Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong hoạt động thương mại, sự thoả thuận giữa các bên thông thường được ghi nhận trong hợp đồng. Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng. Tuy nhiên, việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vẫn có thể xảy ra, dù cố ý hay vô ý. Khi tranh chấp phát sinh từ và liên quan đến hợp đồng thương mại, pháp luật cho phép một bên áp dụng các biện pháp pháp lý đối với bên kia nhằm yêu cầu bên đó chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình. Các biện pháp pháp lý này là chế tài trong thương mại. Trong đó, bồi thường thiệt hại với tư cách là chế tài trong thương mại có chức năng bù đắp tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm, làm cho hành vi vi phạm hợp đồng trở nên vô hại về mặt vật chất đối với bên bị thiệt hại.
Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện hành chưa thống nhất về vấn đề xác định giá trị bồi thường thiệt hại phải được đền bù. Khoản 2 Điều 302 LTM 2005 quy định: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Trong khi đó, khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 quy định: “Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”; Điều 13 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Như vậy, theo quy định của LTM thì các bên không được phép thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt hại nhưng BLDS lại cho phép các bên thỏa thuận về mức bồi thường này. Nếu các bên khi tham gia hợp đồng có cách hiểu khác nhau do sự không thống nhất giữa LTM và BLDS thì sẽ dễ dẫn đến những tranh chấp không đáng có trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, một số quy định trong pháp luật hiện nay vẫn chưa có tính minh bạch, thống nhất như: yếu tố lỗi làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, giá trị tổn thất về tinh thần, vấn đề miễn, giảm trách nhiệm bồi thường…
Ngoài ra, thực tiễn xét xử của tòa án thể hiện sự chưa nhất quán trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, nhất là trong việc xác định mức độ thiệt hại, khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Pháp luật thương mại hiện hành chưa quy định các căn cứ cụ thể để xác định mức độ thiệt hại, các khoản thiệt hại được bồi thường, cũng như chưa quy định cụ thể thế nào là các khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng. Do đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Từ yêu cầu cấp thiết nghiên cứu để hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại; đồng thời, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại, tác giả chọn đề tài “Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Đến nay, qua nghiên cứu của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào được công bố nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam, mặc dù cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này và một số vấn đề khác liên quan đến giá trị bồi thường thiệt hại. Cụ thể như sau:
- Sách chuyên khảo Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam của Nguyễn Ngọc Khánh do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2007: Gồm có bốn chương bao quát những vấn đề cốt yếu nhất của chế định hợp đồng, đi sâu phân tích, lý giải các khía cạnh lý thuyết của chế định này, đặc biệt có đối chiếu, so sánh các cách tiếp cận khác nhau, các cách hiểu khác nhau, các cách xử lý khác nhau về cùng một vấn đề được thể hiện trong các hệ thống pháp luật dân sự chủ yếu của thế giới đương đại. Trong sách này có nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài như: chế tài bồi thường thiệt hại, yếu tố lỗi, xác định thiệt hại, giới hạn trách nhiệm bồi thường…
- TS. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2010 (1 tập), tái bản năm 2014 (2 tập) và cuốn Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2010, tái bản năm 2013: Các cuốn sách này đề cập các vấn đề căn bản nhất của pháp luật về hợp đồng Việt Nam thông qua bình luận các bản án được chọn lọc, trong đó đề cập nhiều vấn đề liên quan đến xác định giá trị bồi thường thiệt hại như: thiệt hại vật chất và tổn thất tinh thần, yếu tố lỗi, giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại…
- Luận văn Thạc sỹ Luật học về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thương mại của tác giả Nguyễn Phú Cường năm 2009: Nghiên cứu việc áp dụng các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong kinh doanh- thương mại vào thực tiễn, trong đó đề cập đến vấn đề miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan trực tiếp đến đề tài.
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS. Phan Huy Hồng làm chủ nhiệm công bố năm 2011 về Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài tại Việt Nam: Đánh giá, đúc kết thực tiễn xét xử của tòa án, trọng tài thương mại Việt Nam về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, rút ra các kết luận về tính thống nhất, thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, khả năng hình thành án lệ về một số vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa. Đề tài có nghiên cứu vấn đề xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng kinh doanh-thương mại. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
- Tác giả Nguyễn Thị Hồng Trinh đã công bố bài “Chế tài bồi thường thiệt hại trong thương mại quốc tế qua Luật Thương mại Việt Nam, Công ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22/2009: Phân tích, so sánh chế định bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam và quốc tế, trong đó đề cập đến vấn đề xác định giá trị bồi thường thiệt hại qua LTM Việt Nam, Công ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit.
- Các bài viết “Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” của tác giả Dương Anh Sơn trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2005 và “Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng” của tác giả Đỗ Thành Công đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2010 nghiên cứu trực tiếp đến một vấn đề như là một bộ phận của đề tài.
Các công trình nêu trên mặc dù có nghiên cứu đến vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại nhưng chỉ đề cập với tính chất là một nội dung nhỏ trong một đề tài nghiên cứu rộng hơn hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh liên quan đến đề tài, và chưa có tính bao quát, chưa nghiên cứu sâu, toàn diện việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại. Mặc dù vậy, các công trình này là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận, thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn xét xử ở Việt Nam về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại, có so sánh với pháp luật nước ngoài và tham khảo thực tiễn tài phán quốc tế, bao gồm những nội dung: xác định giá trị bồi thường thiệt hại, giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại và giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá. Thông qua đó, phân tích những quy định còn bất cập của pháp luật thương mại và kiến nghị hoàn thiện các quy định liên quan đến vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam.
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Các quy định pháp luật thương mại Việt Nam về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại;
- Các quan điểm khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử liên quan đến xác định giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam;
- Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như: Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản; các quy định của pháp luật quốc tế khác như Công Ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit…về xác định giá trị bồi thường thiệt hại, từ đó rút ra kinh nghiệm và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định tương ứng của Việt
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, đề tài sẽ không đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho dù căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường đó xuất phát từ hoạt động kinh doanh thương mại. Đề tài có so sánh, đối chiếu với các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế có điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng như Công ước viên 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc Unidroit… để nhằm rút ra các kinh nghiệm cho Việt Nam. Ngoài các quy định pháp luật, đề tài cũng sẽ nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật qua các bản án, quyết định của tòa án các cấp, phán quyết của trọng tài thương mại về tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại có liên quan đến việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại.
- Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong luận văn, tác giả phối kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học xã hội như: phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp…. Tuỳ thuộc vào nội dung nghiên cứu của từng chương tác giả có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Cụ thể như sau:
Trong chương 1, để làm rõ các vấn đề về lý luận tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước về hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích luật, phương pháp giải thích luật, phương pháp so sánh luật và phương pháp lịch sử để nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật thương mại về giá trị bồi thường thiệt hại và các vấn đề khác liên quan, chỉ ra những điểm mới, tiến bộ (hoặc bất cập) của luật mới so với luật cũ, của luật chung so với luật chuyên ngành, của luật Việt Nam so với luật nước ngoài, luật quốc tế… từ đó, rút ra được những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc, hợp lý nhất để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Trong chương 2, tác giả thu thập, phân loại một số lượng cần thiết bản án, phán quyết trọng tài theo các vấn đề pháp lý liên quan đến vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại, và sử dụng các phương pháp bình luận án, phương pháp tổng hợp và phương pháp quy nạp để phân tích bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài, đánh giá quan điểm của tòa án hay trọng tài trong việc áp dụng pháp luật. Từ đó, tác giả đưa ra các nhận định, kết luận có tính đại diện làm cơ sở để đề xuất, kiến nghị.
5. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp mới của luận văn
Luận văn có ý nghĩa khoa học nhất định, là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề đi sâu xem xét các vấn đề lý luận của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam. Đề tài nghiên cứu một số thực tiễn giải quyết các vụ án kinh tế liên quan đến việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại theo hợp đồng trong hoạt động thương mại nhằm làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật liên quan theo hướng hỗ trợ các cơ quan xét xử xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong các vụ việc tranh chấp về bồi thường thiệt hại phát sinh từ hoạt động thương mại. Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận về giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam; đồng thời, đóng góp những luận điểm nhất định để cơ quan lập pháp tham khảo nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam phù hợp hơn với thực tiễn thương mại.
Những điểm mới của luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam;
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong thực tiễn tài phán;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
6. Bố cục của luận văn Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 02 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật thương mại về giá trị bồi thường thiệt hại
- Chương 2. Thực tiễn tài phán liên quan đến việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại và một số kiến nghị
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ GIÁ TRỊ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
1.1 Những vấn đề lý luận về giá trị bồi thường thiệt hại
1.1.1 Khái niệm, chức năng và nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1.1.1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại
Trong thực tiễn hình thành và phát triển xã hội, mỗi người sống trong đó phải tôn trọng những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm nhất trong lịch sử pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau, việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức, hình thức và phương thức bồi thường, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của quốc gia.
Pháp luật nhiều nước trên thế giới cũng quy định bồi thường thiệt hại là một biện pháp mà bên bị vi phạm áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình, bắt buộc bên vi phạm phải bồi hoàn những tổn thất mà mình bị xâm phạm. Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Nga quy định bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm là hai hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Nhưng đối với pháp luật các nước thông luật như Anh, Mỹ thì bồi thường thiệt hại là chế tài được sử dụng chủ yếu, trong trường hợp chưa đến mức hủy bỏ hợp đồng. Họ cho rằng áp dụng chế tài này sẽ hợp lý, khả thi và tiện lợi cho các bên trong quan hệ hợp đồng.
Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại là chế tài trong thương mại được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh thương mại. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng. Trong trường hợp bên có quyền bị vi phạm đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác thì họ vẫn không đương nhiên mất quyền đòi bồi thường thiệt hại. Vì thế, có thể coi bồi thường thiệt hại là một giải pháp vạn năng cho mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Để bảo vệ bên bị vi phạm, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất đó, ngay cả khi không có điều khoản bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ cơ sở giải quyết bồi thường trong hợp đồng và bồi thường ngoài hợp đồng rất khác nhau, xác định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có một số khác biệt như sau: (i) Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng về cơ bản phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên theo hợp đồng. (ii) Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, điều kiện phát sinh do các bên thoả thuận đặt ra, đó là nghĩa vụ phải thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho các bên khi tham gia vào hợp đồng. Bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tức là đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. Điều 303 LTM 2005 quy định rất rõ căn cứ (điều kiện) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: 1. Có hành vi vi phạm hợp đồng; 2. Có thiệt hại thực tế; 3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”.
Như vậy, dưới khía cạnh pháp lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động thương mại (nghĩa là bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng thương mại). Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Theo Điều 303 LTM 2005 bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đủ các yếu tố: Có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Trước hết phải có hành vi vi phạm hợp đồng, đó là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên. Hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường nếu hành vi đó gây thiệt hại thực tế và là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Ở đây, yếu tố lỗi không là căn cứ để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM. Tuy nhiên, theo BLDS, lỗi là yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tư cách là một loại trách nhiệm dân sự. Cụ thể, khoản 1 Điều 308 BLDS 2005 quy định: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý”; Điều 364 BLDS 2015 quy định: “Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý”. Hiện nay, có các quan điểm khác nhau về việc lỗi có phải là một yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không? Theo quan điểm của tác giả, trong hoạt động kinh doanh thương mại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh mà không cần phải xác định lỗi; bởi lẽ, (i) LTM với tư cách là luật chuyên ngành, được ưu tiên áp dụng điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng kinh doanh thương mại trước BLDS, không đòi hỏi lỗi là yếu tố bắt buộc mà có nó mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (ii) “Đối chiếu so sánh thì chúng ta thấy yêu cầu “lỗi” không tồn tại trong một số hệ thống pháp luật. Ví dụ, trong Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại “không cần yếu tố lỗi”; (iii) ở Việt Nam, “trong thực tiễn xét xử những năm qua, hầu như chưa bao giờ vấn đề kiểm tra, xem xét trạng thái tâm lý của người vi phạm nghĩa vụ đối với hành vi thực hiện và hậu quả của hành vi thực hiện được đặt ra một cách nghiêm túc, cả từ phía Tòa án lẫn từ những người tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, ngay trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cũng đã bắt đầu xuất hiện một số văn bản pháp luật chuyên ngành trong đó từ bỏ cách tiếp cận khái niệm lỗi truyền thống của BLDS 2005”. Như vậy, theo quy định của LTM, quan điểm của pháp luật quốc tế và thực tiễn xét xử ở Việt Nam không yêu cầu lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, cần thấy rõ LTM 2005 vẫn có một số quy định, dành cho các trường hợp cá biệt, mà ở đó lỗi vẫn đóng một vai trò nhất định trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: Điều 238 về giới hạn trách nhiệm trong hoạt động logictics, Điều 266 về bồi thường thiệt hại trong trường hợp giám định sai, hay Điều 273 về trách nhiệm đối với tổn thất trong thời hạn thuê. Tuy nhiên, nếu các nhà làm luật cho rằng đây là những trường hợp ngoại lệ thì cần phải quy định trong phần chung về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại các trường hợp nào cần thiết phải có yếu tố lỗi thì mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Từ những cơ sở pháp lý trên, có thể hiểu bồi thường thiệt hại là một hình thức chế tài vật chất được áp dụng cho bên vi phạm, trừ những trường hợp được miễn trách nhiệm, nhằm bồi thường những tổn thất (thực tế, trực tiếp) mà bên bị vi phạm phải gánh chịu và những khoản lợi đáng lẽ được hưởng cho bên bị vi phạm. Theo đó, “chế tài bồi thường thiệt hại thể hiện mục đích là bù đắp, bồi hoàn toàn bộ thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm hơn là trừng trị bên có hành vi vi phạm hợp đồng”.
1.1.1.2 Chức năng của chế tài bồi thường thiệt hại
Thứ nhất, bù đắp thiệt hại là mục đích và cũng là chức năng cơ bản, nổi bật nhất của chế tài bồi thường thiệt hại. Sự vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại của một bên trong quan hệ hợp đồng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia. Do đó, bên vi phạm gây thiệt hại phải có trách nhiệm bù đắp những lợi ích vật chất, đủ để cho phép khôi phục lại tình trạng trước khi vi phạm gây thiệt hại và thỏa mãn những quyền lợi chính đáng mà bên kia đáng lẽ phải được hưởng. Mục đích của bồi thường thiệt hại là đặt lợi ích vật chất của bên bị thiệt hại vào vị trí đáng lẽ họ phải có nếu bên kia thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Bồi thường thiệt hại không phải là đưa người bị thiệt hại trở về tình trạng ban đầu mà đưa họ vào tình trạng như là hợp đồng đã được thực hiện. Theo đó, những tổn thất và những khoản lợi trực tiếp họ được hưởng từ hợp đồng là những khoản mà bên vi phạm phải bồi thường. Đối với chế định bồi thường thiệt hại trong luật hợp đồng Anh – Mỹ (cả trong luật thực định cũng như trong thực tiễn xét xử), việc khôi phục lại tình trạng như là trước khi giao kết hợp đồng không phải là mục tiêu số một. Việc đặt bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm vào vị thế như là hợp đồng đã được thực hiện đúng và đầy đủ mới là mục đích mà chế định bồi thường thiệt hại trong luật hợp đồng Anh – Mỹ hướng tới.
Thứ hai, bồi thường thiệt hại có chức năng răn đe, nhắc nhở các bên trong hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Bồi thường thiệt hại nhằm mang lại cho bên bị vi phạm hợp đồng một sự thực hiện tương đương và khuyến khích các bên thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng. Chế tài này tác động đến nhận thức của các bên, có tác động thúc đẩy các bên cố gắng thực hiện đúng nội dung của hợp đồng đã xác lập, trừ những trường hợp không thể thực hiện được như trong trường hợp bất khả kháng và buộc phải vi phạm nghĩa vụ. Nếu vi phạm hợp đồng và gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên kia với giá trị như hợp đồng đã được thực hiện bao gồm cả những khoản lợi khi hợp đồng được thực hiện đúng và các thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu từ hành vi vi phạm hợp đồng. Vì vậy, chế tài bồi thường thiệt hại đặt ra không chỉ để bù đắp tổn thất cho bên bị vi phạm mà còn nhắc nhở các bên phải nghiêm túc thực hiện đúng hợp đồng; đồng thời, giúp cho các bên yên tâm trong thực hiện hợp đồng với suy nghĩ rằng, đối tác sẽ phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng bởi vì nếu vi phạm nghĩa vụ đã cam kết thì phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra.
Thứ ba, bồi thường thiệt hại có chức năng bảo vệ nguyên tắc thiện chí, trung thực trong thực hiện hợp đồng. Thiện chí, trung thực là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng được ghi nhận không chỉ trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam mà còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước. Khi xác lập và thực hiện hợp đồng, các bên đã dự tính được những khoản lợi mà mình sẽ đạt được. Đồng thời, bên này cũng biết những khoản lợi mà bên kia đạt được. Do đó, khi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm cũng có thể dự đoán trước những thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Chế tài bồi thường thiệt hại góp phần bảo vệ mong muốn thực sự của các bên khi tham gia hợp đồng.
1.1.1.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Thứ nhất, khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong hợp đồng kinh doanh – thương mại, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại. Bồi thường thiệt hại toàn bộ có nghĩa là thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ. Bên bị thiệt hại phải được đền bù đầy đủ để có thể khôi phục lại lợi ích bị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 quy định “nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”; Điều 13 BLDS 2015 cũng quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc “phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường. Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại cũng được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Bộ nguyên tắc Unidroit quy định: “Bên có quyền có quyền đòi bồi thường toàn bộ những thiệt hại mà mình đã phải gánh chịu từ việc hợp đồng không được thực hiện như dự kiến. Thiệt hại bao gồm những tổn thất mà bên này trong thực tế đã phải gánh chịu và những lợi ích bị mất đi, có tính đến mọi khoản lợi cho bên có quyền từ một khoản chi phí hay tổn thất tránh được” (Khoản 1 Điều 7.4.2). Tương tự, khoản 2 Điều 302 LTM 2005 quy định: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Có thể thấy rằng, bồi thường thiệt hại toàn bộ không chỉ tính đến giá trị tổn thất của bên bị vi phạm phải gánh chịu mà bên vi phạm còn phải bồi thường cả khoản lợi trực tiếp mà bên có quyền đáng lẽ nhận được nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng.
Thứ hai, việc bồi thường thiệt hại phải tuân thủ nguyên tắc không làm sinh lợi cho bên có quyền. Bên bị thiệt hại không được phép nhận sự đền bù vượt ra ngoài phạm vi cần thiết để khắc phục lợi ích vật chất bị tổn thất của mình. Nguyên tắc này cũng được thể hiện tại Điều 74 Công ước Viên 1980: “Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết”. Trong khi LTM 2005 không đề cập rõ nguyên tắc bồi thường thiệt hại không làm sinh lợi cho bên có quyền thì Điều 229 LTM 1997 quy định cụ thể: “số tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn giá trị tổn thất và khoản lợi đáng lẽ được hưởng”. Việc bồi thường thiệt hại chỉ nhằm mục đích bù đắp lại những mất mát mà bên bị vi phạm phải gánh chịu, nó không nhằm mục đích mang đến cho họ những khoản lợi ích vượt ra khỏi mất mát này. Do đó, nội hàm của nguyên tắc này là bên được bồi thường không vì được bồi thường mà có lợi hơn trong trường hợp nghĩa vụ được thực hiện bình thường.
1.1.2 Bản chất pháp lý của giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Thiệt hại theo nghĩa chung nhất là sự mất mát về người, về lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ. Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, thiệt hại nên được xem là những mất mát (hoặc sự giảm sút) về lợi ích vật chất hoặc tinh thần. Điều 303 LTM 2005 quy định “thiệt hại thực tế” là một trong những căn cứ pháp lý phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Không chỉ riêng pháp luật Việt Nam mà pháp luật của hầu hết tất cả các nước trên thế giới đều đưa ra nguyên tắc chung: có thiệt hại thì mới bồi thường. Nếu thực tế có xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng nhưng chưa có thiệt hại thì chưa phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khi có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bên vi phạm hợp đồng có trách nhiệm phải bồi thường cho bên bị vi phạm. Tuy nhiên, hiện nay, việc xác định giá trị bồi thường như thế nào và bồi thường bằng phương thức nào không có sự thống nhất hoàn toàn trong quy định của pháp luật trên thế giới cũng như trong pháp luật thương mại Việt Nam.
Một số văn bản pháp lý quốc tế coi “giá trị bồi thường thiệt hại” là “tiền bồi thường”. Theo Điều 74 Công ước Viên 1980: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải gánh chịu do hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng”. Bộ nguyên tắc Unidroit quy định về “tiền lãi từ khoản tiền bồi thường thiệt hại” (Điều 7.4.10), “phương thức bồi thường bằng tiền” (Điều 7.4.11), “đồng tiền tính toán thiệt hại” (Điều 7.4.12) và “tiền bồi thường ấn định trước trong hợp đồng” (Điều 7.4.13). Pháp luật thương mại Việt Nam trước đây cũng đề cập đến “tiền bồi thường thiệt hại”. Theo Pháp lệnh HĐKT 1989 thì bồi thường thiệt hại được quy định như là một chế tài tiền tệ, “Tiền bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng, số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra”. Khoản 1 Điều 229 LTM 1997 quy định như sau: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra”. Khoản 2 Điều 229 LTM 1997 nêu rõ “Số tiền bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra”.
Tuy nhiên, quy định cách thức bồi thường thiệt hại chỉ bằng tiền là không hợp lý, mang tính chất bó buộc, bởi bên cạnh việc bồi thường bằng tiền, bên vi phạm vẫn có thể sử dụng tài sản hoặc những cách thức khác theo thỏa thuận để bồi thường cho bên bị vi phạm những thiệt hại mà mình gây ra, điều đó vẫn không ảnh hưởng đến tính chất cơ bản của bồi thường thiệt hại.
“Giá trị bồi thường thiệt hại” là thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện trong LTM 2005. Theo khoản 2 Điều 302 LTM 2005: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Liên quan đến xác định giá trị bồi thường thiệt hại, BLDS không sử dụng thuật ngữ giá trị bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng mà sử dụng thuật ngữ “mức bồi thường thiệt hại” (khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 419 BLDS 2015). Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Có tác giả cho rằng “bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực hợp đồng là một khoản tiền. Như vậy, xác định thiệt hại được bồi thường chưa đủ. Chúng ta còn phải quy thiệt hại thành tiền”. Từ cách tiếp cận trên có thể thấy, “giá trị bồi thường thiệt hại” chính là “khoản tiền” bồi thường được quy đổi từ thiệt hại do bên vi phạm gây ra. Giá trị bồi thường thiệt hại lúc này tương ứng với khoản tiền đó. Và, khoản tiền này chính là thước đo giá trị của những thiệt hại được bồi thường, vì về thực chất, tiền chính là biểu hiện bên ngoài đối với giá trị bên trong của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương mại.
LTM 2005 không đưa khái niệm phản ánh bản chất của giá trị bồi thường thiệt hại mà chỉ liệt kê giá trị bồi thường thiệt hại gồm hai bộ phận, đó là bộ phận giá trị bồi thường thiệt hại thuộc về tổn thất và bộ phận giá trị bồi thường thiệt hại thuộc về khoản lợi (khoản 2 Điều 302). Về bản chất, giá trị bồi thường thiệt hại là số đo của một lượng bồi thường thiệt hại và có thể tính bằng một đơn vị tiền tệ nhất định nên trong LTM 1997 và Công ước Viên 1980 sử dụng thuật ngữ “tiền bồi thường thiệt hại”. Số tiền bồi thường thiệt hại được đề cập trong các văn bản luật trên cũng chính là giá trị bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, sử dụng thuật ngữ “giá trị bồi thường thiệt hại” có tính khái quát hơn. Nó thể hiện sự đo lường về những lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất có thể được bồi thường, trong khi đó “số tiền bồi thường” chưa phản ánh hết giá trị thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Sử dụng “số tiền bồi thường thiệt hại” có thể hiểu như là phương thức bồi thường thiệt hại. Tức là, giá trị bồi thường thiệt hại được thể hiện thông qua hình thức bồi thường bằng tiền. Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có đề cập đến phương thức bồi thường thiệt hại bằng tiền (Điều 7.4.11). Như vậy, sử dụng giá trị bồi thường thiệt hại không phản ánh hình thức (phương thức) bồi thường thiệt hại mà phản ánh mức độ tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra và khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng.
Bản chất pháp lý của giá trị bồi thường thiệt hại chính là giá trị của những tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu do hành vi không thực hiện đúng hợp đồng và giá trị của những khoản lợi đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện theo các nội dung đã thỏa thuận. Giá trị của những tổn thất và giá trị của những khoản lợi này có thể là những giá trị vật chất hoặc giá trị phi vật chất. Đơn vị tính giá trị vật chất thường bằng tiền tệ. Trong khi đó, đơn vị tính giá trị phi vật chất không nhất thiết bằng tiền tệ. Tuy nhiên, có thể quy đổi giá trị phi vật chất thành một lượng tiền tệ nhất định như để bù đắp thiệt hại về tinh thần. Việc sử dụng thuật ngữ “giá trị bồi thường thiệt hại” lột tả bản chất pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại trong việc xác định bồi thường với những khoản giá trị cụ thể, không phản ánh hình thức (phương thức) bồi thường thiệt hại.
1.1.3 Vai trò, yếu tố tác động và yêu cầu của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại
1.1.3.1 Vai trò của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Thứ nhất, xác định đúng giá trị bồi thường thiệt hại có vai trò quyết định đối với việc thực hiện chế tài bồi thường thiệt hại. Khi có căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề quan trọng là xác định được giá trị bồi thường thiệt hại. Xác định đúng giá trị bồi thường thiệt hại sẽ thực hiện đúng được chức năng của bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, xác định giá trị bồi thường thiệt hại thường rất phức tạp đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều vấn đề, như: xác định đúng thành phần giá trị bồi thường thiệt hại, phạm vi giá trị bồi thường thiệt hại, thỏa thuận của các bên về giá trị bồi thường thiệt hại; xác định đúng giá trị tổn thất và giá trị khoản lợi đáng lẽ được hưởng…
Thứ hai, xác định đúng giá trị bồi thường thiệt hại sẽ bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng. Khi tham gia hợp đồng, các bên đều hướng tới những lợi ích nhất định. Lợi ích này có thể là lợi nhuận của thương nhân hoặc là nhu cầu của người tiêu dùng. Các bên khi xác lập và thực hiện hợp đồng đều mong muốn hợp đồng được thực hiện đúng và hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng của mình, thu được khoản lợi nhất định. Lợi ích của các bên tham gia hợp đồng trong hoạt động thương mại rất đa dạng. Với mỗi chủ thể khác nhau, lợi ích này cũng thường không hoàn toàn giống nhau. Đối với thương nhân, đó chủ yếu là lợi nhuận về vật chất và sự tăng lên về giá trị tinh thần (uy tín, thương hiệu). Đối với người tiêu dùng tham gia hợp đồng trong hoạt động thương mại thì quyền lợi của họ là nhu cầu tiêu dùng được đảm bảo (đáp ứng số lượng và chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng). Quyền lợi chính đáng của các bên trong hợp đồng được pháp luật bảo vệ. Sự bảo vệ này thể hiện chủ yếu ở việc đưa ra các hình thức trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng, trong đó có bồi thường thiệt hại. Khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải chịu thiệt hại nhất định. Xác định đúng giá trị bồi thường thiệt hại là yếu tố quan trọng để quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng không bị xâm phạm. Nghĩa là, bên bị vi phạm được bù đắp những khoản bồi thường hợp lý với những tổn thất mà mình gánh chịu và bên vi phạm chỉ phải bồi thường khoản giá trị thiệt hại tương xứng với hành vi vi phạm do mình gây ra.
1.1.3.2 Các yếu tố tác động đến việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại
Xác định giá trị bồi thường thiệt hại là quá trình bên bị vi phạm đánh giá, chứng minh những giá trị thiệt hại phải được bồi thường cho bên bị vi phạm theo quy định của pháp luật. Kết quả của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại chịu sự tác động, chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau.
Một là yếu tố pháp lý, là yếu tố căn bản để xác định giá trị bồi thường thiệt hại. Quy định của pháp luật càng cụ thể, rõ ràng thì việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại càng được chính xác, thống nhất đảm bảo lợi ích cho cả bên vi phạm lẫn bên bị vi phạm. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện nay về vấn đề này còn chung chung, chưa thống nhất giữa BLDS và LTM. Chẳng hạn, LTM coi “khoản lợi đáng lẽ được hưởng” là một thiệt hại nhưng BLDS không quy định rõ vấn đề này, hay BLDS có quy định về bồi thường tổn thất về tinh thần nhưng LTM chỉ nêu “thiệt hại thực tế”… Do đó, khi tiến hành áp dụng pháp luật về vấn đề này chúng ta thường gặp khó khăn, lúng túng. Mặt khác, các cơ quan tố tụng cũng chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại. Đây là vấn đề khó khăn bởi vì thiệt hại thường rất đa dạng, không thể liệt kê hết trong các văn bản quy phạm pháp luật và nếu có liệt kê thì vẫn không thể đầy đủ. Trong thời gian tới, nếu có điều kiện sửa đổi pháp luật thương mại, nên có quy định về vấn đề này theo các định hướng như: (i) đưa ra những quy định cụ thể làm “công thức” để xác định giá trị bồi thường thiệt hại; (ii) đưa ra những quy tắc, chuẩn mực chung để các bên thỏa thuận xác định giá trị bồi thường thiệt hại, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên và không xâm hại đến lợi ích của nhà nước, công cộng… Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Hai là yếu tố thị trường. Đối tượng của hợp đồng trong hoạt động thương mại là hàng hóa, dịch vụ. Mỗi loại hàng hóa, dịch vụ đều có giá trị và giá trị đó thường xuyên biến đổi trên thị trường. Khi xác định giá trị của hàng hóa, dịch vụ thường bị chi phối bởi nhiều vấn đề, như: nhu cầu thị trường, sự biến động giá cả, tỷ giá, lãi suất… Chẳng hạn, Công ty A ký hợp đồng mua cá ba sa với Công ty B để xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Nhưng sau đó, do Mỹ ra quy định cấm nhập khẩu cá da trơn của Việt Nam với lý do bán phá giá nên Công ty A không mua cá của Công ty B nữa gây thiệt hại cho Công ty B vì Công ty B thu mua cá của rất nhiều người nuôi cá. Khi đó, việc xác định giá trị thiệt hại là giá mua bán cá ba sa theo thỏa thuận trong hợp đồng hay giá thực tế tại thời điểm vi phạm có sự chênh lệch rất lớn, bởi vì khi Mỹ cấm nhập khẩu cá da trơn Việt Nam thì giá bán cá ba sa bị sụt giảm thê thảm. Mặt khác, nếu vụ việc xảy ra trong thời gian dài, khoản lợi đáng lẽ được hưởng là lãi suất ngân hàng (Công ty B dùng tiền gửi ngân hàng để thu mua cá) cũng có sự biến động lớn. Do vậy, việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại bị chi phối nhất định bởi yếu tố thị trường, nhất là đối với việc bồi thường thiệt hại liên quan nhiều quốc gia, khu vực hoặc việc giải quyết bồi thường thiệt hại diễn ra trong thời gian dài làm cho các chủ thể khó khăn trong việc thỏa thuận hay chấp nhận phán quyết của cơ quan tài phán về giá trị bồi thường thiệt hại.
Ba là yếu tố thay đổi theo thời gian của thiệt hại. Thiệt hại mà bên vi phạm gây ra có một giá trị nhất định tại thời điểm có hành vi vi phạm nhưng giá trị này thường thay đổi do sự biến động của các yếu tố trong thị trường tạo ra (như: yếu tố giá cả, cung – cầu…) hoặc do tác động của tự nhiên, môi trường. Sự biến đổi nhanh hay chậm của thiệt hại phụ thuộc vào từng loại thiệt hại khác nhau (thiệt hại vật chất, thiệt hại phi vật chất). Mặt khác, từ thiệt hại này có thể gây ra những thiệt hại khác, có tính dây chuyền cho bên bị vi phạm. Vấn đề này mang tính tất yếu giống như mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Theo đó, việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại sẽ gặp khó khăn trong trường hợp thiệt hại xảy ra có phạm vi rộng, có nhiều loại thiệt hại, hay liên quan đến nhiều chủ thể.
Bốn là yếu tố con người. Yếu tố con người là những tác động chủ quan đến việc xác giá trị bồi thường thiệt hại. Sự tác động, ảnh hưởng của yếu tố này được thể hiện: (i) sự thỏa thuận của các chủ thể về giá trị bồi thường thiệt hại, nhất là thỏa thuận về các trường hợp được miễn, giảm giá trị bồi thường thiệt hại, thỏa thuận ấn định giá trị bồi thường thiệt hại…; (ii) khả năng chứng minh thiệt hại của bên bị vi phạm; (iii) sự thiện chí, trung thực của các chủ thể tham gia hợp đồng; (iv) khả năng đánh giá thiệt hại và sử dụng pháp luật của người thuộc cơ quan, tổ chức áp dụng pháp luật.
1.1.3.3 Các nguyên tắc xác định giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Thứ nhất, xác định giá trị bồi thường thiệt hại phải đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại giúp bên bị vi phạm có thể có được những khoản bù đắp tương ứng với những gì họ có thể đạt được nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng. Việc bồi thường thiệt hại không hướng đến việc làm tăng thêm khoản vật chất hay khoản lợi cho bên bị vi phạm. Tất cả những thiệt hại xảy ra mà bên bị vi phạm chứng minh được đều phải xác định được chính xác và kịp thời về giá trị để bồi thường.
Thứ hai, xác định giá trị bồi thường thiệt hại phải hướng tới việc bảo vệ các nguyên tắc trong hoạt động thương mại, ngoài việc tôn trọng quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng cần đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ nguyên tắc thiện chí, trung thực của các bên. Pháp luật luôn mong muốn mỗi chủ thể khi tham gia hợp đồng trong hoạt động thương mại đều có tinh thần thiện chí, trung thực và luôn hướng đến việc đạt được những lợi ích khi thiết lập quan hệ thương mại với nhau. Đồng thời, pháp luật cũng luôn đứng về phía thiện chí, trung thực để bảo vệ họ. Tuy nhiên, “quan hệ hợp đồng là quan hệ tài sản chứ không phải quan hệ tình cảm, nơi mà vấn đề đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu”. Trong một số trường hợp, nhất là đối với việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hay miễn, giảm trong bồi thường thiệt hại, vì quyền lợi của mình mà một bên trong quan hệ hợp đồng đã cố tình vi phạm hợp đồng bởi họ thấy rằng, việc vi phạm hợp đồng của họ là có lợi hơn việc phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Vì vậy, bồi thường thiệt hại cũng phải có tính cá thể hóa, bảo vệ bên thiện chí, trung thực trong hợp đồng. Bên không thiện chí, trung thực phải chịu trách nhiệm cao hơn bên thiện chí, trung thực đối với hậu quả mà mình gây ra.
Thứ ba, giá trị bồi thường thiệt hại phải được xác định chính xác và kịp thời. Do sự tác động của yếu tố thị trường và sự biến đổi của thiệt hại nên việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại phải được tiến hành nhanh chóng và chính xác. Hoạt động thương mại luôn sôi động và đa dạng. Mỗi chủ thể thương mại thường có nhiều mối quan hệ thương mại với các chủ thể khác, tạo thành mạng lưới hoạt động thương mại dày đặc, đan xen, diễn ra trong phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Chính vì vậy, giá trị của các đối tượng trong hoạt động thương mại cũng thường biến đổi. Có những giá trị hàng hóa, dịch vụ thay đổi nhanh chóng theo thời gian và không gian. Khi hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra lại tác động xấu đến lợi ích mà các bên mong muốn đạt được. Bồi thường thiệt hại để bảo vệ bên bị vi phạm trước những tác động xấu này nên cần phải kịp thời, không để thiệt hại của họ bị tăng lên theo thời gian. Ngoài ra, nếu xác định giá trị bồi thường thiệt hại càng kéo dài thì càng cản trở việc đi đến sự thống nhất giữa các bên của hợp đồng. Tuy nhiên, do chịu tác động của những nguyên nhân khách quan và chủ quan, việc xác định chính xác giá trị bồi thường thiệt hại cũng chỉ có tính chất tương đối.
1.2 Quy định cụ thể của pháp luật thương mại về giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
1.2.1 Xác định giá trị bồi thường thiệt hại
LTM 1997 quy định giá trị bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và giá trị khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Cụ thể, Khoản 2 Điều 229 LTM 1997 quy định: “Số tiền bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra”. Các quy định về hợp đồng trong các điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế có những điểm tương đồng mặc dù thuật ngữ sử dụng và mức độ rõ ràng của các quy định không hoàn toàn giống nhau. Bộ Nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng quy định thiệt hại được bồi thường gồm “mất mát mà bên có quyền đã phải gánh chịu và lợi nhuận bị mất” (Điều 9:502). Điều 7.4.2 Bộ nguyên tắc Unidroit quy định: “Thiệt hại bao gồm những tổn thất mà bên này đã phải gánh chịu và những lợi ích bị mất đi, có tính đến mọi khoản lợi cho bên có quyền từ một khoản chi phí hay tổn thất tránh được”.
LTM 2005 quy định việc xác định các loại giá trị bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 302, cụ thể: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Như vậy, giá trị bồi thường thiệt hại theo hợp đồng trong hoạt động thương mại bao gồm hai cấu phần chính: (i) giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và (ii) giá trị khoản lợi trực tiếp. Các loại giá trị này thực chất là giá trị của những thiệt hại mà bên bị vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng. Thiệt hại gồm tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. Do đó, đối với việc xác định các loại thiệt hại được bồi thường, pháp luật thương mại Việt Nam nhìn chung có sự tương đồng với thế giới.
1.2.1.1 Tổn thất thực tế và trực tiếp Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Giá trị tổn thất là giá trị đối với những khoản thiệt hại trong quá trình thực hiện hợp đồng. LTM 1997 cũng đề cập giá trị tổn thất tương tự như LTM 2005 khi xác định “số tiền bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp”. Tuy nhiên, pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành không chỉ rõ giá trị tổn thất được xác định cụ thể như thế nào mà chỉ nêu lên đặc điểm của nó là phải có tính “thực tế”, “trực tiếp” và thuật ngữ này không được giải thích về mặt ngữ nghĩa. Tính “thực tế” và “trực tiếp” ở đây là những khái niệm trừu tượng. Có thể hiểu, tổn thất “thực tế”, “trực tiếp” đó là những tổn thất đã xảy ra, tồn tại trong thực tế và có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hợp đồng.
Thực tiễn xét xử cho thấy, giá trị tổn thất thường rất đa dạng, như: giá trị tổn thất về tài sản, số chi phí mà bên bị vi phạm phải gánh chịu… Đây là giá trị tổn thất về vật chất. Đối với giá trị tổn thất về tinh thần, pháp luật thương mại và thực tiễn xét xử trong lĩnh vực này chưa thể hiện rõ. Tuy nhiên, pháp luật dân sự có quy định khá rõ về giá trị bồi thường thiệt hại vật chất và giá trị bồi thường thiệt hại về tinh thần. Trong phần quy định về hợp đồng dân sự, khoản 1 Điều 307 BLDS 2005 xác định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần”; BLDS 2015 quy định tương tự tại khoản 1 Điều 361: “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”. Nói đến tổn thất về tinh thần thường đề cập đến chủ thể của hợp đồng là con người cụ thể, như: tình cảm, niềm vui, danh dự, nhân phẩm… Tuy nhiên, yếu tố tinh thần không thể hiện rõ trong chủ thể hợp đồng là tổ chức, doanh nghiệp… Theo đó, để khái quát được hết các loại giá trị bồi thường thiệt hại thuộc về tổn thất, có thể chia thành giá trị bồi thường thiệt hại đối với tổn thất vật chất và giá trị bồi thường thiệt hại đối với tổn thất phi vật chất, gồm những yếu tố thuộc về tinh thần của con người và uy tín của chủ thể kinh doanh. Cách đề cập này cũng phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, hoạt động xét xử và tinh thần của khoản 1 Điều 302 LTM 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Ở đây, LTM 2005 chỉ nêu “bồi thường những tổn thất” nên tổn thất có thể được hiểu bao gồm tổn thất vật chất và tổn thất phi vật chất. Tuy nhiên, việc quy định cụ thể về các loại giá trị bồi thường thiệt hại thuộc loại tổn thất này còn có nhiều điểm hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, hoàn thiện.
- Giá trị tổn thất về vật chất Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể về các loại giá trị tổn thất về vật chất. Pháp lệnh HĐKT 1989 quy định khá chi tiết những khoản thiệt hại thực tế là đối tượng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể điểm b khoản 2 Điều 29 quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng, số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra; tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu quả trực tiếp của sự vi phạm này gây ra.” Để quy định chi tiết điều khoản này, điểm b Điều 21 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng, kể cả tiền lãi phải trả cho Ngân hàng hoặc các khoản thu nhập trực tiếp và thực tế không thu được do bị vi phạm hợp đồng, với đầy đủ chứng cứ rõ ràng, hợp pháp, số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra; tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm đã phải trả do hậu quả trực tiếp của sự vi phạm hợp đồng gây ra.
Vấn đề này cũng được nêu khá rõ trong pháp luật dân sự. Khoản 2 Điều 307 BLDS 2005 quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”; khoản 2 Điều 361 BLDS 2015 quy định tương tự: “Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”. Quy định trên đã xác định giá trị bồi thường thiệt hại về vật chất, gồm: tổn thất về tài sản, chi phí, thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút. Ở đây, tổn thất về tài sản và chi phí chính là những tổn thất về vật chất mà bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu. Đối với thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút thường được coi như khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất về tài sản được xác định theo mức thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể do tài sản bị mất, hư hỏng, suy giảm chất lượng, tính năng sử dụng của người có tài sản bị tổn thất do việc vi phạm hợp đồng trực tiếp gây ra. Giá trị tổn thất thuộc về chi phí đó là số chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại. Theo đó, giá trị tổn thất vật chất trên thực tế thường được xác định chủ yếu gồm giá trị tổn thất về tài sản và chi phí hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Giá trị tổn thất về tài sản có thể gồm: giá trị của những mất mát, hư hỏng, thiếu hụt, giảm sút về giá trị của tài sản, giảm công suất… do người vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây ra. Khoản 1 Điều 490 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 482 BLDS 2015 về trả lại tài sản thuê quy định: “Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thoả thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên”. LTM 2005 không đề cập rõ về tổn thất tài sản được xác định như thế nào. Việc đưa ra giá trị bồi thường thiệt hại tổn thất về tài sản chủ yếu dựa trên thiệt hại thực tế, cũng không có công thức tính cụ thể. Thực tiễn giải quyết vấn đề này đòi hỏi khả năng đánh giá, phán quyết của Thẩm phán cũng như các cơ quan tài phán là hết sức quan trọng, đảm bảo tính hợp lý trong giải quyết tranh chấp giữa các bên. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Chi phí phải bồi thường là loại giá trị bồi thường thiệt hại xuất hiện phổ biến trong các vụ bồi thường thiệt hại theo hợp đồng trong hoạt động thương mại. Việc xác định chi phí trên thực tế cũng hết sức đa dạng, như: chi phí sửa chữa, chi phí vận chuyển, đi lại, làm thủ tục, chi phí hạn chế thiệt hại… Theo đó, liên quan đến vụ việc bồi thường thiệt hại có thể xuất hiện rất nhiều chi phí. Khoản 3 Điều 297 LTM 2005 quy định: “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý”. Việc quy định chi phí như trên chỉ liên quan đến vấn đề mua, bán hàng hóa, dịch vụ thay thế, chi phí phát sinh từ việc sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ, còn các loại chi phí khác thì không đề cập. Mặt khác, pháp luật thương mại cũng chỉ mới đưa ra đặc tính của một loại chi phí cụ thể, đó là chi phí do sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ. Và, đặc tính của nó là “thực tế hợp lý”. Về đặc tính thực tế thì rõ ràng phải luôn tồn tại, vì để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thiệt hại đó phải có tính thực tế. Đối với yếu tố hợp lý, đây là lần đầu tiên pháp luật thương mại đề cập đến đặc tính của loại chi phí. Tính hợp lý thể hiện rõ nguyên tắc thiện chí, trung thực trong thực hiện hợp đồng. Bộ nguyên tắc Unidroit, quy định: “Bên có quyền có thể đòi đền bù những chi phí hợp lý đã chi nhằm hạn chế thiệt hại” (khoản 2 Điều 7.4.8). Theo quy định tại Điều 2-715 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, những thiệt hại kèm theo do hành vi vi phạm hợp đồng của người bán, có thể bao gồm: “những chi phí hợp lý của người mua phải trả cho việc kiểm tra, tiếp nhận, vận chuyển, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với những hàng hóa được từ chối một cách hợp pháp; bất kỳ những khoản chi phí hợp lý hoặc chi phí hoa hồng về mặt thương mại liên quan đến việc thực hiện mua hàng thay thế và các chi phí hợp lý khác gắn liền với việc giao hàng chậm trễ hoặc vi phạm hợp đồng của người bán”.
Một loại chi phí khác cũng chưa được đề cập rõ trong pháp luật thương mại đó là chi phí để hạn chế thiệt hại. Điều 305 LTM 2005 quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất có nêu: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”. Theo đó, số chi phí phát sinh trong quá trình áp dụng các biện pháp để hạn chế tổn thất cũng là giá trị bồi thường thiệt hại được bồi thường. Tuy vậy, pháp luật thương mại Việt Nam không chỉ rõ liệu những biện pháp hợp lý mà bên yêu cầu bồi thường thiệt hại áp dụng làm phát sinh chi phí thì bên nào phải chịu chi phí này. Nếu liên hệ tại Điều 41 và Điều 305 của LTM 2005 thì có thể minh thị khá rõ việc áp dụng biện pháp hạn chế thiệt hại đối với hàng hóa giao thiếu, giao không phù hợp, có khuyết tật, thiếu sót thì bên áp dụng biện pháp đó được bồi thường chi phí phát sinh.
Những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan trong thực tế là những khoản tiền hoặc những lợi ích vật chất khác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tình trạng xấu do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra. Điều này cũng đồng nghĩa với việc những chi phí hợp lý mà bên có quyền bị vi phạm đã bỏ ra mới được coi là thiệt hại phải bồi thường. Để xác định chi phí hợp lý này cần dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có cả khả năng dự đoán của bên vi phạm đối với những chi phí sẽ phát sinh, có thể phải căn cứ vào tập quán thương mại. Tuy nhiên, trong thông lệ quốc tế, khái niệm chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó không chỉ giới hạn trong phạm vi những chi phí hợp lý đã bỏ ra mà còn bao hàm cả những chi phí hợp lý mà bên có quyền bị thiệt hại sẽ phải bỏ ra trong tương lai để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả vi phạm. Ví dụ, nếu bên bán giao thiếu hàng và chậm, thì chi phí phải bao gồm cả chi phí hợp lý người mua đã bỏ ra để thực hiện việc mua thêm hàng hóa bù vào cũng như chi phí mà người mua sẽ phải bỏ ra sau đó để nộp phạt hoặc bồi thường do giao hàng chậm trễ cho người mua tiếp theo. Theo đó, chi phí thuê luật sư hoặc chi phí thuê thẩm định giá trị bồi thường thiệt hại có phải là chi phí hợp lí hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, mặc dù hành vi vi phạm không trực tiếp dẫn đến thiệt hại trong việc bên bị vi phạm bỏ chi phí thuê luật sư hay thuê thẩm định giá trị bồi thường thiệt hại.
Như vậy, pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành chưa chỉ ra một cách khái quát và có hệ thống về tính chất của các loại chi phí được bồi thường mà liệt kê một số chi phí rời rạc trong một số điều luật. Tuy nhiên, bước đầu, pháp luật thương mại nước ta đã có sự tiếp cận với pháp luật thế giới ở việc xác định đặc tính của chi phí, đó là tính hợp lý. Theo đó, bên cạnh yếu tố “thực tế” thì yếu tố “hợp lý” là căn cứ quan trọng để xác định giá trị của các khoản chi phí được bồi thường. Với quy định như pháp luật thương mại hiện hành ở nước ta, đòi hỏi Thẩm phán phải có năng lực để đánh giá tính hợp lý, tính dự đoán và mối quan hệ nhân quả để xác định chi phí cần được bồi thường thiệt hại. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
- Giá trị tổn thất phi vật chất
Giá trị tổn thất phi vật chất cũng đa dạng. Trên thực tế, tổn thất này thường bao gồm giá trị tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín… Đối với lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tổn thất về tinh thần rất phổ biến. Thực tế cho thấy, việc không thực hiện đúng hợp đồng cũng có thể làm phát sinh tổn thất về tinh thần. Trong hoạt động thương mại, hành vi vi phạm hợp đồng không chỉ gây ra tổn thất về vật chất mà còn có thể gây ra tổn thất về tinh thần. Ví dụ, ca sĩ A ký kết hợp đồng với một công ty tổ chức sự kiện. Để đảm bảo uy tín của mình, ca sĩ này đã nêu rất rõ các yếu tố trong việc dán các áp phích quảng cáo cho sự kiện. Tuy nhiên, công ty tổ chức sự kiện không tuân thủ nội dụng của hợp đồng và ca sĩ này đã bị chỉ trích. Trong trường hợp này, uy tín của A bị ảnh hưởng và A có tổn thất về tinh thần.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 302 LTM 2005 thì “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Như vậy, bồi thường thiệt hại với tư cách là chế tài trong thương mại có chức năng bù đắp tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm, làm cho hành vi vi phạm hợp đồng trở nên vô hại về mặt vật chất đối với bên bị vi phạm. Hiểu theo cách như trên thì thiệt hại ở đây chỉ có thiệt hại về vật chất, như thế là chưa đầy đủ, bởi vì có quan điểm cho rằng thiệt hại có thể và nên được hiểu gồm hai loại là thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần (nói một cách khái quát hơn là thiệt hại phi vật chất bao gồm cả tinh thần, danh dự, uy tín, thương hiệu…). Liên quan đến vấn đề này, “trên thế giới, có hệ thống cho phép bồi thường thiệt hại về tinh thần, có hệ thống không cho phép bồi thường và có hệ thống cho phép bồi thường trong một số trường hợp”. Ở Pháp, từ rất sớm, Tòa án đã cho bồi thường tổn thất về tinh thần. Chẳng hạn, vào năm 1932, một công ty phục vụ mai táng đã phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho một gia đình đã ký hợp đồng với họ khi công ty này chậm trễ trong việc mai táng. Ở Anh, một tác giả đã cho rằng “tổng thể các quyết định của Tòa án tối cao cho thấy một mong muốn lớn, không hoàn toàn, là coi bồi thường mất mát phi vật chất như nguyên tắc chung”. Bộ nguyên tắc Unidroit cũng chấp nhận bồi thường tổn thất về tinh thần. Điều 7.4.2 quy định “thiệt hại có thể là phi tiền tệ và bắt nguồn đặc biệt từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần” và trong phần bình luận nguyên tắc này có ghi “đó có thể là những nỗi đau về thể xác và tinh thần (pretium doloris), tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, thiệt hại về hình thể,… cũng như những xúc phạm đến danh dự hoặc uy tín. Quy tắc này sẽ có thể được áp dụng trong những gì liên quan đến thương mại quốc tế, ví dụ cho những hợp đồng ký kết với nghệ sĩ, vận động viên cao cấp hoặc những nhà tư vấn thuộc một công ty hay một tổ chức”. Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng cũng xác định rất rõ tại khoản 2 Điều 9: 501: “Thiệt hại có thể được bồi thường bao gồm thiệt hại phi vật chất” và trong phần bình luận chúng ta thấy nêu “thiệt hại có thể được bồi thường không giới hạn ở những mất mát tài chính mà có thề là tổn thất tinh thần – đau đớn, bất tiện, bất an tâm lý – phát sinh từ việc không thực hiện đúng hợp đồng”. Phần bình luận đưa ra ví dụ như sau: A đặt một kỳ nghỉ tại một trung tâm tổ chức du lịch với thời gian là một tuần trong một khách sạn sang trọng, đồ ăn đặc biệt. Tuy nhiên, thực tế thì phòng thuê nhỏ và bẩn, đồ ăn thì tồi tệ. Ở đây, A được yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần mà mình đã gánh chịu (chịu bất tiện và niềm vui bị mất). Ở Việt Nam, pháp luật dân sự có quy định thiệt hại về tinh thần, tại khoản 3 Điều 307 BLDS 2005: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”. Khoản 3 Điều 419 BLDS 2015 quy định về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng: “Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”. Như vậy, pháp luật dân sự cho phép bồi thường thiệt hại về tinh thần như là quy định áp dụng chung cho nghĩa vụ dân sự nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thương mại, hoặc theo nguyên tắc luật riêng không quy định thì áp dụng quy định của luật chung (khoản 3 Điều 4 LTM 2005). Trước đây, Điều 230 LTM 1997 quy định rõ điều kiện phải “có thiệt hại vật chất” thì mới được bồi thường nên có thể suy luận là trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có thiệt hại về vật chất. LTM 2005 chỉ yêu cầu phải có “có thiệt hại thực tế”. Như vậy, nếu là “thiệt hại thực tế” thì có thể không chỉ là thiệt hại vật chất mà có thể bao gồm cả tổn thất về tinh thần. Với cách quy định như LTM 2005, chúng ta có thể và nên suy luận theo hướng tổn thất về tinh thần cũng có thể xem xét để được bồi thường nếu nó tồn tại trong “thực tế”. “Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản, tổn thất về tinh thần trong lĩnh vực hợp đồng cũng được bồi thường”. Tuy nhiên, trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, pháp luật dân sự và pháp luật thương mại Việt Nam không có quy định về cách xác định giá trị đó như thế nào. Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định khá rõ, chi tiết về xác định giá trị bồi thường thiệt hại tinh thần trong lĩnh vực ngoài hợp đồng. Vì vậy, việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại về tinh thần (khái quát hơn là thiệt hại phi vật chất) là vấn đề cần được đặt ra và làm rõ trong pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
1.2.1.2 Khoản lợi có thể đã nhận được
Giá trị khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm là một bộ phận của giá trị bồi thường thiệt hại được ghi nhận trong LTM 2005. Trong LTM 1997 có dùng cụm từ “khoản lợi đáng lẽ được hưởng”. Như vậy, pháp luật thương mại hiện hành bổ sung thêm yếu tố “trực tiếp” đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường.
Khi giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn có được những lợi ích nhất định. Lợi ích mà hợp đồng mang lại đều được các chủ thể tính đến khi giao kết và thực hiện hợp đồng. Thực chất, những lợi ích đó chủ yếu là khoản lợi mà các bên được hưởng khi hợp đồng được thực hiện. Dưới góc độ thương mại, khoản lợi trước hết và chủ yếu là lợi nhuận trong kinh doanh. Và, đây cũng là những mong muốn chính đáng, cần được pháp luật bảo vệ. Khi hợp đồng bị vi phạm, ngoài việc bên bị vi phạm có thể phải chịu giá trị tổn thất thì họ còn có thể mất đi khoản lợi mà đáng lẽ họ phải được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng. Đặc biệt, nếu bên bị vi phạm là thương nhân thì thông thường, hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra sẽ làm cho họ mất đi những lợi nhuận từ việc thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại, thậm chí là từ những hợp đồng với thương nhân khác. Theo đó, nếu hợp đồng được thực hiện thì có thể mang lại cho các bên nhiều khoản lợi. Việc đo lường và xác định giới hạn của khoản lợi này là hết sức khó khăn. Tuy nhiên, không phải khoản lợi nào cũng được bồi thường. Theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam thì những khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng, nếu không có sự vi phạm, mới được bồi thường.
Nghiên cứu so sánh pháp luật cho thấy, hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng đều thừa nhận “khoản lợi trực tiếp mà các bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng” là một loại thiệt hại được bồi thường. Điều 7.4.2 Bộ nguyên tắc Unidroit xác định thiệt hại có những lợi ích bị mất đi, có tính đến mọi khoản lợi cho bên có quyền từ một khoản chi phí hay tổn thất tránh được và phần bình luận điều luật này đã ghi: “Tổn thất về lợi nhuận là khoản lợi nhuận mà đáng lẽ bên có quyền có được nếu như hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Lợi nhuận thường không chắc chắn, nó thường được xem như việc mất một cơ may được lợi”. Phần bình luận này cũng đưa ví dụ: “A – một ca sĩ hủy bỏ cam kết với B – người tổ chức chương trình. A phải trả bồi thường thiệt hại cho B không những chi phí mà B đã trả cho việc chuẩn bị buổi hòa nhạc, mà cả lợi nhuận hụt do việc hủy bỏ buổi hòa nhạc”. Cũng theo hướng này, tại Điều 9: 502 Bộ Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng quy định thiệt hại được bồi thường bao gồm “lợi nhuận bị mất”. Như vậy, quy định giá trị khoản lợi trực tiếp, đáng lẽ được hưởng trong pháp luật thương mại Việt Nam cho thấy có sự tương đồng với thế giới. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Mặc dù khoản lợi đáng lẽ được hưởng là một phần giá trị bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại được bồi thường. Tuy nhiên, không phải khoản lợi nào cũng được bồi thường, pháp luật thương mại Việt Nam chỉ cho phép bồi thường những khoản lợi trực tiếp. Khoản lợi trực tiếp ở đây chính là khoản lợi có được trực tiếp từ việc thực hiện hợp đồng. Nếu hợp đồng thực hiện thì chắc chắn sẽ có khoản lợi này. Giữa việc thực hiện hợp đồng và khoản lợi thu được này có mối quan hệ trực tiếp, tức là mối quan hệ nhân quả. Như vậy, pháp luật thương mại nước ta giới hạn việc xác định giá trị thiệt hại đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng ở những khoản lợi “trực tiếp”. Việc xác định tính trực tiếp của những khoản lợi đó dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và mất mát khoản lợi do chính hành vi đó gây ra.
Nội hàm của khái niệm “khoản lợi” là rất rộng, khoản lợi cũng chính là mục đích mà hoạt động thương mại hướng tới (khoản 1 Điều 3 LTM 2005). Tuy nhiên, giá trị khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên bị vi phạm được bồi thường gồm những gì thì pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành chưa quy định rõ. Điều 307 BLDS 2005 và Điều 361 BLDS 2015 quy định thiệt hại được bồi thường gồm: tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Pháp luật dân sự nước ta không quy định rõ về khoản lợi đáng lẽ được hưởng như Luật thương mại. Như vậy, khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng ở đây nằm trong khoản lợi mà hợp đồng trong hoạt động thương mại hướng tới. Trên thực tế, chiếu theo đặc điểm của hoạt động thương mại, khoản lợi ở đây thường là thu nhập, lợi nhuận đạt được khi thực hiện hợp đồng và thường là khoản lợi về vật chất. Ví dụ: A – công ty xuất khẩu nông sản ký hợp đồng mua bán cà phê với B – công ty thu mua nông sản của nông dân. Do B giao hàng chậm, không đủ số lượng nên A không thể xuất khẩu cà phê để bán theo hợp đồng với đối tác nước ngoài. Theo đó, phần lợi nhuận mà A có được do xuất khẩu cà phê nếu như B giao hàng đủ, đúng hạn chính là khoản lợi trực tiếp A có được từ hợp đồng với đối tác nước ngoài. Do đó, B phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi đáng lẽ A có được nếu như không có hành vi vi phạm hợp đồng của B, chưa tính đến việc A bị đối tác phạt hay uy tín A đối với đối tác bị giảm sút (tổn thất phi vật chất).
1.2.2 Giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại và vấn đề miễn, giảm trách nhiệm bồi thường Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng và có thiệt hại thực tế, bên bị vi phạm phải chứng minh được thiệt hại và giá trị bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó, các cơ quan tài phán xác định giá trị thiệt hại được bồi thường. Theo nguyên tắc, thiệt hại được bồi thường toàn bộ, tuy vậy, trên thực tế, không phải giá trị thiệt hại thực tế bao nhiêu là có thể được bồi thường bấy nhiêu. Giá trị thiệt hại được bồi thường cho bên bị vi phạm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: (i) khả năng chứng minh của người bị thiệt hại, (ii) các tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại, (iii) quy định pháp luật về giá trị bồi thường thiệt hại (quy định càng rõ ràng thì xác định càng chính xác), (iv) thực tiễn xác định giá trị bồi thường thiệt hại của các cơ quan tài phán. Trong đó, quy định pháp luật về giá trị bồi thường thiệt hại là yếu tố cơ bản để xác định phạm vi quyền lợi được bồi thường của bên bị vi phạm, như: giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại và miễn, giảm trách nhiệm bồi thường.
1.2.2.1 Vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng, có thể sẽ gây ra nhiều thiệt hại khác nhau. Thiệt hại đó bao gồm các tổn thất và khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Thiệt hại đó có thể là thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất (thiệt hại về tinh thần, uy tín, danh dự, thương hiệu…). Các thiệt hại có thể có tính dây chuyền, thiệt hại này sẽ dẫn đến thiệt hại khác. Do vậy, giá trị bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại có mối liên hệ gần như vô hạn. Điều đó đặt ra yêu cầu phải giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại để đảm bảo lợi ích cho các bên. Sự giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại Việt Nam thể hiện trong hai trường hợp: (i) giới hạn giá trị bồi thường ở các “tổn thất thực tế, trực tiếp” và các “khoản lợi trực tiếp”, đây là giới hạn được xác định căn cứ vào việc giải thích thế nào là “thực tế, trực tiếp” hoặc theo quy định của pháp luật và (ii) giới hạn giá trị bồi thường do các bên của hợp đồng thỏa thuận ấn định.
- Giới hạn giá trị bồi thường ở các “tổn thất thực tế, trực tiếp” và các “khoản lợi trực tiếp”
Trong LTM 2005, phần chế tài bồi thường thiệt hại không xác định cụ thể về giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại tối đa mà chỉ dùng chữ “trực tiếp” để giới hạn giá trị này, cụ thể: (i) về giá trị tổn thất, đó phải là những giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu; (ii) về khoản lợi được hưởng, đó phải là những khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng. Khái niệm “trực tiếp” ở đây để chỉ giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nằm trong một mối quan hệ nhân quả, hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra. Như vậy, việc xác định giới hạn bồi thường thiệt hại là vấn đề khó về mặt lập pháp cũng như việc áp dụng pháp luật, nhất là việc xác định thế nào là “tổn thất thực tế, trực tiếp” và “khoản lợi trực tiếp. Có những thiệt hại mà sự tồn tại là không thể phủ nhận được nhưng mức độ thiệt hại rất khó xác định. Đó là trường hợp xác định giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại cho khoản lợi đáng lẽ được hưởng là sự mất cơ hội hoặc giá trị bồi thường thiệt hại phi vật chất (tổn hại uy tín, thương hiệu). Ví dụ A giao cho B, một công ty chuyển phát nhanh, một tài liệu tham gia đấu thầu về xây dựng một sân bay. B cam kết giao gửi tài liệu trước ngày hết hạn mời thầu. Nhưng B đã giao tài liệu quá hạn, và hồ sơ của A bị từ chối. Giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp này phụ thuộc vào khả năng mà hồ sơ của A được chấp nhận và so sánh với những đơn dự thầu đã được chọn lọc. Vì thế, việc bồi thường sẽ thuộc về phân số lợi nhuận cao hay thấp mà A có thể thu được từ công việc. Ở đây, theo Khoản 3 Điều 7.4.3 Bộ nguyên tắc Unidroit thì “khi không thể thiết lập với một mức độ đầy đủ tính xác thực về khoản tiền bồi thường thì thiệt hại được xác định tùy theo tòa án”. Theo đó, khi giá trị bồi thường thiệt hại không thể được xác định với một mức độ đủ xác thực, thay vì từ chối mọi bồi thường hoặc bồi thường thiệt hại một cách tượng trưng, tòa án sẽ xác định một cách hợp lý khoản tiền tương đương với mức độ thiệt hại xảy ra. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Ngoài việc sử dụng thuật ngữ “trực tiếp” để giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại, pháp luật thương mại còn đề cập đến việc giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại ở một mức nhất định, trong một số điều luật cụ thể. Chẳng hạn, khoản 2 Điều 266 LTM 2005 quy định: “Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định” hay khoản 2 Điều 273 Luật này quy định: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cho thuê phải chịu tổn thất đối với hàng hoá cho thuê trong thời hạn thuê nếu bên thuê không có lỗi gây ra tổn thất đó”. Nhìn chung, theo LTM 2005 yếu tố lỗi không phải là căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 303) nhưng LTM 2005 cũng quy định một số trường hợp cá biệt như các điều luật nêu trên, mà ở đó lỗi vẫn đóng một vai trò nhất định trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tương tự, khoản 1 Điều 238 LTM 2005 về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực logistic quy định như sau: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá”. Theo đó, giá trị của toàn bộ hàng hóa bị tổn thất là mức giới hạn của giá trị bồi thường thiệt hại đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic vi phạm hợp đồng. Những tổn thất, khoản lợi khác của bên bị vi phạm (bên sử dụng dịch vụ logistic) có liên quan đến hành vi vi phạm hợp đồng dịch vụ logistic là những khoản mà bên vi phạm không phải bồi thường. Mặt khác, cũng theo quy định ở trên thì các bên có thể thỏa thuận giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại. Quy định này cũng tương tự như việc các bên thỏa thuận ấn định giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại. Cũng theo Luật này, mặc dù bên vi phạm hợp đồng dịch vụ logistic được giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận hoặc được pháp luật cho giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại ở mức trách nhiệm nhất định nhưng việc thỏa thuận hoặc việc giới hạn sẽ không được hưởng nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic cố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra (khoản 3 Điều 238). Quy định chi tiết hơn về giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại bằng một mức giá trị nhất định tại Điều 8 Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic. Trong lĩnh vực vận tải hiện nay, việc quy định về giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại cũng chỉ mới thể hiện rõ trong lĩnh vực hàng không (Điều 166 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006). Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Đối với hệ thống pháp luật các nước Liên bang Nga, Việt Nam, lý thuyết về tính khách quan, tính tất yếu, tính trực tiếp của quan hệ nhân quả có ảnh hưởng gần như tuyệt đối. Quan hệ nhân quả, căn cứ theo quy định tại BLDS Liên bang Nga năm 1994 (khoản 1 Điều 393) cũng như BLDS Việt Nam (khoản 2 Điều 307 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 361 BLDS 2015) và các Điều 302, 303 LTM Việt Nam 2005, được ngầm hiểu là mối quan hệ khách quan, tất yếu, trực tiếp, trong đó hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân trực tiếp, còn việc phát sinh những tổn thất vật chất thực tế là kết quả khách quan, tất yếu.
Đối với hệ thống pháp luật các nước thuộc hệ Roman – German (như Đức, Pháp), các nước theo truyền thống Common Law (như Anh, Mỹ) và Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc của Unidroit, lý thuyết về tính nhìn thấy trước (hay dự kiến trước) và tính trực tiếp của quan hệ nhân quả có vị trí đặc biệt. Công ước Viên 1980 theo thuyết “tính dự đoán trước của thiệt hại” khi nêu cụ thể rằng thiệt hại phải là những tổn thất mà bên vi phạm hợp đồng đã dự đoán được hoặc buộc phải dự đoán trước được trong thời điểm ký kết hợp đồng như là hậu quả có thể xảy ra đối với vi phạm hợp đồng đó. Ðiều 74 Công ước Viên 1980 quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết”. Theo quy định này thì giá trị bồi thường thiệt hại tối đa không bắt buộc phải là thiệt hại “trực tiếp” như trong pháp luật thương mại Việt Nam. Giới hạn giá trị này phụ thuộc nhiều vào bên vi phạm, đó là bên vi phạm đã biết hoặc đáng lẽ phải biết vào thời điểm ký kết hợp đồng nếu họ vi phạm thì sẽ gây ra những thiệt hại nào, với giá trị bao nhiêu. Cách xác định này phản ánh rõ nét nguyên tắc thiện chí, trung thực giữa các bên khi tham gia hợp đồng. Đây cũng là cách tiếp cận mà các nhà làm luật Việt Nam cần nghiên cứu đề hoàn thiện pháp luật về giá trị bồi thường thiệt hại theo hợp đồng trong hoạt động thương mại ở nước ta. Bộ nguyên tắc Unidroit, Điều 7.4.3 về tính xác thực của thiệt hại chỉ rõ: “Những thiệt hại, kể cả những thiệt hại trong tương lai, chỉ có thể được bồi thường khi chúng được thiết lập với một mức độ hợp lý về tính xác thực”. Điều 7.4.4 quy định về tính dự đoán trước được của thiệt hại có nêu: “bên có nghĩa vụ chỉ chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại mà mình đã dự đoán trước hoặc đã có thể dự đoán trước một cách hợp lý, vào thời điểm giao kết hợp đồng như là một hậu quả có thể xảy ra từ việc không thực hiện”. Nguyên tắc về giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại có thể dự đoán trước được tương ứng với cách giải quyết trong Điều 74 Công ước Viên 1980. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Như vậy, theo cách tiếp cận của pháp luật quốc tế thì sự giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại được xác định bởi tính “xác thực” của thiệt hại và tính “dự đoán trước” đối với thiệt hại của bên vi phạm. Nguyên tắc này cũng được thừa nhận ở Pháp, cụ thể, Điều 1150 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Trừ trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện là do có sự lừa dối của người có nghĩa vụ. Trong tất cả những trường hợp còn lại, mức bồi thường chỉ bao gồm các khoản bồi thường thiệt hại đã được dự kiến hoặc đã có thể dự kiến khi giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên, khi áp dụng tiêu chí nhìn thấy trước đối với thiệt hại xảy ra, thực tiễn xét xử Pháp không tính tới sự suy nghĩ chủ quan của chính người vi phạm nghĩa vụ mà dựa trên sự đánh giá hay cách nhìn của một người giả định – “một người có lý trí” trong những hoàn cảnh tương tự. Nói cách khác, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây thiệt hại chỉ được miễn trừ hoặc giảm trách nhiệm bồi thường nếu như không phải người đó, mà là “một người có lý trí” trong những hoàn cảnh tương tự cũng không thể nhìn thấy trước mức độ thiệt hại xảy ra.
Tuy nhiên, Điều 1151 Bộ luật Dân sự Pháp có quy định khác phạm vi bồi thường không bị giới hạn bởi mức thiệt hại được bên vi phạm dự liệu trước khi ký kết hợp đồng nếu vi phạm là cố ý. Trong trường hợp bên vi phạm cố ý không thực hiện nghĩa vụ vì họ thấy rằng việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có lợi hơn việc thực hiện hợp đồng mặc dù phải chịu bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này, pháp luật của Việt Nam và pháp luật thương mại quốc tế chưa có sự điều chỉnh. Điều 15.2.2 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga quy định: “nếu người vi phạm nghĩa vụ thu lợi từ việc vi phạm thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường, cùng với những thiệt hại khác, khoản lợi đáng lẽ được hưởng không ít hơn thu nhập nói trên của người vi phạm”.
Ngoài ra, việc giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại đối với việc bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba là vấn đề phức tạp trong thực tiễn xét xử. Giả thiết đặt ra là, khi một bên (bên A) vi phạm hợp đồng đã gây thiệt hại cho bên bị vi phạm (bên B). Một trong những thiệt hại đó là bên B đã gây ra thiệt hại thực tế cho bên thứ ba (bên C). Vậy, liệu bên A phải bồi thường thiệt hại cho bên B khoản thiệt hại mà bên B đã gây ra cho bên C hay không và giá trị bồi thường đó được giới hạn như thế nào. Hiện nay, giá trị bồi thường thiệt hại có bao gồm giá trị bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba hay không còn là vấn đề phức tạp cả về phương diện pháp lý và thực tiễn áp dụng. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
- Giới hạn giá trị bồi thường do các bên của hợp đồng thỏa thuận ấn định
Giới hạn giá trị bồi thường do các bên của hợp đồng thỏa thuận ấn định là một khoản giá trị được xác định trước khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Việc ấn định giá trị bồi thường thiệt hại được các bên tiến hành trong quá trình giao kết hợp đồng. LTM 2005 không đề cập đến nội dung cho phép ấn định một khoản giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng nêu có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể xảy ra trường hợp các bên thỏa thuận một mức giá trị bồi thường thiệt hại nhất định nếu có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra. Mức giá trị này có thể cao hơn hoặc thấp hơn thiệt hại thực tế khi xảy ra vi phạm hợp đồng. Có trường hợp cá biệt, các bên khi xác định giá trị bồi thường thiệt hại cụ thể để rồi sẵn sàng vi phạm vì những lợi ích lớn hơn (làm mất uy tín của bên kia hoặc thực hiện mục tiêu cạnh tranh không lành mạnh). Mặc dù LTM 2005 không đề cập, pháp luật dân sự có quy định việc thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại, cụ thể tại khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 quy định: “Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”. Quy định này cho thấy, pháp luật dân sự thừa nhận các bên có thể thỏa thuận trước về mức giá trị bồi thường thiệt hại, tức là ấn định giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. So với BLDS 2005, BLDS 2015 quy định rõ ràng hơn về việc thỏa thuận bồi thường, các bên hợp đồng có thể thỏa thuận mức bồi thường trước hoặc sau khi có thiệt hại xảy ra. Điều 13 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” hay Điều 360 quy định: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Quy định này cho thấy pháp luật dân sự tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận, định đoạt của chủ thể. Các bên hợp đồng vẫn được tự do thỏa thuận mức bồi thường kể cả sau khi có thiệt hại xảy ra. Mức thỏa thuận có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng thiệt hại là do các bên hợp đồng quyết định.
Ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ, bao gồm cả Hoa Kỳ, các bên của hợp đồng có thể thỏa thuận trước mức bồi thường thiệt hại (liquidated damages) nếu xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên để có hiệu lực, mức phạt định trước đó phải thỏa mãn hai điều kiện sau: (i) khó xác định mức thiệt hại thực tế hoặc việc xác định mức thiệt hại thực tế là không thể thực hiện được, và (ii) mức bồi thường thỏa thuận trước đó không mang tính chất trừng phạt (nghĩa là quá cao, vượt quá mức thiệt hại mà người trong hoàn cảnh tương tự có thể dự kiến). Khi đã thỏa mãn hai điều kiện nêu trên, tòa án sẽ chấp nhận mức bồi thường thiệt hại đã thỏa thuận trước dù mức thỏa thuận trước đó cao hơn hoặc thấp hơn thiệt hại thực tế. Việc áp dụng mức bồi thường thiệt hại thỏa thuận trước đó cũng không phụ thuộc vào việc có thiệt hại xảy ra hay không và bên bị thiệt hại cũng không cần phải chứng minh thiệt hại. Bên yêu cầu bồi thường chỉ cần chứng minh có hành vi vi phạm đã được thỏa thuận trước mức bồi thường. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Bộ luật dân sự Pháp quy định mức bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế hoặc dựa trên thỏa thuận trong hợp đồng. Đối với các trường hợp không được thỏa thuận trước trong hợp đồng thì người có nghĩa vụ chỉ phải chịu các khoản bồi thường thiệt hại đã được dự kiến hoặc đã có thể được dự kiến khi giao kết hợp đồng, trừ trường hợp nghĩa vụ không thực hiện được là do sự lừa dối của người đó (Điều 1150 Bộ luật Dân sự Pháp). Đối với các trường hợp mà hợp đồng có quy định trước về bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại thì người không thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại chỉ phải trả đúng mức thiệt hại đã được thỏa thuận trước trong hợp đồng cho dù mức thiệt hại có thể thấp hơn hay cao hơn mức các bên đã dự tính (Điều 1152 Bộ luật Dân sự Pháp). Pháp luật dân sự Nhật Bản cũng quy định, đối với những trường hợp thiệt hại đã được các bên xác định hoặc thỏa thuận trước trong hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại được căn cứ theo thỏa thuận đó.
Một số lĩnh vực thương mại chuyên ngành, như: bưu điện, điện lực, vận chuyển, viễn thông của Việt Nam cho phép các bên thỏa thuận về mức giá trị bồi thường thiệt hại. Thông tư số 27/2013/TT-BCT ngày 31/10/2013 của Bộ Công thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện quy định: “Mức bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng căn cứ theo thỏa thuận trong hợp đồng, nếu không thỏa thuận trong hợp đồng thì thực hiện theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 28). Theo quy định này thì các bên được quyền thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, tức là thỏa thuận về giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có vi phạm hợp đồng xảy ra. Điểm đ khoản 2 Điều 4 Thông tư số 02/2012/TT-BTTTT ngày 15/3/2012 quy định chi tiết về cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính có quy định thông tin về dịch vụ bưu chính có nội dung là “Mức bồi thường thiệt hại”. Quy định này cho phép bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ bưu chính được thỏa thuận về mức giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng cụ thể khi có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật định. Hay như, Điều 166 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 quy định về mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển. Khoản 1 Điều 167 Luật này quy định thỏa thuận về mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo đó, “Mọi thoả thuận của người vận chuyển với hành khách, người gửi hàng, người nhận hàng nhằm miễn, giảm mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển quy định tại Điều 166 của Luật này đều không có giá trị pháp lý”. Và, chỉ được thỏa thuận với mức cao hơn mức tối thiểu mà pháp luật quy định, cụ thể khoản 2 Điều này quy định: “Người vận chuyển có thể thoả thuận với hành khách, người gửi hàng, người nhận hàng về các mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại cao hơn các mức giới hạn trách nhiệm quy định tại Điều 166 của Luật này”. Đây là những quy định nhằm hạn chế việc các bên lợi dụng quyền tự do thỏa thuận để xâm hại lợi ích của nhau trong lĩnh vực hàng không dân dụng.
Trong các hợp đồng giao kết trong lĩnh vực chuyển phát nhanh (EMS) giữa khách hàng với Công ty Cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện, khi muốn gửi chuyển phát nhanh một bưu phẩm hoặc hàng hoá, khách hàng sẽ được Công ty này đưa cho một phiếu gửi E1 (bằng chứng của việc giao kết hợp đồng) để điền các thông tin cần thiết gồm: họ tên người gửi, người nhận; loại hàng hóa, khối lượng, cước phí (tính theo bảng cước phí do Công ty ban hành)… Mặt sau của phiếu E1 có thông tin trách nhiệm của bưu điện, mức bồi thường cụ thể trong trường hợp chuyển phát chậm hoặc bị hư hỏng, mất mát bưu phẩm do lỗi của Công ty… thực hiện theo quy định của Công ty Chuyển phát nhanh Bưu điện ban hành, như: Bưu gửi EMS bị chậm so với chỉ tiêu thời gian toàn trình thì Bưu điện hoàn lại cước đã thu khi chấp nhận bưu gửi đó; Bưu gửi bị suy suyển hư hỏng, mất một phần nội dung thì Bưu điện hoàn lại cước đã thu khi chấp nhận và bồi thường theo tỷ lệ hư hỏng, hay mất của bưu gửi theo quy định trong bảng cước do Công ty Chuyển phát nhanh Bưu điện ban hành; Bưu gửi bị mất toàn bộ nội dung thì Bưu điện hoàn lại cước đã thu khi chấp nhận, số tiền thuế người gửi đã nộp (nếu có) và bồi thường theo quy định trong bảng cước do công ty cổ phần chuyển phát nhanh bưu điện đã ban hành; mức bồi thường tối đa cho mỗi bưu gửi đối với Bưu gửi EMS trong nước là cước phí đã thu + 132.000 VNĐ, đối với Bưu gửi quốc tế là cước phí đã thu + 167 USD; Bưu điện không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại gián tiếp hoặc những nguồn lợi không thực hiện được do việc chậm, mất, suy suyển, hư hỏng bưu gửi EMS gây nên. Khi có tranh chấp xảy ra trong trường hợp chuyển phát chậm hoặc bị hư hỏng, mất mát bưu phẩm do lỗi của Công ty, khách hàng sẽ gặp bất lợi từ những quy định về bồi thường là một phần của hợp đồng do công ty chuyển phát nhanh đặt ra như trên. Những quy định trên của Công ty Chuyển phát nhanh Bưu điện hạn chế trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng. Trong hợp đồng chuyển phát nhanh, mục đích của Công ty chuyển phát nhanh là thu cước phí cao hơn hình thức chuyển phát thông thường, đổi lại họ phải có nghĩa vụ cơ bản là bảo đảm thời gian như cam kết. Mục đích của khách hàng là được sử dụng dịch vụ có chất lượng (chuyển phát nhanh), theo đúng chỉ tiêu thời gian Công ty đã cam kết, đổi lại họ phải trả mức cước phí cao hơn hình thức chuyển phát thông thường. Nếu Công ty chuyển phát nhanh không thực hiện đúng chất lượng dịch vụ theo thoả thuận trong hợp đồng (ví dụ: bưu gửi chậm, bị mất hay hư hỏng), thì trong trường hợp này, có thể đánh giá mục đích giao kết hợp đồng của khách hàng không đạt được. Vì vậy, hành vi vi phạm này của Công ty phải bị coi là vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng. Doanh nghiệp viễn thông phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra. Như vậy, quy định trên của Công ty Bưu chính viễn thông đưa ra về vấn đề bồi thường cho khách hàng trong trường hợp chuyển phát chậm so với chỉ tiêu thời gian, bưu phẩm EMS bị hư hỏng, mất mát như đã nêu trên là các điều kiện thương mại chung trái pháp luật, vì nó hạn chế trách nhiệm của doanh nghiệp. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Theo quy định pháp luật của một số quốc gia, điều khoản trên sẽ vô hiệu. Ví dụ: ở Pháp, đối với hợp đồng vận chuyển hàng hóa tốc hành bằng đường bộ, Quyết định ngày 22/11/1996 của Tòa Thương mại thuộc Tòa Phá án đã tuyên bố vô hiệu điều khoản giới hạn tiền bồi thường thiệt hại của Công ty vận chuyển Chronopost. Theo điều khoản này của hợp đồng, trong trường hợp bưu kiện được giao đến nơi nhận bị chậm, thì khoản tiền bồi thường được giới hạn bởi giá cả của hợp đồng mà người gửi thanh toán cho Công ty vận chuyển sau khi hợp đồng được ký kết. Tòa án cho rằng, trong trường hợp này, việc Công ty vận chuyển tốc hành giao bưu kiện của chuyến hàng chậm là lỗi rất nghiêm trọng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng là vận chuyển nhanh chóng và đáng tin cậy mà công ty đã đề nghị với khách hàng. Ở Việt Nam, pháp luật hợp đồng còn thiếu những quy định để xử lý các điều kiện thương mại trái pháp luật nói chung cũng như các điều khoản có mục đích hoặc hậu quả nhằm giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp khi thực hiện hợp đồng. Đây là một “lỗ hổng” của pháp luật thương mại về hợp đồng đòi hỏi cần phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật.
Thỏa thuận giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng có mối quan hệ với chế tài phạt vi phạm. Nếu mức này thấp hơn hoặc bằng giá trị thực tế xảy ra thì lúc đó chế tài phạt vi phạm mới có ý nghĩa. Nếu việc thỏa thuận ấn định mức giá trị bồi thường thiệt hại này vượt giá trị thiệt hại thực tế xảy ra thì nó làm mất vai trò của chế tài phạt vi phạm vì theo Điều 301 LTM 2005: “mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (…)”. Nghiên cứu hệ thống pháp luật trên thế giới cho thấy, liên quan đến xác định giá trị bồi thường thiệt hại, không có thỏa thuận xác định một mức bồi thường thiệt hại cụ thể. Bản chất của quy định xác định mức bồi thường thiệt hại cụ thể trong hợp đồng là chế tài phạt vi phạm. Điều 7.4.13 Bộ nguyên tắc Unidroit quy định: (i) Khi hợp đồng quy định bên không thực hiện nghĩa vụ sẽ phải trả một khoản tiền bồi thường nhất định do việc không thực hiện, bên có quyền sẽ được hưởng khoản tiền này một cách độc lập với thiệt hại thực tế phải gánh chịu. (ii) Tuy vậy, mặc dù có thoả thuận khác, khoản tiền bồi thường có thể được giảm một cách hợp lý nếu nó quá mức so với thiệt hại gây ra do việc không thực hiện và do các hoàn cảnh khác. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Có ý kiến cho rằng, việc thừa nhận các bên được thỏa thuận giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng là cần thiết, các bên được tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng thì cũng được tự do thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc cho phép các bên được thỏa thuận giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng sẽ là lỗ hổng pháp luật mà các chủ thể có thể lợi dụng để xâm phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực hoặc hạn chế trách nhiệm hợp đồng.
Thỏa thuận ấn định mức giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thường xuất hiện ở các hợp đồng mẫu. Tuy nhiên, cùng bản chất với hợp đồng mẫu, trong thực tiễn giao kết hợp đồng ở nước ta còn xuất hiện phổ biến các trường hợp các doanh nghiệp sử dụng các điều kiện thương mại chung do mình đặt ra như một phần của hợp đồng trong các giao dịch thương mại với khách hàng. Điều kiện thương mại chung là tất cả những điều kiện hợp đồng, quy tắc bán hàng được soạn trước bởi một bên trong quan hệ hợp đồng và được sử dụng để trở thành nội dung hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau. Thực tế cũng cho thấy, trong các hợp đồng theo mẫu do các doanh nghiệp kinh doanh vận tải, bảo hiểm, điện lực, điện thoại… ban hành, hiếm khi có thể tìm thấy điều khoản nào miễn trách nhiệm hoàn toàn cho doanh nghiệp hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên khách hàng một cách lộ liễu mà chỉ có thể tìm thấy những quy định hạn chế trách nhiệm của doanh nghiệp được ẩn chứa một cách “tinh vi” trong các điều khoản của hợp đồng.
Tóm lại, việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng không được ghi nhận trong LTM nhưng tồn tại trong BLDS và một số lĩnh vực pháp luật thương mại chuyên ngành, các hình thức hợp đồng mẫu. Mặc dù, pháp luật thương mại tôn trong quyền tự do hợp đồng, trong đó có tự do xác lập trách nhiệm hợp đồng, tuy nhiên, thỏa thuận giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng có nhiều bất cập cần khắc phục ở một số khía cạnh, như: (i) việc thỏa thuận này làm mất ý nghĩa của chế tài phạt vi phạm; (ii) các bên có thể lợi dụng thỏa thuận này để cố ý vi phạm hợp đồng.
1.2.2.2 Miễn, giảm trong bồi thường thiệt hại
Pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành cho phép các bên có thể được miễn bồi thường thiệt hại (tức là giá trị bồi thường thiệt hại bằng 0) hoặc giảm giá trị bồi thường thiệt hại. Việc miễn, giảm giá trị bồi thường thiệt hại có thể do hoàn cảnh khách quan hoặc do các bên thỏa thuận. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
- Miễn giá trị bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận
Theo quy định tại Điều 294 LTM 2005 về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm thì, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: (a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận; (b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; (c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; (d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Trong các quy định về trường hợp được miễn bồi thường thiệt hại, nổi lên quy định tại điểm (a) còn có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần làm rõ.
Theo nguyên tắc chung, các điều kiện hợp đồng do các bên tự thỏa thuận nếu không trái luật thì đều có giá trị pháp lý bắt buộc. Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh thương mại trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau các bên thỏa thuận đưa vào hợp đồng những điều khoản nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm.
Theo điểm a khoản 1 Điều 294 về “Các trường hợp miễn trách nhiệm với hành vi vi phạm” và Điều 303 về “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại” của LTM 2005 thì các bên được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận. Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 đã kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 77 LTM 1997 “Các bên được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm đó”. Có tác giả đã nhận định: “Rõ ràng quy định nêu trên của LTM nước ta cho thấy nhà làm luật Việt Nam hết sức coi trọng nguyên tắc tự do ý chí của các bên trong ký kết hợp đồng. Khi xem xét các quy định của BLDS, chúng tôi không nhận thấy căn cứ miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên. Như vậy, BLDS không thừa nhận việc miễn trừ theo thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng”.
Khác với pháp luật Việt Nam, Công ước Viên 1980 không quy định cụ thể là các bên được phép thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng, nhưng cũng không cấm việc các bên tự thỏa thuận và quy định các trường hợp miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng. Mặt khác, khoản 5 Điều 79 Công ước Viên 1980 quy định “điều này không cản trở mỗi bên thực hiện mọi quyền khác ngoài yêu cầu bồi thường thiệt hại trên cơ sở Công ước này”. Theo quy định này, thì các bên có quyền thỏa thuận các quyền khác không trái với Công ước. Điều đó có nghĩa, các bên có quyền thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm và căn cứ miễn trách nhiệm này chỉ áp dụng cho riêng trường hợp cụ thể đó. Việc đưa vào hợp đồng hay không đưa vào hợp đồng trường hợp nào đó làm căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên và dựa trên từng hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Quy định cho các bên thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh thương mại là quy định đặc thù và cần thiết. Các rủi ro trong kinh doanh thương mại là rất lớn, để góp phần chia sẻ rủi ro, các bên có thể dự liệu những sự kiện có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mà những sự kiện này có thể gây ra thiệt hại thực tế cho một trong các bên làm căn cứ miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, có thể xảy ra tình trạng một bên không trung thực, thiện chí, lợi dụng việc thỏa thuận miễn bồi thường thiệt hại để cố ý trốn tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là vấn đề dưới góc độ pháp lý cần khắc phục. Đặc biệt, trong trường hợp các bên thỏa thuận không bồi thường thiệt hại, tuy nhiên, một bên cố ý vi phạm thì pháp luật thương mại chưa có chế tài xử lý trường hợp này. Đây có thể coi như là một kẽ hở trong việc chúng ta quá nới rộng về quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại. Trong hai ví dụ sau, mặc dù người viết dẫn chiếu theo quy định của LTM 1997 nhưng do có tính tương đồng với quy định hiện hành nên vẫn có giá trị tham khảo (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 77 LTM 1997).
Ví dụ 1: “Trong hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa người bán A và người mua B, các bên thoả thuận thời điểm giao hàng là 1/10/2004. Cũng trong hợp đồng, các bên thỏa thuận một điều khoản cho phép bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm trước người mua nếu việc giao hàng chậm không quá 15 ngày, (trước ngày 16/10). Ngày 30/9 người bán A chuẩn bị đủ hàng để giao cho người mua B theo thoả thuận của hợp đồng. Cùng ngày 30/9, một người khác (người mua C), là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của người mua B, đề nghị người bán A bán số hàng đó cho họ với giá cao hơn 20% giá trong hợp đồng giữa A và B. Người bán A lợi dụng thoả thuận giữa họ với người mua B, đồng ý bán cho người mua C số hàng lẽ ra phải giao cho người mua B, bởi vì họ nghĩ rằng trong thời hạn 15 ngày, họ có thừa khả năng chuẩn bị đủ hàng để giao cho người mua B. Ngày 15/10 người mua B nhận hàng theo hợp đồng, thế nhưng lúc này, họ buộc phải bán rẻ vì thị trường đã không còn nhu cầu. Vì thế, người mua B phải chịu một số thiệt hại đáng kể nào đó. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo khoản 1 điều 77 Luật Thương mại hiện hành người mua B không có quyền yêu cầu người bán yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Ví dụ 2: “Trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa người bán và người mua có thỏa thuận rằng, người bán chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng hóa trong thời hạn 12 tháng, tính từ ngày giao hàng được thỏa thuận trong hợp đồng. Hết thời hạn nói trên, người mua mới phát hiện hàng hóa không phù hợp với điều kiện của hợp đồng và người mua cũng có căn cứ xác đáng rằng, trước thời điểm ký hợp đồng người bán đã biết được hàng hóa có khuyết tật nhưng không thông báo cho người mua về điều đó. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, nếu người bán thông báo cho người mua biết rằng, hàng hóa có khuyết tật thì người mua có lẽ đã từ chối ký kết hợp đồng mua bán này. Theo quy định của khoản 1 điều 77 Luật Thương mại 1997, người bán không phải chịu trách nhiệm trước người mua vì thời hạn do các bên thỏa thuận đã hết”.
Trong vấn đề này, pháp luật quốc tế có một số điểm khác so với pháp luật Việt Nam. Theo pháp luật của Anh, khi xem xét giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, tòa án phải phân tích sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, cũng như căn cứ vào sự thể hiện ý chí và các hành vi khác của các bên dẫn đến việc ký kết hợp đồng, để xác định ý chí của các bên khi xác lập quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Điều này khẳng định sự cần thiết đánh giá về mặt pháp lý, những thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, trong tổng thể toàn bộ hợp đồng mà không phải từng điều khoản riêng biệt. Những thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm của người bán do giao hàng có khuyết tật, ẩn trong hợp đồng mua bán hàng hoá, không thể vô hiệu hóa điều kiện cơ bản do luật định về công dụng của hàng hóa cho một mục đích nhất định. Thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại gián tiếp sẽ không liên quan đến những thiệt hại là hậu quả đương nhiên của sự vi phạm, mà chỉ liên quan đến những thiệt hại không có mối liên hệ mật thiết đến sự vi phạm hợp đồng. Như vậy, pháp luật của Anh không công nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm, nếu các thỏa thuận đó liên quan đến sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Theo pháp luật của Hoa Kỳ, những thỏa thuận này không những hạn chế trách nhiệm bên vi phạm, mà còn hạn chế bên có quyền sử dụng các biện pháp bảo vệ pháp lý. Trong thực tiễn thương mại thường gặp các thỏa thuận người bán được miễn trừ trách nhiệm bồi thường những thiệt hại gián tiếp. Trong pháp luật của Hoa Kỳ, tiêu chí cơ bản và chủ yếu được áp dụng để đánh giá về mặt pháp lý các thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm là quy tắc “tính bất hợp lý” của chúng. Quy tắc này có ý nghĩa không chỉ với hiệu lực của các thỏa thuận nói trên, mà còn đối với toàn bộ hay bất kỳ một bộ phận nào của hợp đồng. “Tính bất hợp lý” được coi là việc một trong các bên không có bất kỳ sự lựa chọn nào, và kết hợp với các điều kiện của hợp đồng, trong một chừng mực “bất hợp lý” làm cản trở phía bên kia thực hiện quyền của mình. Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ đặc biệt chú ý đến trường hợp, khi quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại gián tiếp của người có quyền bị hạn chế hay bị loại trừ bởi các thỏa thuận trong hợp đồng. Các thỏa thuận này chỉ có giá trị pháp lý trong trường hợp chúng có căn cứ. Tình huống thường xảy ra trong thực tế khi sự thỏa thuận của các bên nhằm hạn chế bồi thường thiệt hại gián tiếp do việc bán hàng tiêu dùng gây thiệt hại về thân thể, theo pháp luật Hoa Kỳ, thì những thỏa thuận này được coi là không có căn cứ.
Pháp luật của Cộng hòa Pháp hiện này vẫn chưa chính thức có quy phạm nào để điều chỉnh sự thỏa thuận của các bên về trường hợp miễn trừ trách nhiệm. Tuy nhiên, năm 1959 tòa phúc thẩm quy định thỏa thuận của các bên về miễn trừ trách nhiệm được coi là có hiệu lực pháp lý nếu sự thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ không phải do lỗi cố ý hay vô ý nghiêm trọng. Điều này có nghĩa là trong trường hợp do lỗi cố ý hay vô ý nghiêm trọng thì thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm không có hiệu lực pháp lý.
Có thể thấy, quy định về thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong pháp luật của các quốc gia nêu trên có nhiều điểm tương đồng với nhau mặc dù trực tiếp thừa nhận hay gián tiếp thừa nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại. Pháp luật của các quốc gia này đều hướng đến nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại và đồng thời hạn chế, ngăn ngừa các trường hợp lợi dụng thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm để cố ý vi phạm các nghĩa vụ hợp đồng nhằm thu lợi không chính đáng; bảo đảm sự công bằng và quyền lợi của bên “yếu hơn” và trật tự trong hoạt động kinh doanh thương mại. Mặc dù tôn trọng quyền tự do ý chí và sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng (bao gồm cả thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm) nhưng ý chí và sự thỏa thuận đó của các bên phải phù hợp với các quy định của pháp luật, không thừa nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm bất bình đẳng và gây thiệt hại cho bên kia. Trong khi đó, pháp luật thương mại Việt Nam chưa dự liệu hết các trường hợp để ngăn ngừa, hạn chế, loại trừ việc lợi dụng thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm để cố ý vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia. Mặt khác, LTM cũng không có những quy định nhằm giới hạn những thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm mang tính bất bình đẳng, có liên quan đến sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng và những thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm dẫn đến vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, pháp luật thương mại cần thiết được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với pháp luật quốc tế, đảm bảo tính công bằng, bảo vệ quyền lợi của bên “yếu hơn” và duy trì được trật tự trong hoạt động kinh doanh thương mại.
- Giảm giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Giảm giá trị bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại được giảm một khoản giá trị so với giá trị bồi thường thiệt hại thực tế đã gây ra cho bên bị vi phạm. Có nhiều lý do dẫn đến việc phải giảm giá trị bồi thường thiệt hại, như: (i) thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của bên bị vi phạm; (ii) bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp để hạn chế thiệt hại; (iii) các bên thỏa thuận giảm giá trị bồi thường thiệt hại.
Pháp luật thương mại hiện hành ở nước ta cho phép bên vi phạm hợp đồng được giảm giá trị bồi thường thiệt hại trong trong trường hợp bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Mức giá trị bồi thường thiệt hại được giảm bằng với mức giá trị bồi thường thiệt hại mà đáng lẽ có thể hạn chế được. Điều 305 LTM 2005 về nghĩa vụ hạn chế tổn thất nêu: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”.
Pháp luật quốc tế cũng quy định tương tự như ở nước ta về việc giảm giá trị bồi thường thiệt hại cho bên vi phạm do bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất. Ðiều 77 Công ước Viên 1980 quy định: “Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được”. Điều 77 của Công ước Viên 1980 đã được Tòa án các nước viện dẫn để giải quyết nhiều tranh chấp trong thương mại quốc tế. Chẳng hạn, trong vụ tranh chấp về máy hút bụi, bên bán ở Thụy Sĩ bán máy hút bụi cho bên mua ở Đức. Sau khi mua, bên mua cho rằng máy hút bụi đã nhận không đạt chất lượng và hủy bỏ hợp đồng, đồng thời từ chối thanh toán. Bên bán khởi kiện bên mua yêu cầu thanh toán phần tiền mua còn thiếu, về phần mình, bên mua yêu cầu được khấu trừ với phần thiệt hại mình phải gánh chịu. Liên quan tới nghĩa vụ hạn chế thiệt hại, tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bên mua đã không hạn chế thiệt hại xảy ra theo như quy định tại Điều 77 Công ước Viên 1980, vì bên mua chỉ cố gắng tìm mua hàng thay thế ở những nhà cung cấp trong vùng, không tìm mua ở những nhà cung cấp khác ở Đức hay ở nước ngoài. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Vấn đề hạn chế thiệt hại cũng được quy định trong một số luật mẫu về hợp đồng. Chẳng hạn, Điều 7.4.7 Bộ nguyên tắc Unidroit quy định: “1. Bên có nghĩa vụ không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà bên có quyền lẽ ra có thể hạn chế được bằng những biện pháp hợp lý. 2. Bên có quyền có thể đòi đền bù những chi phí hợp lý đã bỏ ra nhằm hạn chế thiệt hại”. Điều 9.505 Bộ nguyên tắc châu Âu về luật hợp đồng cũng có quy định tương tự: “1. Bên vi phạm nghĩa vụ không chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu nhưng lẽ ra đã có thể hạn chế được nếu bên bị vi phạm áp dụng những biện pháp hợp lý. 2. Bên bị vi phạm có quyền được đền bù những chi phí hợp lý đã bỏ ra nhằm hạn chế thiệt hại”.
Quy định giảm giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có thể sử dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất là vấn đề phù hợp về mặt thực tiễn. Quy định này thể hiện các bên phải luôn thiện chí, trung thực khi thực hiện hợp đồng, cho dù có chuyện gì xảy ra cũng phải cùng nhau giải quyết, hạn chế thiệt hại đến mức có thể bằng các biện pháp hợp lý, qua đó, hạn chế thiệt hại xảy ra trong trường hợp có thể khắc phục được. Các biện pháp hợp lý ở đây chính là những biện pháp mà trên thực tế không gây ra thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần hạn chế. Và, trong điều kiện bình thường, một người bình thường cũng nên và có thể áp dụng các biện pháp đó. Biện pháp hợp lý mà pháp luật đề cập được nhìn nhận ở góc độ suy đoán, đặt ra trong môi trường, hoàn cảnh bình thường cho chủ thể phải hành động để hạn chế thiệt hại. Biện pháp hợp lý đó phải là hợp lý đối với bên bị vi phạm, phù hợp với khả năng, điều kiện của bên bị vi phạm có thể tiến hành ngăn chặn được thiệt hại. Tuy nhiên, trong trường hợp, bên vi phạm cố ý vi phạm thì bên bị vi phạm có phải áp dụng các biện pháp để hạn chế thiệt hại hay không. Trong trường hợp này liệu đã đảm bảo tính bình đẳng giữa các bên tham gia hợp đồng và đảm bảo nguyên tắc thiện chí, trung thực. Nhìn chung, xung quanh vấn đề này còn nhiều quan điểm tranh cãi. Giải quyết vấn đề này, các cơ quan tài phán phải căn cứ vào lỗi của các bên để xác định trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra và thiệt hại có thể hạn chế bằng biện pháp hợp lý.
Đối với trường hợp giảm giá trị bồi thường thiệt hại do một phần lỗi của bên bị vi phạm, pháp luật thương mại hiện hành ở nước ta chưa đề cập đến vấn đề này. Trong khi đó, pháp luật dân sự có đề cập nhưng chỉ quy định riêng đối với một số hợp đồng dân sự thông dụng, cụ thể là hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng bảo hiểm. Khoản 2 Điều 448 BLDS 2005 (khoản 2 Điều 449 BLDS 2015 quy định tương tự) về bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành, quy định: “Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”. Điều 575 BLDS 2005 quy định về nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm và của bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (BLDS 2015 không quy định về hợp đồng bảo hiểm): “1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. 2. Bên bảo hiểm phải thanh toán chi phí cần thiết và hợp lý mà người thứ ba đã bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”. Thông lệ quốc tế cũng cho phép giảm giá trị bồi thường thiệt hại do một phần lỗi của bên bị vi phạm (bên có quyền được đòi bồi thường thiệt hại). Điều 7.4.7 Bộ nguyên tắc Unidroit quy định về một phần thiệt hại do lỗi của bên có quyền chỉ rõ: “Khi thiệt hại do một phần lỗi của bên có quyền bởi hành vi thực hiện hoặc không thực hiện của bên này, hoặc do một sự kiện mà bên này chịu trách nhiệm về rủi ro, khoản tiền bồi thường sẽ bị giảm tương ứng với mức độ mà các yếu tố trên góp phần gây nên thiệt hại và có tính đến hành vi xử sự của các bên”.
Như vậy, quy định pháp luật thương mại ở Việt Nam và trên thế giới nhìn chung đều đặt ra yêu cầu trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm. Thực hiện trách nhiệm này cho thấy chúng ta tôn trọng và yêu cầu các bên phải thiện chí, trung thực trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, liên quan đến xác định giảm giá trị bồi thường thiệt hại, nổi lên vấn đề trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm trong trường hợp bên vi phạm cố ý vi phạm. Điều này đòi hỏi phải có quy định pháp lý liên quan để ràng buộc bên vi phạm với lỗi cố ý vẫn phải bồi thường thiệt hại toàn bộ như trong trường hợp bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế thiệt hại nhưng vẫn yêu cầu bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp này.
1.2.3 Giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
Giả thiết đặt ra, khi một bên có hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải áp dụng các biện pháp để hạn chế tổn thất, trong đó, có việc bán hoặc mua hàng hàng hóa, dịch vụ với bên thứ ba. Tuy nhiên, việc mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ này có thể bị chênh lệch giá so với giá hàng hoá được thoả thuận trong hợp đồng bị vi phạm. Cụ thể, để hạn chế tổn thất, bên bị vi phạm đã thực hiện việc mua hàng hóa, dịch vụ với giá cao hơn và bán hàng hóa, dịch với giá thấp hơn so với hợp đồng trước. Khoản 3 Điều 297 LTM 2005 quy định: “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch (…)”. Quy định như trên là chưa đầy đủ và hợp lý, bởi vì: (i) mới chỉ cho phép bên bị vi phạm, là người mua, có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác, còn bên bị vi phạm là người bán theo khoản 5 Điều 297 LTM 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong Luật này”, không quy định bên bị vi phạm được bán hàng hay cung ứng dịch vụ cho bên thứ ba và được bồi thường phần chênh lệch nếu giá bán thấp hơn giá thỏa thuận trong hợp đồng; (ii) pháp luật Việt Nam chỉ cho thay thế “đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng” và nếu thực hiện đúng điều này thì “trả khoản tiền chênh lệch”. Theo đó, pháp luật nước ta không đề cập đến “giá cả” của hàng hóa, dịch vụ thay thế đó được thay thế như thế nào. Mặt khác, việc xác định hàng hóa, dịch vụ thay thế phải đúng với loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng cung trở thành quy định hơi cứng nhắc khi áp dụng.
Liên quan đến xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá, Ðiều 75 Công ước Viên 1980 quy định: “Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74”. Điều 7.4.5 Bộ nguyên tắc Unidroit nêu rõ: “Bên có quyền đã huỷ hợp đồng và ký kết một hợp đồng thay thế trong một thời hạn hợp lí và với một cách thức hợp lí, có thể thu hồi khoản chênh lệch về giá thoả thuận tại hợp đồng ban đầu so với và giá của hợp đồng thay thế, cũng như việc bồi thường cho mọi thiệt hại bổ sung”.
Như vậy, các văn bản pháp luật quốc tế này đã quy định bên bị vi phạm là người mua hay người bán đều được bồi thường phần giá chênh lệch so với hợp đồng. Ngoài ra, pháp luật quốc tế cho thấy tính hợp lý đối với thời gian bán, cách bán (trong đó có tính hợp lý về bên được bán, giá cả…). Cách tiếp cận này có tính khái quát hơn pháp luật thương mại hiện hành ở nước ta. Quy định ở nước ta là hàng hóa, dịch vụ thay thế phải đúng với loại của hàng hóa, dịch vụ trong hợp đồng. Ý nghĩa của từ “đúng loại” ở đây nhìn chung còn hẹp và thiếu tính rõ ràng. Đúng loại được hiểu là đúng công năng hay đúng về nhãn hiệu. Do vậy, các quy định của pháp luật thương mại nước ta cần thiết bổ sung, điều chỉnh để có tính linh hoạt, phù hợp với tính đa dạng của hàng hóa, dịch vụ hiện nay, tạo ra phạm vi rộng để bên bị vi phạm nhanh chóng hạn chế tổn thất bằng việc thay thế hàng hóa, dịch vụ một cách hợp lý. Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
