Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn tài phán liên quan đến việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực tiễn tài phán liên quan đến giá trị bồi thường thiệt hại
Các bản án, phán quyết của trọng tài được bình luận sau đây đề cập đến nhiều nội dung, nhiều vấn đề pháp lý trong tranh chấp hợp đồng kinh doanh – thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ trình bày những nội dung, vấn đề pháp lý có liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại và không đề cập đến các vấn đề pháp lý khác được nêu ra trong các bản án, phán quyết này.
2.1.1 Vấn đề xác định giá trị bồi thường thiệt hại
2.1.1.1 Về giá trị tổn thất thực tế và trực tiếp
Quyết định giám đốc thẩm số: 05/2004/HĐTP-DS ngày 25/3/2004 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán phân urê” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Tóm tắt vụ việc:
Xí nghiệp tư doanh Quốc Cường và Xí nghiệp chế biến gỗ Phước Long ký kết với nhau hợp đồng mua bán phân urê. Hợp đồng số 01/PL-QC ngày 06-06-2001, số lượng 2.200 tấn phân urê sản xuất và đóng bao tại Indonesia, tổng trị giá 4.953.300.000 đồng. Thực hiện hợp đồng này, Xí nghiệp Phước Long ký quỹ cho Xí nghiệp Quốc Cường 20% trị giá hợp đồng với số tiền là 990.660.000 đồng. Ngày 27-10- 2001 Xí nghiệp Phước Long nhận 148 tấn 900 kg tương đương với số tiền 335.248.394 đồng để trừ vào tiền ký quỹ. Hợp đồng số 02/PL-QC ngày 15-06-2001 số lượng 2.453 tấn 903 kg phân Urê sản xuất và đóng bao tại Việt Nam, tổng trị giá 4.588.798.610 đồng. Thực hiện hợp đồng này, Xí nghiệp Phước Long ký quỹ cho Xí nghiệp Quốc Cường 10% trị giá hợp đồng với số tiền là 453.972.055 đồng.
Thời gian thực hiện nhận lô hàng (của cả hai hợp đồng) không quá 45 ngày, nếu quá thời hạn trên mà Xí nghiệp Phước Long không nhận hết hàng thì Xí nghiệp Quốc Cường có quyền bán lô hàng còn lại. Số tiền tổn thất về giá, các phí lãi vay, lưu kho bãi bên Xí nghiệp Quốc Cường sẽ trừ vào tiền đặt cọc của Xí nghiệp Phước Long.
Ngày 05-09-2001 Xí nghiệp Phước Long đã ký hai hóa đơn nhận hàng: Hóa đơn 148 tấn 900 kg – HĐ 01, hóa đơn 206 tấn 903 kg – HĐ 02, thực tế đến ngày 26+27-10-2001 Xí nghiệp Phước Long mới nhận hàng để trừ vào tiền ký quỹ theo biên bản thanh lý ngày 04-09-2001 do Xí nghiệp Quốc Cường lập. Tại đơn khởi kiện ngày 10- 09-2001: Xí nghiệp Phước Long cho rằng Xí nghiệp Quốc Cường đã gây thiệt hại lớn cho Xí nghiệp Phước Long, nên yêu cầu Xí nghiệp Quốc Cường trả lại tiền ký quỹ và bồi thường thiệt hại do không giao hàng tương ứng với số tiền ký quỹ là 2.167.113.150 đồng yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1573/DSST ngày 10-09-2002 và Bản án dân sự phúc thẩm số 41/DSPT ngày 07-03-2003, Tòa án đều quyết định buộc Xí nghiệp Quốc Cường có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hai hợp đồng mua bán phân urê cho Xí nghiệp Phước Long số tiền 1.587.928.893 đồng.
- Tòa án xét xử giám đốc thẩm nhận xét và quyết định:
Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều lấy số tiền ký quỹ của hai hợp đồng để làm căn cứ bồi thường thiệt hại theo tỷ lệ lỗi của các bên là không đúng với hợp đồng và các quy định của pháp luật về tiền ký quỹ. Thiệt hại ở hai hợp đồng này có thể là tiền lưu kho lưu bãi, lãi phải trả ngân hàng, thiệt hại do không được nhận hàng nên Xí nghiệp Phước Long phải mua hàng với giá cao để thực hiện hợp đồng với các đơn vị khác¼ Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Xí nghiệp Phước Long chưa xác định được thiệt hại thực tế là bao nhiêu. Do đó, cần phải hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, xem xét việc thực hiện từng hợp đồng, xác định lỗi của các bên, xác định thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật.
Có nhóm tác giả nhận xét: nhận định của tòa án xét xử giám đốc thẩm là chính xác. Theo quy định tại Điều 365 BLDS 1995 (nay là Điều 360 BLDS 2005): “ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng”. Như vậy, chức năng của ký quỹ là để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ (hợp đồng). Theo đó, khoản đảm bảo (tiền, kim khí quý, đá quý…) mà ngân hàng chi trả cho bên có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là để đảm bảo nghĩa vụ cũng như trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ của bên đó được thực hiện. Do đó, khoản đảm bảo được ký quỹ không thể coi là thiệt hại của bên ký quỹ. Mặt khác, Điều 229 LTM 1997 (nay là Điều 302 LTM 2005) quy định thiệt hại phải là những tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Và, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh các tổn thất đó (Điều 231 LTM 1997, Điều 304 LTM 2005). Như vậy, tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lấy số tiền ký quỹ của hợp đồng làm căn cứ để xác định bồi thường thiệt hại và giá trị bồi thường thiệt hại theo tỷ lệ lỗi của các bên là không đúng với quy định của pháp luật về ký quỹ và xác định bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, quan điểm của tòa xét xử giám đốc thẩm trong vụ án trên về thiệt hại “có thể là tiền lưu kho lưu bãi, lãi phải trả Ngân hàng, thiệt hại do không được nhận hàng nên Xí nghiệp Phước Long phải mua hàng với giá cao để thực hiện hợp đồng với các đơn vị khác¼” được xem là hướng dẫn cho các Tòa án khi xét xử các vụ án liên quan đến việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại.
Tác giả hoàn toàn đồng ý với nhận định của Tòa án xét xử giám đốc thẩm và nhóm tác giả trên. Rõ ràng tiền ký quỹ không thể được xem là tổn thất thực tế, trực tiếp của Xí nghiệp Phước Long theo các quy định của LTM 2005 về xác định thiệt hại. Có thể thấy trong trường hợp này, lần đầu tiên Tòa án nhân dân tối cao có nhận xét với tư cách là một hướng dẫn cho các tòa án về xác định thiệt hại thực tế, trực tiếp trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại gồm: tiền lưu kho lưu bãi, lãi phải trả ngân hàng, thiệt hại do không được nhận hàng nên bên bị vi phạm phải mua hàng với giá cao để thực hiện hợp đồng với các đơn vị khác… Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Quyết định của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) trong vụ kiện “Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hạt điều”.
- Tóm tắt vụ việc:
Theo hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa nguyên đơn (bên bán Việt Nam) và bị đơn (bên mua Singapore), nguyên đơn bán cho bị đơn 1.500 MT (tấn) hạt điều xuất xứ Việt Nam với giá 940 USD/MT, thanh toán bằng L/C không hủy ngang trả tiền ngay 85% khi xuất trình chứng từ giao hàng vào kho ngoại quan, trả 15% còn lại khi xuất trình vận đơn đường biển. Sau khi nhận được L/C, nguyên đơn đã giao hàng vào kho ngoại quan tại Cảng Sài Gòn. SGS đã kiểm tra hàng và cấp giấy chứng nhận số lượng, trọng lượng, phẩm chất và bao bì, trong đó ghi các chỉ tiêu phẩm chất phù hợp với quy định của hợp đồng nhưng không đề cập gì về xuất xứ hàng hóa. Sau khi giao hàng, nguyên đơn xuất trình chứng từ cho ngân hàng, trong số các chứng từ có Giấy chứng nhận xuất xứ do chính nguyên đơn cấp, điều này trái với các điều khoản nguyên thủy của L/C (vì theo L/C này thì nguyên đơn phải xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp). Nhưng nguyên đơn đã thuyết phục bị đơn rằng Giấy chứng nhận xuất xứ này chỉ được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp khi hàng được bốc lên tàu. Do đó, nguyên đơn đã đề nghị bị đơn sửa đổi L/C với nội dung là để nhận 85% trị giá L/C, chỉ cần xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ do chính nguyên đơn cấp, và chỉ cần xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp khi nhận 15% trị giá L/C còn lại. Bị đơn đã đồng ý sửa L/C như vậy. Bằng cách này, nguyên đơn đã nhận được 85% trị giá L/C. Đối với 15% trị giá L/C còn lại ngân hàng mở L/C đã từ chối thành toán do nguyên đơn không xuất trình được Giấy chứng nhận xuất xứ do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp. Nhưng nguyên đơn đã dùng áp lực để buộc ngân hàng mở L/C thanh toán số tiền 15% trị giá L/C còn lại đó và đã thành công.
Trong khi đó, bị đơn khẳng định nguyên đơn giao hàng không đúng xuất xứ, vì trong thực tế hàng hóa có xuất xứ Campuchia, chứ không phải là xuất xứ Việt Nam như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đối với việc thanh toán 85% trị giá L/C, bị đơn đã đồng ý sửa L/C như vậy chỉ vì lúc đó không hề nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa. Sau này, bị đơn mới biết được hạt điều là xuất xứ Campuchia, được nguyên đơn nhập từ Campuchia về, đã nộp 4% giá khai hàng cho Hải quan, tiền này chỉ được hoàn trả khi hàng được tái xuất, nếu không tái xuất sớm sẽ bị Hải quan tịch thu. Do hàng có xuất xứ Campuchia nên nguyên đơn không thể lấy được Giấy chứng nhận xuất xứ do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp. Theo thỏa thuận của hai bên, 15% trị giá L/C còn lại là để trả thuế xuất khẩu. Nguyên đơn rất nôn nóng nhận số tiền này vì hàng xuất xứ Campuchia nhập vào Việt Nam theo chế độ tạm nhập tái xuất, sợ để quá hạn không tái xuất sẽ bị tịch thu, và nguyên đơn muốn được hưởng 15% trị giá L/C còn lại, chứ không phải để đóng thuế xuất khẩu. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Từ đó, bị đơn đề nghị trọng tài bác các yêu cầu trong đơn kiện của nguyên đơn, đồng thời bị đơn kiện lại nguyên đơn, trong đó có nội dung: Nguyên đơn giao hàng không đúng chất lượng: Theo hợp đồng, nguyên đơn phải giao hạt điều xuất xứ Việt Nam, nhưng thực tế nguyên đơn đã giao hạt điều xuất xứ Campuchia. Do vậy, bị đơn yêu cầu đòi giảm giá 15% trên giá bán, tức 201.380,57 USD.
