóa về các trường hợp họ sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp bồi thường cho NTD, mức bồi thường sẽ công Đây là công cụ hiệu quả vừa để nhà sản xuất cung ứng hàng hóa nâng cao trách nhiệm vừa để thuận tiện cho NTD trực tiếp yêu cầu nhà sản xuất, phân phối cung ứng dịch vụ phải bồi thường cho NTD khi họ sử dụng sản phẩm, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho NTD.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Chủ động phát hiện xử lý các hành vi có dấu hiệu vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trên thị trường, triển khai chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tăng cường công tác thu hồi sản phẩm có khuyết tật. Tăng cường hoạt động hỗ trợ phối hợp với các Sở Công Thương và các Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Xây dựng mạng lưới liên lạc, cơ sở dữ liệu và kết nối với các hệ thống tư vấn hỗ trợ của các cơ quan có liên quan. Vận động và hỗ trợ thành lập thêm ít nhất 01 Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.
Theo một khảo sát của Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), 40% người tiêu dùng tại Việt nam lựa chọn im lặng khi xảy ra tranh chấp tiêu dùng. Một số lý do được đưa ra là người dân còn chưa hiểu rõ các quy trình giải quyết khiếu nại, hay gặp khó khăn trong khi liên lạc với các cơ quan có thẩm quyền để gửi yêu cầu khiếu nại. Vậy nên cần nhiều hơn nữa những hướng dẫn cụ thể về thủ tục rút gọn cho vụ án của người tiêu dùng, đồng thời đa dạng hoá, mở rộng phạm vi thực hiện hoạt động tuyên truyền như đưa các nội dung giáo dục về tiêu dùng bền vững, tiêu dùng xanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vào chương trình giảng dạy, đào tạo tại các cấp trung học và đại học, hay thực hiện chương trình doanh nghiệp vì người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm trung tâm. Đặc biệt, Cục CT&BVNTD cũng sẽ đẩy mạnh nghiên cứu phương thức tuyên truyền trên các mạng xã hội truyền thông hiện đại như Youtube, Facebook, Website,…Theo luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của nhà nước và toàn xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, ở phạm vi trung ương từ năm 1991 đã có Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) thực hiện chức năng này. Tính tới thời điểm hiện tại, cả nước đã có trên 30 tỉnh thành có Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thành lập trên cơ sở các quy định của Nghị định số 69/2001/NĐ-CP. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) có các đơn vị trực thuộc là Văn phòng trung ương hội, Văn phòng hội phía Nam, Tạp chí người tiêu dùng, Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng, các câu lạc bộ (như câu lạc bộ chất lượng, câu lạc bộ nhà báo bảo vệ người tiêu dùng, câu lạc bộ người tiêu dùng nữ, câu lạc bộ chống hàng giả), Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về tiêu dùng (CESCON) và Công ty Dịch vụ Tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng (CETA). Hội hoạt động bằng kinh phí tự có, kinh phí thực hiện dự án và các nguồn tài trợ. Các Hội địa phương đều có văn phòng khiếu nại để tiếp nhận và xử lý khiếu nại của người người tiêu dùng. Tuy nhiên, chỉ một số ít tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng địa phương nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ chính quyền địa phương.
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời đã đề cao vai trò của các hiệp hội, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng. Hiện tại, các hiệp hội, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hoạt động chưa thực sự hiệu quả, và chưa là đại diện để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trước những vi phạm về trách nhiệm sản phẩm. Vì vậy, cần tiến hành các biện pháp sau đây để nâng cao năng lực của các hiệp hội, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng:
Thứ nhất, cần nâng cao địa vị của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng ngang bằng với các Hiệp hội ngành nghề và hiệp hội nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là đối với tất cả các dự án luật mà phạm vi điều chỉnh liên quan đến quyền lợi của người tiêu dùng thì không chỉ các Hiệp hội ngành nghề, Hiệp hội nghề nghiệp được tham gia, mà còn phải có sự tham gia của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng dưới hình thức thích đáng. Tuy nhiên, khi thực hiện điều này Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng cần đảm bảo tính đại diện của họ cho người tiêu dùng. Điều đó có nghĩa là quan điểm của Hiệp hội phải là quan điểm của người tiêu dùng. Điều đó có thể thực hiện thông qua cơ chế lấy ý kiến người tiêu dùng của Hiệp hội.
Thứ hai, trong xu hướng ngày càng nhiều doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề áp dụng hợp việc ký kết theo đồng mẫu với người tiêu dùng hoặc áp dụng các điều kiện thương mại chung, Luật Bảo vệ người tiêu dùng cần có các quy định hạn chế doanh nghiệp làm dụng thế mạnh kinh tế của mình để áp đặt các điều kiện hợp đồng đối với người tiêu dùng. Một mặt Luật mới cần bổ sung các các trường hợp mà điều kiện hợp đồng được áp đặt bị vô hiệu, nếu quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm hại với tư cách là bên yếu thế. Các quy định của bộ luật dân sự về hợp đồng vô hiệu không đủ để bảo vệ người tiêu dùng trước sức mạnh kinh tế và khả năng áp đặt của họ đối với người tiêu dùng. Mặt khác, cần tạo cơ chế để Hội người tiêu dùng tham gia vào việc soạn thảo các điều kiện hợp đồng mẫu hay điều kiện thương mại chung như vậy của doanh nghiệp hay hiệp hội ngành nghề. Từ đó, ta có thể để đảm bảo ngay từ đầu rằng chỉ có các hợp đồng mẫu hay điều kiện giao dịch chung đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng mới được áp dụng. Điều đó có thể thực hiện thông qua quy định rằng (có thể chỉ đối với một số ngành nghề), các hợp đồng mẫu hoặc các điều kiện thương mại chung chỉ có giá trị khi đã được Hội bảo vệ người tiêu dùng theo ngành, địa phương hoặc trung ương chấp thuận.
Thứ ba, cần cung cấp thêm kinh phí cho các tổ chức, hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Những tổ chức này hoạt động dựa trên mục đích bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mà không thu một khoản phí nào cả. Kinh phí hoạt động chủ yếu dựa trên ngân sách nhà nước. Do đó, nhà nước cần tăng cường kinh phí, để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các tổ chức này. Ngoài ra, trong một số vụ việc vi phạm trách nhiệm sản phẩm, mà thiệt hại gây ra ảnh hưởng tới một bộ phận người tiêu dùng, nhà nước có thể quy định tiền phạt doanh nghiệp vi phạm sẽ được chuyển cho các tổ chức, hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, để các tổ chức, hiệp hội này có thêm kinh phí hoạt động.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Chế định trách nhiệm sản phẩm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam cho đến nay mới được hình thành một cách sơ khai và chưa dựa trên những nguyên lý chung của trách nhiệm sản phẩm trên thế giới. Đây là một trong những nhân tố khiến cho trách nhiệm của những nhà kinh doanh chuyên nghiệp đối với các sản phẩm của họ tương đối lỏng lẻo và người tiêu dùng khó có khả năng đòi bồi thường thiệt hại khi bị thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra. Bởi vậy, nghiên cứu các vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn vấn đề trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, đề từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam thông qua việc thực thi các quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trở nên cấp thiết.
Bên cạnh đó, tại Việt Nam, các cơ quan quản lý, người tiêu dùng và đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp không ít khó khăn trong việc thực thi trách nhiệm sản phẩm. Bối cảnh trong nước có nhiều chuyển biến, trong năm 2018 và những năm tới, để tiếp tục giữ đà tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, Việt Nam đặt trọng tâm vào tăng năng suất lao động, trong đó tăng cường cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo công bằng xã hội đi đôi với phát triển thịnh vượng đang là các mục tiêu được ưu tiên hàng đầu trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày nay mở ra không ít cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ về mặt pháp lý, đặc biệt là về trách nhiệm sản phẩm. Ngoài việc sản xuất ra những sản phẩm an toàn đối với người sử dụng, bản thân các doanh nghiệp cũng cần có ý thức trang bị những kiến thức cần thiết về mặt luật pháp cũng như kinh nghiệm kinh doanh quốc tế để vượt qua được những rào cản đó.
Do đề tài tìm hiểu một nội dung còn mới mẻ ở Việt Nam, trong điều kiện trình độ và thời gian có hạn, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất hy vọng sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN