Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương sự trong tố tụng dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 QUY ĐỊNH VỀ THÀNH PHẦN, TƯ CÁCH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1.1. Quy định về thành phần của đương sự
Về thành phần đương sự, trước khi BLTTDS ra đời, trong các pháp lệnh quy định phạm vi các chủ thể có thể được xác định là đương sự tương đối hạn chế. PLTTGQCVADS 1989 quy định đương sự là công dân, pháp nhân (Điều 19); PLTTGQCVAKT 1994 quy định đương sự là cá nhân, pháp nhân (Điều 20); PLTTGQCTTLĐ 1996 quy định đương sự là cá nhân, tập thể lao động, tổ chức sử dụng lao động (Điều 19). Tuy nhiên, khi BLTTDS ra đời, phạm vi các chủ thể có thể được xác định là đương sự trong VADS đã có sự mở rộng hơn bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 56 BLTTDS).
Đối với trường hợp đương sự là “cá nhân” có thể xác định bao gồm công dân Việt Nam, người không quốc tịch, người nước ngoài. Còn đối với đương sự là “cơ quan” – để xác định khi đương sự là các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, để các cơ quan nhà nước có thể xác định là đương sự thì cơ quan đó phải có tư cách pháp nhân. Các bộ phận trực thuộc các cơ quan này hay văn phòng đại diện không có tư cách pháp nhân thì không được xác định là đương sự trong TTDS.
Trong trường hợp, đương sự trong tố tụng là “tổ chức” thì tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân hoặc những tổ chức không có tư cách pháp nhân nhưng các tổ chức này tham gia các quan hệ một cách độc lập, không phụ thuộc vào cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về tài sản, nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập. Tuy nhiên, các tổ chức không có tư cách pháp nhân mà hoạt động phụ thuộc vào tổ chức có tư cách pháp nhân thì tổ chức này không được xác định là đương sự.
Qua quy định tại Điều 56 BLTTDS, đương sự là “cơ quan” để chỉ cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc quy định thành phần đương sự là “cơ quan” là không cần thiết. Bởi vì, các cơ quan Nhà nước cũng là một tổ chức do vậy chỉ cần quy định đương sự là cá nhân, tổ chức là đủ. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung [40] đã quy định riêng biệt:
“Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Tuy nhiên, để phù hợp với các loại chủ thể do pháp luật nội dung quy định, Điều 56 nên quy định thành: “đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người yêu cầu, người liên quan” để chi tiết hơn thuận tiện trong việc xem xét áp dụng, giải quyết.
Như vậy, khi xác định được thành phần đương sự thì TA cần phải xác định những chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật nội dung mà TA đang giải quyết. Những chủ thể đó mới có thể được xác định là đương sự. Do vậy, đối với các chủ thể không phải là một bên độc lập trong quan hệ pháp luật nội dung thì chủ thể đó không được xác định là đương sự. Chẳng hạn như doanh nghiệp tư nhân khi tham gia các quan hệ thì đương sự được xác định là chủ doanh nghiệp tư nhân chứ không phải là doanh nghiệp tư nhân đó.
2.1.2. Quy định về tư cách của đương sự
Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS, tư cách đương sự trong VADS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngoài ra, các Điều 311, Điều 312 và Điều 313 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 tuy không trực tiếp quy định về tư cách của đương sự trong VDS, nhưng thông qua các quy định này, chúng ta có thể xác định tư cách đương sự trong VDS bao gồm: người yêu cầu, người liên quan.
- Nguyên đơn Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Trong quá trình giải quyết VADS, nguyên đơn là chủ thể có vai trò khởi động hoạt động tố tụng và là chủ thể chủ động tham gia vào hoạt động tố tụng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì:
“2. Nguyên đơn trong VADS là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện VADS để yêu cầu TA bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn…”
Theo cách hiểu chung nhất nguyên đơn là người đứng đơn khởi kiện. Tuy nhiên, người khởi kiện và nguyên đơn có thể khác nhau. Thông thường thì người khởi kiện chính là nguyên đơn nhưng cũng có những trường hợp người được bảo vệ quyền lợi do việc khởi kiện của chủ thể khác mới được xác định là nguyên đơn.
Trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 năm 2015 vẫn giữ các nguyên các quy định về nguyên đơn, tại khoản 2 Điều 68 [35]
Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện hoặc người được người khác có thẩm quyền khởi kiện để yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Bị đơn
Bị đơn là chủ thể không thể thiếu trong quá trình TA giải quyết VADS, theo đó bị đơn là chủ thể bao giờ cũng đi kèm với nguyên đơn. Khi đã xác định tư cách nguyên đơn thì cũng đồng thời với việc xác định tư cách bị đơn. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chất chủ động, còn việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính chất bị động, do bị “bắt buộc” tham gia tố tụng.
Khoản 3 Điều 56 BLTTDS 2004 quy định: “Bị đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là bị đơn trong VADS khi có hai đặc điểm sau:
Là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 khởi kiện. Khi các chủ thể khởi kiện thực hiện việc khởi kiện đối với đích danh ai ghi rõ trong đơn khởi kiện thì người đó được xác định là bị đơn. Thông thường bị đơn chính là chủ thể trực tiếp trong mối QHPL nội dung với nguyên đơn. Tuy nhiên, để xác định bị đơn chúng ta cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung để xác định trong mỗi trường hợp cụ thể ai mới là chủ thể trong QHPL nội dung với nguyên đơn.
Bị đơn cũng chỉ là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn. Ở đây mới chỉ dừng lại là giả thiết ban đầu còn thực tế bị đơn có xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn hay không phải được khẳng định bằng bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, thông thường khi nguyên đơn khởi kiện và để được TA thụ lý giải quyết thì nguyên đơn hoặc chủ thể khởi kiện đã cung cấp được các chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp. Do đó, đa số các trường hợp thực tế bị đơn là người có xâm phạm hoặc tranh chấp với nguyên đơn. Trong thực tiễn có thể xuất hiện trường hợp nguyên đơn hoặc các chủ thể khởi kiện đã khởi kiện không đúng chủ thể có vi phạm hoặc tranh chấp với nguyên đơn nhưng TA vẫn thụ lý. Sau khi TA thụ lý, TA vẫn xác định chủ thể bị kiện trong trường hợp này là bị đơn, nhưng không phải là bị đơn đích thực. Nếu theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành thì trường hợp này TA sẽ giải quyết VADS và bác yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn sẽ phải khởi kiện đối với bị đơn đích thực ở một VADS khác.
Trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi vẫn giữ nguyên các quy định về bị đơn tại khoản 3 Điều 68 [35].
Như vậy, bị đơn là người bị nguyên đơn hoặc bị người khác có thẩm quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật khi cho rằng đã vi phạm hoặc tranh chấp với nguyên đơn. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Đồng nguyên đơn, đồng bị đơn
Theo quy định tại Điều 163 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, trong một VADS có thể có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn. Đối với những VA mà giữa các nguyên đơn, giữa các bị đơn không mâu thuẫn với nhau về quyền và lợi ích, các lợi ích của họ không chống lại nhau, các yêu cầu hay phản yêu cầu (ý kiến phản đối) của họ không loại trừ nhau thì cần quy định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn. Các đồng nguyên đơn, đồng bị đơn thường gắn liền với tính nhiều chủ thể của các QHPL nội dung đang tranh chấp (quan hệ nghĩa vụ, quan hệ sở hữu chung; quan hệ hôn nhân…). Đối với những VADS có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn nhưng giữa các nguyên đơn, giữa các bị đơn với nhau có mâu thuẫn về quyền và lợi ích hoặc nhiều nguyên đơn kiện một bị đơn theo nhiều vấn đề khác nhau thì không phải là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn [20]. Việc phân chia này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền, nghĩa vụ tố tụng của mỗi đương sự trong từng trường hợp này. Tuy nhiên, BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 lại không có quy định như thế nào là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn trong VADS và quyền, nghĩa vụ của đồng nguyên đơn, đồng bị đơn. Trong khi đó thực tiễn đòi hỏi phải có những quy định về chủ thể này làm cơ sở cho việc giải quyết tại TA.
Trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi [35] không có quy định cụ thế về đồng nguyên đơn và đồng bị đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Theo quy định khoản 4 Điều 56 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được TA chấp nhận đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì trước hết các chủ thể này phải có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS mà TA đang giải quyết, đồng thời phải được TA đưa họ vào tham gia tố tụng do thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của chính họ hay của đương sự khác. So với nguyên đơn, bị đơn thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các đặc điểm sau đây: Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Về thời điểm tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Kết quả TA giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn có thể ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Sự liên quan về quyền và lợi ích với việc giải quyết mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn là lý do tham gia của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Họ có thể bảo vệ lợi ích của mình bằng cách đưa ra yêu cầu độc lập hoặc không đưa ra yêu cầu độc lập, đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn để chống lại đương sự phía bên kia.
Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tham gia vào VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình bằng việc đưa ra yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bị đơn.
Theo quy định khoản 2, 3, 4 Điều 56 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã đề cập đến khái niệm về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có quy định rõ khái niệm các loại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong khi đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 61 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: “Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn”. Trong khoa học pháp lý, hai loại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này được phân biệt như sau:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào VADS đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và việc tham gia tố tụng của họ độc lập với nguyên đơn, bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ, chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn, do vậy yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn, bị đơn hoặc trong một số trường hợp yêu cầu của họ chỉ chống nguyên đơn hoặc chỉ chống lại bị đơn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Vì có yêu cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị đơn nên thông thường người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện pháp lý để khởi kiện VADS để TA giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu không tham gia ngay vào VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn mà khởi kiện thành VADS khác để bảo vệ quyền lợi cho mình thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau đó sẽ gặp khó khăn, phức tạp hơn. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người tham gia vào VA đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn do có quyền, lợi ích luôn gắn liền với quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Vì vậy, họ không thể khởi kiện để TA giải quyết ở VA riêng, mà bản án, quyết định của TA giải quyết VA ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với bên nguyên đơn hoặc bị đơn.
Pháp luật hiện hành lại không có quy định khái niệm hai loại người này đã dẫn đến một thực tế tại các TA khi giải quyết các VADS chỉ xác định tư cách một chủ thể nào đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chung chung mà không xác định cụ thể chủ thể đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không có yêu cầu độc lập. Và hiện nay Dự thảo bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung cũng chưa đề cập đến. Vì vậy, BLTTDS cũng cần bổ sung quy định tại về khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn.
- Người yêu cầu
Người yêu cầu tham gia tố tụng bằng việc nộp đơn yêu cầu TA xác định về một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ hoặc yêu cầu TA công nhận một quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình. Trong trường hợp các cá nhân, tổ chức không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến giải quyết VDS mà yêu cầu giải quyết VDS để bảo vệ quyền lợi cho cá nhân, tổ chức khác thì cá nhân, tổ chức được bảo vệ quyền lợi được xác định là người yêu cầu. Việc tham gia của người yêu cầu trong VDS có vị trí độc lập giống nguyên đơn trong VADS, hành vi nộp đơn yêu cầu là một trong những căn cứ để TA thực hiện hành vi thụ lý làm phát sinh VDS tại TA. Vì vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức để được xác định là người yêu cầu trong VDS khi có hai đặc điểm sau: Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Thứ nhất, người yêu cầu là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc TA xác định sự kiện pháp lý hoặc công nhận hay không công nhận quyền, nghĩa vụ.
Thứ hai, là người nộp đơn yêu cầu hoặc được người khác nộp đơn yêu cầu giải quyết VDS để bảo vệ quyền lợi.
Như vậy, để xác định người yêu cầu thì cần phải căn cứ vào các đặc điểm trên để xác định.
Vì vậy, có thể thấy, người yêu cầu trong VDS là người theo quy định của pháp luật nộp đơn yêu cầu hoặc được người khác có thẩm quyền nộp đơn yêu cầu TA giải quyết VDS để bảo vệ quyền lợi.
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi đã bổ sung thêm quy định về người yêu cầu giải quyết việc dân sự, đó là“Người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”.
- Người có liên quan Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Trong VDS, đương sự không chỉ bao gồm người yêu cầu mà còn bao gồm người có liên quan. Người có liên quan trong VDS tham gia tố tụng vào thời điểm đã có VDS phát sinh tại TA do người yêu cầu hoặc các chủ thể có thẩm quyền nộp đơn yêu cầu TA giải quyết VDS. Kết quả giải quyết VDS có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của họ.
Người có liên quan có thể tham gia vào quá trình giải quyết VDS của TA do chính họ yêu cầu vì họ thấy việc giải quyết VDS đó có liên quan đến quyền, lợi ích của mình. Tuy nhiên, người có liên quan có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của TA khi TA giải quyết VDS xét thấy việc giải quyết VDS có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người này.
Như vậy, người có liên quan trong VDS là người tham gia vào quá trình TA giải quyết VDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc để trả lời về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình.
Tại Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bỏ sung đã bổ sung thêm quy định về người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự đó là “Người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành, đương sự tham gia tố tụng với các tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người yêu cầu, người liên quan. Tư cách của đương sự được xác định sau khi TA đã thụ lý VVDS và tư cách này thường tồn tại và không thay đổi trong suốt quá trình TA giải quyết. Tuy nhiên, khi đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình làm thay đổi phạm vi các vấn đề cần giải quyết trong VVDS làm cho tư cách của đương sự có sự thay đổi. Vì vậy, Điều 219 BLTTDS quy định, sau khi thụ lý mà nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn; trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trở thành bị đơn.
2.2. CÁC QUY ĐỊNH VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐƯƠNG SỰ Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
2.2.1. Năng lực chủ thể
- Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự
Một trong những điều kiện để chủ thể tham gia độc lập vào một QHPL là chủ thể đó phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Thông thường chủ thể có năng lực pháp luật là đã có thể trở thành chủ thể của một QHPL, chẳng hạn một cá nhân sinh ra đã có thể trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu tài sản khi cá nhân đó được thừa kế hợp pháp hoặc được tặng cho tài sản hay nếu cá nhân này bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người khác thì cá nhân đó là bên được bồi thường trong quan hệ bồi thường thiệt hại v.v… Tuy nhiên, trong một số trường hợp chủ thể đã có năng lực pháp luật nhưng để trở thành chủ thể của QHPL thì phải có năng lực hành vi ở một mức độ nhất định mới trở thành chủ thể của QHPL.
Hiểu một cách chung nhất, năng lực pháp luật là: “Khả năng của cá nhân hay tổ chức có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật….
Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi pháp luật. Không thể có năng lực hành vi pháp luật nếu không có năng lực pháp luật. Năng lực pháp luật cùng với năng lực hành vi pháp luật tạo thành năng lực chủ thể pháp luật.”
Như vậy, có thể thấy rằng năng lực pháp luật là “khả năng” mà pháp luật quy định cho cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ pháp lý. Vì vậy, năng lực pháp luật của một chủ thể không phải là quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể đó mà là khả năng, tiền đề, điều kiện cần thiết để chủ thể có quyền, nghĩa vụ.
Khi tham gia vào quá trình TA giải quyết VVDS, đương sự có thể có những quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật TTDS. Vì vậy, chúng ta có thể xác định rằng, năng lực pháp luật TTDS của đương sự là khả năng pháp luật quy định cho đương sự có các quyền và nghĩa vụ TTDS. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện đầu tiên để một chủ thể tham gia vào quá trình TTDS. Một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng khi được pháp luật thừa nhận có năng lực pháp luật TTDS [22]. Năng lực pháp luật TTDS của cá nhân gắn liền với sự tồn tại của cá nhân, có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Như vậy, năng lực pháp luật TTDS của cá nhân chính là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản… mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật TTDS. Năng lực pháp luật TTDS của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó không còn tồn tại.
Giữa năng lực pháp luật TTDS và năng lực pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là năng lực pháp luật dân sự) có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lực pháp luật TTDS. Điều này thể hiện để chủ thể có năng lực pháp luật TTDS thì trước hết chủ thể đó phải có năng lực pháp luật dân sự. Xét về bản chất khả năng có quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự có cơ sở và có mối liên hệ rất mật thiết với khả năng có các quyền và nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Tuy nhiên, khả năng có quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự lại có tính độc lập tương đối so với khả năng có các quyền và nghĩa vụ dân sự. Sự độc lập này thể hiện:
Năng lực pháp luật TTDS của đương sự và năng lực pháp luật dân sự của đương sự đều do Nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, nội dung năng lực pháp luật TTDS không hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung năng lực pháp luật dân sự của đương sự. Điều đó thể hiện, tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và sự tác động của các yếu tố như phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống hay sự ảnh hưởng bởi pháp luật của nước khác mà mỗi quốc gia, pháp luật tố tụng cũng có những quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng không giống nhau. Nhà nước ghi nhận các quyền và nghĩa vụ TTDS cho đương sự là nhằm bảo đảm cho các đương sự có thể có điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về nội dung. Do đó, khi quy định các quyền và nghĩa vụ phải căn cứ vào sự cần thiết của việc quy định các quyền, nghĩa vụ đó cho đương sự; điều kiện, khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự; căn cứ vào điều kiện và khả năng bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự… Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Năng lực pháp luật TTDS của đương sự là các tổ chức khác nhau là bình đẳng với Trong khi đó năng lực pháp luật nội dung của các đương sự là các tổ chức khác nhau là không bình đẳng với nhau. Vì vậy, có những quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự có cơ sở từ các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật nội dung quy định. Tuy nhiên, có những quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự thuần tuý mang tính tố tụng mà không có cơ sở từ các quyền, nghĩa vụ của pháp luật nội dung.
Nội dung của năng lực pháp luật TTDS của đương sự là toàn bộ các quyền và nghĩa vụ TTDS mà đương sự có được theo quy định của pháp luật. Mặc dù, năng lực pháp luật TTDS và năng lực pháp luật dân sự có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhưng năng lực pháp luật TTDS của đương sự có sự độc lập tương đối. Do vậy, khi quy định các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS không chỉ đáp ứng yêu cầu phù hợp và dựa trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ về nội dung mà phải đáp ứng được các yêu cầu khác như: bảo đảm cho các đương sự có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận công lý; bảo đảm cho các đương sự được bình đẳng và tự định đoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bảo đảm phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế để thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó; khả năng, điều kiện bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ v.v…
Tại khoản 1 Điều 57 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, năng lực pháp luật TTDS là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong TTDS do pháp luật quy định. Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần để một chủ thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS.
Theo đó, nội dung của năng lực pháp luật TTDS là các quyền và nghĩa vụ TTDS mà pháp luật quy định cho đương sự. Nhìn chung, pháp luật TTDS của các nước và pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành đều quy định mọi cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật TTDS như nhau trong việc yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc pháp luật ghi nhận mỗi quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự là nhằm bảo đảm cho đương sự có điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất để tham gia tố tụng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp về nội dung của mình.
Điều 56 BLTTDS không quy định về thời điểm bắt đầu, chấm dứt năng lực pháp luật TTDS của đương sự. Tuy nhiên, năng lực pháp luật TTDS có liên quan mật thiết với năng lực pháp luật dân sự. Vì vậy, năng lực pháp luật TTDS của cá nhân cũng xuất hiện từ khi cá nhân đó được sinh ra và mất đi khi cá nhân đó chết, năng lực pháp luật của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó chấm dứt. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự
Năng lực hành vi là một phạm trù phức tạp có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hành động, ý chí và lý trí. Năng lực hành vi của chủ thể QHPL có những thay đổi nhất định tuỳ theo tính chất của QHPL mà chủ thể đó tham gia. Trong một số QHPL, chủ thể có năng lực hành vi hạn chế còn ở những QHPL khác thì chủ thể lại có năng lực hành vi từng phần [25].
Năng lực hành vi TTDS của đương sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS. Năng lực hành vi TTDS khác với năng lực pháp luật TTDS. Trong khi năng lực pháp luật tố tụng của các đương sự là bình đẳng, thì năng lực hành vi không bình đẳng và được xác định ở các mức độ khác nhau. Năng lực hành vi TTDS có mối liên hệ mật thiết với năng lực hành vi dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động.
Tuy nhiên, năng lực hành vi TTDS của đương sự có sự độc lập tương đối so với năng lực hành vi dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động (gọi chung là năng lực hành vi dân sự). Sự độc lập này thể hiện, năng lực hành vi dân sự chỉ là một trong các điều kiện để có năng lực hành vi TTDS. Bởi vì, đối với cá nhân thì năng lực hành vi TTDS của họ được xác định dựa trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân đó và trên cơ sở tính chất, yêu cầu của việc tham gia QHPL TTDS. Quá trình giải quyết VVDS là một quá trình hết sức phức tạp bao gồm nhiều thủ tục, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó đương sự có thể tham gia ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình này để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng. Vì vậy, muốn bảo vệ được quyền và lợi ích của mình trước TA, thì đương sự phải có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình như việc tham gia vào các QHPL nội dung, đồng thời đương sự phải có sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng và ít nhiều phải có những kinh nghiệm nhất định. Vì vậy, đối với một cá nhân chỉ có thể coi là có năng lực hành vi TTDS khi cá nhân đó đã thành niên và không bị mất năng lực hành vi dân sự.
Chủ thể có năng lực pháp luật TTDS đã có thể trở thành đương sự trong TTDS. Tuy nhiên, để có thể là đương sự độc lập tham gia tố tụng thì đương sự phải có năng lực hành vi TTDS. Vì vậy, khoản 2 Điều 57 BLTTDS quy định, năng lực hành vi TTDS là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng. Theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành cá nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi TTDS đầy đủ khi đã đủ từ mười tám tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 3 Điều 57 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Đối với người chưa đủ mười lăm tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi TTDS, trường hợp này người đại diện hợp pháp của họ là người thay mặt họ để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước TA (khoản 4, 5 Điều 57 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011).
2.2.2 Địa vị pháp lý Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Quyền và nghĩa vụ của đương sự
Ở nước ta cũng đặc biệt coi trọng và bảo đảm quyền con người thông qua việc ghi nhận trong Hiến pháp về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 14 Hiến pháp 2013 [33] quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trên cơ sở quy định về quyền con người của Hiến pháp 2013, pháp luật dân sự đã quy định cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ về dân sự của con người, đồng thời pháp luật TTDS cũng cụ thể hóa cơ chế bảo vệ quyền dân sự của con người bằng phương thức giải quyết bảo vệ các quyền dân sự bằng con đường TA. Đây được xem như là “công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích” [21 ]. Vì vậy, việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS trước hết phải dựa trên cơ sở ghi nhận và bảo đảm quyền con người về dân sự.
Các bên chủ thể trong các quan hệ dân sự có các quyền, nghĩa vụ về dân sự theo quy định của pháp luật dân sự. Trong trường hợp các bên chủ thể này không tôn trọng lợi ích của nhau, không tôn trọng lợi ích chung của xã hội, lợi ích của nhà nước và không thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý thì pháp luật quy định các phương thức để các chủ thể này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi các chủ thể của các QHPL dân sự thực hiện việc yêu cầu TA giải quyết và được TA thụ lý thì các chủ thể của các quan hệ dân sự được TA giải quyết trở thành đương sự trong TTDS. Lúc này, đương sự không chỉ dừng lại có được các quyền và nghĩa vụ về dân sự mà còn được pháp luật TTDS quy định cho chủ thể này các quyền và nghĩa vụ TTDS để họ có thể bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự. Các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự có mối liên hệ mật thiết với các quyền, nghĩa vụ dân sự của đương sự, trong đó các quyền, nghĩa vụ về dân sự là cơ sở nền tảng để ghi nhận các quyền và nghĩa vụ TTDS, đồng thời việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự là bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự. Vì vậy, xét về mặt lý luận việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ TTDS phải dựa trên cơ sở, phù hợp với các quyền, nghĩa vụ về dân sự Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự
Để các đương sự có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng thì trước hết đương sự phải chứng minh được họ là chủ thể của các quyền, lợi ích về dân sự đang có tranh chấp hoặc vi phạm hoặc cần được xác định trong VVDS. Các chủ thể sẽ không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu để làm khởi động thủ tục TTDS khi họ không có quyền lợi là cơ sở để thực hiện quyền này, trừ trường hợp họ khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ thể khác. Vì vậy, mà “điều kiện thứ nhất để hành – sử tố quyền là quyền lợi, yêu tố này đặc biệt liên quan đến sự hiện hữu của tố quyền, nên tùy ở chỗ quyền lợi có hay không có, tố quyền sẽ có căn cứ hay không” [23].
Các quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS được xây dựng dựa trên cơ sở của các quyền định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (quan hệ dân sự). Vì vậy, PGS. TS. Phạm Hữu Nghị đã nhận xét “quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là sự phản ánh của quyền tự định đoạt của chủ thể trong mối quan hệ dân sự”. Trong quan hệ dân sự, các chủ thể trong các quan hệ này độc lập với nhau về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau trong việc hưởng quyền và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ cũng như chịu trách nhiệm dân sự trong quan hệ mà mình tham gia. Các chủ thể trong các quan hệ dân sự có quyền tự định đoạt và thoả thuận trong các quan hệ mà mình tham gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể có toàn quyền định đoạt lựa chọn quan hệ mà mình tham gia, lựa chọn chủ thể tham gia quan hệ với mình cũng như lựa chọn các quyền và nghĩa vụ. Vì vậy, khi có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ thì các chủ thể có quyền quyết định việc có hay không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vi phạm đó bằng việc khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết VVDS, đưa ra yêu cầu phản tố; rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; sửa đổi, bổ sung yêu cầu; hoà giải với đương sự phía bên kia v.v…
Các chủ thể trong các quan hệ dân sự độc lập với nhau về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, tức là bình đẳng trong việc hưởng quyền và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng như chịu trách nhiệm dân sự trong các quan hệ dân sự mà mình tham gia [39 ]. Vì vậy, việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự cũng phải trên cơ sở bảo đảm các đương sự bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong TTDS không đồng nghĩa với việc các đương sự đều có những quyền, nghĩa vụ giống nhau mà được hiểu là ngoài những quyền nghĩa vụ giống nhau của đương sự thì mỗi đương sự ở những vị trí tố tụng khác nhau lại có những quyền, nghĩa vụ khác nhau. Xét một cách tổng thể thì các đương sự ở các vị trí tố tụng khác nhau nhưng bình đẳng với nhau về điều kiện để tham gia tố tụng, điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để họ có thể bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích về dân sự.
Hòa giải hợp pháp, đúng pháp luật, dựa trên nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận giữa các bên trong các quan hệ dân sự luôn được pháp luật khuyến khích. Điều 12 BLDS quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích”. Vì vậy, việc quy định các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự phải bảo đảm cho các đương sự có thể có điều kiện thuận lợi để hòa giải với nhau để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn ở các thời điểm khác nhau của hoạt động tố tụng và TA cần ghi nhận những sự thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp của họ.
Ngoài ra, việc quy định các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự với ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng khác như TA, VKS, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch v.v… đúng với vai trò của mỗi chủ thể này trong TTDS. Bởi vì, cùng với việc quy định quyền của đương sự thì đồng thời phải xác định nghĩa vụ của chủ thể tố tụng khác trong việc bảo đảm quyền của đương sự. Trước hết, trong mối quan hệ trung tâm giữa TA với đương sự, việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự phải bảo đảm không gây khó khăn và cản trở TA thực hiện quyền lực Nhà nước về tư pháp dân sự, nhưng TA phải có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bổ sung và mở rộng quyền của đương sự phải đi đôi với việc xác định các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của họ khi tham gia tố tụng. Đồng thời, quy định các quyền hạn của TA đối với đương sự để TA có cơ sở tiến hành giải quyết và áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời nhằm thực hiện được mục đích của TTDS là bảo đảm việc giải quyết VVDS được nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật [39]. Đối với mối quan hệ giữa đương sự với các chủ thể tố tụng khác cũng đòi hỏi ghi nhận các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự không chỉ bảo đảm đương sự được thuận lợi trong việc bảo vệ quyền lợi của mình mà phải bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể này và các điều kiện thuận lợi khác cho họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng, xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý khi các chủ thể này không bảo đảm việc thực hiện quyền của đương sự.
Như vậy, việc quy định các quyền và nghĩa vụ của đương sự dựa trên cơ sở cụ thể hóa, ghi nhận và bảo đảm quyền con người trong TTDS, trên cơ sở và phù hợp với các quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, đồng thời trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của đương sự với việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của TA và các chủ thể tố tụng khác. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
2.2.3. Các yếu tố bảo đảm việc tham gia tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự
Thông thường, các chủ thể khi tham gia vào các QHPL thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình là bảo đảm cho quyền và lợi ích của các chủ thể khác. Tuy nhiên, do nhận thức và ý thức pháp luật của chủ thể không tốt hoặc do muốn dành lấy cho mình những lợi ích của chủ thể khác đã dẫn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có trường hợp không đúng, không đầy đủ dẫn đến việc xâm phạm tới quyền và lợi ích của các chủ thể khác. Thực tế này đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng và đúng đắn để xử lý các hành vi vi phạm theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định.
Các tranh chấp, vi phạm phát sinh trong lĩnh vực dân sự là một tất yếu khách quan như nhận xét của các nhà chuyên môn cho rằng: “Mâu thuẫn, tranh chấp là một hiện tượng xã hội phổ biến, khách quan trong đời sống hàng ngày. Vấn đề ở đây không phải là phủ nhận, né tránh tranh chấp mà là tìm ra giải pháp tích cực và hữu hiệu để giải quyết nó. Nếu có tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể cũng có quyền quyết định biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích phù hợp với quy định của pháp luật” [ 39].
Đồng thời, các tranh chấp, vi phạm dân sự ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp đã đòi hỏi cần phải có cơ quan, tổ chức giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu đó. Tuy nhiên, về bản chất việc dân sự là việc của đôi bên, do đó để các cơ quan, tổ chức hay TA có thể thụ lý và giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự thì trước hết đương sự phải thực hiện việc khởi kiện, việc yêu cầu đến TA để yêu cầu TA giải quyết. Việc khởi kiện, yêu cầu của đương sự là điều kiện không thể thiếu được để làm phát sinh hoạt động tố tụng tại TA. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Thực tiễn, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó do trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự trên thực tế còn rất hạn chế nên khi có tranh chấp, yêu cầu họ đã không nhận biết được phải yêu cầu tới cơ quan, tổ chức nào để giải quyết và việc yêu cầu được thực hiện như thế nào nên việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, có nhà chuyên môn đã nhận xét rằng: “Ở Việt Nam, các đương sự ít có khả năng tự bảo vệ, hiểu biết pháp luật còn hạn hẹp” [ 28]. Thực tế này đòi hỏi phải ghi nhận cho các đương sự các quyền và nghĩa vụ tố tụng để các đương sự dễ nhận biết và thực hiện, đồng thời ghi nhận nhiệm vụ, trách nhiệm của TA và các cá nhân, cơ quan tổ chức khác hỗ trợ đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Mặt khác, do ý thức pháp luật của một bộ phận đương sự còn kém nên đã xảy ra tình trạng đương sự có những hành vi cản trở hoạt động tố tụng đòi hỏi phải có sự xử lý nghiêm khắc và kịp thời thông qua việc ghi nhận nghĩa vụ và trách nhiệm của đương sự khi thực hiện những hành vi đó.
Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy, một số trường hợp do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan đã làm cho quá trình giải quyết các VVDS có sai lầm. Sai lầm này có thể do những người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký TA chịu những sự tác động, chi phối từ nhiều phía, có thể từ cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa phương, từ cơ quan quản lý cấp trên, có thể từ những người thân thích hoặc quen biết buộc họ phải cân nhắc khi xử lý, giải quyết hoặc do hạn chế về chuyên môn, sách nhiễu, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho đương sự rất khó khăn khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, cần quy định cho đương sự các quyền nhằm bảo vệ trước sự xâm hại của người tiến hành tố tụng.
Như vậy, cơ sở của việc quy định các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS là các tranh chấp dân sự xảy ra là một tất yếu đòi hỏi phải ghi nhận cho đương sự thực hiện quyền tố tụng nhằm khởi động quá trình giải quyết tranh chấp. Mặt khác, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự còn hạn chế, các cá nhân, cơ quan, tổ chức thiếu sự trợ giúp đương sự trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ hoặc người tiến hành tố tụng đã có những sai lầm xâm hại đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, dẫn đến đương sự rất khó khăn trong việc thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình do đó đòi hỏi phải quy định đúng, đầy đủ và hợp lý các quyền và nghĩa vụ tố tụng để đương sự có thể thực hiện được thuận lợi và ngăn chặn trước sự xâm hại của các chủ thể khác.
2.3. QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.3.1. Quyền tự định đoạt của đương sự
Quyền tự định đoạt của đương sự là một nhóm quyền quan trọng được ghi nhận tại Điều 58 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thành một nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của pháp luật tố tụng, theo đó đương sự có quyền tự do định đoạt các quyền về nội dung và tố tụng. Quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện quyền khởi kiện VADS của nguyên đơn; quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn; quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quyền yêu cầu giải quyết VDS của người yêu cầu, quyền đưa ra yêu cầu của người liên quan, quyền sửa đổi, bổ sung yêu cầu, rút yêu cầu; quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ việc; quyền tham gia phiên toà, phiên họp v.v…
- Quyền đưa ra yêu cầu TA giải quyết VVDS Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Trong TTDS đương sự có quyền đưa ra rất nhiều yêu cầu, trong đó có những yêu cầu có cơ sở từ các quyền về nội dung được pháp luật nội dung quy định như các quyền: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; yêu cầu giải quyết VDS của người yêu cầu và các quyền yêu cầu thuần tuý mang tính tố tụng như: yêu cầu TA xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật; yêu cầu TA áp dụng BPKCTT; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp các tài liệu, chứng cứ; yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng …
Quyền khởi kiện VADS, quyền yêu cầu giải quyết VDS là quyền đặc biệt quan trọng của đương sự trong TTDS. Vì vậy, BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã ghi nhận các quyền này trong hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc quyền yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 4 BLTTDS), nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS). Theo đó các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng có quyền định đoạt trong việc khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết VDS. TA chỉ thụ lý giải quyết VVDS khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Quyền khởi kiện VADS của đương sự được quy định tại Điều 161 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, theo đó: “cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện VADS tại TA có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Pháp luật TTDS hiện hành đã quy định mở rộng quyền khởi kiện VADS của đương sự, theo đó đương sự có thể khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết một hoặc nhiều vấn đề về một hoặc nhiều QHPL có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một VADS. Theo quy định tại Điều 163 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 và tại Điều 4 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết VA tại TA cấp sơ thẩm” của BLTTDS 2004 đã được sửa đổi bổ sung thì “nhiều quan hệ có liên quan với nhau” để giải quyết trong cùng một VA khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Việc giải quyết QHPL này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời QHPL khác;
- Việc giải quyết các QHPL có cùng đương sự và về cùng loại tranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng tại một trong các Điều 25, 27, 29 và Điều 31 của BLTTDS 2004.
Việc quy định phạm vi khởi kiện đã tạo điều kiện để đương sự có thể đưa ra yêu cầu TA giải quyết nhiều QHPL trong cùng một vụ việc nhằm tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền của của đương sự. Tuy nhiên, đối với các QHPL khác nhau, không có liên quan với nhau, không có cùng đương sự, không cùng một loại tranh chấp thì đương sự phải khởi kiện để giải quyết ở các vụ việc khác nhau. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Đương sự thực hiện quyền khởi kiện thông qua việc nộp đơn khởi kiện VADS trực tiếp tại TA hoặc gửi qua bưu điện và khi gửi đơn khởi kiện thì đương sự phải gửi kèm theo các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ (Điều 164, Điều 165 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Ngoài ra, tại Điều 5 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết VADS tại TA cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS quy định: Trong trường hợp vì lý do khách quan mà đương sự không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng cứ thì họ phải nộp các tài liệu ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Các tài liệu, chứng cứ khác người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của TA trong quá trình giải quyết VA.
Trong trường hợp đương sự thực hiện việc khởi kiện nhưng không đáp ứng các điều kiện, TA sẽ không thụ lý và trả lại đơn khởi kiện. Theo quy định tại Điều 168 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, TA không thụ lý VA và trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp như: thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi TTDS; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TA hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 mà người khởi kiện không đến TA làm thủ tục thụ lý VA; chưa có đủ điều kiện khởi kiện; VA không thuộc thẩm quyền của TA. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định, khi trả lại đơn TA phải có văn bản kèm theo giải thích rõ lý do của việc trả lại đơn (khoản 2 Điều 168 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011) và nếu đương sự không đồng ý với việc TA trả lại đơn khởi kiện thì đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn. Điều 170 BLTTDS quy định: Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do TA trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án TA đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án TA phải ra một trong các quyết định sau đây: Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện; Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý VA. Quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong việc trả lại đơn khởi kiện là một quy định mới của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 so với quy định trong PLTTGQCVADS 1989 nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự, hạn chế việc TA tuỳ tiện trong việc trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện các quy định này cho thấy không phải khi đương sự khởi kiện, yêu cầu đến TA là họ đã có ngay các chứng cứ, tài liệu cần thiết để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp. Việc pháp luật TTDS hiện hành quy định việc đương sự chưa cung cấp được đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp được coi là “chưa đủ điều kiện khởi kiện” để TA trả lại đơn khởi kiện là chưa bảo đảm quyền khởi kiện cho đương sự.
Ngoài ra, pháp luật TTDS hành không quy định về việc cho phép đương sự thực hiện việc khởi kiện bằng việc trực tiếp đến TA để trình bày trong trường hợp đương sự không tự làm đơn được như họ không biết chữ hoặc người tàn tật hoặc do trình độ dân trí thấp nên không thể tự mình trình bày các nội dung của đơn khởi kiện theo yêu cầu của TA đã dẫn đến việc khó khăn cho đương sự, trong khi đó không phải đương sự nào cũng có điều kiện để được tư vấn.
Đặc biệt, để bảo đảm rằng việc trả lại đơn chính xác, khách quan, pháp luật TTDS cần quy định, khi trả lại đơn khởi kiện, thẩm phán phải ra quyết định trả lại đơn, nếu không đồng ý với quyết định trả lại đơn, người khởi kiện có quyền khiếu nại tới Chánh án TA đã trả lại đơn. Nếu sau khi Chánh án TA đã trả lại đơn khởi kiện giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn mà đương sự không đồng ý thì có quyền khiếu nại với Chánh án TA cấp trên trực tiếp, quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án TA cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Quyền yêu cầu giải quyết VDS của đương sự được quy định tại Điều 311 và Điều 312 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Theo đó, đương sự có quyền yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu TA công nhận cho mình quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Khi thực hiện quyền yêu cầu, đương sự phải gửi đơn đến TA có thẩm quyền, đơn yêu cầu phải đáp ứng được đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2, Điều 312 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 và phải gửi kèm theo đơn yêu cầu các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Ngoài ra, các thủ tục khác khi thực hiện quyền yêu cầu được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều 311 BLTTDS 2004: “TA thực hiện những quy định của Chương này, đồng thời thực hiện các quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết VDS…”. Trong phần thủ tục giải quyết VDS không có quy định những trường hợp TA không thụ lý VDS và trả lại đơn yêu cầu; không có quy định về phạm vi yêu cầu, thời hạn giải quyết đối với nhưng VDS không được quy định cụ thể. Tuy nhiên, trên nguyên tắc quy định tại Điều 311 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì có thể xác định TA có thể giải quyết VDS trong những trường hợp tương tự như trong một VADS.
Nghiên cứu về quyền yêu cầu giải quyết VDS của đương sự, chúng tôi thấy rằng các quy định về quyền này còn rất chung chung, đồng thời chưa có văn bản hướng dẫn thi hành nên gặp rất nhiều khó khăn. Một trong những khó khăn đó là khi xác định những quy định về quyền khởi kiện có thể thực hiện cho quyền yêu cầu mà không trái với thủ tục giải quyết VDS. Trong khi đó, bản chất của quyền khởi kiện, quyền yêu cầu là khác nhau và về nguyên tắc thủ tục thực hiện hai quyền này của đương sự theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành cũng có những điểm khác biệt. Vì vậy, khi sửa đổi, bổ sung BLTTDS thì cần phải quy định cụ thể và chi tiết hơn để làm cơ sở cho đương sự thực hiện quyền này.
- Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu hoặc rút yêu cầu của đương sự là một trong những nội dung của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS được quy định tại Điều 5 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Theo quy định của điều luật này, sau khi TA đã thụ lý VVDS các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu theo hướng tăng thêm hoặc giảm bớt yêu cầu hoặc đương sự có thể rút yêu cầu của mình. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu hoặc rút yêu cầu của đương sự là tự nguyện không có mục đích trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, không vượt ra ngoài phạm vi các yêu cầu mà TA có thể giải quyết trong cùng một VVDS thì TA phải chấp nhận. Tuy nhiên, cần lưu ý việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự bị giới hạn bởi phạm vi các vấn đề mà TA có thể giải quyết trong một VA.
Bên cạnh đó, để bảo đảm vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, vừa thuận lợi cho TA trong việc giải quyết VVDS, Điều 218 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tại phiên toà sơ thẩm không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết VADS tại TA cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung hướng dẫn [16], việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà chỉ được HĐXX chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Pháp luật TTDS hiện hành đã không hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS. Bởi vì, theo hướng dẫn tại Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ- HĐTP thì bất kỳ một sự thay đổi, bổ sung yêu cầu sau khi đương sự đã nộp đơn yêu cầu mà vượt quá phạm vi yêu cầu như trong đơn là không được chấp nhận. Tuy nhiên, trong thực tế sau khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập thông qua việc nộp đơn thì sau khi nộp đơn tới TA, trước phiên toà đương sự vẫn có thể bổ sung yêu cầu vượt quá phạm vi yêu cầu như trong đơn thì việc thay đổi, bổ sung này vẫn phải được TA chấp nhận.
Quyền rút yêu cầu của đương sự trước hết phải bảo đảm sự tự nguyện. Nếu trước khi mở phiên toà sơ thẩm mà nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì TA ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VA (khoản 1, Điều 192 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011); người nộp đơn yêu cầu giải quyết VDS rút đơn yêu cầu thì TA đình chỉ giải quyết VDS. Tuy nhiên, trong các trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện mà bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì tuỳ từng trường hợp để ra quyết định. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Ở giai đoạn phúc thẩm nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì theo quy định tại Điều 269 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, TA cấp phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không. Nếu bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nếu bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. HĐXX phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết VA. Trong trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của TA cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện quy định tại Điều 269 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, Điều 18 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 03/12/2012 [19] có hướng dẫn:
- Việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản. Việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tại phiên toà không phải làm thành văn bản, nhưng phải ghi vào biên bản phiên toà.
- Trong thời hạn nguyên đơn có quyền kháng cáo, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện, thì TA cấp sơ thẩm cần phải giải thích cho họ biết hậu quả của việc bị đơn không đồng ý để họ quyết định việc kháng cáo hoặc rút đơn khởi kiện.
Trường hợp nguyên đơn vẫn quyết định rút đơn khởi kiện thì TA cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn biết và yêu cầu bị đơn phải trả lời bằng văn bản cho TA cấp sơ thẩm về việc họ có đồng ý hay không đồng ý trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của TA. Tuỳ thuộc vào kết quả trả lời của bị đơn mà giải quyết như sau:
Trường hợp TA cấp sơ thẩm nhận được văn bản trả lời của bị đơn không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị không có đương sự nào kháng cáo, VKS không kháng nghị, thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đương nhiên không được chấp nhận. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm được coi là không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp TA cấp sơ thẩm nhận được văn bản trả lời của bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì không phân biệt trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị có đương sự nào kháng cáo hoặc VKS kháng nghị hay không, TA cấp sơ thẩm đều phải gửi hồ sơ VA có kháng cáo, kháng nghị, văn bản rút đơn khởi kiện cho TA cấp phúc thẩm để TA cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 269 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 mở phiên toà giải quyết VA theo thủ tục chung.
Tuy nhiên, qua các quy định trên cho thấy, việc xử lý hậu quả khi đương sự rút đơn khởi kiện chưa được quy định hợp lý. Theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành, ở giai đoạn sơ thẩm khi đương sự rút yêu cầu thì TA chấp nhận mà không cần phải hỏi ý kiến của đương sự khác trong VA (Điều 192, Điều 218 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Tuy nhiên, về nguyên tắc các đương sự có quyền bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu (nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập) và TA chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Quyền yêu cầu phản tố: là một quyền của bị đơn (người bị kiện) trong vụ án dân sự, theo đó bị đơn có quyền kiện ngược lại nguyên đơn (người kiện) nếu như yêu cầu phản tố của bị đơn đáp ứng các điều kiện của quy định pháp luật.
Theo quy định tại điều 176 Bộ luật tố tụng dân sự yêu cầu phản tố của bị đơn phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, đối tượng mà yêu cầu phản tố của bị đơn hướng đến chỉ có thể là nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thứ hai, yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Giữ yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự hướng dẫn củ thể như sau:
- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập).
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.
- Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.
Quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Theo khoản 4 Điều 56 BLTTDS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Khi tham gia vào vụ án dân sự, bên cạnh việc đứng về nguyên đơn hoặc đứng về bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn tham gia với vai trò độc lập để đưa ra yêu cầu của mình nhưng yêu cầu này liên quan, gắn với vụ án đang được giải quyết.
Về bản chất, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng là một yêu cầu khởi kiện, có thể được khởi kiện thành vụ án độc lập. Tuy nhiên, nếu giải quyết yêu cầu độc lập sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu này phải được giải quyết trong cùng vụ án. Đồng thời, khi yêu cầu độc lập được giải quyết trong cùng vụ án thì vụ án được giải quyết nhanh hơn, tránh việc phải xác định vụ án giải quyết trước, sau, kéo dài thời gian giải quyết các vụ án làm mâu thuẫn trong nhân dân trầm trọng hơn.
Về phạm vi yêu cầu, theo điểm b khoản 1 Điều 61, khoản 1 Điều 177 BLTTDS, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn. Với quy định trên thì yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể đối với nguyên đơn hoặc đối với bị đơn. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 61 BLTTDS, khi đưa ra yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 59 của BLTTDS.
Về điều kiện của yêu cầu độc lập, theo khoản 1 Điều 177 BLTTDS, yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được chấp nhận là yêu cầu độc lập khi đảm bảo đầy đủ 03 điều kiện gồm: (1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; (2) yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết và (3) yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Về thời điểm đưa ra yêu cầu độc lập, theo khoản 2 Điều 177 BLTTDS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Về thời điểm bắt đầu, BLTTDS không quy định như yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu có thể xác định khi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được Tòa án thông tin chính thức về vụ án đang giải quyết. Việc thông tin này có thể qua thông báo thụ lý vụ án nếu như người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được xác định ngay trong đơn khởi kiện của người khởi kiện; hoặc thông qua văn bản yêu cầu tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ.
Về trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập, theo Điều 178 BLTTDS, cũng như yêu cầu phản tố, trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của BLTTDS về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập cũng được thực hiện như trình tự thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện.
- Quyền chấp nhận, bác bỏ yêu cầu của người khác của đương sự
Quyền tự định đoạt của đương sự còn bao gồm quyền chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của người khác. Việc chấp nhận yêu cầu của người khác thể hiện đương sự này đã thừa nhận yêu cầu của đương sự khác và như vậy đã giải phóng nghĩa vụ chứng minh của đương sự đưa ra yêu cầu và đương sự đã thừa nhận. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Việc bác bỏ yêu cầu của người khác thể hiện ý kiến của đương sự không đồng tình với toàn bộ hoặc một phần yêu cầu của người khác đã đưa ra. Khi bác bỏ yêu cầu thì đương sự phải chứng minh cho việc bác bỏ yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Điều 60 BLTTDS 2004 quy định bị đơn có thể chấp nhận hay bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với các đương sự khác như nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù pháp luật TTDS không quy định nhưng theo tinh thần của các quy định tại các Điều 58, Điều 61, Điều 175 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có quyền chấp nhận yêu cầu hay bác bỏ toàn bộ yêu cầu của đương sự khác. Việc chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu khác của đương sự không phải là việc đương sự đưa ra yêu cầu mà đây là ý kiến của đương sự trước yêu cầu của người khác. Theo quy định tại Điều 175 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho TA văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu có. Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho TA nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì TA phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày. Tuy nhiên, quy định về thời hạn nộp văn bản ghi ý kiến của người được thông báo với yêu cầu của người khởi kiện chỉ nhằm mục đích bảo đảm cho việc giải quyết nhanh chóng VA, quy định này không có nghĩa là khống chế đương sự chỉ được nêu ý kiến chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của người khác trong thời hạn nêu trên mà về nguyên tắc đương sự có quyền đưa ra ý kiến chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của đương sự khác ở bất kỳ giai đoạn nào của TTDS. Tuy nhiên, pháp luật TTDS hiện hành lại không quy định về hậu quả pháp lý khi đương sự không nộp văn bản nêu ý kiến của mình trong thời hạn quy định tại Điều 175 BLTTDS.
- Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết VA, tham gia hoà giải
Đương sự là chủ thể của các QHPL nội dung đang được giải quyết trong VVDS. Vì vậy, đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết VVDS. Quyền hoà giải thể hiện rõ nét của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì: “… Đương sự có quyền thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Như vậy, đương sự có quyền hoà giải (thoả thuận với nhau về việc giải quyết VA) ở bất kỳ thời điểm hay giai đoạn nào của quá trình tố tụng. Hoà giải giữa các đương sự trong TTDS có thể thực hiện dưới hai hình thức sau: Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Hình thức thứ nhất: Đương sự tự hoà giải (đương sự tự thoả thuận) là việc đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết VA trong quá trình tố tụng mà không có vai trò tác động của TA đối với sự thoả thuận này.
Hình thức thứ hai: Các đương sự hoà giải do TA tiến hành. Đây là việc TA giúp đỡ đương sự thoả thuận tự nguyện với nhau về việc giải quyết VA. Khác với tự thoả thuận (tự hoà giải), trong trường hợp này để có sự thoả thuận của các đương sự phải có vai trò giúp đỡ của TA trong việc hướng dẫn, giải thích pháp luật kết hợp với việc giải quyết các vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của các bên đương sự. Trên cơ sở đó làm cho các bên đương sự hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ của mình, để họ có thể thương lượng, điều đình được với nhau về việc giải quyết VA.
Khi tiến hành hoà giải, TA phải lập biên bản hoà giải. Biên bản hoà giải phải có các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 186 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của thư ký TA ghi biên bản hoà giải và của thẩm phán chủ trì phiên hoà giải. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết trong VA thì TA lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Theo quy định tại Điều 187 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một thẩm phán được chánh án TA phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
- Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Trong TTDS, đương sự thông qua việc tham gia tích cực của mình vào quá trình tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước TA. Đồng thời, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài việc tự bảo vệ, đương sự có quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Việc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thực hiện thông qua việc đương sự uỷ quyền hợp pháp cho người khác tham gia tố tụng, trừ những loại việc không được uỷ quyền (khoản 3 Điều 73 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Trong thực tế, thông thường người được đương sự uỷ quyền tham gia tố tụng là luật sư hoặc những người có hiểu biết về pháp luật có điều kiện để thay mặt đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Vì vậy, việc đương sự uỷ quyền cho luật sư tham gia tố tụng đã trở thành khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Ngoài luật sư, đương sự có thể nhờ bất kỳ một người nào khác có năng lực hành vi TTDS bảo vệ quyền lợi cho họ và được TA chấp nhận. Quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có ý nghĩa quan trọng bởi vì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự, bảo vệ chủ yếu bằng việc giúp đỡ các đương sự về nhận thức pháp luật để đương sự có thể thực hiện một cách tốt nhất các quyền và nghĩa vụ tố tụng, để đương sự có thể tự mình đưa ra các yêu cầu và các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi chính đáng của mình.
Quyền của đương sự nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định tại Điều 63 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, theo đó đương sự có thể quyết định về việc tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hay nhờ luật sư hoặc bất kỳ một người nào khác đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 63 quy định việc đương sự có thể nhờ một người tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương nhưng có được chấp nhận hay không lai phụ thuộc vào việc “được TA chấp nhận”. Quy định này đã tạo ra cơ chế “xin cho” dẫn đến gây khó khăn, cản trở đương sự thực hiện quyền nhờ người khác bảo vệ. Vì vậy, cần quy định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và có đủ đủ điều kiện do pháp luật quy định mà không cần TA chấp nhận.
- Quyền yêu cầu TA quyết định áp dụng BPKCTT
BPKCTT là biện pháp mà TA quyết định trong quá trình giải quyết VVDS nhằm giải quyết các nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm thi hành án. Việc áp dụng đúng đắn các biện pháp này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, pháp luật TTDS hiện hành quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng.
Về nguyên tắc, TA chỉ được áp dụng BPKCTT khi có đơn yêu cầu của đương sự và người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự TA cũng có quyền tự mình áp dụng một số BPKCTT theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 102 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Đương sự có thể yêu cầu TA áp dụng BPKCTT ngay trong quá trình TA giải quyết VVDS, đồng thời trong trường hợp cấp bách thì đương sự có thể yêu cầu TA áp dụng BPKCTT ngay tại thời điểm nộp đơn khởi kiện đến TA (khoản 2 Điều 99 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Việc BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 có quy định quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT sớm nhất từ khi TA nhận được đơn khởi kiện nhằm bảo đảm cho việc bảo vệ bằng chứng, ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các VVDS cho thấy, không ít trường hợp khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện cũng là lúc mà phía bị đơn đã đủ thời gian để huỷ hoại bằng chứng, tẩu tán, huỷ hoại tài sản để nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản, do đó TA xem xét để áp dụng BPKCTT vào thời điểm này thì đã quá muộn. Vì vậy, để phát huy tác dụng của việc áp dụng BPKCTT, chúng tôi cho rằng dự thảo BLTTDS 2004 cần quy định cho đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ trước khi khởi kiện VADS tại TA trong trường hợp đặc biệt do tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng hoặc ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản.
Việc quy định về việc đương sự thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT là rất cần thiết nhằm nâng cao trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng.
- Quyền tham gia phiên toà, tham gia phiên họp của đương sự
Việc tham gia phiên toà, tham gia phiên họp giải quyết các VVDS có ý nghĩa rất quan trọng để các đương sự có thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình tại phiên toà, phiên họp. Vì vậy, theo quy định tại các Điều 199, 200, 201, 202, 221, 222, 232, 264, 271, 272, 292, 295, 313 và 314 BLTTDS 2004
sửa đổi bổ sung năm 2011, đương sự có quyền tham gia các phiên toà, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm VVDS, một số trường hợp tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu TA xét thấy cần thiết cho việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm). Về nguyên tắc, việc giải quyết VVDS phải có mặt các đương sự, nếu đương sự vắng mặt thì TA phải hoãn phiên toà, hoãn phiên họp. TA chỉ được tiến hành phiên toà, phiên họp vắng mặt đương sự nếu họ có đơn yêu cầu TA xét xử vắng mặt hoặc đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà, phiên họp hoặc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được TA triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
Quyền tham gia phiên toà, tham gia phiên họp giải quyết VVDS nhằm bảo đảm cho đương sự có cơ hội và điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng cáo
TA phải thực hiện hai cấp xét xử, đây chính là nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS (Điều 17 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011), theo đó bản án, quyết định sơ thẩm của TA có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
- Nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì TA cấp phúc thẩm xét xử lại.
Sau khi đã thực hiện quyền kháng cáo, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng cáo theo quy định tại Điều 256 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Để thực hiện quy định này, tại Điều 11 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “thủ tục giải quyết VA tại TA cấp phúc thẩm” của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011[17], khi đương sự có sự thay đổi, bổ sung kháng cáo hoặc rút kháng cáo thì tuỳ thuộc vào từng trường hợp, TA cấp phúc thẩm có thể xem xét giải quyết chấp nhận, hay không chấp nhận.
- Quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật
Đương sự có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện việc khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Từ điều 291 đến điều 397, Điều 402, 403 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 là cơ sở pháp lý để đương sự có thể thực hiện được quyền khiếu nại trong tố tụng nhằm giúp đương sự có thể bảo vệ được tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời hạn chế, khắp phục những vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong TTDS. Tuy nhiên, BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 lại không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết và trả lời khiếu nại của đương sự đối với các bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật đã dẫn đến trong thực tiễn việc giải quyết khiếu nại không kịp thời hoặc không được giải quyết, không có trả lời đã dẫn đến khiếu nại tràn lan, vượt cấp. Vì vậy, cần quy định trong BLTTDS một trình tự, thủ tục để giải quyết khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là rất cần thiết để bảo đảm quyền cho đương sự.
2.3.2. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Việc cung cấp chứng cứ và chứng minh đã được ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của luật tố tụng dân sự – nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chững minh trong tố tụng dân sự (Điều 6 BLTTDS). Theo đó, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự chủ yếu thuộc về đương sự. Việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự dựa trên những cơ sở nhất định.
Đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh về các tình tiết, sự kiện của vụ việc. Ngoài ra, đương sự là người đưa ra yêu cầu và chính yêu cầu của đương sự giới hạn phạm vi giải quyết của TA. Đương sự đưa ra yêu cầu, vì vậy họ phải biết được xuất phát từ cơ sở gì mà họ đưa ra yêu cầu đó nên đương sự phải viện dẫn được những tình tiết, sự kiện làm cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ.
Đương sự là người biết được để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cần cung cấp những tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho quyền lợi đó, đồng thời biết được những người biết về tình tiết, sự kiện thực tiễn của VVDS, biết được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đang lưu giữ các tài liệu, chứng cứ có thể cung cấp cho họ hoặc cho TA làm cơ sở cho việc giải quyết VVDS. Vì vậy, khi họ không trực tiếp quản lý, lưu giữ các chứng cứ đó thì họ có thể yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ cung cấp cho họ. Tuy nhiên, nếu bản thân đương sự không thể tự cung cấp được những chứng cứ quan trọng mà việc đó phải do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thì đương sự có thể yêu cầu các cơ quan đó thực hiện.
- Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong TTDS có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc giải quyết các VVDS, bởi vì chỉ khi TA có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của vụ việc đã được làm rõ, thì TA mới có thể giải quyết đúng đắn VVDS. Trong quá trình TA giải quyết VVDS, hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh do nhiều chủ thể tiến hành, nhưng chủ yếu là do đương sự thực hiện. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Trong TTDS, việc cung cấp chứng cứ, chứng minh vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự (khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011).
Đối với đương sự, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh là vô cùng quan trọng để họ làm rõ được cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của mình và đây là căn cứ để TA bảo vệ quyền lợi cho họ. Trước TA, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ có cũng như không. Bởi vì trên thực tế, các TA cũng có thể sai lầm trong việc xác định các tình tiết của VVDS, từ đó dẫn tới việc giải quyết VVDS không đúng với sự thật, đồng thời đương sự cũng không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo quy định tại Điều 79 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, đương sự yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp; đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra được chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh, nếu không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra được đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Tuy nhiên, BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 không quy định về thời hạn cung cấp do chứng cứ có thể dẫn đến việc đương sự có thể lợi dụng để trì hoãn hoạt động tố tụng. Thực tiễn đã xuất hiện các trường hợp đương sự hoàn toàn có đủ điều kiện để cung cấp ngay các chứng cứ đó cho TA ở trước phiên toà sơ thẩm, nhưng ở tại phiên toà sơ thẩm khi đang tranh luận lúc đó đương sự mới xuất trình chứng cứ và nếu việc xem xét, đánh giá chứng cứ đó không thực hiện được ở tại phiên toà mà cần có thời gian để xác minh làm rõ thì TA phải tạm ngừng phiên toà. Ngoài ra, thực tiễn còn xuất hiện trường hợp ở giai đoạn sơ thẩm đương sự không xuất trình chứng cứ nhưng đến giai đoạn phúc thẩm đương sự mới xuất trình chứng cứ dẫn đến việc TA cấp phúc thẩm phải sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại [38]. Để khắp phục tình trạng trên, chúng tôi cho rằng pháp luật tố tụng cần quy định về thời hạn đương sự phải cung cấp chứng cứ và khi đã hết thời hạn cung cấp chứng cứ mà đương sự mới cung cấp chứng cứ thì chỉ được chấp nhận nếu đương sự chứng minh được việc cung cấp chứng cứ quá thời hạn là do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự sẽ giúp cho TA giải quyết nhanh chóng VVDS, đồng thời nâng cao trách nhiệm của đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu cảu mình. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ và yêu cầu TA xác minh, thu thập chứng cứ
Trong quá trình TA giải quyết VVDS, để việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng và đúng đắn thì đương sự phải cung cấp chứng cứ cho TA. Tuy nhiên, chứng cứ của VA có thể do các đương sự lưu giữ, cũng có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang lưu giữ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 58 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 các đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ cho mình để giao nộp cho TA. Để bảo đảm thực hiện quyền này của đương sự, Điều 7 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định nguyên tắc về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự các chứng cứ trong VA mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được. Đây là một quy định mới của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 so với các văn bản pháp luật tố tụng trước đây và quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm cho đương sự có thể có được đầy đủ chứng cứ để chứng minh cho các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước TA.
Trong thực tế, đương sự thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan cũng gặp phải nhiều khó khăn. Không ít những trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ các tài liệu, chứng cứ của vụ việc đã cố tình không cung cấp các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc cung cấp không đầy đủ, không chính xác. Mặc dù, pháp luật TTDS hiện hành đã có quy định đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức, tổ chức không thi hành quyết định của TA về việc cung cấp chứng cứ, tài liệu mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị TA phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức cố tình không cung cấp chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của đương sự thì bị xử lý ra sao? pháp luật hiện hành lại không quy định. Chúng tôi cho rằng để bảo đảm đương sự thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ, pháp luật tố tụng cần bổ sung quy định về thời hạn các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của đương sự và trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức cố tình không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của đương sự thì đương sự có quyền yêu cầu TA quyết định xử phạt theo các hình thức phạt tiền, cảnh cáo. Đồng thời, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cần sớm ban hành văn bản quy định về thẩm quyền, thủ tục xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong đó có hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ các tài liệu chứng cứ nhưng có tình không cung cấp khi được đương sư, TA yêu cầu làm cơ sở cho việc xử lý trên thực tế.
- Đề nghị TA xác minh, thu thập chứng cứ của VA mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị TA triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, khiếu nại với VKS về những chứng cứ mà TA đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Về nguyên tắc, đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhưng không phải trong mọi trường hợp đương sự đều có thể tự mình thu thập chứng cứ để cung cấp cho TA nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình trước TA. Vì vậy, trong trường hợp đương sự đã không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu TA xác minh, thu thập chứng cứ, hoặc có quyền đề nghị TA triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá. Đương sự đề nghị TA tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ phải làm đơn, có chữ ký của đương sự hoặc đại diện hợp pháp của đương sự và phải ghi rõ ràng, cụ thể vấn đề cần chứng minh, chứng cứ cần thu thập (chứ không được ghi là chứng cứ có liên quan); Lý do vì sao tự mình không thể xác minh, thu thập được; Họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập. Đơn đề nghị xác minh, thu thập chứng cứ của đương sự phải được lưu vào hồ sơ VA. TA chỉ chấp nhận và tiến hành xác minh, thu thập những chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết VA và theo yêu cầu cụ thể của đương sự khi có căn cứ để xác định đương sự không thể tự mình thực hiện được việc xác minh, thu thập chứng cứ đó. Mặt khác, để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong VVDS trong trường hợp TA đã xác minh, thu thập chứng cứ do đương sự khác yêu cầu mà có đương sự không đồng ý thì đương sự có quyền khiếu nại với VKS để VKS thực hiện hoạt động kiểm sát hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của TA.
- Quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do TA thu thập
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất, pháp luật TTDS quy định đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình cho TA hoặc do TA thu thập. Đây là quyền tố tụng mới được pháp luật TTDS hiện hành quy định tương đối đầy đủ, toàn diện. Với việc ghi nhận quyền này, đương sự có thể đến TA và TA phải tạo điều kiện cho họ được đọc hồ sơ VA, ghi chép, sao chụp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Cụ thể hoá cho việc đương sự thực hiện quyền trên đây, theo hướng dẫn tại Điều 17 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì: Đương sự chỉ được yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ VA trước khi TA mở phiên toà xét xử VA. Khi có yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ, thì họ phải làm đơn gửi TA có thẩm quyền. Nếu họ trực tiếp đến TA trình bày yêu cầu được ghi chép, sao chụp tài liệu chứng cứ, thì họ cũng phải thể hiện bằng văn bản nộp cho TA. Nếu đương sự là người không biết chữ thì TA lập biên bản ghi rõ yêu cầu của họ. Biên bản phải được đọc lại cho người có yêu cầu nghe, ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Đơn hoặc văn bản yêu cầu phải ghi cụ thể các tên tài liệu, chứng cứ mà mình cần ghi chép, sao chụp. Trên cơ sở đề nghị của đương sự, TA tạo điều kiện cho họ được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ mà họ có yêu cầu. Ngoài ra, Nghị quyết còn hướng dẫn việc sao chụp với điều kiện nhằm đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về chế độ bảo quản hồ sơ VA, về trách nhiệm của cán bộ, công chức của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo quản hồ sơ VA…
Để bảo đảm cho các đương sự quyền được biết các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do TA thu thập, tại các Điều 97, 227, 228, 229, 272 và 314 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định: tại phiên toà, phiên họp giải quyết VVDS TA phải đưa ra xem xét và công bố công khai các chứng cứ, tài liệu, trừ những trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự thì TA không công bố các tài liệu có trong hồ sơ.
Như vậy, pháp luật TTDS hiện hành quy định, đương sự chỉ có thể biết, ghi chép, sao chụp những tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã xuất trình cho TA hoặc do TA thu thập, nhưng lại không quy định nghĩa vụ trao đổi chứng cứ, tài liệu, văn bản nêu ý kiến của các bên. Vì vậy, để mở rộng tranh tụng trong hoạt động tố tụng và phát huy vai trò của đương sự trong hoạt động tố tụng, pháp luật TTDS cần quy định bổ sung nghĩa vụ trao đổi chứng cứ, tài liệu, văn bản nêu ý kiến của các bên đương sự cho nhau trước khi mở phiên toà nhằm bảo đảm các bên có những chia sẻ thông tin với nhau để có thể tìm được tiếng nói chung hoặc có việc chuẩn bị tốt nhất cho việc tranh tụng tại phiên toà.
2.3.3. Các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình
Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự có quyền được nhận hoặc biết nội dung các văn bản tố tụng. Đương sự có thể nhận được thông báo hợp lệ thông qua hoạt động cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Ngoài ra, để giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự cũng cần sự trợ giúp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như uỷ ban nhân dân tụng làm việc, nhân viên bưu điện và những người khác khi được TA yêu cầu hoặc pháp luật có quy định.
Nơi người tham gia tố tụng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố Các văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo và những người được cấp, tống đạt, thông báo rất phong phú và đa dạng. Do vậy, các phương thức cấp, tống đạt, thông báo cũng rất đa dạng như trực tiếp, qua bưu điện hoặc qua người thứ ba được uỷ quyền, niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Vì vậy, để bảo đảm quyền được nhận thông báo hợp lệ của đương sự thì thủ tục cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự nói riêng và cho những người được thông báo, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng nói chung phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 (từ Điều 151 đến Điều 156). Mặt khác, người có trách nhiệm thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 148 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011).
Quy định về thủ tục thông báo cho đương sự của TA nhằm bảo đảm cho đương sự có thời gian, điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình một cách tốt nhất, đồng thời không làm kéo dài quá trình giải quyết. Theo quy định tại Điều 168 và 169 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, khi trả lại đơn TA thông báo trả lại đơn khởi kiện để đương sự biết được lý do mà TA không thụ lý VA và trả lại đơn, nếu đương sự không đồng ý với việc trả lại đơn thì họ có thể thực hiện được quyền khiếu nại với Chánh án TA về việc trả lại đơn khởi kiện. Điều 171 BLTTDS 2004 quy định, TA thông báo để đương sự thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 174 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định TA phải thông báo về việc thụ lý VADS để các đương sự nhận được thông báo nộp (gửi) cho TA văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo nếu có. Bên cạnh đó, TA thực hiện việc thông báo về phiên hoà giải để đương sự tham gia hoà giải, thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo, thông báo yêu cầu trình bày lý do kháng cáo quá hạn, thông báo trả lại đơn kháng cáo v.v… Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Như vậy, pháp luật TTDS hiện hành quy định khá đầy đủ, chi tiết về quyền được nhận thông báo hợp lệ và thủ tục thông báo được xác định là hợp lệ. Tuy nhiên,trên thực tế do một số nguyên nhân khác nhau dẫn đến đương sự đã không được thông báo hợp lệ ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản để cụ thể hoá các biện pháp xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm của người có trách nhiệm thông báo văn bản tố tụng.
- Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật;
Về nguyên tắc, bản án quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Tuy nhiên, nếu bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật không đúng, thiếu khách quan thì đương nhiên quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VA sẽ bị xâm phạm. Do đó, để có thể có cơ sở cho các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật, đương sự có quyền phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền các căn cứ để kháng nghị.
Để bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là TAND phải xem xét và xử lý kịp thời trong trường hợp sau khi TA ra bản án, quyết định đã có hiệu lực, nhưng đương sự vẫn có yêu cầu khiếu nại xem xét lại việc giải quyết VVDS. Từ đó có biện pháp xử lý kịp thời nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự.
Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng pháp luật TTDS cần quy định cho đương sự có quyền yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, đồng thời quy định cụ thể thủ tục xem xét yêu cầu này, thực hiện nộp tiền tạm ứng xem xét yêu cầu v.v… để vừa bảo đảm quyền của đương sự vừa bảo đảm nâng cao được chất lượng kháng nghị, đồng thời hạn chế được những khiếu nại kéo dài, chồng chéo không cần thiết. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Phải có mặt theo giấy triệu tập của TA và chấp hành các quyết định của TA trong thời gian giải quyết VA;
Trong quá trình TA giải quyết các VVDS, để có thể giải quyết VVDS đúng đắn, phù hợp với các quy định pháp luật nội dung, cũng như pháp luật tố tụng, TA cần phải tiến hành các hoạt động tố tụng khác nhau như: thụ lý VA, thu thập chứng cứ trong những trường hợp pháp luật có quy định; tiến hành thủ tục hoà giải theo quy định của pháp luật; tiến hành mở phiên toà xét xử VA v.v…Khi tiến hành các hoạt động đó, thông thường TA phải tiến hành triệu tập các đương sự để có thể yêu cầu họ bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu họ làm bản tự khai hoặc lấy lời khai của họ hoặc để giúp họ hoà giải với nhau về việc giải quyết VA, để họ tham gia phiên toà. Vì vậy, khi đã được TA triệu tập hợp lệ, đương sự phải có mặt theo giấy triệu tập của TA theo đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập. Nếu đương sự vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp họ phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định.
Thực tiễn giải quyết các VVDS, đương sự được triệu tập mà vắng mặt có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau như: đương sự vắng mặt do họ không được TA triệu tập hợp lệ; đương sự vắng mặt khi được TA triệu tập hợp lệ nhưng có lý do chính đáng do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà họ không thể có mặt theo giấy triệu tập; đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt v.v…
- Trường hợp đương sự được triệu tập vắng mặt do việc triệu tập của TA không hợp lệ:
Để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự, một trong những vấn đề mang tính nguyên tắc là TA phải tiến hành triệu tập đương sự theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định (còn gọi là triệu tập hợp lệ). Nếu TA triệu tập không hợp lệ đương sự thì việc triệu tập đó không có giá trị pháp lý. Khi TA triệu tập đương sự không hợp lệ và nếu đương sự vắng mặt thì TA phải hoãn phiên toà và triệu tập lần tiếp theo bất kể đó là lần vắng mặt lần thứ mấy.