Về yêu cầu giảm giá của bị đơn, Hội đồng Trọng tài nhận định và quyết định như sau: Hợp đồng quy định hạt điều có xuất xứ Việt Nam nhưng nguyên đơn lại giao hàng có xuất xứ Campuchia. Việc nguyên đơn giao hàng có xuất xứ không đúng với quy định của hợp đồng và vi phạm hợp đồng đã ký, do đó nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn các thiệt hại mà bị đơn phải gánh chịu. Mức bồi thường sẽ là chênh lệch giữa giá hạt điều Việt Nam và giá hạt điều Campuchia vào thời điểm ký hợp đồng. Để xác định mức giá chênh lệch, Hội đồng Trọng tài dựa vào hai tờ khai hải quan nhập khẩu mà nguyên đơn nhập từ Campuchia, trong đó ghi mức giá là 915 USD/MT và đã được hải quan xác nhận để tính thuế. Do vậy, số tiền mà nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn là mức chênh lệch giữa giá bán hạt điều Việt Nam là 940 USD/MT và giá nhập khẩu hạt điều Campuchia là 915 USD/MT, cụ thể là: (940 USD – 915 USD) x 1.428,231 MT = 35.705,78 USD.
Có tác giả nhận xét như sau: “Bị đơn yêu cầu giảm giá bán mà Hội đồng Trọng tài lại phán quyết cho bị đơn được bồi thường thiệt hại là trái với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng. Nếu cho rằng Hội đồng Trọng tài đã diễn giải lại yêu cầu của bị đơn cho phù hợp với ý chí của bị đơn thì sự diễn giải đó cũng bất hợp lý. Mức giảm giá bằng 15% giá bán mà bị đơn yêu cầu chính là 15% trị giá L/C mà theo thỏa thuận của hai bên là để trả thuế xuất khẩu. Mặt khác, Pháp lệnh HĐKT 1989 (là luật có hiệu lực áp dụng đối với hợp đồng này nếu luật Việt Nam được áp dụng) cũng có quy định khi hàng hóa không đúng chất lượng thì bên mua có quyền không nhận, nếu nhận thì có quyền yêu cầu giảm giá trước khi nhận (Điều 31)”.
Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu trên cho rằng, nếu bị đơn yêu cầu buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại bằng 15% giá bán hoặc diễn giải của Hội đồng Trọng tài là phù hợp với ý chí của bị đơn, thì việc Hội đồng Trọng tài quyết định mức bồi thường là chênh lệch giữa giá hạt điều Việt Nam và giá hạt điều Campuchia là chính xác. Bởi vì, nếu cũng là hạt điều đó, nhưng bị đơn mua với tư cách là hạt điều Campuchia thì chỉ phải trả 915 USD/MT, trong khi đó do bị lừa dối là hạt điều Việt Nam nên phải trả tới 940 USD/MT. Khoản tiền mà bị đơn phải trả nhiều hơn so với giá trị thực tế của hàng hóa có thể được xem là tổn thất thực tế và trực tiếp của nguyên đơn do hành vi vi phạm hợp đồng của nguyên đơn gây ra.
Tác giả đồng tình với quan điểm của nhóm nghiên cứu, bị đơn đã có tổn thất thực tế và trực tiếp nên yêu cầu được bồi thường (nếu có) là thỏa đáng, đúng theo quy định của pháp luật. Giá trị bồi thường thiệt hại ở đây chính là giá trị chênh lệch giữa giá hạt điều Việt Nam và giá hạt điều Campuchia. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Một bản án khác dưới đây cho thấy Tòa án đã xác định thiệt hại của bên bị vi phạm là giá trị chênh lệch của giá bán trong hợp đồng với giá hàng hóa thực tế giao không đúng xuất xứ theo thỏa thuận các bên của hợp đồng.
Quyết định giám đốc thẩm số: 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/4/2009 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Tóm tắt vụ việc:
Công ty TNHH THƯƠNG MẠI – DỊCH VỤ – XÂY DỰNG PHƯỢNG LÂM (Công ty Phượng Lâm) và Cửa hàng Âm thanh – Ánh sáng – Nhạc cụ Huy Quang (Cửa hàng Huy Quang) ký kết Hợp đồng kinh tế về việc Cửa hàng Huy Quang bán cho Công ty Phượng Lâm 08 thiết bị điện tử (âm thanh, ánh sáng) với tổng giá trị là 190.366.000 đồng. Sau khi nhận hàng được khoảng một tháng, Công ty Phượng Lâm phát hiện 3/8 thiết bị nhập về không đúng xuất xứ như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết. Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty Phượng Lâm yêu cầu Cửa hàng Huy Quang nhận lại toàn bộ hàng và trả lại 190.366.000 đồng và bồi thường thiệt hại do phải chi phí thuê thiết bị thay thế mỗi ngày 150.000 đồng tính từ ngày 1/10/2006 đến ngày 15/7/2007 là 285 ngày x 150.000 đồng = 42.750.000 đồng.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2007/KSTM-ST ngày 23/7/2007, Tòa án nhân dân quận 3, thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trả lại 8 mặt hàng đã nhận gồm có giá trị 190.366.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 42.750.000 đồng. Buộc Cửa hàng Huy Quang có trách nhiệm hoàn trả số tiền chênh lệch trị giá của 03 mặt hàng giao sai xuất xứ cho Công ty Phượng Lâm là 48.258.080 đồng. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 1511/2007/KSTM-ST ngày 26/12/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sửa bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Phượng Lâm đòi Cửa hàng Huy Quang thanh toán số tiền là 233.116.000 đồng phát sinh trong Hợp đồng, trong đó gồm trị giá hàng hóa đã mua là 190.366.000 đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 42.750.000 đồng. Công ty Phượng Lâm có đơn khiếu nại đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.
- Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội nhận định:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải nhận lại toàn bộ hàng (thiết bị), trả lại 190.366.000 đồng và bồi thường thiệt hại do phải chi phí thuê thiết bị thay thế là 42.750.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện. Tức là Tòa án phải căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của đương sự để xem xét, giải quyết. Việc Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm xem xét giải quyết khoản tiền chênh lệch giá giữa hàng theo hợp đồng mà hai bên ký két với hàng thực tế hai bên giao nhận đối với 3 loại hàng (thiết bị) sai xuất xứ là không thuộc phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bồi thường thiệt hại do phải chi phí thuê thiết bị thay thế là 42.750.000 đồng nhưng Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại xác định và coi yêu cầu này là phạt vi phạm là có sự nhầm lẫn nên đã không xem xét giải quyết là không đúng. Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài khác nhau được quy định tại các Điều 292, 301 và 302 LTM 2005. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là nguyên đơn yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng nhưng tại phần quyết định lại là không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 42.750.000 đồng là có sự mâu thuẫn.
Theo tác giả, nhận định của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội là chính xác. Tuy nhiên, nếu như nguyên đơn có yêu cầu thì việc Tòa sơ thẩm buộc Cửa hàng Huy Quang có trách nhiệm hoàn trả số tiền chênh lệch trị giá của 03 mặt hàng giao sai xuất xứ cho Công ty Phượng Lâm là 48.258.080 đồng là hợp lý vì đây chính là thiệt hại thực tế mà nguyên đơn phải gánh chịu. Ngoài ra, có một loại chi phí mà Tòa án nhân dân tối cao xác định là thiệt hại được bồi thường, đó là chi phí do nguyên đơn bỏ ra thuê thiết bị thay thế nhằm hạn chế thiệt hại. Đây cũng có thể coi là một hướng dẫn cụ thể cho các tòa án để giải quyết các vụ việc tương tự.
Bản án số: 1327/2007/KDTM–ST ngày 14/06/2007 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán” của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Tóm tắt vụ việc:
Vào ngày 01/03/2005 Công ty Hoá chất Thành phố Hồ chí Minh (nguyên đơn) và Công ty TNHH Tasco Sài Gòn (bị đơn) ký hợp đồng kinh tế thỏa thuận bị đơn bán cho nguyên đơn 4.000 bao container có lực tải trọng là 1,5 tấn/bao với tổng giá trị là 448.800.000 đồng. Đến tháng 04/2005 nguyên đơn đã nhận đủ số hàng đã ký kết và thanh toán 362.200.000 đồng, còn lại 86.600.000 đồng. Toàn bộ số hàng do bị đơn giao, nguyên đơn đã chuyển ra Cảng Cửa Lò – Nghệ An để chứa nguyên liệu đá, từ ngày 20/5/2005 đến 8/6/2005 đã đưa sử dụng 1.000 bao tương đương 15.000 tấn nhưng khi cho cẩu gom xếp lại để đưa hàng xuống tàu biển thì các bao đã bị rách ngang thân bao. Số hàng hư hỏng này đã chuyển về Công ty làm đối chứng và đã được phía bị đơn xác nhận chất lượng kém và đồng ý bồi thường. Số bao còn lại nguyên đơn tiếp tục sử dụng vào tháng 5 + 6/2005 thì cũng xảy ra tình trạng hư hỏng như cũ. Sau khi xử lý thay bao và vận chuyển bốc dỡ hàng lên tàu, xác định chỉ có 30% bao chứa hàng, tương đương 900 bao trong tổng số bao mà bị đơn đã ký bán. Sau đó, hai bên đã nhiều lần thương lượng nhưng phía bị đơn chỉ chấp nhận bồi thường 1.000 bao, vì vậy, việc giải quyết không có kết quả. Do bị đơn vi phạm hợp đồng vì đã giao hàng kém chất lượng nên nguyên đơn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại, cụ thể, nguyên đơn chỉ sử dụng được 1.000 bao x 102.000 đồng/bao = 102.000.000 đồng, do đó bị đơn phải hoàn trả lại số tiền là 260.200.000 đồng, thanh toán tiền vận chuyển hàng hoá là 16.914.286 đồng, tiền thuê đóng gói là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 307.114.286 đồng.
- Tòa án nhận xét:
Căn cứ vào đơn giá đã thoả thuận thì nguyên đơn chỉ phải thanh toán trên số hàng sử dụng được là (1.000 bao x 102.000 đồng/bao) = 102.000.000 đồng, số tiền đã thanh toán được nhận lại là (362.200.000 đồng – 102.000.000 đồng) = 260.200.000 đồng. Đồng thời, bị đơn phải thanh toán số tiền vận chuyển hàng hoá từ Ga Sóng Thần đến Cảng Cửa Lò – Nghệ An, bởi lẽ căn cứ vào hai hoá đơn giá trị gia tăng do nguyên đơn xuất trình thì số tiền thuê vận chuyển trên là 16.914.286 đồng. Yêu cầu bị đơn còn phải thanh toán một phần tiền thuê đóng gói bao bì lại là có cơ sở vì phù hợp nội dung đã thỏa thuận trong biên bản ngày 15/6/2005 về việc xử lý bao chứa đá 1,5 tấn kém chất lượng, vì vậy, toàn bộ lô hàng 1.500 tấn với đơn giá là 20.000 đồng/tấn = 30.000.000 đồng bị đơn cũng phải thanh toán. Như vậy, bị đơn phải thanh toán các khoản trên cho nguyên đơn thành tiền là 307.114.286 đồng. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Nhận xét của tác giả:
Trong vụ án trên, ngoài số tiền bồi thường 260.200.000 đồng mà bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn, Tòa án còn yêu cầu bị đơn bồi thường hai loại chi phí là tiền vận chuyển hàng hóa và tiền đóng gói hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 297 LTM 2005 quy định: “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý”. Như vậy, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được bồi thường các chi phí thực tế hợp lý là chi phí sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ mà không đề cập đến chi phí vận chuyển hàng hóa và chi phí đóng gói hàng hóa. Tuy nhiên, Tòa án đã xem xét đến tính thực tế hợp lý của các chi phí mà nguyên đơn phải bỏ ra để khắc phục thiệt hại do bị đơn gây ra. Chi phí thực tế có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hợp đồng của bị đơn, nếu bị đơn không vi phạm hợp đồng (giao bao chứa đá kém chất lượng) thì nguyên đơn không bị mất những khoản chi phí này (vận chuyển, đóng gói). Tòa án cũng cho rằng số tiền vận chuyển hàng hóa và đóng gói hàng hóa mà bị đơn chứng minh được bằng các hóa đơn thanh toán là hợp lý. Mặc dù chi phí vận chuyển cho tất cả số bao trên là 16.914.286 đồng, trong đó có những bao đã sử dụng được và không sử dụng được nhưng Tòa án vẫn chấp nhận nguyên đơn được bồi thường số chi phí này.
- Giá trị tổn thất phi vật chất
Như đề cập ở phần trước, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất về vật chất và tổn thất phi vật chất (về tinh thần, uy tín, thương hiệu…). Đối với cá nhân trong quan hệ kinh doanh thương mại có thể tổn thất cả về tinh thần cũng như uy tín, thương hiệu (ví dụ uy tín, thương hiệu của ca sĩ, nhạc sĩ, vận động viên khi tham gia các hoạt động thương mại như: tổ chức các sự kiện âm nhạc, thể thao…). Tuy nhiên, đối với thương nhân là tổ chức, doanh nghiệp thì không thể đề cập đến tổn thất về tinh thần mà chỉ có thể tổn thất về uy tín, thương hiệu… Trong khả năng nghiên cứu tác giả nhận thấy, thực tiễn tài phán ở Việt Nam chưa có vụ án nào tranh chấp về vấn đề bồi thường tổn thất phi vật chất (tinh thần, uy tín, thương hiệu…) trong hợp đồng kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, trên thế giới đã có tài phán liên quan đến vấn đề này.
Phán quyết số 4: Tranh chấp về giao hàng không đúng chất lượng trong hợp đồng mua bán giầy nữ giữa Nguyên đơn là Người mua Bỉ và Bị đơn là Người bán Bỉ
- Tóm tắt vụ việc: Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Nguyên đơn và Bị đơn ký một hợp đồng bán hàng theo đó Bị đơn sẽ cung cấp cho Nguyên đơn 150.000 đôi giầy phụ nữ trong thời hạn bốn tháng. Cùng ngày hôm đó, Bị đơn ký một hợp đồng với các điều khoản y hệt (trừ điều khoản về giá) với một công ty thương mại quốc doanh của Rumani (sau đây gọi là bên C) qua đó C cam kết sẽ cung cấp cùng một số lượng giầy cho Bị đơn.
Sau đó, Nguyên đơn đã không nhận được hàng đúng quy cách phẩm chất và đúng thời hạn như quy định trong hợp đồng, do đó đã tiến hành khởi kiện ra trọng tài yêu cầu được bồi thường thiệt hại. Về phần mình, Bị đơn khiếu nại lại người cung cấp của mình là bên C, do lỗi giao hàng chậm.
Trong phán quyết này, trọng tài đã kết luận như sau: Việc không thể thực hiện đúng hợp đồng kéo theo rất nhiều hậu quả. Thiệt hại ở đây có thể là vật chất và cũng có thể là phi vật chất. Trong vụ kiện này, ngoài thiệt hại thực tế có thể tính toán do lỗi của Bị đơn (bên bán), Nguyên đơn còn đòi bồi thường thiệt hại về uy tín thương mại của mình.
Về thiệt hại do mất uy tín: Xét tới thực tế là trong số 127.000 đôi giày được Nguyên đơn đặt mua của Bị đơn, có tới 45.509 đôi, nghĩa là khoảng 38% đã không được giao đúng quy cách và thời hạn quy định, chúng ta có thể thấy rằng Nguyên đơn khó có thể chấp nhận số phần trăm hàng lớn như vậy không được thực hiện đúng hợp đồng. Mặt khác xét tới tính chất thời vụ của loại hàng hoá này, Nguyên đơn cũng chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng của mình trong một chừng mực nhất định bằng cách lấy hàng từ những nguồn khác.
Nếu coi rằng uy tín thương mại của một thương nhân sẽ bị ảnh hưởng khi họ không thể thoả mãn được phần lớn các đơn hàng đã ký với khách hàng và xem xét toàn bộ các khía cạnh của vụ việc này, đặc biệt là sự suy giảm về lợi nhuận và số liệu kinh doanh của Nguyên đơn với những khách hàng đã từng có đơn đặt hàng với Nguyên đơn về loại giầy phụ nữ nói trên trong hai năm từ 1980 đến 1982 so với những năm trước đó, Uỷ ban trọng tài thấy rằng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về uy tín của Nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ. Do đó, Uỷ ban trọng tài đã quyết định là Nguyên đơn phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Nhận xét của tác giả:
Trong hoạt động kinh doanh thương mại, việc cạnh tranh thường diễn ra rất gay gắt nên các chủ thể kinh doanh phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, trong đó uy tín thương mại đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Do đó, trong vụ việc nêu trên Uỷ ban trọng tài đã quyết định là Nguyên đơn phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, Nguyên đơn đã có thiệt hại thực tế, trực tiếp (sự suy giảm về lợi nhuận) do hành vi vi phạm hợp đồng của Bị đơn. Như vậy, thực tiễn tài phán quốc tế đã thừa nhận giá trị thiệt hại phi vật chất cũng được bồi thường.
2.1.1.2 Về khoản lợi có thể đã nhận được
Bản án số: 178/2007/KDTM ngày 5-9-2007 về “V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ bảo vệ” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Tóm tắt vụ việc:
Công ty cổ phần an ninh Quốc tế (Công ty Quốc tế) ký hợp đồng dịch vụ bảo vệ với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Đại Uy (Công ty Đại Uy). Theo hợp đồng cung ứng dịch vị bảo vệ, Công ty Quốc tế có cử 3 nhân viên để bảo vệ trật tự an ninh, bảo đảm an toàn cho con người và tài sản đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh tại cổng chính của Công ty Đại Uy thời gian 24/24 giờ chia làm 3 ca. Giá trị hợp đồng là 12 tháng từ 1-6-2006 đến 1-6-2007.
Ngày 23-6-2006, lúc 22 giờ 30 phút, chuyên gia Trung Quốc là ông Lục Vĩ Bá cùng một số công nhân của Công ty Đại Uy đi chơi về gọi cổng nhưng anh Đặng Xuân Hợi (bảo vệ) không mở cổng vì quá giờ theo quy định. Khi ông Bá đi xe máy qua cổng, anh Hợi dơ dùi cui đập vào mắt ông Bá khiến ông Bá bị thương và được đưa đi bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam điều trị.
Ngày 14-8-2006 đến ngày 15-8-2006, ca trực từ 19 giờ ngày 14-8 đến 3 giờ ngày 15-8, bảo vệ Trần Vĩnh Hưng đã không đến gác, bảo vệ Nguyễn Đăng Tiến phải đến gác thay. Ngày 28-8-2006, Công ty Đại Uy thông báo thanh lý hợp đồng nhưng Công ty Quốc tế không đồng ý và có ý kiến nếu dừng hợp đồng thì Công ty Đại Uy phải bồi thường 3 tháng phí. Công ty Đại Uy không đồng ý và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Công ty Quốc tế cho rằng hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm pháp luật, đề nghị Công ty Đại Uy bồi thường thiệt hại là 114.889.954 đồng và chi phí cơ hội là 86.679.500 đồng. Công ty Đại Uy cho rằng hành vi của anh Hợi, anh Hưng là vi phạm hợp đồng bảo vệ và có đơn phản tố yêu cầu Công ty Quốc tế phải bồi thường là 59.500.000 đồng.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2007/KDTM ngày 19-3- 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam quyết định buộc Công ty Đại Uy phải bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng cho Công ty Quốc tế là 94.716.954 đồng. Đồng thời, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố Công ty Quốc tế phải bồi thường cho Công ty Đại Uy là 11.100.000 đồng. Ngày 3-4-2007, Công ty Đại Uy có đơn kháng cáo xin xem xét lại toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Hội đồng xét xử nhận định và quyết định: Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Công ty Đại Uy đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải bồi thường cho Công ty Quốc tế. Trước hết việc bồi thường phải căn cứ vào hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận và quy định của BLDS và LTM ở những điều luật tương ứng. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận 5 khoản yêu cầu của Công ty Quốc tế, không xem xét điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng là chưa khách quan. Tại khoản 2, Điều 302 LTM về bồi thường thiệt hại quy định: Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu và khoản lợi bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Từ viện dẫn trên có căn cứ thực tế tính bồi thường như sau: Hiệu lực hợp đồng, kể từ 1-6-2006, thời hạn hợp đồng là 1 năm đến ngày 1-6-2007 hết hạn, giá trị toàn bộ hợp đồng là: 12 tháng x 5.775.000 đồng = 69.300.000 đồng; Công ty Quốc tế đã thực hiện được 4 tháng từ 1-6-2006 đến 1-10- 2006, 4 tháng x 5.775.000 đồng = 23.100.000 đồng, giá trị còn lại của hợp đồng là: 69.300.000 – 23.100.000 = 46.200.000 đồng. Công ty Đại Uy phải bồi thường phần còn lại của hợp đồng là 46.200.000 đồng.
Căn cứ thỏa thuận của hai bên tại Điều 7 (7.1) như sau: Trong trường hợp bên A chậm thanh toán tiền phí dịch vụ bảo vệ cho bên B thì bên B có quyền áp dụng mức phạt 5% tổng số phí dịch vụ của tháng cho một ngày chậm thanh toán. Cụ thể, tháng 9-2006 bên A chưa thanh toán phí dịch vụ cho bên B nên bên A phải chịu phạt (từ ngày 5-9 đến 5-10-2006) 5.775.000 đồng x 5% x 30 ngày = 8.662.500 đồng. Bản án sơ thẩm tính phạt chậm thanh toán của tháng 9 là 105 ngày là không đúng vì: Ngày 6-10-2006, Công ty Đại Uy chậm thanh toán để tính phạt Công ty Đại Uy.
Bản án sơ thẩm còn tính các khoản: Chi phí phát triển thị trường, chi phí giao dịch là 5.425.000 đồng; chi phí quản lý điều hành 6.969.704 đồng. Những khoản chi phí trên không phải tổn thất thực tế vì phần giá trị còn lại của hợp đồng đã tính đủ cho Công ty Quốc tế như đã nhận xét ở phần trên. Như vậy, Công ty Quốc tế được nhận các khoản sau: Phí bảo vệ của tháng 9 là 5.775.000 đồng; phạt chậm thanh toán của tháng 9 là 8.662.500 đồng; giá trị còn lại của hợp đồng là 46.200.000 đồng. Tổng cộng 3 khoản là 60.637.500 đồng. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Như vậy, Tòa án xác định giá trị khoản lợi đáng lẽ được hưởng của của bên cung cấp dịch vụ bằng giá trị của phần hợp đồng chưa thực hiện. Có nghiên cứu cho rằng, “cách tính như vậy là không thuyết phục, khoản lợi này không thể bằng giá trị còn lại của hợp đồng (8 tháng) vì Công ty Quốc tế có trách nhiệm hạn chế tổn thất bằng cách đi tìm đối tác khác và để có được khoản tiền theo hợp đồng Công ty Quốc tế còn phải bỏ ra những chi phí nhất định (phải trả lương nhân viên, chi phí đi lại của nhân viên, chi phí điều hành) nên các khoản này cần được khấu trừ (khoản lợi đáng lẽ được hưởng hàng tháng không phải là giá thỏa thuận trong hợp đồng mà phải trừ cả chi phí thực hiện hợp đồng)”. Có thể thấy, việc thực hiện hợp đồng đem lại cho các bên những khoản lợi nhất định. Khoản lợi này gắn với chủ thể của hợp đồng sẽ thu được những giá trị gì từ việc thực hiện hợp đồng. Trên cơ sở thu được những giá trị đó, chủ thể hợp đồng phải chi trả cho những khoản khác, như: tiền thuê công nhân, tiền bảo trì, bảo dưỡng máy móc, phương tiện… Có thể sau khi trừ chi phí thì bên nhận được khoản lợi này thu hoặc không thu được những khoản chênh lệch, thậm chí thấp hơn so với chi phí bỏ ra. Vì vậy, khoản lợi đáng lẽ được hưởng này chính là khoản giá trị mà chủ thể hợp đồng nhận được khi thực hiện hợp đồng (khoản lợi này không đồng nghĩa với khoản lời, lãi trong kinh doanh). Theo đó, cách xác định như Tòa án cũng có những yếu tố hợp lý. Tuy nhiên, trong một quyết định khác vào năm 2013 liên quan đến hợp đồng thực hiện việc bốc xúc và vận chuyển đất đá mà bên thuê vi phạm hợp đồng, Hội đồng thẩm phán nhấn mạnh rằng khoản lợi trực tiếp nêu trên “là lợi nhuận đáng lẽ ra doanh nghiệp được hưởng nếu hợp đồng thực hiện đúng và được tính bằng giá trị phần hợp đồng được thực hiện sau khi đối trừ toàn bộ chi phí thực tế phục vụ cho việc thi công như giá trị tiêu hao nhiên liệu, khấu hao máy móc, điện nước, thuế, chi phí quản lý…”.
Có thể thấy, việc xác định giá trị khoản lợi cũng là vấn đề phức tạp không chỉ dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật mà còn cả trong các quan điểm pháp lý; và hiện nay, pháp luật thương mại nước ta chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này.
Ngoài thu nhập, lợi nhuận có được từ thực hiện hợp đồng, khoản lợi trên thực tế cũng có thể là lãi suất đối với khoản tiền đưa vào thực hiện hợp đồng. Xét vụ án tranh chấp kinh doanh – thương mại sau đây:
Bản án số: 1743/2007/KDTM-ST ngày 20/9/2007 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Tóm tắt vụ việc:
Ngày 2/8/2006 Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất (Công ty Sói Đất) ký hợp đồng mua bán số 009/HDMB/DDT với Công ty TNHH Đông Đô Thành (Công ty Đông Đô Thành) mua 1 chiếc xe ô tô loại Matiz Se Color 5 chỗ mới 100% được lắp ráp tại Việt Nam năm 2006; màu bạc; giá 13.250 USD; thời gian giao xe ngày 4/8/2006. Công ty Sói Đất thanh toán cho Công ty Đông Đô Thành là 13.000 USD vào ngày 2/8 và ngày 3/8 năm 2006. Đến ngày 8/8/2006, Công ty Đông Đô Thành thực hiện giao xe cho Công ty Sói Đất. Nhưng xe giao không đúng với quy cách quy định trong hợp đồng. Công ty Sói Đất từ chối nhận xe và có khiếu nại yêu cầu Công ty Đông Đô Thành giao xe theo đúng hợp đồng là loại được lắp ráp tại Việt Nam năm 2006. Nhưng Công ty Đông Đô Thành không giải quyết khiếu nại trên của Công ty Sói Đất. Ngày 8/9/2006, Công ty Sói Đất có văn bản số 139/CV-AA gởi Công ty Đông Đô Thành thông báo hủy bỏ Hợp đồng yêu cầu Công ty Đông Đô Thành trả lại số tiền 13.000 USD nhưng Công ty Đông Đô Thành không đáp ứng yêu cầu của Công ty Sói Đất. Ngày 16/4/2007, Công ty Sói Đất khởi kiện Công ty Đông Đô Thành và điều chỉnh tại phiên tòa yêu cầu: buộc Công ty Đông Đô Thành trả 210.551.000 đồng tương đương 13.000 USD (theo tỷ giá ngày 20/9/2007 là 16.195đ/USD); buộc Công ty Đông Đô Thành bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận cho Công ty Sói Đất tính từ ngày 8/9/2006 tới ngày 20/9/2007 là 18.088.000 đồng (tính theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố là 8,25%/năm). Tổng cộng hai khoản là: 228.639.000 đồng.
Tòa án xác định Công ty Đông Đô Thành đã vi phạm Khoản 1 Điều 34, Khoản 1 Điều 39 của Luật Thương mại 2005 Công ty Sói Đất đã có khiếu nại và không nhận hàng nên lỗi vi phạm hoàn toàn do Công ty Đông Đô Thành. Công ty Đông Đô Thành đã không giải quyết khiếu nại của Công ty Sói Đất và khắc phục sai sót của Công ty theo Điều 41 Luật Thương mại 2005. Công ty Đông Đô Thành phải chịu mọi thiệt hại do việc giao hàng không đúng với hợp đồng (Điều 303 Luật Thương mại 2005). Vì vậy, tòa chấp nhận yêu cầu khiếu nại khởi kiện của Công ty Sói Đất là: Hủy hợp đồng mua bán xe ô tô 009/HDMB/DDt nói trên; và buộc Công ty Đông Đô Thành trả 210.559.000 đồng tương đương 13.000 USD; buộc Công ty Đông Đô Thành bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền đã nhận cho Công ty Sói Đất là 18.088.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là: 228.639.000 đồng.
- Nhận xét của tác giả: Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Trong vụ án trên, Tòa án đã viện dẫn Điều 306 LTM 2005 buộc Công ty Đông Đô Thành bồi thường thiệt hại cho Công ty Sói Đất do chậm trả lại số tiền đã nhận của Công ty Sói Đất theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố. Điều này chưa chính xác bởi vì theo Điều 306 LTM 2005 về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán, quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Ở đây, số tiền Công ty Đông Đô Thành phải hoàn trả không phải là tiền để thanh toán tiền hàng hay thanh toán thù lao dịch vụ cho Công ty Sói Đất mà chính xác là hoàn trả lại tiền đã nhận của Công ty Sói Đất theo hợp đồng mua bán ô tô (bị Tòa án hủy do Công ty Đông Đô Thành vi phạm hợp đồng). Đúng ra, tòa án nên xác định khoản lãi đối với số tiền chậm hoàn trả này như một khoản lợi đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng. Bởi vì, mục đích Công ty Sói Đất mua ô tô của Công ty Đông Đô Thành nhằm thụ hưởng giá trị sử dụng của xe ô tô và có thể được coi như là khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu như Công ty Đông Đô Thành giao đúng xe ô tô như thỏa thuận trong hợp đồng. Trên thực tế khó xác định được giá trị sử dụng của xe ô tô vì còn tùy vào mục đích sử dụng là để kinh doanh sinh lợi hay mục đích khác. Do đó, việc quy khoản lợi này thành tiền lãi của số tiền đáng lẽ Công ty Sói Đất nhận lại được cũng là hợp lý. Bởi lẽ, trong trường hợp bình thường nhất, nếu như Công ty Sói Đất gửi số tiền đó vào ngân hàng thì chắc chắn sẽ nhận được một khoản lãi trong thời hạn nêu trên. Ngoài ra, một vấn đề cần xác định ở đây về mức lãi suất ngân hàng ở thời điểm nào cho phù hợp (trong vụ việc trên không chỉ rõ lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố là 8,25%/năm là vào thời điểm nào, năm 2006 hay 2007), và trong trường hợp nếu Tòa án viện dẫn đúng Điều 306 LTM 2005 thì lãi suất phải trả phải được tính theo “lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả”.
2.1.2 Giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại và vấn đề giảm giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
2.1.2.1 Vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại
Bản án số: 217/2006/KTPT ngày 20/10/2006 về “V/v tranh chấp thuê nhà xưởng” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Tóm tắt vụ việc:
Năm 2002, Công ty Đô Thành và Công ty Phú Sỹ ký một hợp đồng, theo đó, Công ty Đô Thành đầu tư xây lắp trên diện tích 600m2 (là phần mặt bằng của Công ty Phú Sỹ) khu nhà xưởng và hạ tầng sảng xuất phục vụ giặt là. Ngày 8/10/2004, hai bên thỏa thuận là đến ngày 8/11/2004, Công ty Đô Thành phải chuyển hết máy móc, thiết bị của mình ra khỏi nhà xưởng của Công ty Phú Sỹ, quá hạn Công ty Phú Sỹ được tính giá cho thuê 1 USD/1m2/1 tháng. Ngày 25/01/2005, Công ty Phú Sỹ ký hợp đồng với Công ty Nhân Mỹ về việc lắp đặt dây chuyền máy may công nghiệp, theo đó, Công ty Phú Sỹ phải bàn giao mặt bằng cho Công ty Nhân Mỹ là ngày 01/3/2005. Cũng theo hợp đồng, Công ty Phú Sỹ nhận đặt tiền cọc của Công ty Nhân Mỹ 124 triệu đồng và tại Điều 9 có ghi “… nếu bên nào vi phạm, không thực hiện đúng sẽ bị phạt tiền đặt cọc…”. Trong thực tế, đến ngày 21/4/2005, Công ty Đô Thành mới chuyển hết máy móc thiết bị của mình ra khỏi nhà xưởng. Do không giao mặt bằng đúng thời hạn nên Công ty Phú Sỹ phải chịu phạt 124 triệu đồng tiền đặt cọc cho Công ty Nhân Mỹ như hợp đồng đôi bên đã thỏa thuận. Khi có tranh chấp, Công ty Phú Sỹ yêu cầu công ty Đô Thành phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại này.
Theo Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội: Trong việc Công ty Đô Thành chậm chuyển giao mặt bằng, nhà xưởng cho Công ty Phú Sỹ, trong thời hạn trên, Công ty Đô Thành đã có nhiều công văn xin gia hạn thời gian chuyển giao và Công ty Phú Sỹ cũng có nhiều văn bản chấp nhận. Tại Công văn số 15 ngày 12/4/2005, Công ty Phú Sỹ yêu cầu Công ty Đô Thành phải chuyển hết tài sản ra khỏi nhà máy chậm nhất đến ngày 19/4/2005. Mặt khác, Công ty Phú Sỹ yêu cầu Công ty Đô Thành phải trả tiền thuê mặt bằng, nhà xưởng cho Công ty Phú Sỹ đến ngày 21/4/2005. Như vậy, theo quy định tại Điều 305, Khoản 1 Bộ luật Dân sự thì “khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà bên có nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ…”. Mặt khác, theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của Công ty Đô Thành tại phiên tòa thì có việc chậm bàn giao mặt bằng theo công văn số 15 ngày 12/4/2005 của Công ty Phú Sỹ là 2 ngày. Tuy nhiên, theo hợp đồng ký ngày 25/1/2005 giữa Công ty Phú Sỹ và Công ty Nhân Mỹ thì lỗi bàn giao chậm mặt bằng này không có quan hệ nhân quả đối với thỏa thuận giữa Công ty Đô Thành và Công ty Phú Sỹ về bàn giao mặt bằng. Do vậy, không có căn cứ buộc Công ty Đô Thành phải trả cho Công ty Phú Sỹ khoản tiền 124 triệu đồng mà Công ty Phú Sỹ đã bị phạt tiền đặt cọc theo hợp đồng số 31 ngày 25/1/2005 giữa Công ty Phú Mỹ với Công ty Nhân Mỹ. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Có tác giả nhận xét phán quyết của Tòa án trên như sau: “Việc đánh giá như vậy không hoàn toàn thuyết phục. Với những thông tin có trong bản án thì có thể suy luận rằng, việc Công ty Phú Sỹ phải chịu phạt với Công ty Nhân Mỹ là do Công ty Đô Thành không tuân thủ đúng thời hạn ban đầu. Do đó, thiệt hại này là hệ quả trực tiếp của việc không tuân thủ đúng thời hạn ban đầu. Việc gia hạn không làm mất quyền yêu cầu bồi thường (…) nên Công ty Phú Sỹ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ở đây, có lẽ phải phân biệt hai hoàn cảnh: không tuân thủ thời hạn ban đầu và không tôn trọng thời hạn bổ sung. Không tôn trọng thời hạn bổ sung không có quan hệ nhân quả với thiệt hại 124 triệu đồng nhưng thiệt hại này là do không tuân thủ thời hạn ban đầu nên điều kiện về quan hệ nhân quả được thỏa mãn”.
- Nhận xét của tác giả:
Vụ án nêu trên liên quan đến vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại, thể hiện ở việc giải thích thiệt hại có tính trực tiếp hay không, hay nói cách khác là thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hợp đồng hay không. Về vấn đề này, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng thiệt hại 124 triệu đồng có mối quan hệ với hành vi vi phạm của Công ty Đô Thành, bởi vì quy định pháp luật mà Tòa án áp dụng (Điều 305 BLDS 2005) không làm mất đi quyền yêu cầu bồi thường tại thời điểm ban đầu mà lẽ ra Công ty Đô Thành phải giao mặt bằng cho Công ty Phú Sỹ. Chính vì sự chậm trễ của Công ty Đô Thành mà Công ty Phú Sỹ bị Công ty Nhân Mỹ phạt khoản tiền đặt cọc 124 triệu đồng. Do đó, Công ty Đô Thành phải bồi thường khoản tiền này là hợp lý.
Có thể thấy rằng, vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại là vấn đề phức tạp trên phương diện lý luận và cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhất là việc xác thực tính trực tiếp của thiệt hại trong trường hợp liên quan đến nhiều quan hệ hợp đồng thương mại, do chưa có quy định rõ ràng nên còn tồn tại các quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu khoa học pháp lý với thực tiễn áp dụng pháp luật.
2.1.2.2 Vấn đề giảm giá trị bồi thường thiệt hại
Thực tiễn tài phán về vấn đề giảm giá trị bồi thường thiệt hại cho thấy cùng một vấn đề pháp lý tương tự nhưng các tòa án có nhận định khác nhau nên đưa ra phán quyết cũng khác nhau. Xét hai vụ việc như sau:
Vụ việc thứ nhất: Bản án phúc thẩm số: 214/2007/KTPT ngày 05/11/2007 về “V/v tranh chấp hợp đồng thuê phương tiện” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Tóm tắt sự việc:
Ngày 10/4/2006, Công ty TNHH Dương Giang (nguyên đơn) và Công ty cổ phần phát triển công nghiệp (bị đơn) ký kết hợp đồng kinh tế về việc thuê đầu máy lai, dắt. Theo hợp đồng trên, bị đơn thuê của nguyên đơn hai phương tiện lai, dắt tàu thủy cùng với ê kíp vận hành mỗi phương tiện là 3 người để thực hiện công việc đẩy và kéo tàu thủy của bị đơn ra bốc dỡ hàng tại hai cảng 10-10 và Khe Dây thuộc vùng biển Cẩm Phả, Quảng Ninh. Bị đơn chịu chi phí dầu, nhớt cho hai phương tiện hoạt động và phải trả cho nguyên đơn tiền thuê phương tiện 50 triệu đồng/1 phương tiện/1 tháng. Hợp đồng có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2006. Ngày 17/8/2006, mặc dù chưa có thỏa thuận, thống nhất từ hai phía, bị đơn có văn bản thông báo cho nguyên đơn về việc thanh lý hợp đồng, theo đó từ ngày 20/8/2006, bị đơn không có nhu cầu thuê hai đầu máy của nguyên đơn nữa.
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội nhận định: “…nguyên đơn chỉ đòi bồi thường khoản lợi trực tiếp mà nguyên đơn đáng lẽ được hưởng, đó là khoản thu 100 triệu đồng/tháng/2 phương tiện trong khoản thời gian còn lại của hợp đồng từ 20/8 đến 31/12/2006 chưa trừ đi chi phí trả lương cho số người vận hành và các chi phí khác nguyên đơn phải bỏ ra.
Tuy nhiên, Điều 305 LTM cũng quy định rằng: bên bị vi phạm hợp đồng phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Nếu không áp dụng các biện pháp đó thì bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.
Đáng lẽ từ ngày 20/8/2006 nguyên đơn đưa phương tiện của mình đi tìm công việc khác thì có thể hạn chế thiệt hại đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng thì mới hợp lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên nguyên đơn không thực hiện việc đó mà cứ để phương tiện tại hiện trưởng đến hết ngày 31/12/2006 là sự lãng phí cố ý, không có hành vi hạn chế tổn thất.…
Xét thấy tòa sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn một khoản tiền tương ứng với giá trị 1 tháng thực hiện hợp đồng là tương ứng với khoảng thời gian hợp lý để nguyên đơn khắc phục các tổn thất tiếp theo về khoản lợi đáng lẽ được hưởng là 100.000.000 đồng/tháng chưa trừ lương nhân viên, phí quản lý, khấu hao và sửa chữa phương tiện là có căn cứ, hợp lý.
Vụ việc thứ hai: Bản án phúc thẩm số: 04/2008/KDTM-PT ngày 11/4/2008 về “V/v tranh chấp hợp đồng vận chuyển” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Tóm tắt sự việc:
Ngày 31/3/2004 Công ty TNHH thương mại, dịch vụ, vận tải Hiếu Hưng Thịnh (“Công ty Hiếu Hưng Thịnh”) và Công ty TNHH ExxonMobil Unique Việt Nam (“Công ty Mobil”) ký kết hợp đồng về việc vận chuyển nhựa đường. Hợp đồng có hiệu lực ba năm, kể từ ngày 01/01/2004 tới ngày 31/3/2007. Khối lượng vận chuyển dự kiến là 30.000 tấn/năm. Từ tháng 04/2006, do không nhận được hàng từ nước ngoài về nên Công ty Mobil không có hàng để cung cấp cho Công ty Hiếu Hưng Thịnh vận chuyển. Do vậy Công ty Hiếu Hưng Thịnh đã khởi kiện yêu cầu Công ty Mobil bồi thường số tiền lợi nhuận bình quân của 11 tháng còn lại của hợp đồng.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận định: “Khi ký hợp đồng vận chuyển với Công ty Mobil, Công ty Hiếu Hưng Thịnh đã đáp ứng đúng theo yêu cầu của Công ty Mobil về số lượng xe cũng như chủng loại xe. Đây là loại xe chuyên dùng dành để vận chuyển nhựa đường, nếu không vận chuyển nhựa đường thì không sử dụng vận chuyển gì khác. Vì vậy, khi ký hợp đồng, Công ty Hiếu Hưng Thịnh yêu cầu ký 03 năm, thời gian là cuối giờ làm việc của ngày 31/3/2007 đây là khoảng thời gian tối thiểu để thu hồi vốn đã đầu tư và thực tế Công ty Mobil đã chấp nhận yêu cầu này nên Công ty Hiếu Hưng Thịnh mới đầu tư số lượng xe tăng dần theo từng năm. Việc Công ty Mobil chấm dứt hợp đồng trước hạn 11 tháng thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty Hiếu Hưng Thịnh, thiệt hại thực tế ở đây là khoản lợi nhuận đúng ra Công ty Hiếu Hưng Thịnh được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện.
Có nhà nghiên cứu nhận xét: “Ở vụ việc thứ nhất, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân tối cao đã viện dẫn Điều 305 LTM để xác định Công ty TNHH Dương Giang phải có nghĩa vụ hạn chế tổn thất sau khi hợp đồng bị chấm dứt. Vì Công ty TNHH Dương Giang không thực hiện nghĩa vụ này nên Công ty TNHH Dương Giang chỉ được hưởng mức bồi thường bằng tiền thuê của một tháng, chưa trừ đi các chi phí hợp lý cho việc thực hiện hợp đồng. Mặc dù trong bản án không giải thích rõ, có vẻ như Tòa phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân tối cao cho rằng tiền thuê phương tiện cho thời gian hơn 3 tháng còn lại của hợp đồng là khoản thiệt hại lẽ ra đã có thể hạn chế được theo như quy định tại Điều 305 LTM. Bản án sẽ thuyết phục hơn nếu Tòa án giải thích vì sao khoản thiệt hại nêu trên được xem là phần thiệt hại lẽ ra có thể hạn chế được, cũng như thế nào là hành vi hợp lý để hạn chế thiệt hại trong hoàn cảnh của vụ việc. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Ở vụ việc thứ hai, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cho Công ty Hiếu Hưng Thịnh được hưởng bồi thường giá trị của 11 tháng còn lại của hợp đồng. Tòa án không viện dẫn Điều 305 LTM và hoàn toàn không nhắc tới nghĩa vụ hạn chế thiệt hại từ phía Công ty Hiếu Hưng Thịnh. Có lẽ Tòa án đã “ngầm” nhận định rằng lô xe mà Công ty Hiếu Hưng Thịnh sử dụng để tham gia vào việc thực hiện hợp đồng vận chuyển với Công ty Mobil là loại xe chuyên dùng dành để vận chuyển nhựa đường, nếu không vận chuyển nhựa đường thì không thể sử dụng để vận chuyển gì khác, do vậy không có biện pháp gì để hạn chế thiệt hại trong tình huống này.”
Theo tác giả, hai tòa án đã có nhận định khác nhau mặc dù các bản án trên đều liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại sau khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt trước thời hạn. Ở vụ việc thứ nhất, tác giả đồng tình với nhận xét của nhà nghiên cứu trên. Thời gian còn lại của hợp đồng là hơn 04 tháng (từ 20/8/2006 – 31/12/2006) nhưng Tòa án chỉ cho Công ty TNHH Dương Giang được bồi thường 01 tháng tiền cho thuê phương tiện tương ứng với thời gian mà Công ty TNHH Dương Giang chưa tìm được người thuê khác để hạn chế thiệt hại, hơn 03 tháng còn lại được Tòa án mặc định là Công ty TNHH Dương Giang cho thuê được phương tiện. Lẽ ra bản án cần được giải thích rõ ràng và thuyết phục hơn.
Ở vụ việc thứ hai, tác giả không đồng ý với nhận định của Tòa án “đây là loại xe chuyên dùng dành để vận chuyển nhựa đường, nếu không vận chuyển nhựa đường thì không sử dụng vận chuyển gì khác”. Mặc dù là loại xe chuyên dùng nhưng Công ty Hiếu Hưng Thịnh vẫn có thể tìm đối tác khác để vận chuyển nhằm hạn chế tổn thất do hành vi đơn phương hủy hợp đồng của Công ty Mobil, không nhất thiết chỉ có Công ty Mobil mới có thể thuê được loại xe này. Lẽ ra, Tòa án cần viện dẫn Điều 305 LTM 2005 để giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại đáng lẽ có thể hạn chế được nhưng Công ty Hiếu Hưng Thịnh đã không thực hiện.
Từ hai vụ việc trên, “có thể thấy một trong những nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau trong phán quyết của các cơ quan xét xử trong hai vụ việc trên, theo chúng tôi là do những quy định trong LTM về như thế nào là “biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất” và “mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được” còn khá chung chung, chưa rõ nghĩa. Trước quy định mang tính khái quát cao như trên của LTM, phán quyết trong các bản án, đặc biệt là những bản án của Tòa án cấp cao trong các vụ việc có liên quan sẽ là những chỉ dẫn cần thiết làm sáng tỏ vấn đề, góp phần thống nhất đường lối xét xử và cung cấp một cách hiểu của thực tiễn xét xử đối với những nội dung của luật thành văn.” Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm trên, trong khi pháp luật chưa có quy định rõ về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao cần thiết có hướng dẫn cụ thể hoặc có quán quyết về vấn đề tương tự để Tòa án các cấp tham khảo khi giải quyết vụ án. Điều này cũng phù hợp với chủ trương phát triển án lệ của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
2.1.3 Về giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá
Bản án phúc thẩm số: 04/2008/KDTM-PT ngày 11/03/2008 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Tóm tắt sự việc:
Theo trình bày của nguyên đơn, ngày 22/4/2005, Công ty cổ phần Công nghiệp Tự Cường (Công ty Tự Cường – bị đơn) ký hợp đồng số V011/405 để mua 200 tấn nhôm thỏi với giá 1.957 USD/tấn của Công ty Welcome Trading Co. Pte. Ltd (Công ty Welcome – nguyên đơn), tổng trị giá hợp đồng 391.400USD. Tuy nhiên, bị đơn không đặt tiền cọc cho nguyên đơn theo hợp đồng, nhưng nguyên đơn vẫn chuyển 200 tấn nhôm đến Kho ngoại quan Thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ chứng từ giao hàng. Ngày 12/5/2005, nguyên đơn gửi văn thư chỉ thị cho Công ty kho hàng thực hiện giao hàng tạm thời cho bị đơn. Cùng ngày 12/5, Công ty kho hàng gửi thông báo giao hàng qua máy Fax cho bị đơn. Cũng trong ngày 12/5, nguyên đơn gửi yêu cầu bị đơn thanh toán tiền và thông báo số điện chuyển tiền. Ngày 17/5/2005, nguyên đơn gửi văn thư cho bị đơn về việc không thanh toán lô hàng đang trong Kho ngoại quan Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu bị đơn thực hiện đúng hợp đồng. Do bị đơn không đến nhận hàng và từ chối thanh toán nên nguyên đơn phải ký hợp đồng bán lô hàng cho bên thứ 3 để hạn chế tổn thất, tuy nhiên giá bán lại bị thấp hơn giá bán cho bị đơn là 33.455,17 USD, chịu chi phí lưu kho là 1.358,42 USD. Tổng cộng: 34.813,59 USD. Ngày 23/5/2007, nguyên đơn làm đơn kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại là 34.813,59 USD = 561.891.342 VND (1 USD = 16.140 đồng).
Tại bản sơ thẩm án số 120/2007/KDTM-ST ngày 21/9/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường của Công ty Welcome với Công ty Tự Cường. Buộc Công ty Tự Cường bồi thường cho Công ty Welcome 34.813,59 USD = 561.891.324 đồng (01 USD = 16.140 đồng). Ngày 02/10/2007, Công ty Tự Cường có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với toàn bộ bản án sơ thẩm. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác để chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của Công ty Welcome đối với Công ty Tự Cường là có căn cứ pháp luật. Buộc Công ty Tự Cường bồi thường cho Công ty Welcome 34.813,59 USD = 561.891.324 đồng (1 USD = 16.140 đồng).
- Nhận xét của tác giả:
Theo vụ việc trên, việc Công ty Welcome bán hàng cho bên thứ ba để hạn chế tổn thất là vấn đề hợp lí nên Tòa án các cấp phán quyết cho nguyên đơn được bồi thường khoản chênh lệch giá là chính xác. Tuy nhiên, bán với giá chênh lệch bao nhiêu thì pháp luật nước ta cũng chưa quy định minh thị. Ở đây, Công ty Welcome bán đã bán thấp hơn so với giá trị hàng hóa là 33.455,17USD/391.867,72 USD. Liệu chăng, đây là tỷ lệ chênh lệch phù hợp. Trong trường hợp này, bên bán có thể hạ thấp hơn để mang lại lợi ích cho bên thứ ba. Vấn đề này, pháp luật thương mại nước ta còn chưa quy định chặt chẽ. Theo đó, xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá phụ thuộc nhiều vào Thẩm phán. Việc Thẩm phán được quyền giải thích luật hoặc áp dụng án lệ vào quá trình giải quyết trong trường hợp pháp luật còn chưa cụ thể là hết sức cần thiết. Ngoài ra, vấn đề chi phí trong vụ án trên Tòa án cũng chấp nhận cho nguyên đơn được bồi thường một loại chi phí cũng thuộc về thiệt hại của nguyên đơn, đó là chi phí lưu kho. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
- Nhận xét chung
Trong quá trình phân loại, thu thập, đánh giá sơ bộ các bản án của tòa án, phán quyết của trọng tài thương mại về giá trị bồi thường thiệt hại tác giả nhận thấy các tranh chấp đa số liên quan đến xác định giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng. Trong số bản án, phán quyết thu thập được không có các tranh chấp về giới hạn giá trị bồi thường do các bên của hợp đồng thỏa thuận ấn định và vấn đề miễn trách nhiệm trong bồi thường thiệt hại.
Đối với việc xác định giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp thì thực tiễn xét xử của tòa án còn thể hiện sự chưa nhất quán, nhất là trong việc xác định xem cái gì là thiệt hại và giá trị thực tế là bao nhiêu. Theo Quyết định giám đốc thẩm số 05/2004/HĐTP-DS ngày 25/3/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nếu trong hợp đồng có thỏa thuận việc bên mua ký quỹ cho bên bán thì không thể mặc nhiên xem số tiền ký quỹ đó là thiệt hại của bên bán, mà tòa án phải xác định thiệt hại thực tế là bao nhiêu. Thiệt hại này có thể là tiền lưu kho lưu bãi, lãi phải trả ngân hàng, thiệt hại do không được nhận hàng nên bên mua phải mua hàng với giá cao để thực hiện hợp đồng với các đơn vị khác¼ Trong bản án khác, thiệt hại là khoản tiền chênh lệch giá trị hàng hóa trong trường hợp bên bán giao hàng kém chất lượng hay thiệt hại được xác định là chi phí mà bên có quyền phải bỏ ra để hạn chế tổn thất, đó là tiền vận chuyển, tiền đóng gói hàng hóa, tiền thuê thiết bị thay thế nhằm hạn chế thiệt hại. Một loại chi phí cần được xem xét xem có thuộc phạm vi của thiệt hại được bồi thường hay không đó là chi phí luật sư – vấn đề gây nhiều tranh cãi trong nhiều năm gần đây. Và thực tiễn khi nghiên cứu các phán quyết về những tranh chấp thương mại điển hình, có thể thấy rằng những yêu cầu về bồi thường chi phí luật sư thường bị bác (một phần nguyên nhân là bên bị thiệt hại không đưa ra được các chứng cứ chứng minh).
Thực tiễn xét xử chưa thấy xuất hiện tranh chấp về vấn đề tổn thất phi vật chất trong hợp đồng kinh doanh – thương mại nhưng thực tiễn phán quyết quốc tế đã chấp nhận tổn thất về uy tín thương mại được bồi thường tương ứng với thiệt hại vật chất do uy tín giảm sút. Thực tiễn tài phán trên có thể được tham khảo cho việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh – thương mại. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Về xác định khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm cũng rất đa dạng và chưa thống nhất. Tòa án xác định giá trị khoản lợi đáng lẽ được hưởng của của bên cung cấp dịch vụ bằng giá trị của phần hợp đồng chưa thực hiện. Tuy nhiên, trong một quyết định khác vào năm 2013 Hội đồng thẩm phán nhấn mạnh rằng khoản lợi trực tiếp “là lợi nhuận đáng lẽ ra doanh nghiệp được hưởng nếu hợp đồng thực hiện đúng và được tính bằng giá trị phần hợp đồng được thực hiện sau khi đối trừ toàn bộ chi phí thực tế phục vụ cho việc thi công như giá trị tiêu hao nhiên liệu, khấu hao máy móc, điện nước, thuế, chi phí quản lý…”. Theo tác giả, khoản lợi đáng lẽ được hưởng chính là khoản giá trị mà chủ thể hợp đồng nhận được khi thực hiện hợp đồng (khoản lợi này không đồng nghĩa với khoản lời, lãi trong kinh doanh). Có thể thấy, việc xác định giá trị khoản lợi cũng là vấn đề phức tạp không chỉ dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật mà còn cả trong các quan điểm pháp lý; và hiện nay, pháp luật thương mại nước ta chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Ngoài thu nhập, lợi nhuận có được từ thực hiện hợp đồng, khoản lợi trên thực tế cũng có thể là lãi suất đối với khoản tiền đưa vào thực hiện hợp đồng.
Liên quan đến vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại, thể hiện ở việc giải thích thiệt hại có tính trực tiếp hay không, hay nói cách khác là thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hợp đồng hay không. Vấn đề giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại là vấn đề phức tạp trên phương diện lý luận và cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhất là việc xác thực tính trực tiếp của thiệt hại trong trường hợp liên quan đến nhiều quan hệ hợp đồng thương mại, do chưa có quy định rõ ràng nên còn tồn tại các quan điểm khác nhau giữa việc nghiên cứu khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Về vấn đề giảm giá trị bồi thường thiệt hại, hay trách nhiệm hạn chế thiệt hại, có sự khác nhau trong phán quyết của các cơ quan xét xử, các bản án chưa giải thích rõ như thế nào là “biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất” và “mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được” nên phán quyết đưa ra chưa có tính thuyết phục cao. Nguyên nhân là do quy định của pháp luật còn “khá chung chung, chưa rõ nghĩa” dẫn đến nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau của cơ quan tiến hành tố tụng.
Đối với giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá. Tòa án chấp nhận bên bị vi phạm có quyền bán hàng cho bên thứ ba để hạn chế tổn thất và được bồi thường khoản chênh lệch giá. Tuy nhiên, bán với giá chênh lệch bao nhiêu thì pháp luật nước ta cũng chưa quy định minh thị. Bên bán có thể hạ thấp hơn để mang lại lợi ích cho bên thứ ba. Theo đó, xác định giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá phụ thuộc nhiều vào Thẩm phán. Việc Thẩm phán được quyền giải thích luật hoặc áp dụng án lệ vào quá trình giải quyết trong trường hợp pháp luật còn chưa cụ thể là hết sức cần thiết.
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Sau khi phân tích các quy định hiện hành và thực tiễn xét xử, đối chiếu quy định hiện hành với thực tiễn xét xử, so sánh quy định hiện hành với một số hệ thống luật khác, đối chiếu quy định hiện hành với thực tiễn xét xử quốc tế về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại, tác giả tổng hợp và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, đảm bảo thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này.
2.2.1 Thống nhất một số quy định khác biệt giữa LTM và BLDS
LTM và BLDS có quy định khác nhau về yếu tố lỗi trong căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong khi BLDS coi lỗi của bên vi phạm là yếu tố bắt buộc để yêu cầu bồi thường thiệt hại (LTM 1997 cũng quy định tương tự) thì LTM 2005 không đề cập đến yếu tố này. “Đây là một sự tiến bộ trong pháp luật Việt Nam, biểu hiện của sự “hòa đồng” đối với pháp luật hiện đại trên thế giới”. Do đó, cần thiết sửa đổi BLDS theo hướng bỏ yếu tố lỗi trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi vì nếu coi LTM 2005 là tiến bộ, thực hiện đúng nguyên tắc chỉ đạo soạn thảo luật này tại Tờ trình của Chính phủ về dự án LTM sửa đổi là “bảo đảm sự phù hợp với các Điều ước quốc tế về thương mại mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập và pháp luật, tập quán thương mại quốc tế” thì BLDS cũng nên sửa đổi theo hướng “tiến bộ”. Tuy nhiên, LTM 2005 vẫn có một số quy định, dành cho các trường hợp cá biệt, mà ở đó lỗi vẫn đóng một vai trò nhất định trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: Điều 238 về giới hạn trách nhiệm trong hoạt động logictics, Điều 266 về bồi thường thiệt hại trong trường hợp giám định sai, hay Điều 273 về trách nhiệm đối với tổn thất trong thời hạn thuê. Quy định này cũng phù hợp với pháp luật quốc tế. “Cụ thể, theo Điều 74 CISG thì trong mua bán hàng hóa quốc tế nguyên tắc lỗi và trách nhiệm nghiêm ngặt được dung hòa dưới hình thức lỗi không còn được xem là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng bên vi phạm được miễn trách nhiệm trong những trường hợp xảy ra các sự kiện mà bên đó không lường trước được và không chế ngự được hoặc không tránh được. Như vậy, nguyên tắc lỗi không bị loại bỏ hoàn toàn, mà trách nhiệm nghiêm ngặt cũng không được áp dụng cho mọi trường hợp”. Theo đó, đã có sự mâu thuẫn giữa quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung với các quy định về bồi thường thiệt hại trong các chế định hợp đồng cụ thể. Để giải quyết vấn đề này, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 303 LTM 2005 như sau: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 và quy định tại các Điều 238, 266, 273 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây…”.
Vẫn là sự khác nhau giữa LTM và BLDS: LTM coi “khoản lợi đáng lẽ được hưởng” là một thiệt hại nhưng BLDS (BLDS 2005 và BLDS 2015) không quy định rõ vấn đề này. Đây là loại thiệt hại cần thiết được bồi thường. Do đó, chúng ta nên bổ sung quy định nói rõ cho phép bồi thường thiệt hại này trong BLDS. Khi chưa bổ sung được quy định này, chúng ta nên giải thích thuật ngữ “thu nhập” bị mất, giảm (được bồi thường trong BLDS) bao gồm cả “khoản lợi đáng lẽ được hưởng” nếu hợp đồng được thực hiện.
Về thiệt hại được bồi thường, BLDS có quy định về bồi thường tổn thất về tinh thần nhưng LTM chỉ nêu “thiệt hại thực tế”. Không có lý do để loại trừ khả năng bồi thường tổn thất về tinh thần mà khái quát hơn trong lĩnh vực kinh doanh thương mại là tổn thất phi vật chất bao gồm cả sự suy giảm uy tín, thương hiệu kinh doanh. Đối chiếu cho thấy thực tiễn xét xử áp dụng pháp luật dân sự và pháp luật thương mại quốc tế đã chấp nhận giá trị bồi thường này. Do đó, cần quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại phi vật chất trong pháp luật thương mại. Tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 302 LTM 2005 như sau: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại phi vật chất bao gồm tổn thất về tinh thần, uy tín, thương hiệu và thiệt hại phi vật chất khác.”
2.2.2 Xác định giá trị bồi thường thiệt hại Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, có thể xảy ra nhiều loại thiệt hại trên thực tế nên có nhiều loại giá trị bồi thường thiệt hại cần được bồi thường. Thực tiễn xét xử cho thấy đây cũng là vấn đề tranh chấp quyết liệt nhất do LTM 2005 chưa có quy định rõ các loại thiệt hại được bồi thường. Tuy nhiên, BLDS quy định một cách minh thị các loại thiệt hại làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng. Khoản 2 Điều 307 BLDS 2005 quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút” (BLDS 2015 cũng quy định tương tự tại Điều 361). Pháp lệnh HĐKT 1989 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định tương đối chi tiết các khoản thiệt hại trực tiếp được bồi thường góp phần tạo sự thuận lợi cho bên yêu cầu bồi thường thiệt hại xác định một cách chính xác các thiệt hại được bồi thường theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất khi cơ quan tiến hành tố tụng xác định thiệt hại được bồi thường. Các văn bản quy phạm pháp luật này tuy đã hết hiệu lực thi hành nhưng xét về mặt lý luận thì vẫn còn giá trị tham khảo và định hướng trong quá trình ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành LTM 2005, cũng như quá trình sửa đổi, bổ sung LTM 2005 nhằm mục đích xây dựng căn cứ xác định các thiệt hại thực tế, trực tiếp được bồi thường một cách cụ thể, hoàn thiện. Tiếp thu các quy định mang tính hợp lý và minh bạch của BLDS 2005, BLDS 2015 và Pháp lệnh HĐKT 1989 tác giả kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 302 LTM 2005 như sau: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu quả trực tiếp của sự vi phạm này gây ra, và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.” Tuy nhiên, đây là vấn đề khó khăn bởi vì thiệt hại thường rất đa dạng, không thể liệt kê hết trong các văn bản quy phạm pháp luật và nếu có liệt kê thì vẫn không thể đầy đủ. Trong thời gian tới, nếu có điều kiện sửa đổi pháp luật thương mại, nên có quy định về vấn đề này theo các định hướng như: (i) có những quy định cụ thể làm “công thức” để xác định giá trị bồi thường thiệt hại; (ii) đưa ra những quy tắc, chuẩn mực chung để các bên thỏa thuận xác định giá trị bồi thường thiệt hại, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên… Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
2.2.3 Vấn đề miễn, giảm giá trị bồi thường thiệt hại
Việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng, nhưng cũng cần nghiêm khắc đối với các hành vi cố ý vi phạm. Để đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền lợi của những bên “yếu hơn” và trật tự thương mại nói chung, cần phải hoàn thiện quy định thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng về miễn trừ trách nhiệm. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung vào hay điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 như sau: “Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận trừ trường hợp vi phạm do cố ý hoặc các thỏa thuận dẫn đến sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng ”.
Về vấn đề giảm giá trị bồi thường thiệt hại, quy định pháp luật thương mại ở Việt Nam và trên thế giới nhìn chung đều đặt ra yêu cầu trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm. Thực hiện trách nhiệm này cho thấy chúng ta tôn trọng và yêu cầu các bên phải thiện chí, trung thực trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, liên quan đến xác định giảm giá trị bồi thường thiệt hại, nổi lên vấn đề trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm trong trường hợp bên vi phạm cố ý vi phạm. Điều này đòi hỏi phải có quy định pháp lý liên quan để ràng buộc bên vi phạm với lỗi cố ý vẫn phải bồi thường thiệt hại toàn bộ. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung Điều 305 LTM 2005 như sau: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được, trừ trường hợp vi phạm hợp đồng do lỗi cố ý”.
2.2.4 Về giá trị bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự chênh lệch giá
LTM 2005 mới chỉ cho phép bên bị vi phạm, là người mua, có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác, còn bên bị vi phạm là người bán thì không quy định được bán hàng hay cung ứng dịch vụ cho bên thứ ba và được bồi thường phần chênh lệch nếu giá bán thấp hơn giá thỏa thuận trong hợp đồng. Điều này chưa hợp lý vì khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra gây thiệt hại thì điều cần thiết đầu tiên là phải hạn chế được tổn thất và một trong các biện pháp hữu hiệu là bán hay cung ứng dịch vụ cho bên thứ ba. Trong thực tiễn xét xử Tòa án đã chấp nhận bên bị vi phạm là người bán được quyền bán hàng hóa cho bên thứ ba và được bồi thường phần chênh lệch do giá bán thấp hơn giá thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, cần bổ sung quy định trong LTM nội dung: “bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác hay bán hàng, cung ứng dịch vụ cho người khác và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch”. Ngoài ra, khoản 3 Điều 297 LTM 2005 quy định: “bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng” là có phần cứng nhắc, nên sửa đổi thành “bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế hợp lý hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng”. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
2.2.5 Tăng cường chức năng hướng dẫn xét xử của Toà án nhân dân tối cao
Về xác định giá trị bồi thường thiệt hại hiện nay pháp luật chưa có quy định rõ ràng, do đó trong thực tiễn xét xử vấn đề này phụ thuộc nhiều vào nhận định của tòa án. Định hướng của Tòa án nhân dân tối cao là rất quan trọng trong việc thống nhất pháp luật thông qua việc ra các nghị quyết vẫn thường làm, Tòa án nhân dân tối cao cần phát triển án lệ. Thông qua án lệ, Tòa án cấp dưới có hướng giải quyết chung cho những vấn đề cụ thể nên sự thống nhất pháp luật sẽ được bảo đảm.
Đối với xác định thiệt hại về vật chất, theo Quyết định giám đốc thẩm số 05/2004/HĐTP-DS: “thiệt hại ở hai hợp đồng này có thể là tiền lưu kho lưu bãi, lãi phải trả ngân hàng, thiệt hại do không được nhận hàng nên bên mua phải mua hàng với giá cao để thực hiện hợp đồng với các đơn vị khác, hay nguyên đơn bị phạt do không có hàng giao cho các đơn vị khác¼” cũng là hướng dẫn hữu ích cho các tòa án khi xác định thiệt hại trong một vụ án cụ thể. Tương tự, các phán quyết của Tòa án về chi phí: tiền vận chuyển, tiền đóng gói hàng hóa, chi phí lưu kho, hay phán quyết về khoản lợi đáng lẽ được hưởng là lãi suất đối với khoản tiền đưa vào thực hiện hợp đồng… cũng là hướng dẫn cho các tòa án khi giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Đối với xác định giá trị bồi thường thiệt hại về tinh thần, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP mặc dù hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực dân sự nhưng cũng có giá trị tham khảo cho tòa án khi xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, hay thực tiễn phán quyết quốc tế đã chấp nhận tổn thất về uy tín thương mại được bồi thường tương ứng với thiệt hại vật chất do uy tín giảm sút. Ngoài ra, cần tham khảo vận dụng các quy định pháp luật quốc tế, ví dụ Bộ nguyên tắc Unidroit. Theo đó, việc xác định loại giá trị này đòi hỏi thiệt hại đó phải có tính xác thực. Việc bồi thường thiệt hại thuộc về tổn thất tinh thần có thể được xác định dưới những hình thức khác nhau và việc quyết định về các hình thức này, áp dụng riêng lẻ hay kết hợp, sao cho phù hợp nhất với việc bồi thường toàn bộ thiệt hại thuộc về tòa án. Tòa án không những có thể quyết định về bồi thường thiệt hại mà còn quyết định các hình thức sửa chữa khác, như buộc công khai trên báo chí.
Đối với vấn đề trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm, “các toà án cần có sự giải thích và phân tích rõ hơn khi vận dụng các quy định về nghĩa vụ hạn chế thiệt hại để giải quyết tranh chấp, cũng như cần tham khảo những giải pháp của thông luật và pháp luật quốc tế để bổ sung cho những điểm hiện còn chưa rõ ràng về vấn đề hạn chế thiệt hại trong BLDS và LTM.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại trong pháp luật thương mại Việt Nam là vấn đề hẹp, mang tính chuyên sâu. Quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này nằm tản mạn trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và chưa có sự thống nhất, còn nhiều bất cập. Trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi xác định giá trị bồi thường thiệt hại và các vấn đề liên quan về xác định trách nhiệm, phạm vi bồi thường thiệt hại. Do đó, nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật, đưa ra giải pháp cho quá trình xét xử về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại là yêu cầu cấp thiết.
Trong đề tài, tác giả đã phân tích, chứng minh những bất cập, thiếu sót và những quy định chưa hợp lý liên quan đến giá trị bồi thường thiệt hại thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích, so sánh các quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan vấn đề này, đối chiếu với thực tiễn xét xử ở Việt Nam và nước ngoài. Trên cơ sở đó tác giả đạt được một số kết quả như sau:
Phân tích, làm rõ bản chất pháp lý của giá trị bồi thường thiệt hại cũng như vai trò, yếu tố tác động và yêu cầu của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại. Theo đó, “Giá trị bồi thường thiệt hại” là thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện trong Luật Thương mại (2005). Việc sử dụng thuật ngữ “giá trị bồi thường thiệt hại” cho thấy sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp ở nước ta, lột tả bản chất pháp lý của giá trị bồi thường thiệt hại chính là giá trị của những tổn thất thực tế, trực tiếp bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu do hành vi không thực hiện đúng hợp đồng và giá trị của những khoản lợi đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện theo các nội dung đã thỏa thuận. Xác định đúng giá trị bồi thường thiệt hại có vai trò quan trọng đối với thực hiện chế tài bồi thường thiệt hại, bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, đảm bảo chế tài phạt vi phạm có tác dụng thiết thực và đảm bảo bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm là hai chế tài này độc lập, không lẫn lộn nhau. Kết quả của việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại chịu sự tác động, chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như: yếu tố pháp lý, yếu tố thị trường, yếu tố biến đổi của thiệt hại, yếu tố con người. Xác định giá trị bồi thường thiệt hại phải đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, hướng tới bảo vệ nguyên tắc trong hoạt động thương mại và đảm bảo tính “chính xác và kịp thời”.
Hiện nay, pháp luật thương mại về giá trị bồi thường thiệt hại ở nước ta còn có nhiều điểm hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, hoàn thiện. Pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay chưa có quy định rõ về các loại giá trị tổn thất về vật chất gồm những loại cụ thể nào, chưa chỉ ra một cách khái quát chi phí được bồi thường. Theo đó, kết quả xét xử phụ thuộc nhiều vào khả năng của Thẩm phán và các cơ quan tài phán. Vấn đề bồi thường thiệt hại phi vật chất, khoản lợi đáng lẽ được hưởng chưa được quy định thống nhất trong BLDS và LTM. Các quy định về thỏa thuận giá trị bồi thường thiệt hại, giá trị bồi thường thiệt hại ấn định trong hợp đồng và miễn, giảm trong bồi thường thiệt hại còn nhiều lỗ hổng pháp luật, có thể xảy ra tình trạng một bên không trung thực, thiện chí lợi dụng; quy định về giới hạn giá trị bồi thường thiệt hại còn chưa cụ thể, chưa nội luật hóa các quan điểm pháp luật tiên tiến trên thế giới để giải quyết vấn đề này; tiêu chí xác định bồi thường giá trị chênh lệch còn thiếu cơ sở.
Trên cơ sở kết quả phân tích, so sánh các quy định của pháp luật (pháp luật hiện hành, pháp luật đã hết hiệu lực, pháp luật quốc tế) và đối chiếu với thực tiễn xét xử (ở Việt Nam và ở nước ngoài) về vấn đề giá trị bồi thường thiệt hại, tác giả tổng hợp và đề xuất một số kiến nghị: sửa đổi, bổ sung một số điều của LTM 2005: điểm a khoản 1 Điều 294, khoản 1 và khoản 2 Điều 302, Điều 303 và Điều 305. Trong thực tiễn xét xử, tác giả ủng hộ Đề án Phát triển án lệ dựa trên kinh nghiệm của thông luật và pháp luật quốc tế. Đối với xác định thiệt hại về vật chất, trong khi chưa có điều kiện để sửa đổi bổ sung LTM, tác giả đề xuất áp dụng hướng dẫn theo Quyết định giám đốc thẩm số 05/2004/HĐTP-DS, đối với xác định giá trị bồi thường thiệt hại về tinh thần áp dụng theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP. Luận văn: Thực tiễn Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình về phương pháp nghiên cứu và nội dung khoa học của cô giáo hướng dẫn Tiến sĩ Hà Thị Thanh Bình để có được kết quả nghiên cứu Luận văn. Đồng thời, tác giả cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của giáo viên trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh và các đồng nghiệp. Tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà giáo, nhà khoa học và những người quan tâm để hoàn thiện Luận văn này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giá trị bồi thường thiệt hại theo pháp luật thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
