Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam và tình hình thực thi trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay
Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong công tác bảo vệ người tiêu dùng đó chính là ý thức của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Pháp luật cần có những quy định về trách nhiệm của những tổ chức và cá nhân này trong việc bảo đảm những quyền cơ bản của người tiêu dùng. Việc phát triển chế định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm phát sinh trên nhiều cơ sở khác nhau như:
Về mặt kinh tế: Sự phân công lao động xã hội trong một nền kinh tế phát triển là cơ sở quan trọng của chế định trách nhiệm sản phẩm. Trong một xã hội với lao động được chuyên môn hoá, không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại độc lập và tự mình cung cấp các sản phẩm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của bản thân. Các doanh nghiệp luôn phải sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp khác và đồng thời lại cung ứng cho các doanh nghiệp này sản phẩm của chính mình. Tính phụ thuộc lẫn nhau này đặc biệt phát triển trong nền kinh tế thị trường, với sự phát triển mạnh mẽ của các kênh phân phối sản phẩm. Mặt khác, sản phẩm của một nhà sản xuất có thể được tiêu dùng bởi bất kỳ một người tiêu dùng nào trên phạm vi toàn cầu. Sự phụ thuộc lẫn nhau trong khi không có bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế nhất định ràng buộc trách nhiệm giữa những người mà mối liên hệ duy nhất giữa họ là sản phẩm đang được tiêu dùng.
Về mặt đạo đức: có được lợi ích nhưng không làm tổn hại đến lợi ích của những người xung quanh là một nguyên tắc đạo đức tồn tại trong bất kỳ xã hội nào. Nguyên tắc này đặt ra những đòi hỏi biệt nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp. Rõ ràng, doanh nghiệp đã thu lợi từ việc người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của họ. Người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm, không thể có đủ thời gian cũng như khả năng chuyên môn, phương tiện… để kiểm tra về độ an toàn của sản phẩm. Họ gần như lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cung cấp ở khía cạnh này. Nhà cung cấp không thể lạm dụng sự lệ thuộc, sự yếu thế này để đưa ra những sản phẩm với chi phí rẻ, thu lợi cao do không phải đầu tư nhân lực và cơ sở vật chất cho việc nghiên cứu cũng như kiểm định về mức độ an toàn của sản phẩm. Do vậy, trong phạm vi mà họ có thể biết và cần phải biết, nhà cung cấp cần loại trừ các mối nguy hiểm tồn tại trong sản phẩm của mình gây mất an toàn cho người tiêu dùng. Nói một cách khác, đảm bảo an toàn của các sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng chính là yêu cầu đạo đức mà các doanh nghiệp cần phải tuân thủ.
Về mặt xã hội: mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng là một trong những quan hệ phổ biến nhất trong xã hội. Khi tham gia vào các mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn tin rằng sản phẩm mà họ tiêu dùng là an toàn, trừ khi có những cảnh báo từ chính nhà sản xuất, cung ứng. Điều này có nghĩa là luôn có sự tin tưởng đối với nhà cung cấp về việc đảm bảo tính an toàn khi cung cấp các sản phẩm ra cho xã hội. Thực hiện tốt sự uỷ nhiệm này cũng là trách nhiệm của các nhà cung cấp, và đó cũng là yêu cầu tất yếu để đảm bảo trật tự xã hội và sự ổn định của các mối quan hệ xã hội.
Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm đã được phát triển để thúc đẩy sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp một bên bị thương tích hoặc tổn thương từ việc sử dụng sản phẩm. Các nguyên tắc được áp dụng để đạt được mục tiêu này được sử dụng khá linh hoạt, được phát triển để cân bằng lợi ích của người sản xuất và người cung ứng với việc bảo vệ quyền lợi cho những người có thể bị ảnh hưởng từ việc sử dụng sản phẩm của họ. Từ một quan điểm và chính sách, pháp luật trách nhiệm sản phẩm đề cao trách nhiệm đưa ra những lợi ích để tích lũy cho sự phát triển xã hội, sản xuất mua bán và sử dụng các sản phẩm bằng cách tạo ra các ưu đãi để sản xuất những sản phẩm không có khuyết tật hoặc đưa ra những cảnh báo phù hợp về bất kỳ sự nguy hiểm liên quan đến việc sử dụng sản phẩm. Nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc tăng nguy cơ và mức độ trách nhiệm tiềm ẩn của những sản phẩm trên thị trường đó là việc tăng tính phức tạp của sản phẩm, các quy định của chính phủ can thiệp rộng hơn với những thủ tục ban hành mới… Vì vậy, việc xây dựng quy định pháp luật về trách nhiệm pháp luật là một phần tất yếu.
2.1.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một chế định riêng về trách nhiệm sản phẩm. Mặc dù chế định trách nhiệm sản phẩm còn khá mới mẻ, song trong pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có nhiều quy định về trách nhiệm sản phẩm nhưng chủ yếu có ba văn bản chính có nhắc đến trách nhiệm của chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý là Bộ luật Dân sự, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là văn bản quy định trực tiếp cơ chế bảo vệ quyền lợi người bị thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra. Trong phạm vi bàn về yêu cầu khởi kiện, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là văn bản pháp luật chuyên ngành gần với các quy định của các nước nhất sẽ được phân tích cụ thể.
- Quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm sản phẩm
Bộ luật Dân sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1995 khi đất nước đang trong tiến trình chuyển đổi kinh tế từ nên kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường. Luật pháp của Việt Nam đã quan tâm đến quy tắc quy trách nhiệm của nhà sản xuất trước những thiệt hại mà người tiêu dùng phải gánh chịu từ những sản phẩm kém chất lượng do nhà sản xuất gây ra.
Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác sản xuất, phân phối do không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, các hàng hóa khác mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng, thì phải bồi thường”. Nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Tuy nhiên, quy định này vẫn không ràng buộc tuyệt đối trách nhiệm của người sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ với tính an toàn của sản phẩm do họ bán ra.
- Quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa về trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007 có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong Luật này, trách nhiệm “hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật” được quy định đối với tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng, bao gồm nhà sản xuất (khoản 7 Điều 10), nhà nhập khẩu (khoản 8 Điều 12), người bán hàng (khoản 10 Điều 16). Thông qua những quy định trên có thể thấy, sự ra đời của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 đã tạo ra một bước tiến trong chế định trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam khi đặt các yêu cầu về trách nhiệm đối với sản phẩm của doanh nghiệp dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho phép người tiêu dùng khiếu nại, kiện đòi bồi thường cho thiệt hại gây ra bởi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng. Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường do sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường là 02 năm kể từ thời điểm các bên được thông báo về thiệt hại với điều kiện thiệt hại xảy ra trong thời hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hóa có ghi hạn sử dụng, và 05 năm kể từ ngày giao hàng đối với sản phẩm, hàng hóa không ghi hạn sử dụng. Các thiệt hại được yêu cầu bồi thường có thể là: (i) Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại, (ii) thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, (iii) thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản và (iv) chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Có thể thấy rằng, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa ra đời đã tiếp cận gần hơn đối với chế định trách nhiệm sản phẩm. Tuy nhiên, hạn chế của luật này ở khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng là cách tiếp cận từ góc độ quản lý chất lượng. Cụ thể là Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiếp cận vấn đề từ góc độ chất lượng “mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”. Như vậy, không đảm bảo chất lượng đồng nghĩa với không đáp ứng được tiêu chuẩn, quy chuẩn tương ứng. Cách tiếp cận này chưa thực sự giúp bảo vệ người tiêu dùng một cách hiệu quả. Quy định về thời hiệu cũng thiếu nhất quán so với Bộ luật Dân sự, do vậy khi đưa vào thực thi sẽ gây ra những khó khăn.
- Quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm sản phẩm
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, có hiệu lực từ 01/07/2011, ra đời năm 2010 được đánh giá là có nhiều bước tiến vượt bậc trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Được xây dựng trên cơ sở Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1992, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được trông đợi là sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể, nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng, cũng như ràng buộc nhà sản xuất chịu trách nhiệm nhiều hơn với các sản phẩm mà họ đưa ra thị trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật”. Như vậy, có thể khẳng định rằng, pháp luật Việt Nam có những điểm tiến bộ đáng kể khi quy định tương tự chế định trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt như bản Chỉ thị của Liên minh châu Âu. So với nhiều nước trên thế giới, việc thừa nhận nguyên tắc này được xem là một điểm tiến bộ trong pháp luật Việt Nam. Để thực hiện nguyên tắc này, người tiêu dùng sẽ phải có nghĩa vụ chứng minh để phù hợp quy định của pháp luật. Các Điều 25, 26, 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về nghĩa vụ chứng minh của các bên. Với ba điều luật này phát sinh nhiều điểm bất hợp lý nếu như trong thực tế áp dụng vào các vụ kiện liên quan đến trách nhiệm sản phẩm. Theo đó, khoản 2 Điều 25 có quy định: “Người tiêu dùng, tổ chức xã hội có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”. Ngoài ra, khoản 1 Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Khi nhận được yêu cầu của người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu các bên giải trình, cung cấp thông tin, bằng chứng hoặc tự mình xác minh, thu thập thông tin, bằng chứng để xử lý theo quy định của pháp luật”. Với những quy định này, cơ quan quản lý sẽ yêu cầu bên thiệt hại cung cấp chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Việc này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng liên quan đến cả việc chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Khoản 1 Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”. Với cách quy định này, người tiêu dùng chỉ phải chứng minh thiệt hại, khuyết tật và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và khuyết tật. Việc chứng minh không có lỗi lại thuộc nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, với khái niệm rủi ro phát triển, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định điều khoản miễn trừ trách nhiệm và nội dung điều luật phản ánh được tinh thần của khái niệm này. Theo quy định tại Điều 24 của Luật này, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá và dịch vụ được miễn trừ trách nhiệm bồi thường khi chứng minh được “khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng”. Có thể thấy được rằng, quy định này gần giống với bản Chỉ thị số 85/374/EEC khi dựa vào trình độ khoa học kỹ thuật để đưa ra yếu tố loại trừ trách nhiệm. Những quy định trên của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 dẫn đến những khó khăn và phức tạp trong việc áp dụng trong thực tiễn liên quan đến sản phẩm khuyết tật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Thứ nhất, theo quy định, cơ quan nhận chứng cứ từ người tiêu dùng có bao gồm việc chứng minh vi phạm của tổ chức hay không? Nếu bao gồm cả việc chứng minh vi phạm thì Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 không còn ý nghĩa khi đưa ra quy định người tiêu dùng không cần chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Bởi lẽ, ngay từ giai đoạn đầu tiên lúc khởi kiện, người tiêu dùng đã gặp khó khăn và trở ngại khi chứng minh vi phạm, đặc biệt là lỗi của nhà sản xuất. Trong thực tiễn gần đây đã có rất nhiều hành vi vi phạm xảy ra nhưng với quy trình tố tụng như trên đã gây trở ngại rất lớn cho người tiêu dùng. Ví dụ như vụ việc nhãn hàng C2, ngày 31/5/2016, 1184 thùng C2 tương đương với 10 tấn sản phẩm vừa bị thu hồi bởi quyết định của Thanh tra Bộ Y tế do hàm lượng chì trong nước giải khát này vượt quá mức cho phép. Theo các chuyên gia y tế, nếu lượng chì ngấm 1mg/ngày trong vòng 1 tháng thì bệnh bắt đầu trông thấy là “lợi” đen, thay đổi vị giác và nguy hiểm đến tính mạng. Nếu như người tiêu dùng thông thường thì không thể nào đủ tiềm lực để cung cấp chứng cứ về việc vi phạm của tổ chức được. Nói cách khác, người tiêu dùng phải chứng minh việc hàm lượng chì quá mức cho phép trong sản phẩm C2 của nhà sản xuất URC tại Hà Nội và việc này tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của họ. Cho nên chưa có một tiền lệ hay một nguyên tắc nào để một cá nhân khởi kiện trong trường hợp này và quyền lợi người tiêu dùng vẫn bị vi phạm hằng ngày mà chưa có một cơ chế bảo vệ hữu hiệu.
Thứ hai, so sánh với pháp luật châu Âu, bản Chỉ thị số 85/374/EEC có quy định dựa theo nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt kèm với quy định không quan tâm đến việc nhà sản xuất có lỗi hay không. Trái lại, với pháp luật Việt Nam dường như có sự pha trộn giữa nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt và trách nhiệm dựa vào lỗi. Nói cách khác, theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, không quan trọng nhà sản xuất hay kinh doanh có lỗi hay không nhưng trong Điều 42 của Luật này thì yêu cầu nhà sản xuất, kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi. Với cách quy định như vậy rất khó khăn trong việc xem xét chứng cứ của các bên trong vụ việc liên quan đến sản phẩm khuyết tật.
Thứ ba, khi phân tích kỹ về mặt nội dung rủi ro phát triển, điều luật này khác với bản Chị thị số 85/374/EEC. Theo đó, việc chứng minh trình độ khoa học kỹ thuật trong pháp luật Việt Nam phụ thuộc ý chí chủ quan của nhà sản xuất. Nếu như bản Chỉ thị 85/374/EEC sử dụng cụm từ “được phát hiện” nhằm nhấn mạnh kiến thức để nhận biết khuyết tật và không chỉ ra chủ thể nào phát hiện, thì pháp luật Việt Nam lại hướng đến việc cá nhân, tổ chức kinh doanh sản phẩm phát hiện khuyết tật. Nói cách khác, bản Chỉ thị này đưa ra tình trạng khách quan của khoa học kỹ thuật khi phát hiện ra khuyết tật còn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 hướng đến việc chứng minh mang tính chủ quan của bị đơn. Điều này dẫn đến tình trạng nhà sản xuất sẽ dựa vào kiến thức chủ quan của mình để chứng minh không có lỗi đối với sản phẩm có khuyết tật và quyền lợi người tiêu dùng sẽ không được đảm bảo một cách hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của luật còn phụ thuộc khá nhiều vào các văn bản dưới luật. Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011 về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ người tiêu dùng” đã được ban hành. Đối với hàng hóa có khuyết tật, Nghị định cũng quy định rõ khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá có trách nhiệm kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường. Đồng thời, cá nhân, tổ chức này phải thông báo công khai về việc thu hồi hàng hóa và tiến hành thu hồi theo nội dung đã thông báo công khai. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm khi chứng minh được khuyết tật của hàng hoá không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá cung cấp cho người tiêu dùng. Qua đó có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam đã tiếp cận được nhiều nội dung tiến bộ, cụ thể và sát với thực tiễn hơn so với các văn bản luật đã ban hành trước đó.
Như vậy, Bộ luật Dân sự, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cùng với một số luật khác đã xác định trách nhiệm của nhà cung cấp trong việc cung cấp cho người mua sản phẩm không có khiếm khuyết, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm đối với người bán, người cung ứng sản phẩm khiếm khuyết. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định chính sách bảo vệ người tiêu dùng của nhà nước. Tuy nhiên, những quy định này chưa thể tạo thành chế định trách nhiệm sản phẩm do không được xây dựng dựa trên các nền tảng của chế định trách nhiệm sản phẩm và do tiếp cận chủ yếu từ góc độ quản lý ngành, lĩnh vực. Các quy định hiện hành mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban đầu đến chế định trách nhiệm sản phẩm, mà chưa thể là một công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng. Khi áp dụng chế độ trách nhiệm sản phẩm dựa vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất thì quy định này gây rất nhiều khó khăn cho người tiêu dùng khi khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy, khi có thiệt hại do sản phẩm khiếm khuyết gây ra thì người tiêu dùng Việt Nam vẫn khó thực hiện quyền được khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại một cách hiệu quả. Ngoài ra, sự tồn tại của nhiều quy định về trách nhiệm sản phẩm như hiện nay cũng gây ra sự tản mạn, chồng chéo và thậm chí là mâu thuẫn trong hệ thống các quy định pháp luật, khiến cho mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng chưa thực sự hữu hiệu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
2.1.2 Các cơ chế hiện hành giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm sản phẩm
- Về thủ tục đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến trách nhiệm sản phẩm
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi sản phẩm. Cụ thể, Điều 42 của Luật quy định nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhưng việc quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi trong vụ án dân sự không có nghĩa là miễn trừ tất cả nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng. Để thực hiện việc khởi kiện, người tiêu dùng vẫn phải chứng minh thiệt hại, cung cấp chứng cứ về thiệt hại cũng như hành vi gây ra thiệt hại mà không cần phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây ra thiệt hại đó. Quy định này xuất phát từ vị trí yếu thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm chính là khuyết tật sản phẩm và thiệt hại đã xảy ra. Ở đây, người tiêu dùng không cần chứng minh lỗi này, mà nghĩa vụ chứng minh mình có lỗi hay không là ở phía các nhà sản xuất, nhà cung ứng nếu họ muốn miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Việc xác định căn cứ, dựa trên đó xác định khuyết tật sản phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng để xác định trách nhiệm nghiêm ngặt. Một sản phẩm bị coi là có khuyết tật khi sản phẩm đó không đảm bảo an toàn ở mức độ mà người ta có thể trông chờ được một cách hợp lí. Tuy nhiên, Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có ghi nhận quyền miễn trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong trường hợp khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện với trình độ khoa học – kỹ thuật tại thời điểm cung cấp hàng hóa tương tự như điểm đ khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và phù hợp với tinh thần của Chỉ thị 85/374/EEC. Như vậy, trong tình huống này, người tiêu dùng rơi vào tình thế bất lợi nếu như khi mua hàng hóa mà không biết rằng sản phẩm thụ hưởng đó có thể hay không thể phát hiện khuyết tật. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng không đề cập tới một trình tự hoặc phương thức rõ ràng để làm rõ nội hàm cụm từ “không thể phát hiện với trình độ khoa học – kỹ thuật tại thời điểm cung cấp hàng hóa”. Quy định không có hướng dẫn cụ thể như vậy, một lần nữa lại đặt người tiêu dùng vào vị thế bị động, có thể gặp rủi ro khi tiếp nhận hàng hóa do bản thân bị hạn chế không đủ năng lực để tự kiểm chứng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, bồi thường thiệt hại và xử lý vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định tại Chương V Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, từ Ðiều 54 đến Ðiều 67. Theo quy định của Luật này, tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm: Tranh chấp giữa người mua với người nhập khẩu, người bán hàng hoặc giữa các thương nhân với nhau do sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc thỏa thuận về chất lượng trong hợp đồng; tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng và các bên có liên quan do sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường. Có ba hình thức giải quyết tranh chấp là thương lượng giữa các bên tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian; giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án. Thủ tục giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại trọng tài hoặc tòa án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài hoặc tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khiếu nại, khởi kiện
Về thời hiệu khiếu nại, khởi kiện về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật quy định, giữa người mua với người bán hàng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự; giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được thực hiện theo quy định của Luật Thương mại. Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường do sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường là hai năm, kể từ thời điểm các bên được thông báo về thiệt hại với điều kiện thiệt hại xảy ra trong thời hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hóa có ghi hạn sử dụng và năm năm kể từ ngày giao hàng đối với sản phẩm, hàng hóa không ghi hạn sử dụng.
Ðể giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ quan tổ chức giải quyết tranh chấp chỉ định hoặc các bên đương sự thỏa thuận đề nghị cơ quan, tổ chức có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện việc kiểm tra, thử nghiệm, giám định sản phẩm, hàng hóa tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Căn cứ kiểm tra, thử nghiệm, giám định gồm: Thỏa thuận về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong hợp đồng; Tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng đối với sản phẩm, hàng hóa. Chi phí lấy mẫu và thử nghiệm hoặc giám định chất lượng sản phẩm, hàng hóa tranh chấp do người khiếu nại, khởi kiện phải chi trả. Trong trường hợp kết quả thử nghiệm hoặc giám định khẳng định tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải trả lại chi phí lấy mẫu và thử nghiệm hoặc giám định cho người khiếu nại, khởi kiện.
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, Luật quy định thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Thiệt hại được bồi thường là: Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người; thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Người sản xuất, người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho người bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không bảo đảm chất lượng hàng hóa, trừ các trường hợp Luật quy định không phải bồi thường (khoản 1 Ðiều 62 Luật này). Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của tòa án hoặc trọng tài. Người bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không bảo đảm chất lượng hàng hóa, trừ các trường hợp Luật quy định không phải bồi thường (khoản 2 Ðiều 62 của Luật này). Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của tòa án hoặc trọng tài.
Luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức đánh giá sự phù hợp khi cung cấp kết quả sai thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho tổ chức, cá nhân yêu cầu đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật về dân sự. Tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hóa được đánh giá sự phù hợp có nghĩa vụ chứng minh kết quả sai và lỗi của tổ chức đánh giá sự phù hợp nói trên.
Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền về quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền mà tổ chức, cá nhân cho là trái pháp luật hoặc về hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Luật cũng quy định tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về khiếu nại, tố cáo của mình.
Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tổ chức vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm nói trên được ấn định ít nhất bằng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm đã tiêu thụ và nhiều nhất không quá năm lần giá trị hàng hóa vi phạm đã tiêu thụ; tiền do vi phạm mà có sẽ bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tại tòa án về quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Do tính cấp thiết của vấn đề xây dựng pháp luật trách nhiệm sản phẩm, một mặt là để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, mặt khác là để tạo lập cơ sở cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tránh các vụ đòi bồi thường không thỏa đáng, một số quy định về trách nhiệm sản phẩm đã được quy định trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Khoản 6, Điều 7 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết”. Theo quy định này, việc nhà sản xuất phải có trách nhiệm về sản phẩm của mình đã được ghi nhận và bảo đảm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Cũng tương tự như luật trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia khác, Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam coi người tiêu dùng ở vị trí thế yếu so với nhà sản xuất kinh doanh nên các quy định trong luật này đều hướng tới việc bảo vệ tối đa lợi ích của người tiêu dùng thông qua những quy định pháp luật và sự can thiệp của Nhà nước. Luật Bảo vệ người tiêu dùng đã đưa ra những điều khoản giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong suốt qua trình từ khi ký hợp đồng đến quá trình mua bán và cả trách nhiệm bảo hành của người sản xuất kinh doanh với sản phẩm sau khi hoàn tất hợp đồng.
Ngoài ra, để đảm bảo sự bình đẳng giữa người tiêu dùng và người sản xuất kinh doanh, tránh việc người tiêu dùng lợi dụng những quy định của luật để khiếu kiện đòi bồi thường không thỏa đáng thì Luật cũng quy định thời hiệu khiếu nại và những trường hợp miễn trách cụ thể cho người sản xuất kinh doanh.
Như vậy, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa không đảm bảo chất lượng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam tương tự như chế độ trách nhiệm sản phẩm dựa vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất theo pháp luật của một số nước phát triển.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định chính sách bảo vệ người tiêu dùng của nhà nước.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã dành 3 điều tại Chương II để quy định về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật (Điều 22), trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật (Điều 23) và miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra (điều 24). Cụ thể các quy định này như sau:
- Về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường; thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa đó ít nhất 05 số liên tiếp trên báo ngày hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình tại địa phương mà hàng hóa đó được lưu thông (với các nội dung: mô tả hàng hóa phải thu hồi; lý do thu hồi hàng hóa và cảnh báo nguy cơ thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra; thời gian, địa điểm, phương thức thu hồi hàng hóa; thời gian, phương thức khắc phục khuyết tật của hàng hóa; các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình thu hồi hàng hóa); thực hiện việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thông báo công khai và chịu các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi; báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp tỉnh nơi thực hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hoàn thành việc thu hồi và nếu trường hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở trung ương.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra:
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 24 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa ở đây được hiểu bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa; Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng trong trường hợp không xác định được tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định. Bên cạnh đó, Điều 23 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
- Về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa quy định tại Điều 23 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ ghi nhận duy nhất một trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường liên quan đến hàng hóa có khuyết tật và trách nhiệm chứng minh này do tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện.
- Đánh giá pháp luật hiện hành về cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm sản phẩm có thể thấy rằng:
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự đã có những quy định mang tính nguyên tắc chung trong hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa. Pháp luật còn quy định cả trong trường hợp người gây thiệt hại phải bồi thường trong trường hợp không có lỗi (Điều 608, Bộ luật Dân sự). Với quy định này, Bộ luật Dân sự đã mở đường cho sự ra đời và phát triển của chế định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa mà không áp dụng cho trách nhiệm do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nói chung.
Thứ hai, khi áp dụng chế độ trách nhiệm sản phẩm dựa vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất thì quy định này đang gây rất nhiều khó khăn cho người tiêu dùng khi khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy, khi có thiệt hại do sản phẩm khiếm khuyết gây ra thì người tiêu dùng Việt Nam vẫn khó thực hiện quyền được khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại một cách hiệu quả.
2.2. Tình hình thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
2.2.1 Đánh giá mức độ tuân thủ trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Trong những năm qua, doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng ghi nhận về mặt nhận thức đối với vấn đề trách nhiệm sản phẩm, chuyển từ ít quan tâm đến quan tâm và một số doanh nghiệp đã đạt được chuẩn về trách nhiệm sản phẩm. Tuy nhiên, do nhận thức, ý thức của Doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh trong việc bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng còn hạn chế nên việc tuân thủ pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.
Ý thức coi thường quyền lợi của người tiêu dùng của các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh. Vì lợi ích trước mắt, lợi nhuận cao khi đưa ra các sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng với chi phí thấp nên một số doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh bất chấp tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng; không chỉ vi phạm đến quyền lợi người tiêu dùng mà còn là một trong những nguyên nhân gây nên việc mất sự bền vững trong phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Bên cạnh đó, tác động trở lại của việc này đối với lợi ích của doanh nghiệp đó là mất uy tín, mất thương hiệu, hàng hóa bị tẩy chay, thậm chí phải đối mặt với những khiếu kiện kéo dài, tốn kém về thời gian, tiền bạc của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bảo hành hàng hóa, sản phẩm, tình trạng không cung cấp cho người tiêu dùng giấy bảo hành; giấy tiếp nhận bảo hành; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đã cam kết; từ chối trách nhiệm về việc bảo hành; không trả chi phí sửa chữa, vận chuyển; không đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện hàng hóa…hoặc không có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành.
Hiện nay, thủy sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi 120 nước và vùng lãnh thổ. Trong năm 2017, tổng kim ngạch XK thủy sản đạt con số khá lớn là 8,3 tỷ USD. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Khi kim ngạch XK lớn, đi nhiều thị trường, các thị trường lại càng quan tâm tới thủy sản Việt Nam. Những yêu cầu từ thị trường ngày càng cao, chỉ tiêu kiểm tra, kiểm nghiệm ngày càng nhiều. Thời gian qua, các lô hàng thủy sản bị cảnh báo đến từ một số thị trường XK thủy sản chính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Ngoài ra, các thị trường khác nổi lên là Hàn Quốc, Australia… Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là, số lô hàng bị cảnh báo đã giảm rõ rệt, từ 128 lô trong năm 2016 còn 125 lô trong năm 2017. Tính riêng quý I năm 2018, con số bị cảnh báo chỉ là 23 lô. Nếu trên cơ sở qúy I để tính chung cả năm 2018, dự kiến số lô hàng bị cảnh báo khoảng trên 80 lô. Tình hình các lô hàng thủy sản xuất khẩu bị cảnh báo vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh, uy tín sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, làm giảm hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và tác động tiêu cực đến đời sống của ngư dân và người nuôi trồng thủy sản. Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên có thể kể đến là: (1) Một số hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nhưng vẫn được sử dụng trong y tế, công nghiệp và chăn nuôi động vật trên cạn. Việc phối hợp để kiểm soát chưa chặt chẽ, các hộ nuôi thủy sản có thể dễ dàng tiếp cận và lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản, (2) vẫn còn hiện tượng nhập lậu hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y không rõ nguồn gốc xuất xứ và bị lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản, (3) Việc quản lý, cấp phép cũng như kiểm tra, giám sát lưu thông, mua bán, sử dụng các sản phẩm thuốc thú y, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản chưa chặt chẽ, dẫn đến việc các hộ nuôi lạm dụng dẫn đến gây tồn dư trong sản phẩm, (4) Phần lớn các cơ sở nuôi trồng, cơ sở thu mua thủy sản của Việt Nam nhỏ lẻ, chưa đáp ứng đầy đủ quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, vẫn còn một số cơ sở vì lợi ích trước mắt đã sử dụng hóa chất, kháng sinh để bảo quản thủy sản, (5) Chương trình quản lý chất lượng của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản chưa được thường xuyên rà soát, cập nhật để kiểm soát hiệu quả vệ sinh, an toàn thực phẩm. Để xử lý dứt điểm vấn đề các lô hàng thủy sản bị cảnh báo các chỉ tiêu an toàn thực phẩm đặc biệt là tồn dư hóa chất, kháng sinh vượt mức quy định tại các thị trường nhập khẩu, Thủ tướng Chính phủ đã phải ban hành Chỉ thị 09/CT-TTg năm 2018 ngày 04-4-2018 về khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài trả về.
Qua đó có thể thấy rằng, doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc bảo đảm chất lượng hàng hóa trước khi xuất khẩu sang nước ngoài. Bản thân doanh nghiệp chưa nắm vững yêu cầu của nước nhập khẩu về an toàn thực phẩm, giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL), danh mục thuốc sử dụng tại nước nhập khẩu. Đặc biệt chú ý thuốc cấm sử dụng từ nước nhập khẩu. Bản thân các doanh nghiệp cũng chưa chủ động trong việc tìm kiếm thị trường và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật từ quốc gia đó vào thực tế để tạo ra hàng hóa chất lượng tốt, phù hợp với thị hiếu khách hàng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
2.2.2 Mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến việc thực thi trách nhiệm sản phẩm
Thực trạng vi phạm chất lượng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp vẫn xảy ra cho thấy doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến việc thực thi trách nhiệm sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người tiêu dùng. Trong thực tế, khi nhận được khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, một số doanh nghiệp chưa có biện pháp xử lý một cách kịp thời và hợp lý, thậm chí tìm nhiều cách để thoái thác trách nhiệm của mình. Điển hình như vụ việc sản phẩm kém chất lượng của Công ty Tân Hiệp Phát. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức được trách nhiệm sản phẩm không chỉ là vấn đề tuân thủ pháp luật mà còn liên quan đến trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng chưa hiểu được nếu thực hiện đúng các quy định về pháp luật nói chung và các quy định liên quan đến trách nhiệm sản phẩm nói riêng là đồng thời doanh nghiệp đang nâng cao uy tín, danh dự của chính đơn vị mình.
Ở các nước phát triển, một hình thức mà các doanh nghiệp thể hiện việc thực thi pháp luật một cách có hiệu quả là sản phẩm khuyết tật được phát hiện sẽ bị thu hồi một cách tự giác. Điều này thể hiện ý thức đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà cả ở góc độ kinh tế và pháp luật, nếu sản phẩm đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì nguy cơ phải đối mặt với kiện tụng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn lớn hơn nhiều so với việc doanh nghiệp tự thu hồi sản phẩm. Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp tại Việt Nam cũng đã thể hiện được tinh thần và thái độ tuân thủ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ví dụ như: Công ty Lenovo (Singapore) Pte. Ltd. (Công ty Lenovo) đã tổ chức chương trình Thu hồi sản phẩm máy tính xách tay Lenovo ThinkPad X1 Carbon vào tháng 02 năm 2018 do trên các sản phẩm thuộc chương trình có một chiếc ốc chưa được vặn chặt có khả năng khiến pin của máy tính xách tay nóng lên và có khả năng dẫn đến nguy cơ cháy. Tuy nhiên, về vấn đề này, hiện nay doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể hiện ý thức cao, việc tự thu hồi sản phẩm trên thị trường còn rất ít. Việc thu hồi hầu như chỉ xảy ra đối với các công ty nước ngoài tại Việt Nam.
- Bảng 2.2: Danh mục các sản phẩm bị thu hồi năm 2017 tại Việt Nam
Từ số liệu trên có thể thấy, hầu hết sản phẩm bị thu hồi thuộc nhóm hàng hóa là phương tiện vận tải (cụ thể trong năm 2017 có 04 vụ việc liên quan đến xe máy, 10 vụ việc liên quan tới ô tô và 01 sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm tiêu dùng khác). Điểm ghi nhận đặc biệt trong năm 2017, đối với hoạt động thu hồi sản phẩm khuyết tật là việc các doanh nghiệp đã chủ động liên hệ với Cục Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để thông báo về quá trình và kết quả hoạt động thu hồi sản phẩm khuyết tật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Thực trạng hiện nay tại Quảng Ninh, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Công tác giám sát của địa phương vẫn chưa chặt chẽ. Quan trọng nhất là trách nhiệm, ý thức nâng cao chất lượng sản phẩm của một số doanh nghiệp, hợp tác, cơ sở sản xuất còn chưa cao. Điều này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của sản phẩm, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Các sản phẩm được sản xuất tại Quảng Ninh về chất lượng tốt, chủng loại, đặc trưng. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm đang thiếu các thủ tục pháp lý. Thời gian qua, các doanh nghiệp đã nỗ lực hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hoàn thiện thủ tục để đưa sản phẩm vào tiêu thụ trong siêu thị. Song, đến nay, mới chỉ có một số rất ít sản phẩm đáp ứng đầy đủ điều kiện được đưa vào tiêu thụ tại các siêu thị do chưa có đủ điều kiện bảo đảm chất lượng sản phẩm. Thêm vào đó, nguồn gốc của sản phẩm trong và ngoài tỉnh được đưa vào các hội chợ chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nếu không khắc phục điều này, chất lượng và giá trị của các sản phẩm của Quảng Ninh sẽ bị hạ thấp và không quảng bá rộng rãi đến người tiêu dùng.
Để cạnh tranh được với thị trường hiện nay, các sở, ngành, địa phương cần hỗ trợ cơ sở sản xuất hoàn thiện thủ tục pháp lý, tăng cường giám sát, đồng thời các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất phải chú trọng đến mẫu mã, bao bì, chất lượng đảm bảo uy tín sản phẩm của mình.
Một điểm đáng chú ý hiện nay là tại Việt Nam đã có nhiều công ty kinh doanh bảo hiểm đã cung cấp dịch vụ bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm như: Bảo hiểm quân đội MIC, Công ty cổ phần Bảo Minh, Công ty bảo hiểm viễn thông VASS,…Đây là loại hình bảo hiểm trong trường hợp sản phẩm của bên được bảo hiểm có khuyết tật gây thiệt hại cho người tiêu dùng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay mặt nhà cung cấp sản phẩm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng. Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm cho đến nay được doanh nghiệp quan tâm nhằm mục đích như quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp nhằm khẳng định chất lượng sản phẩm của mình hoặc nhằm xuất khẩu hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa được đối tá yêu cầu phải mua bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm. Thế nhưng với thị trường nội địa thì nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến vấn đề này do nếu mua bảo hiểm thì giá thành của sản phẩm sẽ cao hơn giảm tính cạnh tranh. Hiện nay các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thường được yêu cầu mua bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm như gốm sứ mỹ nghệ, thủy sản, đồ gỗ, hàng may mặc…Còn tại thị trường nội địa, doanh nghiệp chủ yếu mua bảo hiểm cho các mặt hàng có độ rủi ro cao như bình gas, ổn áp, suất ăn công nghiệp, xe hơi… Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Thực tế cho thấy hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật của doanh nghiệp còn nhiều tồn tại. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu vào thị trường các nước phát triển thường rơi vào thế bị động và thua thiệt do chưa có thói quen tuân thủ pháp luật và coi nhẹ yếu tố pháp lý trong hoạt động kinh doanh của mình; do không hiểu về pháp luật nước ngoài và thông lệ quốc tế; chưa có thói quen sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp; không có sự chuẩn bị kỹ càng hoặc thiếu kinh nghiệm trong thương thảo hợp đồng…
Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nhận diện hết các rủi ro, chưa chuẩn bị phòng ngừa và sẵn sàng đối mặt với môi trường kinh doanh quốc tế. Do chưa có sự am hiểu đầy đủ về các yếu tố pháp luật nước ngoài và quốc tế, việc quản lý rủi ro pháp lý của các DN Việt Nam trong quan hệ quốc tế chưa được bảo đảm, nhiều doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nguy cơ thiệt hại không đáng có. Nếu không hiểu biết đầy đủ các quy định về trách nhiệm sản phẩm, DN Việt Nam sẽ không thâm nhập được vào thị trường quốc tế kéo theo hàng loạt hệ quả không mong đợi khác.
2.2.3 Ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng liên quan đến trách nhiệm sản phẩm
Trong 6 tháng đầu năm 2018, Tổng đài đài tư vấn hỗ trợ người tiêu dùng thuộc Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng (với số điện thoại miễn phí toàn quốc 1800. 6838) đã ghi nhận 3.953 cuộc gọi đến, trong đó các tổng đài viên của Cục đã tiếp nhận và trả lời 2.240 cuộc gọi, chiếm 56,67%.
Trong số 2240 cuộc gọi có nhân viên trả lời, có 987 cuộc gọi liên quan đến yêu cầu hỗ trợ giải quyết khiếu nại hoặc phản ánh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Các cuộc gọi còn lại có nội dung tư vấn các lĩnh vực khác.
- Biểu đồ 2.2: Các vụ việc yêu cầu tư vấn phân chia theo hành vi
Trong số 987 yêu cầu gọi tới Cục CT&BVNTD, nếu phân loại theo hành vi bị khiếu nại, có 17,12% trường hợp phản ánh về Số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng, thu hồi sản phẩm khuyết tật chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, khi xảy ra việc hàng hóa có khuyết tật, người tiêu dùng vẫn là chủ thể chịu thiệt hại đầu tiên. Tuy nhiên, việc người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức, ý thức được việc tự bảo vệ mình trước những rủi ro nhất định. Thực trạng đó đang diễn ra như sau:
Thứ nhất, người tiêu dùng là tất cả mọi người, là số đông trong xã hội nhưng khi hành động thì chủ yếu là hành động riêng lẻ. Trong quan hệ giao dịch với doanh nghiệp, người tiêu dùng thường đứng ở thế yếu và thường chịu thiệt thòi, nhiều khi bất bình nhưng không biết cách để đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Mặt khác, tình trạng ngại va chạm, ngại đến cơ quan công quyền của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng cho rằng các lợi ích thường từ các giao dịch nhỏ, giá trị tài sản thường chỉ phục vụ đời sống hàng ngày. Do đó, họ thường lựa chọn thái độ im lặng, không sử dụng sản phẩm đó nữa thay vì khiếu nại đến cơ quan Nhà nước; ít có những phản ứng quyết liệt trước những vi phạm của doanh nghiệp, chưa biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh không bị phát hiện, không được xử lý nên không được ngăn chặn kịp thời.
Thứ hai, là do người tiêu dùng thường có thói quen sử dụng sản phẩm rẻ, phù hợp với túi tiền. Tuy nhiên, bên cạnh một số ít sản phẩm có chất lượng tốt nhưng giá rẻ thì số lượng hàng nhái, hàng giả tràn lan trên thị trường với giá thành thấp hơn nhiều lần hàng thật là một sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Thói quen sinh hoạt trong thời đại nền kinh tế thị trường, áp lực công việc nên nhiều người dân thường lựa chọn những sản phẩm tiện dụng, có sẵn mặc cho chất lượng thấp, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (đồ ăn sẵn, hàng quán vỉa hè,…) cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn phổ biến. Bởi vì bên cạnh việc bất chấp của các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh thì việc người tiêu dùng chấp nhận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó cũng vô tình tạo nên thị trường tiêu thụ cho sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng.
Thứ ba, khi người tiêu dùng tiến hành khiếu nại, khiếu kiện (tự mình hoặc thông qua Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng trực thuộc VINASTAS và các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở các tỉnh thành) thì việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của người tiêu dùng không hề đơn giản do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến thái độ coi thường người tiêu dùng, vô tình hoặc cố ý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ phía doanh nghiệp.
Thứ tư, các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như chất lượng, độ an toàn, đo lường…thường là vấn đề khó chứng minh thiệt hại hoặc không phải lúc nào cũng có khoa học kĩ thuật chứng minh. Do đó, người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu không thể thực hiện được việc khởi kiện để đòi bồi thường thiệt hại do các sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất gây ra.
2.2.4 Thực tế giải quyết, khôi phục các quyền lợi của người tiêu dùng bị vi phạm và các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Hiện nay việc khôi phục các quyền lợi cho người tiêu dùng trong các vụ việc liên quan đến trách nhiệm sản phẩm đôi khi chưa đạt được kết quả như mong muốn. Tại Việt Nam, có nhiều cơ quan được giao trách nhiệm bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng. Ở cấp Trung ương, cơ quan được giao trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là Cục Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra còn có các cơ quan như: Cục Quản lý thị trường, Cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục quản lý dược…Bên cạnh đó, Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng hiện nay.
Việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật Công tác thu hồi hàng hóa có khuyết tật được quy định rõ ở Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh sản xuất, nhập khẩu hàng hóa đều phải có trách nhiệm thông báo, ngăn chặn và đưa ra các thông tin cần thiết cho người tiêu dùng khi phát hiện sản phẩm có khuyết tật và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cũng như tài sản của người tiêu dùng. Theo số liệu từ Cục Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, 6 tháng đầu năm 2018, đa số các vụ việc hoặc yêu cầu tư vấn của người tiêu dùng đã được các tổng đài viên tư vấn ngay khi tiếp nhận. Đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền địa phương (phạm vi 01 tỉnh, thành phố hoặc giá trị tranh chấp nhỏ, tình tiết đơn giản), các Tổng đài viên thường cung cấp thông tin và hướng dẫn người tiêu dùng liên hệ trực tiếp doanh nghiệp, Sở Công Thương và Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương. Đối với các khiếu nại có tình tiết phức tạp, có giá trị tranh chấp lớn hoặc liên quan đến nhiều người tiêu dùng, tổng đài viên thường trực tiếp tư vấn, hỗ trợ và hướng dẫn người tiêu dùng gửi đơn khiếu nại bằng các hình thức khác tới Cục CT&BVNTD (email, gửi bưu điện, gửi qua trang web bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đến trực tiếp). Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Trong tổng số 987 vụ việc được tiếp nhận và xử lý, tháng 5, tháng 4 và tháng 6 có số lượng vụ việc lớn (tương ứng 320, 250 và 222 vụ việc). Trong những năm qua, đã nổi lên nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích NTD. Tuy nhiên, các vụ việc này vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng:
Vụ thứ nhất, liên quan đến sản phẩm sữa, sự việc sữa có nhiễm melamine gây Ngộ độc mãn tính xảy ra khi uống, ăn các sản phẩm chứa melamine, gây ảnh hưởng tới đường tiết niệu như sỏi bàng quang, sỏi thận, gây nguy hại cho sức khỏe trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 6 tháng tuổi.ở Trung Quốc gây ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng Việt Nam vì phần lớn nguyên liệu sữa được nhập từ Trung Quốc. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã phát hiện phát hiện mẫu sữa bột nguyên kem của công ty cổ phần thực phẩm Anco Ba Vì có chất Melamine với hàm lượng 203 microgam/kg. Các cơ quan quản lý chất lượng hàng hóa đã không thực hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc để sản phẩm sữa không đảm bảo chất lượng tràn lan trên thị trường, vi phạm quyền và lợi ích của người tiêu dùng.
- Vụ thứ hai, việc nông sản Việt Nam bị trả về:
Năm 2017, một lô hàng của doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang Mỹ bị phát hiện có chất carbendazim. Lập tức lô hàng của nhà nhập khẩu Mỹ bị cơ quan chức năng nước này tiêu hủy và phạt hơn 50.000 USD. Sau đó nhà nhập khẩu đã gửi cảnh báo cho phía DN Việt, nếu còn vi phạm chất cấm thì nguy cơ sẽ mất thị trường xuất khẩu. Một số DN thừa nhận quy định về chất cấm trên của Mỹ đã có từ lâu nhưng DN có phần chủ quan nên chịu thiệt hại. Bên cạnh đó, các DN loay hoay tìm chất thay thế chất cấm nhưng lại không có. Ví dụ với chất cấm carbendazim, sau khi DN phản ánh thì đến tháng 1-2017, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn mới có quyết định loại bỏ các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa ba hoạt chất gồm carbendazim, benomyl và thiophanate-methyl ra khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam; đồng thời các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa ba hoạt chất trên được buôn bán, sử dụng tối đa hai năm kể từ ngày 03-01-2017. Tức từ nay đến năm 2019 thì chất cấm trên mới bị cấm hoàn toàn. Điều này cũng đồng nghĩa nguy cơ rau quả, trái cây xuất khẩu sang Mỹ bị trả về vẫn treo lơ lửng.
Các DN xuất khẩu tôm cũng đang đứng trước nguy cơ mất hàng loạt thị trường vì khó khăn đáp ứng quy định mới hàng rào kỹ thuật về bệnh dịch, tồn dư kháng sinh. Cụ thể, vừa qua sáu thị trường gồm Úc, Hàn Quốc, Saudi Arabia, Trung Quốc, Brazil và Mexico đã yêu cầu các lô hàng tôm của Việt Nam phải xuất phát từ cơ sở an toàn dịch bệnh. Nếu không thì từng lô phải có chứng nhận sạch bệnh đối với sản phẩm tôm chưa nấu chín. Những thị trường này hiện chiếm đến hơn 25% tỉ trọng xuất khẩu tôm của Việt Nam, tương đương 800 triệu USD/năm. Tuy nhiên, theo Cục Thú y, đơn vị này đã nhiều lần cảnh báo về các quy định từ phía nước ngoài để phối hợp ứng phó nhưng các DN vẫn khá thờ ơ. Ngay như hội nghị mới đây được tổ chức nhằm tháo gỡ khó khăn về vấn đề này cho DN, Cục Thú y mời gần 40 DN để triển khai nhưng chỉ có… ba DN tham dự.
Rau quả xuất khẩu của nước ta đã được sản xuất theo quy trình VietGAP, GlobalG.A.P. Nhưng kẽ hở chính là cách quản lý. Cụ thể, một số DN bỏ mặc khâu giám sát quá trình trồng trọt dẫn đến tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức cho phép. Ngoài ra, cơ quan chức năng quản lý lỏng lẻo khiến thị trường thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc vẫn bán tràn lan.
Các DN xuất khẩu tôm cũng đang đứng trước nguy cơ mất hàng loạt thị trường vì khó khăn đáp ứng quy định mới hàng rào kỹ thuật về bệnh dịch, tồn dư kháng sinh. Cụ thể, vừa qua sáu thị trường gồm Úc, Hàn Quốc, Saudi Arabia, Trung Quốc, Brazil và Mexico đã yêu cầu các lô hàng tôm của Việt Nam phải xuất phát từ cơ sở an toàn dịch bệnh. Nếu không thì từng lô phải có chứng nhận sạch bệnh đối với sản phẩm tôm chưa nấu chín. Những thị trường này hiện chiếm đến hơn 25% tỉ trọng xuất khẩu tôm của Việt Nam, tương đương 800 triệu USD/năm.
2.2.5. Nhận xét chung Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, điều chỉnh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận như quy định tương đối đầy đủ, toàn diện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy định hiện hành về nghĩa vụ của doanh nghiệp còn có một số hạn chế cụ thể như sau:
Một là, các quy định về bảo vệ người tiêu dùng còn mang tính chung chung, khó thực hiện. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền của người tiêu dùng mà chưa có những cơ chế cụ thể để thực thi các quyền này. Chính vì vậy, công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn.
Hai là, các quy định của pháp luật hiện hành chưa xây dựng được một cơ chế giải quyết các khiếu nại, tranh chấp hữu hiệu để người tiêu dùng có thể tự bảo vệ mình. Hiện nay, tranh chấp giữa người tiêu dùng và các doanh nghiệp được hiểu là các tranh chấp dân sự thông thường nên được xử lý theo các quy định hiện hành về pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, các tranh chấp của người tiêu dùng với doanh nghiệp có đặc thù là những tranh chấp nhỏ, đơn giản và cần giải quyết nhanh chóng, thuận tiện cho người tiêu dùng. Thực tế cho thấy việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng là chưa phù hợp do thủ tục quá phức tạp và tốn kém, không phù hợp với khiếu nại, giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng. Đây là lý do chính dẫn đến việc người tiêu dùng nước ta thường e ngại việc khiếu nại, khởi kiện ra tòa khi bị vi phạm quyền lợi. Lợi dụng vấn đề này nên nhiều doanh nghiệp thường không đề cao ý thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dẫn đến gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Ba là, quy định của pháp luật chưa có những chế tài đặc thù đủ sức răn đe các hành vi vi phạm pháp luật của thương nhân nên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp coi thường pháp luật và người tiêu dùng.
Bốn là, các vụ việc liên quan đến trách nhiệm sản phẩm được giải quyết không phải lúc nào cũng nhanh chóng bởi quy trình giải quyết vụ việc khá phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề như chứng minh thiệt hại, thu thập chứng cứ.
Năm là, hoạt động kiểm tra chất lượng hàng hóa trên thị trường bị xem nhẹ, chỉ sau khi có thông tin liên quan đến hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng mới bắt tay vào làm. Chính vì vậy, hàng hóa kém chất lượng vẫn đến được tay người tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật, để xử lý được hàng giả thì bắt buộc phải có giám định kết luận hàng giả. Nhiều mặt hàng khi muốn giám định phải tốn chi phí rất cao. Bên cạnh đó, rất nhiều vụ vi phạm lại không giám định được vì hàng hóa có nguồn gốc từ các nước không đăng ký chất lượng tại Việt Nam, hàng hóa không được xác nhận là hàng giả vì không có cơ quan đại diện của nhà sản xuất tại Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
Trong chế định trách nhiệm sản phẩm, trách nhiệm nghiêm ngặt là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất, quyết định đến các nội dung khác của chế định này. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lựa chọn nguyên tắc này làm nền tảng làm tăng thêm tính nghiêm khắc của chế định trách nhiệm sản phẩm. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với sự gia tăng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng bằng những công cụ pháp lý hữu hiệu hơn, trong những năm qua, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam đã và đang dành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, những người xây dựng chính sách, các cơ quan truyền thông và toàn xã hội. Phần lớn các DN hiện nay chưa nhận diện hết các rủi ro, chưa chuẩn bị phòng ngừa và đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra trong môi trường kinh doanh. Do chưa am hiểu đầy đủ kiến thức về pháp luật trách nhiệm sản phẩm trong nước cũng như quốc tế nên vẫn xảy ra nhiều thiệt hại không đáng có. Mỗi quốc gia luôn xây dựng một hệ thống pháp luật, chính sách để bảo vệ thị trường, DN và người tiêu dùng của mình. Điều này cho thất sự phức tạp của pháp luật quốc tế và nguy cơ cao về các rủi ro thương mại. Đây thực sự là một khó khăn và thách thức lớn cho DN khi hoạt động trên thị trường thế giới. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