- Trường hợp đương sự được TA triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
TA đã tiến hành việc triệu tập đương sự theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhưng đương sự vắng mặt, theo quy định tại các điều từ Điều 199 đến Điều 201 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 tuỳ từng trường hợp mà sẽ có các cách xử lý khác nhau: Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Nếu đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt có lý do chính đáng thì TA phải hoãn phiên toà. Ngoài ra, Điều 28 của Nghị quyết số 05/2012/HĐTP- TANDTC có quy định: TA chỉ có thể tiến hành xét xử VA khi có đương sự vắng mặt tại phiên toà trong các trường hợp quy định tại Điều 202 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 (không phân biệt chỉ có một đương sự, một số đương sự hoặc tất cả các đương sự trong VA đều có đơn đề nghị TA xét xử vắng mặt); do đó, khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 1 Điều 200 và khoản 1 Điều 201 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 dù không có lý do chính đáng, thì TA vẫn hoãn phiên toà.
Nếu đương sự được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tuỳ thuộc nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt thì có thể xử lý như sau:
Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì suy đoán rằng nguyên đơn đã từ bỏ yêu cầu khởi kiện của mình. TA ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VA với yêu cầu của nguyên đơn vắng mặt. Tuy nhiên, TA vẫn giải quyết yêu cầu của những nguyên đơn khác có mặt hoặc yêu cầu của các đương sự khác.
Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì TA xét xử vắng mặt bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì TA vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và TA ra quyết định đình chỉ giải quyết VA đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý. Trong trường hợp TA ra quyết định đình chỉ giải quyết VA đối với yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Như vậy, về nguyên tắc, theo quy định tại các điều từ Điều 199 đến Điều 201 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, khi đương sự được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì TA sẽ đình chỉ việc giải quyết VA hoặc xét xử vắng mặt mà không xem xét việc vắng mặt lần thứ hai là có hay không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết có một số trường hợp TA triệu tập hợp lệ nhưng đương sự vắng mặt có lý do chính đáng như: đương sự đã được triệu tập hợp lệ và đã chuẩn bị tham dự phiên toà xét xử VA nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan như thiên tai, địch hoạ, tai nạn, ốm nặng phải đi cấp cứu, người thân bị chết v.v… xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày TA mở phiên toà hoặc ngay vào thời điểm họ đang trên đường đến TA để tham dự phiên toà nên họ không thể có mặt thì TA cũng phải hoãn phiên toà, phiên họp để triệu tập lần tiếp theo.
Tuy nhiên, nếu đương sự vắng mặt có lý do chính đáng nhưng vì vào thời điểm đương sự vắng mặt, TA đã không có ngay căn cứ để xác định đương sự vắng mặt không có lý do nên TA đã tiến hành việc xét xử vắng mặt đương sự và bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó đương sự chứng minh được họ vắng mặt là có lý do chính đáng và có khiếu nại thì đây có thể coi là trường hợp có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (Khoản 3 Điều 28 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết VA tại TA cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung).
Như vậy, pháp luật TTDS hiện hành đã có những quy định về nghĩa vụ đương sự phải có mặt theo giấy triệu tập hợp lệ của TA và các biện pháp xử lý khi đương sự được TA triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà sơ thẩm nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc xử lý trong trường hợp đương sự vắng mặt chưa được quy định đầy đủ, đồng thời chưa bảo đảm thống nhất giữa các quy định trong BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc chưa bảo đảm được sự bình đẳng giữa các đương sự trong VVDS đã làm các TA lúng túng trong việc xử lý hoặc đương sự đã lạm dụng để trì hoãn tố tụng.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, do phạm vi xét xử phúc thẩm có sự khác biệt với phạm vi xét xử sơ thẩm: phạm vi xét xử phúc thẩm thường hẹp hơn phạm vi xét xử sơ thẩm (phạm vi xét xử phúc thẩm rộng nhất bằng phạm vi xét xử sơ thẩm) nên không phải tất cả các đương sự đã tham gia ở phiên toà sơ thẩm đều phải phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm. Theo quy định tại Điều 264 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, đương sự phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm bao gồm: đương sự đã kháng cáo và đương sự không kháng cáo nhưng quyền và nghĩa vụ của họ có liên quan đến việc xét kháng cáo, kháng nghị. Khi triệu tập các đương sự hợp lệ tham gia phiên toà phúc thẩm (đối với các đương sự phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm) mà đương sự vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp TA phải giải quyết như sau: Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Nếu đương sự phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm mà vắng mặt nhưng có đơn đề nghị TA xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia thì TA tiến hành xét xử vắng mặt;
- Nếu đương sự phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm mà vắng mặt lần thứ nhất (có lý do chính đáng hoặc không có lý do chính đáng) thì TA hoãn phiên toà phúc thẩm để triệu tập lần tiếp theo;
- Đương sự kháng cáo được TA phúc thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi là đã từ bỏ việc kháng cáo và TA cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với phần VA có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt, trừ trường hợp phần VA đó có kháng cáo của các đương sự khác hoặc kháng nghị của VKS;
- Đương sự không kháng cáo nhưng phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm mà được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt thì TA tiến hành xét xử vắng mặt để xét kháng cáo của chủ thể khác hoặc kháng nghị của VKS.
Ngoài ra, nếu đương sự phải tham gia ở phiên toà phúc thẩm mà vắng mặt nhưng vì họ gặp trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra vào thời điểm trước ngày TA mở phiên toà phúc thẩm hoặc ngay thời điểm họ đang trên đường đến TA để dự phiên toà phúc thẩm (do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân chết…) thì TA vẫn phải hoãn phiên toà phúc thẩm để triệu tập lần tiếp theo.
Như vậy, pháp luật TTDS hiện hành đã có quy định về hậu quả pháp lý của việc đương sự vắng mặt ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi được TA triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có mâu thuẫn cần phải được sửa đổi bổ sung nhằm bảo đảm nghĩa vụ tham gia của đương sự, đồng thời bảo đảm sự bình đẳng của các đương sự trong TTDS như đã phân tích trên đây.
Ngoài những quyền và nghĩa vụ trên đây, đương sự còn có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, quyền được cấp trích lục bản án, quyết định, có nghĩa vụ phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của TA, tôn trọng TA, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa, nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí [9], án phí, lệ phí; chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật v.v… Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
2.4. VIỆC KẾ THỪA QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ
Trong trường hợp sau khi TA đã thụ lý VVDS mà có đương sự là cá nhân chết hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức bị giải thể, bị tuyên bố phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì có thể quá trình giải quyết vụ việc bị đình chỉ, tạm đình chỉ nhưng có những trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự được dịch chuyển cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng tiếp tục tham gia tố tụng.
Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 62 BLTTDS 2004 sửa đổi bỏ sung năm 2011, theo đó trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được người thừa kế tham gia tố tụng (khoản 1, Điều 62 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011). Người thừa kế của đương sự được xác định theo quy định về thừa kế của BLDS 2005. Nếu trong trường hợp có nhiều người thừa kế (thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật) thì về nguyên tắc, tất cả những người thừa kế tham gia tố tụng hoặc họ phải thoả thuận với nhau bằng văn bản để cử người đại diện tham gia hoặc cùng ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng. Trường hợp tất cả người thừa kế đều từ chối nhận di sản, không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người thừa kế không được hưởng thì tài sản thuộc về Nhà nước, sau khi thực hiện việc thanh toán các nghĩa vụ theo thứ tự ưu tiên được quy định tại Điều 683 BLDS 2005. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là về nguyên tắc tài sản đó thuộc về Nhà nước TA phải tiếp tục giải quyết VVDS nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đại diện cho lợi ích của Nhà nước tham gia tố tụng trong trường hợp này pháp luật tố tụng hiện hành không có quy định. Ngoài ra, cần phải phân biệt trường hợp này với trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì TA sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS (điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011) và vấn đề thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng không đặt ra.
Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ TTDS đó được xác định như sau:
- Nếu tổ chức phải chấm dứt hoạt động (bị giải thể hoặc phá sản) là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng (điểm a khoản 2 Điều 62 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011). Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
- Nếu cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong trường hợp cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, tổ chức, cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan tổ chức đó thì TA sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS (điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011).
- Nếu tổ chức được tổ chức lại bằng cách hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó sẽ tham gia tố tụng (điểm c khoản 2 Điều 62 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011).
- Nếu đương sự là tổ chức không phải là pháp nhân mà người đại diện hoặc người quản lý đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng. Nếu tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng (khoản 3, Điều 62 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011).
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
BLTTDS 2004 đã được sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định tương đối đầy đủ, chi tiết về đương sự trong tố tụng dân sự. Các quy định này là cơ sở pháp lý cho TA xác định thành phần và tư cách của đương sự, bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, đồng thời là cơ sở để các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết các VVDS.
Pháp luật TTDS hiện hành đã có những quy định về thành phần và tư cách tố tụng của đương sự. Tuy nhiên, xuất phát từ những nhận thức lý luận về đương sự cho thấy các quy định về vấn đề này còn một số hạn chế như: quy định về phạm vi các chủ thể có thể được xác định là đương sự chưa đầy đủ và phù hợp với phạm vi chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung; tư cách của đương sự trong VDS chưa được quy định, chưa có quy định về đồng nguyên đơn, đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bị đơn.
Năng lực chủ thể của đương sự trong TTDS bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTDS. Tuy nhiên, vẫn chưa làm rõ được tính độc lập tương đối của năng lực chủ thể của đương sự trong TTDS với năng lực chủ thể dân sự.
Qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong VVDS, thấy rằng một số quy định của pháp luật TTDS còn chưa đầy đủ, chi tiết mà mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung, do đó có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau. Bên cạnh đó một số quy định khác lại mâu thuẫn với nhau giữa quy định trong điều luật này với quy định trong điều luật khác; đặc biệt chưa bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các đương sự ở các tư cách tố tụng khác nhau.
Pháp luật TTDS có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện công tác giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án, tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Qua thời gian áp dụng, một số quy định đã tỏ ra lỗi thời, cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, vẫn còn thiếu những quy định cụ thể nhằm bảo đảm sự trợ giúp của cá nhân, cơ quan, tổ chức để đương sự có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Những quy định cụ thể để xử lý các hành vi vi phạm của TA hay của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự vẫn còn thiếu. Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam