Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế và một số giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế

3.1.1. Những kết quả đạt được

Sự ra đời của luật SHTT năm 2005 đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật bảo hộ tài sản trí tuệ, qua đó khiến cho cơ chế bảo hộ đối với sáng chế được tăng cường, những nội dung cơ bản nhất của quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đã được thể hiện đầy đủ. Trong đó, điều kiện bảo hộ sáng chế được coi là một vần đề trọng tâm đã chứng tỏ tầm quan trọng của việc đánh giá giải pháp kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bảo hộ hay không.

Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014 được đánh giá là đầy thử thách đối với kinh tế của Việt Nam , do đó có những ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động SHTT nói chung. Chính phủ đã nỗ lực và áp dụng thành công chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và đã đạt được nh iều thành quả đáng kể, qua đó trực tiếp thúc đẩy các hoạt động SHTT phát triển. Trong giai đoạn này, công tác tiếp nhận và xử lý đơn sở hữu công nghiệp nói chung, bảo hộ sáng chế nói riêng được duy trì khá ổn định và phát triển khá. Cụ thể: Năm 2011, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận tổng số 65.356 các loại đơn, trong đó bao gồm 38.789 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, trong đó bao gồm 3.688 đơn sáng chế. Trên cơ sở số lượng đơn các loại tiếp nhận, Cục Sở hữu trí tuệ đã xử lý 60.984 đơn các loại, trong đó có 37.287 đơn đăng ký xác lập quyền, trong đó, đã chấp nhận bảo hộ/cấp văn bằng bảo hộ 27.090 đối tượng SHCN, trong đó bao gồm 985 Bằng độc quyền sáng chế. Năm 2012, đã tiếp nhận 34.587 đơn các loại, trong đó có 19.562 đơn đăng ký xác lập quyền SHCN, trong đó bao gồm 1.886 đơn sáng chế, đã xử lý 30.034 đơn các loại, trong đó có 17.246 đơn đăng ký xác lập quyền, đã chấp nhận bảo hộ, cấp văn bằng bảo hộ 12.346 đối tượng SHCN, trong đó bao gồm 483 bằng độc quyền sáng chế.

So với năm 2013, trong năm 2014, tổng số đơn đã tiếp nhận tăng 8,8%, trong đó đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tăng 7,8%. Việc xử lý đơn cũng có sự gia tăng đáng kể, cụ thể việc xử lý đơn đăng ký xác lập quyền SHCN tăng 7,2%. Điều này có nghĩa là Cục SHTT đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các cá nhân và tổ chức trong xác lập quyền SHCN. Năm 2014, Cục SHTT đã tiếp nhận 83.436 đơn các loại, tăng 8,8% so với năm 2013. Trong đó, số lượng đơn đăng ký SHCN có sự gia tăng đáng kể, tăng 7,8%, tương ứng với 46.347 đơn, trong đó, bao gồm 4.447 đơn sáng chế. Cục SHTT đã xử lý được 74.817 đơn các loại , tăng 17%, mức tăng đáng kể so với năm 2013. Trong đó có 38.745 đơn đăng ký xác lập quyền (tăng 7,2% so với năm 2013) và 36.072 đơn các loại khác. Cụ thể như sau: Cục SHTT chấp nhận bảo hộ cho 29.079 đối tượng SHCN, tăng khá so với năm 2013 với 4,7%. Số văn bằng bảo hộ cho các đối tượng SHCN cấp ra thực tế là 27.876, tăng 7,1% so với năm 2013. Cụ thể về số văn bằng bảo hộ được cấp ra trong năm 2014 như sau: số sáng chế được cấp bằng độc quyền là 1.368, giải pháp hữu ích – 86, kiểu dáng công nghiệp – 1.634, nhãn hiệu đăng ký quốc gia – 20.579, chỉ dẫn địa lý – 6, thiết kế bố trí mạch tích hợp – 3, và nhãn hiệu đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam – 4.200. Số lượng đối tượng SHCN bị từ chối bảo hộ là 9.696, trong đó có 1.825 nhãn hiệu đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam. Công tác thẩm định hình thức đơn đăng ký quốc tế nguồn gốc Việt Nam được thực hiện với 5 đơn sáng chế và 80 đơn nhãn hiệu [40]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Như vậy, trong vòng hơn hơn 30 năm qua, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiến hành tiếp nhận một số lượng đơn sáng chế, đã xét nghiệm và cấp bằng bảo hộ độc quyền sáng chế cho rất nhiều giải pháp kỹ thuật trong nước và nước ngoài và có xu hướng tăng cả về số lượng đơn đăng ký sáng chế, cả về số lượng đơn sáng chế được xử lý và số bằng độc quyền sáng chế. Điều này phần nào đã cho thấy rằng, các quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế ở nước ta bước đầu đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong việc thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cho đến thời điểm hiện nay, quy chế xét nghiệm sáng chế được ban hành theo Quyết định 380/XNSC ngày 10/10/1992 của Cục sáng chế trở nên không còn phù hợp, đã và đang đặt ra tương đối nhiều thách thức trong việc thực thi các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Trên thực tiễn cấp bằng sáng chế do Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành được thực hiện qua một quy trình khá chặt chẽ ngay từ đầu, được thể hiện rõ nét qua thủ tục thẩm định đơn đăng ký sáng chế bao gồm quá trình thẩm định hình thức và thẩm định nội dung. Điều này sẽ đảm bảo giá trị cho sáng chế được cấp bằng độc quyền sáng chế, cũng như tránh đươc sự nhầm lẫn đối với những sáng chế được cấp bằng độc quyền bảo hộ trước đó. Theo đó, quy trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế được thực hiện qua 02 thủ tục cụ thể sau:

Thứ nhất, thủ tục thẩm định hình thức, trong đó mục đích của thẩm định hình thức đơn là kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không. Nhiệm vụ của thẩm định hình thức bao gồm các nhiệm vụ cụ thể như: (i) Kiểm tra xem các tài liệu có trong đơn có thỏa mãn các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hay không. (ii) Kiểm tra xem các tài liệu có trong đơn có được nộp trong thời hạn quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hay không. (iii) Kiểm tra xem liệu người nộp đơn có nộp các loại phí và lệ phí, và số tiền phí và lệ phí có phù hợp với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hay không. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Phạm vi thẩm định hình thức bao gồm các công việc sau: (i) Kiểm tra hình thức các tài liệu có trong đơn; (ii) Kiểm tra sơ bộ nội dung các tài liệu có trong đơn. (iii) Đưa ra kết luận về tính hợp lệ của đơn; trong trường hợp đơn hợp lệ thì xác định ngày nộp đơn hợp lệ, ngày ưu tiên (nếu có). Công việc thẩm định hình thức đơn được tiến hành và ghi nhận trong hệ thống IPAS.

Thứ hai, thẩm định nội dung. Trong đó, mục đích, phạm vi thẩm định nội dung nhằm mục đích đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ, xác định phạm vi (khối lượng) bảo hộ.

Đơn được thẩm định theo các nội dung: (i) Đánh giá sự phù hợp của đối tượng nêu trong đơn với loại văn bằng bảo hộ yêu cầu được cấp; (ii) Đánh giá đối tượng theo từng điều kiện bảo hộ; (iii) Kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Việc đánh giá theo các điều kiện bảo hộ được tiến hành lần lượt theo từng đối tượng (nếu đơn bao gồm nhiều đối tượng mà vẫn bảo đảm tính thống nhất). Đối với mỗi đối tượng, việc đánh giá được tiến hành lần lượt theo từng điều kiện bảo hộ: (i) Đối với đơn đăng ký sáng chế, việc đánh giá được tiến hành lần lượt theo từng điểm nêu trong phạm vi (yêu cầu) bảo hộ; (ii) Đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, việc đánh giá được tiến hành lần lượt với kiểu dáng của từng sản phẩm (nếu đơn đề cập đến bộ sản phẩm); trong trường hợp đề cập đến nhiều phương án thì đánh giá lần lượt từng phương án, bắt đầu từ phương án cơ bản (phương án đầu tiên nêu trong đơn); (iii) Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu, việc đánh giá được tiến hành lần lượt từng thành phần của nhãn hiệu đối với từng hàng hoá, dịch vụ nêu trong danh mục hàng hoá, dịch vụ. Việc thẩm định nội dung đối với từng đối tượng nêu tại các nội dung trên đây được hoàn tất khi đã đánh giá đối tượng đó với tất cả các điều kiện bảo hộ và có đủ căn cứ để kết luận đối tượng đó không đáp ứng hoặc đáp ứng điều kiện bảo hộ, cụ thể là: (i) Tìm thấy lý do để kết luận đối tượng không đáp ứng một/một số/tất cả các điều kiện bảo hộ; hoặc (ii) Không tìm thấy bất kỳ lý do nào để kết luận đối tượng không đáp ứng ít nhất một điều kiện bảo hộ.

  • Trình tự thẩm định nội dung bao gồm:

Đánh giá sự phù hợp của đối tượng nêu trong đơn với loại văn bằng bảo hộ sáng chế: (i) Xác định đối tượng nêu trong đơn có phải là giải pháp kỹ thuật hay không bằng cách xem xét tập hợp các dấu hiệu kỹ thuật của đối tượng yêu cầu bảo hộ nêu trong từng điểm yêu cầu bảo hộ có đưa ra được cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật để giải quyết nhiệm vụ xác định nhằm đạt được mục đích mà sáng chế đặt ra hay không. (ii) Xác định đối tượng nêu trong đơn thuộc dạng sản phẩm hay quy trình theo các dấu hiệu kỹ thuật nêu trong từng điểm yêu cầu bảo hộ theo quy định. (iii) Xác định đối tượng nêu trong đơn có trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, tức là thuộc đối tượng không được Nhà nước bảo hộ theo quy định hoặc có thuộc đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng.

Đánh giá đối tượng yêu cầu bảo hộ theo từng điều kiện bảo hộ. Để đánh giá đối tượng yêu cầu bảo hộ theo từng điều kiện bảo hộ, thẩm định viên cần tiến hành các bước sau: Phân tích giải pháp kỹ thuật; Yêu cầu người nộp đơn giải thích nội dung các tài liệu của đơn, sửa chữa các thiếu sót về hình thức (trong trường hợp người nộp đơn chưa được yêu cầu khắc phục các thiếu sót đó trong giai đoạn thẩm định hình thức), làm rõ bản chất hoặc nộp các tài liệu bổ trợ để chứng minh giải pháp nêu trong đơn… Khẳng định lại phân loại giải pháp kỹ thuật theo Bảng phân loại quốc tế về sáng chế lần mới nhất; Tra cứu tình trạng kỹ thuật; Thẩm định quyền ưu tiên (nếu cần) theo quy định tại Điều 19 Quy chế; Kiểm tra tính thống nhất của đơn;

Đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện bảo hộ (khả năng áp dụng công nghiệp, tính mới, trình độ sáng tạo) của từng đối tượng yêu cầu bảo hộ (nếu đơn gồm nhiều đối tượng đảm bảo tính thống nhất) lần lượt theo từng điểm nêu trong phạm vi (yêu cầu) bảo hộ.

3.1.2. Những tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được như gia tăng số lượng bằng độc quyền sáng chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính chủ sở hữu sáng chế. Việc xác định giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình đăng ký cấp bằng độc quyền sáng chế từ phía người dân, doanh nghiệp và công tác tiếp nhận, xử lý đơn, thẩm định đơn sáng chế, cấp bằng độc quyền sáng chế từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định. Điều này phần nào thể hiện ở số lượng đơn đăng ký sáng chế bị từ chối chiếm tỷ lệ không nhỏ trong số lượng đơn đăng ký sáng chế được tiếp nhận, xử lý (thẩm định). Điều này nguyên nhân là do các quy định về điều kiện hộ sáng chế còn tồn tại một số hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, về khái niệm “sáng chế” và “giải pháp hữu ích” chưa có sự phân biệt rõ ràng. Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ nêu khái niệm sáng chế mà không đề cập tới giải pháp hữu ích. Hơn nữa, chỉ có sáng chế được quy định là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp (Điều 3 luật SHTT) trong khi đó tại Điều 58 quy định về điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ có nêu sáng chế có thể được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu như chỉ có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp (không có trình độ sáng tạo). Việc quy định như vậy trên thực tiễn có thể không gây ảnh hưởng gì nhưng thiếu khoa học. Những thiếu sót trong quy định của pháp luật đã và đang gây những khó khăn cho cả những chủ thể sáng tạo lẫn cơ quan xác lập quyền trong quá trình yêu cầu bảo hộ.

Thứ hai, theo quy định tại điều 4 Luật SHTT, sáng chế phải là giải pháp kỹ thuật, nghĩa là việc ứng dụng các quy luật tự nhiên để giải quyết một vấn đề kỹ thuật cụ thể. Tuy nhiên, trên thế giới, một số quốc gia vẫn còn bảo hộ các chất hóa học được tìm ra hoặc mới được tổng hợp. Bản thân các chất hóa học này (cũng như các chuỗi gen mới tìm ra hoặc chủng vi sinh mới được phân lập) không phải là giải pháp kỹ thuật mà chỉ có việc sử dụng chúng để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể (làm thuốc chữa bệnh, làm phẩm màu…) mới là giải pháp kỹ thuật. Thế nhưng điều này không ngăn cản các chất trên được bảo hộ dưới dạng công thức hóa học mà không kèm theo một chức năng cụ thể nào, nghĩa là không phải dưới dạng giải pháp kỹ thuật. Như vậy, việc pháp luật quy định sáng chế là giải pháp kỹ thuật vô hình chung đã hạn chế đối tượng được bảo hộ.

Thứ ba, pháp luật sở hữu trí tuệ quy định tính mới của sáng chế được xét trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, do những hạn chế về khả năng tra cứu thông tin sáng chế (tra cứu không chi tiết, không tiếp cận được những kho dữ liệu của một số quốc gia…) nên có thể xảy ra tình trạng một sáng chế đã được cấp bằng bảo hộ nhưng sau đó lại phải thu hồi vì lý do không còn tính mới. Như vậy, cung cấp kinh phí để cục sở hữu trí tuệ có thể tiếp cận với các kho thông tin tra cứu trên thế giới là một vấn đề cần được quan tâm hơn nữa. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Thứ tư, thông tư 01/2007/TT-BKHCN được ban hành ngày 14/02/2007 được xem là văn bản có tính chất quan trọng trong việc xác định quy trình xác lập quyền SHCN đối với sáng chế. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế mâu thuẫn với luật SHTT. Trước tiên, xuyên suốt các quy định của thông tư tại một số điều còn bộc lộ những quan điểm khác nhau đòi hỏi phải có cách hiểu và áp dụng thông nhất. Cụ thể:

Một là, tại Điều 23.3b quy định về tính thống nhất của đơn đăng ký sáng chế đã liệt kê các trường hợp có thể coi là có tính thống nhất: a, Yêu cầu bảo hộ một đối tượng duy nhất; hoặc (b) Yêu cầu bảo hộ một nhóm đối tượng có mối liên hệ kỹ thuật, thể hiện ý đồ sáng tạo chung duy nhất, thuộc các trường hợp sau đây:

  • Một đối tượng dùng để tạo ra (sản xuất, chế tạo, điều chế) đối tượng kia;
  • Một đối tượng dùng để thực hiện đối tượng kia;
  • Một đối tượng dùng để sử dụng đối tượng kia;
  • Các đối tượng thuộc cùng một dạng, có cùng chức năng để đảm bảo thu được cùng một kết quả [6, Điều 23.3b]

Cách làm này không đầy đủ và sẽ gây tranh cãi khi lặp các trường hợp nằm ngoài các ví dụ trên.

Hai là, tại điều 23.6 quy định về phần mô tả sáng chế, đơn sáng chế phải thể hiện vắn tắt đối tượng (các đối tượng) được đăng ký. Trong các yêu cầu không có quy định tương tự, mà chỉ có quy định tên sáng chế phải được “tuyên bố một cách rõ ràng và ngắn gọn chỉ định kỹ thuật của sáng chế, “chứ không phải là “thể hiện vắn tắt đối tượng”. Cách quy định như vậy sẽ gây khó khăn cho người nộp đơn khi mà trong đơn có nhiều sáng chế (nhiều đối tượng hay nhiều yêu cầu bảo hộ độc lập cho các đối tượng khác nhau), đặc biệt là sáng chế trong lĩnh vực vi sinh. Vì vậy, yêu cầu về tên sáng chế khó đáp ứng “ vắn tắt” được.

Ba là, Tại điểm b (ii), Khoản 25.3 đề cập tới phương pháp chuẩn đoán như một quy trình được bảo hộ. Tuy nhiên tại khoản 7 điều 59 luật SHTT không ghi những đối tượng này là sáng chế. Như vậy, đã tồn tại sự mâu thuẫn về cách hiểu “phương pháp chuẩn đoán” giữa luật SHTT và thông tư 01/2007/TT-BKHCN. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Bốn là, Điểm b (i) (ii), Khoản 25.5 quy định về đánh giá tính mới: (i) Hai giải pháp kỹ thuật được coi là trùng nhau khi có tất cả các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản trùng nhau hoặc tương đương (thay thế được cho nhau); (ii) hai giải pháp kỹ thuật được coi là tương tự nhau khi có phần lớn các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản trùng nhau hoặc tương đương (thay thế được cho nhau); Thuật ngữ “tương đương” (thay thế được cho nhau) này có thể hiểu là “sáng chế tương đương” (equivalent invention) như được xác định cho việc đánh giá về vi phạm sáng chế hay không?

Năm là, Điểm d (ii) khoản 25.5 quy định về đánh giá tính mới các dấu hiệu cơ bản của giải pháp được thẩm định được so sánh với các dấu hiệu của giải pháp đối chứng, trong đó “các dấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn, trong các văn bằng bảo hộ được thể hiện tại phạm vi (yêu cầu) bảo hộ sáng chế”. Đây là thiếu sót của Thông tư khi không quy định cụ thể văn bằng bảo hộ được nêu là loại văn bằng nào vì nếu đó là văn bằng được đưa ra làm đối chứng thì việc so sánh không thể chỉ tiến hành với các dấu hiệu được bộc lộ trong “phạm vi (yêu cầu) bảo hộ” của các tài liệu này mà là với tất cả những gì được bộc lộ trong toàn văn của các văn bằng đó.

Sáu là, Điểm d (i), Khoản 24.4 nêu: “Dấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuật có thể là đặc điểm về chức năng, công dụng, cấu tạo, liên kết, thành phần… cùng với các dấu hiệu cơ bản khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để xác định bản chất (nội dung) của đối tượng”. Khái niệm “tập hợp cần và đủ” được hiểu như thế nào cho đúng trong quá trình áp dụng pháp luật.

Bảy là, tại điểm a(ii) khoản 25.4 quy định về đánh giá khả năng áp dụng công nghiệp theo quy định tại Điều 62 Luật SHTT:

Các thông tin về bản chất của giải pháp cùng với các chỉ dẫn về điều kiện kỹ thuật cần thiết được trình bày một cách rõ ràng, đầy đủ đến mức cho phép người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể tạo ra, sản xuất ra hoặc có thể sử dụng, khai thác hoặc thực hiện được giải pháp đó [32, Điều 62]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

  • Khái niệm khai thác ở đây chưa được giải thích một cách cụ thể.

Thứ năm, nhiều quy định về bảo hộ sáng chế chưa tương thích với các Công ước quốc tế.

Xem xét các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta, chúng ta thấy rằng, còn rất nhiều quy định chưa tương thích với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên trong đó, có quy định bảo hộ các sáng chế về công nghệ sinh học.

Công nghệ sinh học được thừa nhận là một ngành công nghệ hứa hẹn nhất trong tương lai. Ngành công nghệ này tạo ra những bước đột phá trong y học và đem lại những cơ hội mới trong việc sản xuất thực phẩm và năng lượng cũng như đưa ra những giải pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường. Trên phạm vi toàn cầu, công nghệ sinh học được công nhận về tầm quan trọng và được pháp luật bảo hộ. Thực tiễn của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ cho thấy rằng: bảo hộ sự sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ sinh học đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nhiều lĩnh vực của đời sống cũng như phát triển kinh tế, xã hội. Các điều ước quốc tế bảo hộ các sáng chế về công nghệ sinh học được hình thành từ rất sớm. Những công ước quốc tế cơ bản nhất liên quan đến lĩnh vực công nghệ sinh học bao gồm: Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883; Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV) năm 1961; Hiệp ước Budapest về việc thừa nhận quốc tế đối với việc nộp lưu chủng vi sinh nhằm tiến hành các thủ tục về sáng chế năm 1977; Công ước về đa dạng sinh học năm 1992; Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hưũ trí tuệ (TRIPs) năm 1997. Tuy nhiên, Việt Nam chưa tham gia bất kỳ công ước quốc tế nào trong lĩnh vực công nghệ sinh học và cũng chưa ban hành văn bản pháp luật độc lập nhằm bảo hộ các sáng chế về công nghệ sinh học.

Nếu như trước đây, những đối tượng có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế bao gồm sản phẩm, quy trình và việc sử dụng (new indication) – các yêu cầu bảo hộ đề cập đến “việc sử dụng” còn được biết đến dưới tên là Swiss case (kiểu Thuỵ Sĩ). Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã giới hạn lại phạm vi các đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế, theo đó, một đối tượng được bảo hộ chỉ có thể là sản phẩm hoặc quy trình. Như vậy, có thể hiểu đối tượng “sáng chế dạng sử dụng” đã bị “gạt tên” ra khỏi danh sách những đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế. Điều này nhằm bảo vệ lợi ích người dân, cho phép người dân được quyền sử dụng những tiến bộ, phát hiện mới để phục vụ các lợi ích của mình. Tuy nhiên, kể từ ngày luật Sở hữu trí tuệ 2005 có hiệu lực, quy định mới này đã lại bộc lộ sự “lợi bất cập hại” của nó.

Việc loại bỏ “sáng chế dạng sử dụng” được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế, vô hình chung đã làm cho xã hội mất đi cơ hội được biết đến công dụng mới của một sản phẩm, hoạt chất nhất định, để giảm các hoạt động nghiên cứu về tác dụng mới của một hoạt chất, hợp chất hay một sản phẩm đã biết. Thực nghiệm khoa học cho thấy, để tìm ra công dụng mới hay có thể hiểu là một chỉ định mới của một sản phẩm hoặc một chất cũng đòi hỏi hoạt động nghiên cứu, tìm tòi, cũng làm hao mòn về mặt trí lực, thể lực và phí đầu tư cũng giống như công sức để sáng chế ra “sản phẩm” hoặc “quy trình”. Ví dụ, nếu như trước đây đối tượng như nêu trong yêu cầu bảo hộ sau được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế “việc sử dụng hoạt chất A để làm tăng năng suất cây trồng” hoặc “việc sử dụng hoạt chất có công thức I để diệt trừ sâu bọ gây hại”. Như vậy, nếu “sáng chế dạng sử dụng” không được bảo hộ, thì điều này sẽ khiến các nhà sáng chế sẽ loại bỏ đối tượng này ra khỏi danh sách khi nộp đơn đăng ký độc quyền sáng chế tại Việt Nam. Như vậy, người dân sẽ không được biết đến công dụng mới này. Đặc biệt, khi đối tượng sử dụng chủ yếu tập trung vào chỉ định mới hay công dụng mới của một hợp chất, hoạt chất để phòng trừ sâu bọ, nấm gây hại hoặc làm tăng sản lượng cây trồng, điều này rất có lợi cho sự phát triển nông nghiệp, thì việc loại bỏ đối tượng “sáng chế dạng sử dụng” này sẽ phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp của nước nhà. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Quy định mới về sáng chế còn ảnh hưởng trực tiếp đến các xét nghiệm viên sáng chế nói riêng và Cục Sở hữu trí tuệ nói chung. Chúng ta biết rằng, một đơn sáng chế nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ sẽ được phân ra thành những luồng chính sau: đơn PCT và đơn thông thường. Đối với đơn PCT, khi một đơn sáng chế tương tự với đơn nộp tại Việt Nam đã được cấp bằng độc quyền tại Châu Âu, Nhật Bản hoặc Mỹ, thì xét nghiệm viên của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng dựa trên cơ sở này để đưa ra quyết định tương tự. Do đó, có thể thấy cách đánh giá của xét nghiệm viên của Việt Nam đối với khả năng cấp bằng độc quyền cho một đơn đăng ký sáng chế là tương đối phụ thuộc vào quan điểm của xét nghiệm viên nước ngoài. Đối với đơn thông thường, không phải là đơn PCT, hiện nay xét nghiệm viên thường phải viện dẫn đến xét nghiệm viên của Nga hoặc Úc để đánh giá các tiêu chuẩn bảo hộ. Thực trạng này cũng chính là tâm điểm dẫn đến các phức tạp phát sinh khi có những thay đổi mới về đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Việc không bảo hộ đối tượng “sử dụng” với danh nghĩa là sáng chế sẽ khiến người nộp đơn “biến tấu” đối tượng “sử dụng” sang một đối tượng khác như là quy trình hoặc phương pháp, trong đó thực chất vẫn ngầm đề cập đến đối tượng “sử dụng”. Ví dụ, đối với đơn PCT, người nộp đơn có thể sửa đổi đối tượng “sử dụng” sang quy trình, sản phẩm thu được từ quy trình, phương pháp và điều này vô tình sẽ làm cho Yêu cầu bảo hộ của đơn nộp tại Việt Nam khác so với Yêu cầu bảo hộ nộp tại PCT. Do đó, xét nghiệm viên sẽ không thể hoàn toàn dựa vào Xét nghiệm nội dung đối với đơn tương tự nộp tại nước ngoài để áp cho đơn nộp tại Việt Nam. Điều này khiến xét nghiệm viên muốn loại bỏ hoặc tìm cách từ chối những sửa đổi của người nộp đơn. Thậm chí, xét nghiệm viên cũng không thể đưa ra một câu trả lời chắc chắn về việc, liệu một sửa đổi như vậy đối với đối tượng sử dụng có được chấp nhận hay không và lý do cụ thể của việc chấp nhận hoặc phản đối. Điều này vô hình chung cũng gây ra khó khăn cho đại diện của người nộp đơn, các luật sư… khi tư vấn khách hàng khắc phục thiếu sót.

Tóm lại, bên cạnh những ưu điểm, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế còn tồn tại một số hạn chế nhất định, đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động áp dụng pháp luật thực tiễn. Vì vậy, cần có những biện pháp nhanh chóng hoàn thiện những thiếu sót trên để hoạt động bảo hộ sáng chế được thực hiện một cách có hiệu quả hơn.

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản về điều kiện kiện bảo hộ sáng chế

Hệ thống các văn bản pháp luật về SHTT Việt Nam đến nay tương đối đầy đủ. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng thì các văn bản này đã bộc lộ hạn chế nhất định. Vì vậy, mong muốn hoạt động bảo hộ sáng chế được thực thi có hiệu quả thì trước tiên phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật và SHTT.

Thứ nhất, cần phân biệt rõ ràng hai khái niệm sáng chế và giải pháp hữu ích. Luật SHTT năm 2005 chỉ định nghĩa sáng chế, nhưng không quy định đến giải pháp hữu ích và chỉ có sáng chế mới là đối tượng của SHCN. Vì vậy cần bổ sung thêm khái niệm giải pháp kỹ thuật vào quy định của luật SHTT.

Thứ hai, bổ sung thêm quy định về đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế bao gồm cả “sáng chế dạng sử dụng” bên cạnh “quy trình” và “sản phẩm”. Việc loại bỏ đối tượng “sáng chế dạng sử dụng” khỏi danh sách các đối tượng được bảo hộ là sáng chế đã gây ra những ảnh hưởng đến xã hội và nhà sáng chế, đi ngược lại chủ trương khuyến khích sáng tạo công nghệ.

Thứ ba, cần phải quy định về vấn đề cách thức nộp đơn bởi lẽ có những trường hợp chủ sở hữu không chỉ nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế mà nộp cả đơn yêu cầu bảo hộ dưới hình thức bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho cùng một đối tượng. Ví dụ: võng xếp Duy Lợi được đăng ký kiểu dáng ở Việt Nam, mẫu hữu ích ở Nhật Bản, còn sáng chế ở Mỹ. Nếu đặt giả thuyết, có ba người nộp đơn khác nhau cho ba hình thức bảo hộ nói trên trong cùng một ngày thì vấn đề đặt ra là đơn kiểu dáng có được hợp nhất với đơn sáng chế, giải pháp hữu ích hay không? Liệu có thể cấp các văn bằng bảo hộ theo những hình thức bảo hộ khác nhau cho cùng một đối tượng nhưng cho với những người nộp đơn khác nhau hay không?

Thứ tư, cần ban hành luật sáng chế riêng để theo cùng xu hướng hội nhập và phát triển của thế giới hiện nay một số quốc gia trên thế giới đã ban hành luật sáng chế riêng như Mỹ, Nhật Bản… trong tương lai cần xem xét ban hành các văn bản luật riêng về SHCN, trong đó có luật sáng chế. Xem xét kinh nghiệm xây dựng luật của một số quốc gia trên thế giới thì có hai đối tượng SHCN được tách ra để xây dựng luật riêng đó là nhãn hiệu và sáng chế. Sáng chế thể hiện đỉnh cao sự sáng tạo của con người, đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nên cần ban hành luật riêng. Trong luật này sẽ quy định tất cả những nội dung liên quan đến sáng chế, tạo điều kiện thuận lợi cho người tìm hiểu pháp luật, cơ quan sử dụng pháp luật và thuận lợi cho việc thực thi. Song song với việc ban hành luật sáng chế cần giảm bớt những nghị định, thông tư hướng dẫn đi kèm, tránh sự cồng kềnh trong hệ thống pháp luật làm giảm hiệu quả thực thi. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Thứ năm, xây dựng yêu cầu về tính hữu ích của giải pháp kỹ thuật trở thành một điều kiện bảo hộ sáng chế.

Hiện tại vẫn chưa có một số con số thống kê chính thức nào về lượng các sáng chế sau khi cấp bằng được đưa vào sử dụng trên thực tế tại Việt Nam. Điều này phần nào đã cho thấy, từ trước tới nay, chúng ta vẫn chưa có một sự quan tâm thích đáng đến việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật được bảo hộ sáng chế để phục vụ các yêu cầu về phát triển kinh tê và xã hội. Thực tế là, có rất nhiều sáng chế sau khi được cấp bằng đã không được chủ sở hữu đưa vào sử dụng, hoặc nếu có sử dụng thì cũng không tạo ra được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Mặc dù theo quy định của pháp luật, hàng năm, chủ sở hữu văn bằng phải bỏ ra một khoản tài chính nhất định nhằm để duy trì hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế, nhưng điều đó cũng không thể phủ nhận được một thực tế là việc đầu tư công sức và tiền bạc để nghiên cứu và triển khai các công nghệ không có giá trị kinh tế đã và đang gián tiếp tạo ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội nói chung. Bởi vậy, yêu cầu về “tính hữu ích” đối với giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ sáng chế là một sự bổ sung cần thiết cho điều kiện khả năng áp dụng công nghiệp. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích các hoạt động nghiên cứu sáng tạo khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung, đổi mới các nội dung bảo hộ sáng chế trong từng lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực bảo hộ sáng chế đối với giống cây trồng biến đổi gen; lĩnh vực bảo hộ sáng chế đối với chương trình máy tính.

  • Trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế đối với giống cây trồng biến đổi gen.

Mặc dù hiện nay ở nước ta có tồn tại song song một cơ thể bảo hộ riêng đối với giống cây trồng, nhưng việc thừa nhận và bảo hộ sáng chế đối với cây trồng biến đổi gen vẫn là hết sức cần thiết. Thực vậy, với cơ chế bảo hộ giống cây trồng, những đối tượng như cây trồng biến đổi gen không được bảo hộ một cách toàn diện và có hiệu quả nhất. Cụ thể là, chủ sở hữu giống cây trồng được bảo hộ không được quyền chống lại bất kỳ một tổ chức hoặc một cá nhân nào tiến hành khai thác các giống cây trồng khác có các đặc tính kỹ thuật tương tự nếu có thể chứng minh được các giống cây trồng đó được phát triển một cách độc lập. Ví dụ, một cá nhân sáng tạo ra một giống cây lúa có khả năng chống lại được các bệnh do nấm gây ra bằng cách cấy vào cây lúa một loại gen đã được làm đột biến. Nếu được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ giống cây trồng, chủ sở hữu giống lúa nói trên chỉ được quyền chống lại bất kỳ hành vi khai thác trái phép nào đối với việc khai thác giống lúa nói trên trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia bảo hộ. Tuy nhiên, chủ sở hữu giống cây trồng đó sẽ không được quyền chống lại việc khai thác những ứng dụng kỹ thuật của loại gen đã được làm đột biến nói trên đối với những giống cây trồng khác. Đây là một trong những hạn chế cơ bản nhất của cơ chế bảo hộ giống cây trồng. Việc cho phép bảo hộ được quyền sáng chế đối với cây trồng biến đổi gen không hề làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của cơ chế bảo hộ giống cây trồng đối với cây biến đổi gen. Như chúng ta đã biết, thời hạn bảo hộ của một sáng chế chỉ là 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ của giải pháp kỹ thuật. Trong khi đó, đối với một số loại cây trồng, thời gian để khai thác có thể là 25 năm, 30 năm hoặc kéo dài hơn. Do vậy, việc duy trì cơ chế bảo hộ song trùng- bảo hộ được quyền sáng chế và bảo hộ giống cây trồng- đối với cây trồng biến đổi gen là điều rất cần thiết nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo và sáng chế trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng và hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung.

3.2.2. Tăng cường hiệu quả của hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Hệ thống các cơ quan này bao gồm cơ quan xác lập quyền và thực thi quyền. Trước tiên, đối với cơ quan chịu trách nhiệm xác lập quyền SHTT cũng như quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế ở Việt Nam là Cục SHTT. Cục cũng mới chỉ có hai văn phòng đại diện tại tp.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, còn lại cũng chưa có các chi cục ở các tỉnh, thành phố khác. Đối lập với sự ra tăng số lượng đơn yêu cầu bảo hộ thì nhận lực cũng như ngân sách của cục còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục đăng ký xác lập quyền còn rất phức tạp, chưa gọn nhẹ gây cản trở nhiều. Vì vậy, cần áp dụng các giải pháp sau để nâng cao năng lực hoạt động của cụ SHTT:

  • Đẩy mạnh hơn nữa hình thức nộp đơn điện tử, tiến tới việc sử dụng hình thức này hoàn toàn.
  • Cần tập huấn xử lý hồ sơ trực tuyến cho đội ngũ cán bộ khi thực hiện hình thức nộp đơn điện tử để hoạt động này diễn ra hiệu quả.
  • Thành lập một số chi nhánh mới tại các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước bên cạnh hai chi nhánh lớn.
  • Đầu tư kinh phí để cục SHTT có thể tiếp cận với các kho dữ liệu tra cứu sáng chế quốc tế, nhất là các nguồn dữ liệu phải trả tiền.

Tóm lại, cần nâng cao năng lực hoạt động của Cục SHTT bao gồm các vấn đề như tổ chức, nhân lực, chuyên môn, điều kiện làm việc. Vấn đề nhân lực luôn phải được ưu tiên hàng đầu nên Chính phủ cần có các biện pháp tạo điều kiện để cán bộ được nâng cao hiểu biết về SHTT. Thông qua các chương trình tập huấn, hợp tác quốc tế, đưa các chuyên gia nước ngoài đến trao đổi kinh nghiệm sẽ góp phần nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ. Ngoài ra, cần tăng cường sự phối hợp hoạt động với các cơ quan thực thi như xây dựng kế hoạch, trao đổi thông tin, chỉ đạo kiểm tra… Như vậy, một trong các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về SHTT là phải tăng hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sở hữu công nghiệp.

3.2.3. Nâng cao nhận thức về bảo hộ quyền công nghiệp đối với sáng chế

Trước tiên, cần chú trọng đào tạo kiến thức cơ bản về SHTT trong các trường đại học vì đây là nơi tập trung nguồn lực sáng tạo, vì vậy giảng dạy kiến thức SHTT không những hỗ trợ cho việc hình thành các giải pháp kỹ thuật có khả năng đáp ứng điều kiện bảo hộ mà còn còn góp phần đáp ứng nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực này sau khi ra trường. Trong tương lai cần thực hiện các biện pháp sau: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

  • Đào tạo đội ngũ giảng viên về SHTT đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng để trực tiếp giảng dạy. Các giảng viên này được đào tạo chuyên sâu về nhiệm vụ SHTT, được tạo điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng kiến thức trong và ngoài nước. Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo chuyên gia có trình độ đại học và sau đại học về SHTT.
  • Xây dựng chương trình đào tạo sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Cần đưa trương trình đào tạo về SHTT vào kế hoạch giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng, nhất là các trường kĩ thuật.

Thứ hai, cần nâng cao nhận thức công chúng về SHTT. Việc nâng cao nhận thức xã hội là một trong những biện pháp thiết thực tạo nền tảng cho một xã hội mà ở đó quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng và bảo vệ có hiệu quả. Mục tiêu của giải pháp này là làm cho toàn xã hội ý thức được ý nghĩa và vai trò của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sáng chế nói riêng, tiến tới xây dựng thói quen tôn trọng quyền, không đồng tình với các hành vi xâm phạm. Giải pháp cụ thể như sau:

  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các thông tin về SHTT, đưa việc sử dụng pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền trở thành quen thuộc với xã hội.
  • Phổ biến các kiến thức cũng như các sáng chế mới trên các báo, tạp chí. Thực hiện tổ chức các chương trình trò chơi, gameshow, cuộc thi liên quan tới lĩnh vực SHTT để cộng đồng có thể tiếp cận với những kiến thức khoa học công nghệ.

3.2.4. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ, hợp tác quốc tế

  • Thứ nhất, cần đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo chủ đạo. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Sở dĩ phải đặt ra vấn đề này bởi đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo không chỉ tạo ra những con người có đầu óc sáng tạo, có trí tưởng tượng để có thể sáng tạo ra sáng chế, mà trên nền tảng cơ sở đó sẽ giúp mọi nhận thức đầy đủ hơn về giá trị của những sáng chế mà mình tạo ra, do đó sẽ có cách thức để tự bảo vệ thành quả lao động của mình.

  • Thứ hai, Cần mở rộng, nâng cao chất lượng các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ

Dịch vụ tra cứu thông tin sáng chế; các vấn đề pháp lý về tư vấn, đại diện… cần được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.

  • Thứ ba, Cần nâng cao hiệu quả tra cứu thông tin tư liệu sáng chế.

Thông tin tư liệu sáng chế có vai trò quan trọng giúp nhà sáng chế có thể tìm hiểu những thông số cần thiết nhất phục vụ quá trình sáng tạo cũng như đăng ký cho sáng chế của mình. Trên thực tế có những trường hợp do thiếu thông tin sáng chế nên nhà sáng chế không biết sáng chế của mình đã được đăng ký bảo hộ từ trước đó. Ví dụ: Trường hợp anh Từ Ngọc Lợi ở Bình Dương với sáng chế chiếc bàn chải đánh răng có sẵn kem trong cán. Anh đã bỏ rất nhiều công sức cho việc nghiên cứu chế tạo sản phẩm này(10 triệu đồng và hơn 4 năm nghiên cứu) và cũng khá vất vả để xin cấp bằng sáng chế. Thế nhưng sáng chế này đã được một người mỹ được cấp bằng sáng chế vào năm 1960 vậy là do thiếu thông tin mà mọi cố găng của anh Lợi đã trở thành vô ích, Cục SHTT đã từ chối cấp bằng độc quyền cho sáng chế này.

Tăng cường tiện ích cho hệ thống tra cứu như: xây dựng thư viện điện tử bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, thiết kế các công cụ tra cứu tích hợp (phần mềm dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại) để người cần thông tin có thể truy cập thông tin một cách chính xác, thuận tiện. Mở rộng dịch vụ tra cứu theo chủ đề, theo lĩnh vực, đề tài…

  • Mở thêm các trung tâm thông tin mới bên cạnh 2 trung tâm chính nhằm phục vụ thông tin sáng chế cho công chúng.
  • Cần hình thành các bộ phận hoặc nhóm chuyên trách có trình độ cao về tra cứu thông tin sáng chế trong các cơ quan thông tin khoa học công nghệ, năm bắt được thông tin của từng đối tượng và hướng dẫn họ tra cứu.

Về các dịch vụ liên quan đến SHCN bao gồm các thủ tục pháp lý như đại diện, tư vấn cần phải được mở rộng và nâng cao về chất lượng. Tạo điều kiện để hoạt động kinh doanh dịch vụ đại diện, tư vấn sở hữu công nghiệp theo hướng nới lỏng chính sách pháp luật. Ngoài ra cần nâng cao trình độ đội ngũ làm tư vấn, đại diện SHCN; mở rộng mạng lưới SHCN; củng cố và phát huy vai trò của hội sở hữu công nghiệp Việt Nam và các hội quần chúng nghề nghiệp khác.

Mở rộng, nâng cao các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ liên quan đến quyền SHCN nói chung, sáng chế nói riêng là một trong những biện pháp góp phần thúc đẩy hoạt động bảo hộ sáng chế ở Việt Nam có hiệu quả qua đó hạn chế những thiếu sót còn tồn tại trong hệ thống pháp luật. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

  • Thứ tư, tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế

Xuất phát từ lý do sáng chế chỉ được bảo hộ khi đáp ứng tính mới trên phạm vi toàn cầu nên việc hợp tác trao đổi thông tin dữ liệu càng trở lên cần thiết hơn bao giờ hết. Ngoài ra, Việt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ sáng chế, hợp tác về đào tạo nâng cao trình độ… Do đó, việc tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về mọi mặt của lĩnh vực SHTT là đòi hỏi hết sức cấp bách. Trong tương lai, việc hợp tác cần mở rộng theo hướng:

  • Duy trì và phát triển các quan hệ hợp tác đã có. Tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong việc hoàn thiện hệ thống bảo hộ quyền SHTT đối với sáng chế.
  • Mở rộng hợp tác với các đối tác mới, đa phương hóa các quan hệ, hợp tác không chỉ với các nước cụ thể mà với cả các nhóm nước, các khối và tổ chức quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia như Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Hơn nữa, Việt Nam cần đặt mối quan hệ với tổ chức SHTT thế giới WIPO lên hàng đầu.

Thứ năm, cần phải đầu tư vật chất thích đáng cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào những công việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ. Nhà nước cần có kế hoạch rõ ràng về việc đầu tư tài chính cho việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ. Bởi vì, hoạt động này không thể thực hiện được nhanh chóng “một sớm một chiều” và nó đòi hỏi sự góp sức của nhiều cá nhân, tổ chức khác chứ không phải chỉ cơ quan lập pháp như: giảng viên các trường đại học, cán bộ sở hữu trí tuệ thuộc các cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ như cơ quan bản quyền, cơ quan sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường, hải quan, cảnh sát kinh tế, cán bộ Toà án…

Thứ sáu, cần nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật hữu trí tuệ. Chỉ khi chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò sở hữu trí tuệ và pháp luật hữu trí tuệ, chúng ta mới có được pháp luật sở hữu trí tuệ tốt. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng khẳng định vấn đề nâng cao nhận thức của cộng đồng là mấu chốt để nâng cao chất lượng của pháp luật sở hữu trí tuệ và hiệu quả thực thi trong chiến lược hành động của mình. Đồng thời, cần nâng cao trình độ pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của các cán bộ xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng.

Thứ bảy, cần đảm bảo phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các cơ quan lập pháp và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan trong những công việc nhằm hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ. Phải coi việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ là việc của các cơ quan lập pháp mà phải coi đó là việc của toàn dân, của các doanh nghiệp, các Hiệp hội, các đại diện sở hữu trí tuệ, những người sáng tạo… Chỉ như vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ của chúng ta mới thực sự khuyến khích sự sáng tạo, là cơ sở pháp vững chắc để bảo vệ thành quả sáng tạo và có tính khả thi cao.

Trên đây là những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong hệ thống pháp luật bảo hộ sáng chế cũng như hoạt động bảo hộ đối tượng này trên thực tế. Nếu tất cả các giải pháp được thực hiện một cách đồng bộ, nghiêm túc thì hiệu quả hoạt động này sẽ nâng cao rõ rệt. Mong rằng trong tương lai không xa, các hạn chế trong hệ thống pháp luật cũng như tồn tại trong quá trình thực thi hoạt động bảo hộ sáng chế sẽ sớm được khắc phục và ngày càng khởi sắc, bắt nhịp với sự phát triển chung của thế giới. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

Kết luận chương 3

Trên cơ sở các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ tại chương 2, tại chương 3, luận văn đánh giá ở mức độ khái quát nhất thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế với những kết quả đạt được trong việc đăng ký và cấp bằng độc quyền sáng chế. Đặc biệt bên cạnh đó, trong chương 3 luận văn tập trung làm rõ những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong chính các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế. Từ đó, luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế, cũng như các giải pháp khắc nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc đăng ký, cấp bằng sáng chế như: Tăng cường hiệu quả của hệ thống cơ quan có thẩm quyền; Nâng cao nhận thức về bảo hộ quyền công nghiệp đối với sáng chế; Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao các hoạt động bổ trợ, hợp tác quốc tế.

KẾT LUẬN

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Một sáng chế phải đáp ứng các điều kiện về tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp thì sáng chế đó mới được cấp bằng độc quyền sáng chế. Có thể nói, các điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở có sự phù hợp, chọn lọc từ các quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật của các quốc gia có các quy định về sở hữu trí tuệ tiến bộ trên thế giới. Đây có thể được xem là một nỗ lực của Việt Nam nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi chúng ta tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO.

Trong những năm gần đây, số lượng bằng độc quyền sáng chế đã trở thành tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia. Các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam ngày càng quan tâm nhiều hơn đối với hoạt động sáng tạo, khuyến khích sáng tạo ra sáng chế, coi sáng chế là tài sản chiến lược. Song song với đó thì các hoạt động liên quan đến bảo hộ sáng chế cũng được quan tâm, đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Bên cạnh những mặt tích cực mà các quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế mang lại, còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định. Những hạn chế đó xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, đòi hỏi cần phải có những giải pháp mang tính chất toàn diện khắc phục. Việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về điều kiện bảo hộ sáng chế phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức của các chủ thể và sự sáng suốt trong quá trình lập pháp của các nhà lập pháp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464