Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn, những gợi mở cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

Ngày này, với việc áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật tiên tiến vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ lợi ích kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản được con người khai thác triệt để hơn, ngày càng trở nên khan hiếm hơn, trong khi đó tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt. Vì vậy khai thác tài nguyên trên biển luôn được các quốc gia ven biển coi trọng và không ngừng tiến ra biển và làm chủ biển.

Sự ra đời của Công ước Luật biển 1982 là một bước ngoặt quan trọng cho một trật tự pháp lý trên biển của các quốc gia trên thế giới, đáp ứng được phần lớn những nguyện vọng của đại đa số các quốc gia nhất là các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, cùng với sự ra đời của Công ước Luật biển 1982, chủ quyền quốc gia trên biển của các quốc gia được mở rộng hơn, ở đâu đó trên các vùng biển vẫn có sự tranh chấp về chủ quyền trên biển, vì vậy để giải quyết những tranh chấp chủ quyền đó là cả một quá trình đàm phán lâu dài. Trong khi chờ đợi các quốc gia đàm phán về thỏa thuận phân định biển, giải pháp hợp tác Khai thác chung trên biển là một trong những giải pháp quan trọng có thể giải quyết và hạn chế các tranh chấp đó.

1. Tính cấp thiết của đề tài

Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 ra đời, với việc quy định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển được rõ ràng hơn. Những quy định cụ thể về chiều rộng tối đa của các vùng biển như vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khi áp dụng theo Công ước thì một số quốc gia ven biển được mở rộng chủ quyền đáng kể. Tuy nhiên, một số vùng biển hẹp có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau các quốc gia ven biển, mặc dù đã được áp dụng Công ước luật biển 1982 để phân định chủ quyền nhưng vẫn có tình trạng chồng lấn chủ quyền, làm phát sinh tranh chấp giữa các vùng biển này. Vậy đối với những vùng biển mà dẫn đến tình trạng tranh chấp chủ quyền biển này, các quốc gia hữu quan cần phải đàm phán để phân định lại. Việc phân định lại để xác định đường ranh giới trên biển là một việc không hề rễ ràng. Thực tế trên thế giới có khoảng gần 400 vùng biển có sự chồng lấn, cho tới nay khoảng trên 100 vùng biển đã được các quốc gia hữu quan ký các hiệp định phân định. Ở những vùng biển chồng lấn mà các quốc gia hữu quan vẫn còn tranh chấp chủ quyền, các quốc gia liên quan không thể đơn phương khai thác tài nguyên biển được, vì nó sẽ làm cho tình trạng quan hệ giữa các quốc gia trở nên xấu đi, nguy cơ xung đột trên biển sẽ rất lớn. Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 trong Khoản 3 của điều 74 và điều 83 quy định: “Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng của Luật quốc tế để các quốc gia tiến hành thỏa thuận đi đến giải pháp tạm thời. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Vì vậy để hạn chế tranh chấp chủ quyền trên biển, trong khi chờ đợi một thỏa thuận về phân định biển, các quốc gia hữu quan tìm những giải pháp tối ưu để hạn chế tối đa việc tranh chấp chủ quyền biển. Một trong những giải pháp hiện nay được các chuyên gia trên thế giới đánh giá cao và được nhiều quốc gia lựa chọn đó là “Hợp tác khai thác chung”.

Trên thực tế, hợp tác KTC có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó làm giảm bớt căng thẳng giữa các quốc gia ven biển. Giải pháp này có thể tạm thời gác lại các tranh chấp, hạn chế tình trạng căng thẳng dẫn đến chạy đua vũ trang hoặc dẫn đến tình trạng xung đột vũ trang, cùng nhau khai thác nguồn lợi tài nguyên do biển mạng lại. KTC không nhưng góp phần vào việc củng cố quan hệ ngoại giao giữa các nước, tăng cường sự hiểu biết, hữu nghị giữa các quốc gia mà KTC còn được xem như là một cách thức để các quốc gia phối hợp khai thác tài nguyên biển một cách hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế cho các bên mà vẫn đảm bảo chủ quyền quốc gia và bảo vệ môi trường biển…”các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn…” được các quốc gia áp dụng một cách linh hoạt và hiệu quả nhất trong việc ký kết các thỏa thuận về hợp tác khai thác chung ở các vùng biển mà các quốc qia đang qua tranh chấp về chủ quyền. Có thể khẳng định rằng hợp tác KTC là ở những vùng biển chồng lấn (yêu sách chủ quyền) là một trong những giải pháp tạm thời mang tính cấp thiết và hiệu quả nhất, nhằm điều hòa lợi ích của quốc gia, giảm căng thẳng, bảo vệ chủ quyền và đem lại lợi ích kinh tế, đem lại hòa bình cùng phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia và môi trường biển.

Đối với Việt Nam, Biển Đông đóng một vai trò vô cùng quan trọng, với diện tích trên 3.500.000km², được bao bọc xung quanh bởi 9 quốc gia (Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Singapore, Indonesia, Bruney, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và một phần Đài Loan), phía ngoài là biển Thái Bình Dương. Là vùng biển được đánh giá là có trữ lượng tài nguyên thiên niên rất lớn. Việt Nam với trên 1 triệu km² diện tích biển, chiếm gần 30% diện tích biển Đông, trong đó có khoảng

3.000 đảo lớn nhỏ và 02 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Xét về an ninh, quốc phòng, Biển Đông là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Bên cạnh đó, Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương, Châu Âu-Châu Á, Trung Đông-Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch…Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như titan, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm… trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý. Việt Nam là một trong những quốc gia đã tham gia ký kết Công ước Luật biển năm 1982, hiện nay Việt Nam cũng đã và đang đối mặt với những thách thức rất lớn từ vấn đề tranh chấp biển đảo. Do đó, việc nghiên cứu giải pháp hợp tác KTC ở những vùng biển chồng lấn có thể nói là một giải pháp mang tính cấp bách hiện nay, đóng góp rất thiết thực cho việc giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển của Việt Nam nói riêng và khu vực Biển Đông nói chung.

Nhận thức được ý nghĩa vô cùng to lớn của việc Hợp tác KTC trong luật biển quốc tế, tác giả mạnh dạn lựa chọn đê tài “Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn, những gợi mở cho Việt Nam”. Với mong muốn luận văn của mình khi hoàn thành sẽ góp phần không nhỏ đem đến một giải pháp về khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển của Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Đặc biệt, đem đến cho việc giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển cho Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới và khu vực nói chung trên những vùng biển chồng lấn mà các quốc gia có tranh chấp về chủ quyền.

2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu Tổng quan về hoạt động Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn (về yêu sách chủ quyền); cơ sở khoa học của hoạt động khai thác chung trên biển nói chung và khu vực Biển Đông nói riêng, thực tiễn hoạt động khai thác chung của Việt Nam, việc nghiên cứu đề tài “Hợp tác khai thác chung ở những vùng biển chồng lấn” có những gợi mở quan trọng cho việc Hợp tác cùng khai thác trên biển của Việt Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Nghiên cứu làm rõ khái niệm “khai thác chung” là hoạt động hợp tác giữa các quốc gia để khai thác tài nguyên thiên nhiên biển vì mục tiêu phát triển.
  • Nghiên cứu giải pháp dàn xếp tạm thời, không phương hại đến yêu sách chủ quyền của các bên, không làm ảnh hưởng đến việc đàm phán đi đến sự thỏa thuận cuối cùng giải quyết vấn đề tranh chấp về quyền chủ quyền biển đảo.
  • Phân tích, đánh giá và liên hệ trực tiếp các bài học kinh nghiệm về việc “Hợp tác khai thác chung” của các vùng biển chồng lấn đưa đến những gợi mở đối với việc Hợp tác khai chung của Việt Nam.

3. Tình hình nghiên cứu

Hợp tác khai thác chung ở những vùng biển chồng lấn (yêu sách chủ quyền) là vấn đề tương đối mới đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông và Việt Nam. Trong thực tế về yêu sách chủ quyền của các quốc gia ven biển ngày càng trở nên căng thẳng như hiện nay thì giải pháp “Hợp tác khai thác chung” có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giảm bớt căng thẳng, tránh xung hột, tăng sự hiểu biết và hợp tác đôi bên cùng có lợi…Đề tài được lựa chọn mang tính cập nhật một số vấn đề mang tính thời sự, đặc biệt trong giai đoạn căng thẳng về tranh chấp chủ quyền Biển Đông hiện nay. Đề tài đi sâu phân tích một số vấn đề như:

  • Tổng quan lại vấn đề hợp tác KTC ở những vùng biển chồng lấn trên phương diện áp dụng Luật quốc tế hiện đại
  • Cơ sở lý luận và thực tiễn, những kinh nghiệm của vấn đề hợp tác KTC trên thế giới
  • Đánh giá những mô hình (dạng) hợp tác KTC điển hình có thể gợi mở cho việc vận dụng, áp dụng vào khu vực Biển Đông và Việt Nam. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình phân định biển ở những khu vực chồng lấn mà các quốc gia ven biển yêu sách chủ quyền và những tác động đối với việc yêu sách chủ quyền; các quy định trong Luật Biển quốc tế, những điều ước và tập quán quốc tế liên quan đến tình hình biển.

Nghiên cứu về hợp tác KTC ở khu vực chồng lấn giữa các quốc gia trên thế giới có thể áp dụng vào khu vực Biển Đông, giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Biển Đông; những khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình phân chia ranh giới trên biển…

5. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhưng vấn đề liên quan đến chủ quyền biển. Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung đề tài Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn, các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan…Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thông qua phân tích, đánh giá thực tiễn để chỉ ra được những yếu tố cần thiết nhằm bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn. Mỗi nội dung nghiên cứu cần có phạm vi, địa điểm và phương pháp nghiên cứu riêng, phù hợp yêu cầu.

5.3 Địa điểm nghiên cứu Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Đề tài được thực hiện tại Hà Nội trên cơ sở thu thập tài liệu trong nước và ngoài nước ở thư viện, tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu về biển, Biển Đông, các học giả, tìm hiểu thêm trên sách báo và trên mạng xã hội…

6. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

  • Chương I: Tổng quan về Hợp tác khai thác chung trên biển.
  • Chương II: Thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
  • Chương III: Những gợi mở cho Việt Nam trong việc triển khai các thỏa thuận hợp tác khai thác chung trên biển với các quốc gia trong khu vực Biển Đông

Chương I TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC KHAI THÁC CHUNG TRÊN BIỂN

1.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của KTC trên biển

Với diện tích trên 70% diện tích bề mặt trái đất, biển luôn đem đến cho loài người những tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng. Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các quốc gia trên giới đều nhận thức sâu sắc tầm quan trọng về lợi ích mà biển đem lại, vì vậy chiến lược tiến ra biển và làm chủ biển đã và đang được các quốc gia đẩy mạnh hơn bao giờ hết.

Từ xa xưa, trong quá trình chinh phục và làm chủ biển, các quốc gia ven biển không tránh khỏi việc tranh chấp về khai thác tài nguyên biển giữa ngư dân với ngư dân, giữa quốc gia với quốc gia dẫn đến sự ra đời của nhiều học thuyết, quy tắc, quy định về biển và đại dương. Đã có nhiều các nghiên cứu nổi tiếng như tác phẩm “Biển tự do” của Huygo Grotiuyt ( The Free sea hay Mare Liberum) vào năm 1609 đề cập đến vấn đề tự do hàng hải, thương mại và đánh bắt cá trên biển, nhà luật học người Anh John Selden cho ra đời tác phẩm “Biển kín” (Mare Clausum) năm 1653 trong đó ông đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của các quốc gia biển cũng giống như trên đất liền khi các quốc gia cố gắng mở rộng được vùng lãnh thổ trên biển của mình như trên đất liền. Cho đến thế kỷ XVIII một số vùng biển trên thế giới đã hình thành một số nguyên tắc về Luật biển, vi dụ khu vực biển Bắc và phổ biến đến biển Địa Trung Hải… Tuy nhiên, cho đến tận giữa thế kỷ XX các nước ven biển chỉ có một vùng biển hẹp (lãnh hải) rộng 3 hải lý thuộc chủ quyền của mình, phía ngoài ranh giới 03 hải lý đều là biển chung. Do đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi quốc gia được hưởng quyền tự do biển cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Năm 1930 tại Hà Lan, LHQ đã tổ chức hội nghị pháp điển hóa Luật Quốc tế trong đó đưa vấn đề về Luật biển đã được nhắc đến và đưa ra thảo luận, bàn bạc.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1958 mới ra đời Công ước đầu tiên về Luật biển. Năm 1956, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ, Hội nghị này đi đến thống nhất được 04 Hiệp định và được các quốc gia ký kết năm 1958, 04 Hiệp định như sau:

  1. Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964).
  2. Công ước về Thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964).
  3. Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962).
  4. Công ước về Nghề cá và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận Quốc tế (có hiệu lực ngày 20/3/1966).

Hội nghị được cho là thành công, lần đầu tiên có những thỏa thuận quốc tế liên quan đến biên giới lãnh thổ trên biển, nhưng một vấn đề rất quan trọng liên quan đến vấn đề chủ quyền biển lại vẫn để ngỏ, đó là bề rộng của vùng lãnh hải.

Năm 1960, LHQ đã tổ chức Hội nghị về Luật biển lần thứ II (UNCLOS II), tuy nhiên hội nghị không đạt được tiến triển nào mới.

Song song với sự phát triển và pháp điển hóa Luật biển Quốc tế, vấn đề KTC trên biển đã được các quốc gia áp dụng trong thực tiễn từ những năm 30 của Thế kỷ XX. Ý tưởng về KTC đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu và các án lệ về khai thác dầu mỏ ở Mỹ, sau đó KTC đã được một số quốc gia lựa chọn qua các thỏa thuận về KTC dầu khí, nghề cá như: thỏa thuận KTC giữa Ba-ranh với Ả-rập Xê – út ngày 22/02/2958 có liên quan đến KTC nguồn tài nguyên dầu mỏ tại khu vực biển có đường ranh giới đã được phân định (việc một quốc gia đơn phương khái thác nguồn dầu mỏ mà nằm vắt ngang qua ranh giới sẽ rất dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hưởng đến khả năng khai thác của quốc gia láng giềng). Thỏa thuận KTC giữa Cô-oét với A-Rập Xê-út ngày 07/7/1965 lại là mô hình hợp tác trao quyền quản lý và khai thác cho bên thứ ba…

Hợp tác KTC đã được rất nhiều các quốc gia nghiên cứu ở một mức độ nhất định đã đề cập đến những khía cạnh của lý luận và thực tiễn của việc KTC theo những quan điểm và cách tiệp cận vấn đề khác nhau. Một số tác giả nổi tiếng như: Peter Bautista Payoyo, Hazel Fox, M.Bathurst, D.Mc Dade…trong các bài viết và tác phẩm của mình cũng đã đề cập đến một số vấn đề như: khái niệm, nội dung chế độ pháp lý và phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động KTC[10,tr.18] … Kể từ khi xảy ra tranh chấp TLĐ biển Bắc giữa Đan Mạch, Hà Lan và CHLB Đức năm 1969 KTC đã được các nước chú trọng hơn, từ tranh chấp này mà phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trở thành án lệ và là một nguồn căn cứ pháp lý vững chắc cho các thỏa thuân hợp tác KTC trên biển. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Những thỏa thuận hợp tác KTC đã nêu trên hay thỏa thuận KTC giữa Tây Ban Nha và Pháp năm 1974 hầu hết đều là những thỏa thuận KTC ở vùng biển đã được phân định ranh giới. Một trong những thỏa thuận tạo nên bước ngoặt đánh dấu lần đầu tiên trên thế giới áp dụng ý tưởng hợp tác KTC dầu khí ngoài khơi tại nơi đường biên giới trên biển chưa được phân định là thỏa thuận hợp tác KTC giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974. Đây là kết quả của quá trình đàm phán mà trước đó hai nước đã có nhiều cuộc đàm phán bất thành về giải quyết tranh chấp giữa TLĐ giữa hai nước.

Năm 1967, các vấn đề về các tuyên bố khác nhau về Lãnh hải đã được nêu ra tại LHQ, đến năm 1973 Hội nghị LHQ lần III về Luật Biển được tổ chức tại New York, hội nghị dùng “quy trình đồng thuận” thay cho bỏ phiếu lấy đa số, với 160 nước tham gia, quá trình đàm phán kéo dài sau 09 năm thương lượng (1973- 1982) mới thông qua được một Công ước LHQ về Luật biển mà ngày nay thường gọi là UNCLOS 1982, có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994.

Có thể nói, sự ra đời của Công ước LHQ về luật Biển 1982 (UNCLOS năm 1982) là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự phát triển của Luật biển Quốc tế, nó là một công ước ưu việt nhất so với những công ước về Luật biển Quốc tế trước đó. Ngoài những khái niệm đã được đề cập, UNCLOS năm 1982 điều chỉnh bao chùm tất cả mọi vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, môi trường, Công ước cũng đã điều chỉnh toàn diện và hệ thống các vùng biển của quốc gia ven biển cũng như vùng biển quốc tế và vùng đáy biển. Công ước quy đinh quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, trong khi Hội nghị lần thứ nhất 1958 và Hội nghị 1960 chưa đề cập đến, đặc biệt “Vùng đặc quyền kinh tế” là một quy định, một khái niệm hoàn toàn mới so với những công ước trước. Theo quy định của Công ước, quốc gia ven biển có quyền xác định: Vùng Nội thủy, vùng Lãnh hải rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng Tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng Đặc quyền kinh tế (ĐQKT) rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, Thềm lục địa dù tính theo cách nào thì tối đa không quá 350 hải lý tình từ đường cơ sở. Sự ra đời của Công ước Luật biển 1982 là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết tranh chấp biển. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Công ước Giơnevơ 1958 quy định Thềm lục địa là độ sâu 200m dưới đáy biển và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép, UNCLOS năm 1982 quy định: Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều dài lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài rìa Thềm lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp bờ ngoài rìa lục địa của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng cách 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m không vượt quá 100 hải lý. Như vậy UNCLOS năm 1982 ra đời đã thay đổi hai tiểu chuẩn của thêm lục địa là độ sâu 200m và khả năng khai thác bằng tiêu chuẩn khoảng cách và phần kéo dài tự nhiên.

UNCLOS năm 1982 ra đời đồng nghĩa với việc các vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng đáng kể. Việc mở rộng quyền tài phán của quốc gia ven biển theo UNCLOS năm 1982 dẫn đến xung đột thẩm quyền ở những vùng biển eo hẹp, yêu sách của quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kế nhau sẽ chồng lấn lên nhau. Trên thực tế hiện nay có khoảng trên 400 đường ranh giới trên biển cần được phân định, trong khi đó việc phân định đường biên giới trên biển là cả một quá trình đàm phán kéo dài căng thẳng và phức tạp, căng thẳng càng trở nên phức tạp hơn khi quốc gia ven biển đơn phương khai thác tài nguyên ở những vùng biển chồng lấn đang xảy ra tranh chấp này, nếu không kiềm chế dễ dẫn đến xung đột, chiến tranh…Vì vậy, căn cứ theo khoản 3 của điều 74 và điều 83 của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 “Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”. Một giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn có thể làm giảm bớt căng thẳng và vẫn khai thác được nguồn tài nguyên trong khi chờ đàm phán để đạt được một giải pháp phân định đường biên giới trên biển ở những vùng biển chồng lấn này, đó là phương án “hợp tác Khai thác chung”. Đây là một giải pháp có thể được xem là tối ưu nhất cho các quốc gia ven biển có vùng biển chồng lấn vẫn đang xảy ra tranh chấp về ưu sách chủ quyền. Thực tiễn cho thấy việc hợp tác KTC ở những vùng biển chồng lấn đã tạo ra một hành lang dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia ven biển có vùng biển đối diện và liền kế nhau, vẫn đảm bảo được chủ quyền biển.

1.2 Khái niệm về Hợp tác khai thác chung Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

1.2.1 Những quan điểm về Hợp tác khai thác chung trên biển

Ý tưởng về hợp tác KTC xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX, sau đó đã được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng để giải quyết trong các thỏa thuận hợp tác khai thác tài nguyên thiên nhiên ở các vùng biển chồng lấn như khai thác chung trong lĩnh vực dầu khí, khai thác chung nghề cá… mà không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này với những lý luận, quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau của các tác giả như: Peter Bautista Payoyo với các học thuyết về “Phát triển bền vững”, Hazel Fox với công trình nghiên cứu “KTC về dầu khí ngoài khơi”, M.Bathurst, D.Mc Dade, Zhiguo Gao…trong các bài viết và tác phẩm của mình cũng đã đề cập đến một số vấn đề như: Khái niệm, nội dung chế độ pháp lý và phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động KTC [10,tr.18].

Những ý tưởng, học thuyết và công trình nghiên cứu của các tác giả như đã nói ở trên về hợp tác KTC, mặc dù đã có những thành công nhất định và đã được áp dụng trong thực tiễn nhưng vẫn còn nhiều bất cập như: chưa có sự thống nhất về KTC cũng như nội dung của các thỏa thuận KTC, chưa có một mô hình KTC chuẩn để có thể áp dụng mạng tính khuôn mẫu, một số cơ chế thực thi để áp dụng được hiệu quả… Có nhiều công trình khoa học của các nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân trên thế giới đã hết sức nổ lực nghiên đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề này. Nhiều cuộc hội thảo mang tính quốc tế lớn đã được tổ chức như: Hội thảo về tiềm năng Hydrocacbon và KTC ở biển Nam Trung Hoa lần 1 năm 1980 với sự tham gia chủ yếu là các nhà Địa chất, Chính trị và Kinh tế. Hội thảo lần 2 được tổ chức tại Hololulu (Hawai-Mỹ) vào năm 1983 với sự xuất hiện của các nhà Chính trị và Luật sư. Hội thảo lần 3 tại Bangkok-Thái Lan năm 1985. Hội thảo lần 4 tại Bali-Indonesia năm 1989 với góp mặt của đông đảo các nhà khoa học xã hội… Cùng với đó là sự tham gia nghiên cứu của Viện Luật Quốc tế và Luật So Sánh của Anh trong việc tổ chức nhóm chuyên gia nghiên cứu về dầu khí ngoài khơi đã xây dựng được một Thỏa ước mẫu và Bản bình luận định nghĩa về KTC vào năm 1989. Thỏa ước mẫu này được đưa ra tại Hội thảo ở Luân Đôn với sự tham gia thảo luận của các Viện sỹ và Luật sư, hội thảo đưa ra được biên bản và được phát hành năm 1990 với tiêu đề “KTC dầu và khí xa bờ – Bản thỏa ước mẫu mực thực hiện KTC”. Hai bản ấn phẩm này được giới khoa học đánh giá cao về mức độ súc tích và chi tiết nhất cho chủ đề KTC dầu và khí xa bờ. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Quan điểm về KTC dưới góc độ của nhà chính trị học, Tiến sỹ Wiliam Onorato (tiến sỹ luật Quốc tế của Đại học Cambridge-Mỹ) đinh nghĩa: “KTC là một cơ chế mà theo đó toàn bộ vấn đề tranh chấp biên giới được gác sang một bên để tạo bầu không khí hợp tác về chính trị ngay từ ban đầu xung quanh việc khai thác” [48, tr.111], ở khía canh chính trị này, KTC được hiểu là một giải pháp nhằm gác lại các xung đột, tranh chấp, cùng bắt tay xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác bền vững, cùng nhau khai thác, chia sẻ nguồn lợi tài nguyên biển.

Tại cuộc hội thảo về KTC ở Đông Nam Á do Trung tâm nghiên cứu Đông – Tây của Hoa Kỳ tổ chức được các nhà làm luật và các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều quan điểm về KTC. Trong đó, quan điểm của các luật gia “KTC thường được sử dụng như một thuật ngữ chung, bao gồm các hoạt động từ việc hợp nhất hóa các tài nguyên có trong khu vực đến việc đơn phương khai thác tài nguyên có chung ở ngoài đường ranh giới qui định và các hình thức đa dạng nặm giữa hai dạng này” [10, tr.20]. Robin R.Churchil (TS luật học của ĐH xứ Wales – Anh) định nghĩa: “KTC được coi như một khu vực mà tại đó hai hoặc nhiều quốc gia có théo luật quốc tế các quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của khu vực và ở đó các quốc gia hữu quan đồng ý cam kết thăm dò và khai thác dưới một dạng chung nào đó hoặc một sự dàn xếp chung” [42]. Giáo sư luật học của ĐH British Columbia- Canada là Ian Townsend Gault lại định nghĩa: “KTC là một quyết định bởi hai hay nhiều nước mà các nước này đóng góp bất kỳ quyền nào mà họ có đối với các vùng nhất định và thực hiện cùng quản lý dưới một hình thức nào đó, ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn vì mục đích thăm dò và khai thác các tài nguyên ngoài khơi”, với quan điểm định nghĩa này đề cập đến vấn đề pháp lý về quyền chủ quyền ít hay nhiều của quốc gia hữu quan đối với vùng KTC.

Một thời gian sau đó Gault đã cùng với đồng nghiệp là Wiliam G.Stormont đã đưa ra định nghĩ cụ thể hơn trong lĩnh vực KTC về dầu khí ngoài khơi: “Một thỏa KTC về dầu khí ngoài khơi đặc trưng là một thỏa thuận khi hai hay nhiều quốc gia đi đến một thỏa thuận chính thức về việc hợp tác khai thác và cùng nhau chia sẻ lợi nhuận có được từ hoạt động khai thác dầu khí trong một vùng biển ngoài khơi xác định bằng việc đống góp các quyền chủ quyền của mình đối với các vùng biển đó”. Định nghĩa này đề cập đến vấn đề pháp lí và kinh tế như: cùng đóng góp quyền chủ quyền và cùng nhau chia sẻ lợi nhuận… nhưng định nghĩa chỉ bó hẹp ở lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi, trong khi đó, trên thực tế KTC bao gồm rất nhiều các lĩnh vực khác nhau. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Tại Hội nghị Vacsava năm 1988, Giáo sư Rainer Lagoni (Báo cáo viên đặc biệt của UB vùng đăc biệt kinh tế Hiệp hội luật Quốc tế – ILA) trong bản Báo cáo của mình về vấn đề KTC các nguồn tài nguyên không sinh vật trong vùng đặc quyền kinh đã nêu: “KTC là sự hợp tác giữa các quốc gia về thăm dò và khai thác một số lớp trầm tích, mỏ hay những tích tụ của tài nguyên phi sinh vật mà có thể nằm vắt ngang qua đường biên giới hoặc nằm trong khu vực có yêu sách chồng lấn”. Định nghĩa này được nhiều chuyên gia tán thành vì đưa ra được những vấn đề cụ thể về khai thác chung là: KTC các nguồn tài nguyên không sinh vật và KTC chủ yếu ở hai vị trí, một là KTC ở những nơi đã có đường biên giới trên biển nhưng ở đó có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới, vị trí hai là KTC ở những khu vực chồng lấn về yêu sách chủ quyền[10, tr.22].

Nhóm chuyên gia nghiên cứu KTC dầu và khí ngoài khơi thuộc Viện Luật Quốc tế và Luật So sánh của Anh ngoài việc tán thành với định nghĩa của Giáo sư Rainer Lagoni còn đưa ra định nghĩa: “KTC là sự thỏa thuận của hai quốc gia để khai thác nhằm cùng chia nhau tài nguyên theo một tỉ lệ đã được chấp thuận bởi sự hợp tác liên quốc gia và những biện pháp nhà nước đối với dầu và khí xa bờ tại một vũng đã xác định của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển của thềm lục địa mà cả hai hoặc các quốc gia tham gia đều có quyền theo luật pháp quốc tế. Khi các quốc gia thừa nhận một vùng đặc quyền kinh tế thì các định nghĩa nói trên có thể được mở rộng cho sự thỏa thuận chung để khai thác vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn” [45].

Từ những định nghĩa và những giải pháp của các chuyên gia như đã nêu ở trên, có thể thấy rằng hoạt động KTC thường diễn ra ở vùng biển mà hai hay nhiều quốc gia cùng yêu sách chủ quyền. Trong khi chờ đàm phán, ký kết thỏa thuận phân định biên giới trên biển, các quốc gia yêu sách chủ quyền có thể đàm phán nhượng bộ với nhau một phần quyền của mình để đi đến một thỏa thuận tạm thời về khai thác chung tài nguyên biển ở toàn bộ hay một phần của khu vực các chồng lấn (quốc gia yêu sách chủ quyền). Thỏa thuận tạm thời này là phương án khả thi, đã được một số các quốc gia ven biển áp dụng trên thực tế và đã được khuyến khích theo Điều 74 và Điều 83 của Công ước luật Biển Quốc tế năm 1982 về việc các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định TLĐ và vùng ĐQKT thì có thể thỏa thuận dàn xếp tạm thời mạng tính thực tiễn: “ Việc hoạch định ranh giới vùng ĐQKT giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện theo con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã quy định tại Điều 38 của Quy chế Tòa án Quốc tế để đi tới một giải pháp công bằng…Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”.

Vậy KTC có thể được hiểu là: Sự thỏa thuận hợp tác giữa các quốc gia nhằm khai thác các nguồn tài nguyên nằm xuyên đường ranh giới biển đã được xác định hoặc trong vùng có yêu sách chủ quyền chồng lấn giữa các quốc gia đó[10, tr.24]. Việc thỏa thuận nhằm xác lập một cơ chế hợp tác nhật định mạng tính giải pháp dàn xếp tạm thời, không phương hại đến yêu sách chủ quyền của các bên và không ảnh hưởng đến các thỏa thuận cuối cùng để giải quyết các tranh chấp quyền chủ quyền và chủ quyền lãnh thổ. Từ đó có thể rút ra được vấn đề hợp tác KTC dưới góc độ tổng quan như sau:

Về vùng KTC: Vùng KTC có thể xác lập vùng KTC tại nơi có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường rang giới đã được xác định (đã xác định được đường ranh giới trên biển) hoặc KTC tại vùng biển đang tồn tại yêu sách chủ quyền (vùng chồng lấn), chưa xác định được ranh giới trên biển giữa các quốc gia. Ngoài ra vùng KTC còn có thể được tiến hành ngay trong vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn của một quốc gia và được quốc gia chủ quyền đồng ý cho phép hợp tác KTC vì mục tiêu phát triển theo phương thức hai bên cùng có lợi. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Về đối tượng KTC: ngày nay KTC không chỉ bó buộc ở một vài nhóm đối tượng như KTC tài nguyên sinh vật (cá,sinh vật biển…) và phi sinh vật (dầu mỏ và khí đốt, khoáng sản rắn khắc…), trên thực tế đối tượng để các chủ thể hợp tác KTC còn hướng tới nhiều hoạt động khác như: nghiên cứu khoa học, du lịch, giao thông, thăm dò tiềm năng nguồn lợi, bảo vệ môi trường…

Về chủ thể của hoạt động hợp tác KTC: Chủ thể là đại diện cho Nhà nước của một quốc gia có chủ quyền. Ngoài ra KTC còn có sự tham gia của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, nhà đầu tư… được Nhà nước ủy quyền. Do vậy, địa vị pháp lý và vai trò của các chủ thể sẽ không đồng nhất với nhau, nhưng trong các mối liên hệ về thỏa thuận hợp tác KTC thì các quốc gia là chủ thể chính.

Về thuật ngữ KTC: KTC về bản chất là sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc cùng khai thác tài nguyên ở một vùng biển nhất định, KTC được sử dụng trong tiếng Anh “Jiont Development” hiểu theo tiêng Việt là “KTC” hay “hợp tác cùng phát triển” hay “phát triển chung”. Việc đồng nhất các các khái niệm này đang được các các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. “KTC” thường được dùng để chỉ những hoạt động hợp tác liên quan đến hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ lợi ích kinh tê đồng thời nhằm đạt được những mục tiêu nhất định về mặt chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. “Hợp tác cùng phát triển” hay “phát triển chung” được hiểu theo nghĩa rộng hơn không chỉ đơn thuần là cùng khai thác tài nguyên mà bao hàm cả những hoạt động hợp tác khác như: nghiên cứu khoa học, trao đổi chuyên gia, trợ giúp kỹ thuật, tài chính, bảo vệ môi trường, giao thông … Ở Việt Nam, một số chuyên gia đã đưa ra tranh luận rằng: không nên dùng khái niệm KTC để chỉ các hoạt động hợp tác khai thác tài nguyên biển giữa Việt Nam và các nước ở Biển Đông mà nên dùng khái niệm “hợp tác cùng phát triển”. Các ý kiến này đều xuất phát từ căn cứ mối liên hệ giữa vấn đề KTC và vấn đề chủ quyền quốc gia trên biển, một trong những biểu hiện rõ nhất cho vấn đê này là quan điểm của một số chuyên gia, nhà nghiên cứu đối với quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Biển Đông của Trung Quốc. Theo ý kiến của các chuyên gia, để có sự phân biệt với sự thể hiện lập trường quan điểm của Trung Quốc thì Việt Nam không nên dùng từ “KTC” mà nên dùng từ “hợp tác cùng phát triển” để chỉ việc hợp tác khai thác tài nguyên như là một giải pháp tạm thời cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với một số vùng biển nhất định ở khu vực biển Đông[10, tr.27]. Thuật ngữ “KTC” là một thuật ngữ phù hợp với thực tiễn cũng như bản chất mối quan hệ giữa các quốc gia trong việc hợp tác cùng khai thác tài nguyên biển. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Về tác động của hoạt động KTC: Các thỏa thuận về hợp tác KTC không chỉ nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích kinh tế mà KTC còn có tác động lớn tới chủ quyền quốc gia trên biển. KTC còn là một bước đệm, một giải pháp, một cắn cứ căn bản ban đầu làm cầu nối để tiến tới giải quyết các vấn đề phân định chủ quyền phân chia đường ranh giới trên biển với những vùng biển mà các quốc gia đang yêu sách chủ quyền.

Vì vậy KTC vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đối với yêu sách chủ quyền. Một thỏa thuận hợp tác KTC được ký kêt có thể tạo điều kiện cho một số quốc gia từng bước khẳng định chủ quyền của mình đối với vùng biển mà quốc gia đó đang có yêu sách chủ quyền. Mặt khác, nó lại là một thách thức hay bất lợi cho một số quốc gia khác do làm hạn chế khả năng khẳng định chủ quyền của mình, vì khi ký thỏa thuận KTC có nghĩa là quốc gia đó tự thu hẹp khả năng khẳng định chủ quyền và tạo điều kiện cho một số quốc gia khác cùng tham gia vào quá trình tranh chấp chủ quyền.

1.2.2. Thỏa thuận về hợp tác KTC

Trên thực tế, KTC thường diễn Ra ở nhiều khu vực khác nhau, KTC có thể diễn ra ở vùng biển chưa phân định ranh giới, có thể diễn ra ở vùng biển đã phân định ranh giới, có thể ở vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia…Tuy nhiên thỏa thuận KTC thường có những đồng nhất như sau:

Về mối quan hệ xác lập: Thỏa thuận KTC là một điều ước quốc tế được ký kết giữa hai hay nhiều các quốc gia có quyền và lợi ích trực tiếp liên quan và chỉ có hiệu lực đối với quốc gia đó nhằm thiết lập cơ chế hoạt động hợp tác cùng khai thác các nguồn tài nguyên biển tại một vùng biển nhất định. Điều này có nghĩa rằng: Thỏa thuận hợp tác KTC được xác lập dựa trên sự nhất trí của các quốc gia hữu quan với tinh thần bình đẳng về chủ quyền và chia sẻ lợi ích. Các quốc gia sẽ cùng nhau thỏa thuận và đưa ra một vùng biển có diện tích, tọa độ rõ ràng, có thể là vùng chồng lấn hoặc có thê trong vùng biển đã được phân định..

Tại các vùng biển chồng lấn yêu sách chủ quyền của các quốc gia, thỏa thuận KTC là giải pháp có tính tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường của các quốc gia về yêu sách chủ quyền đối với vùng biển thỏa thuận KTC, điều này được ghi nhận trọng điều 74 và điều 83 của Công ước luật Biển 1982. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Tại các vùng biển đã được phân định đường ranh giới có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang, thỏa thuận KTC có mục đích là hợp nhất các nguồn tài nguyên để hợp tác cùng quản lý, bảo tồn và khai thác nguồn tài nguyên đó mà không ảnh hưởng đến đường ranh giới đã được phân định.

Về tổ chức quản lý: Thỏa thuận KTC là thỏa thuận quốc tế, trên cơ sở các quốc gia đàm phán đi đến thỏa thuận thống nhất các vấn đề pháp lý, thiết lâp duy trì thời gian hợp tác, cơ chế hợp tác cùng khai thác và quản lý nguồn tài nguyên ở một vùng biển nhất định dựa trên cơ sở bình đẳng và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan. Các quốc gia đàm phán, thỏa thuận đi đến thống nhất với nhau về một phương thức quản lý, phân chi lợi thuận và phân bổ chi phí sau khi xác lập phạm vi KTC sao cho đảm bảo công bằng về quyền và lợi ích của các bên.

Về tính pháp lý: thỏa thuận KTC là một điều ước quốc tế nhằm thiết lập một cơ chế hợp tác cung tiến hành một hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển và chia sẻ những lợi ích kinh tế. Các quốc gia tham gia thỏa thuận sẽ đưa ra một cơ chế quản lý, điều hành chung để cùng nhau đưa ra những quyết định nhằm bảo đảm lợi ích của các bên trong quá trình hợp tác. Vậy thỏa thuận KTC là thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia như vậy chúng sẽ được chia phối bởi Luật quốc tế và thỏa thuận này tạo ra nghĩa vụ pháp lý giữa các quốc gia và là yếu tố để các quốc gia đẩy nhanh quá trình “nội luật hóa” Luật quốc tế khi các quốc gia ban hành pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thỏa thuận KTC trên cơ sở các điều khoản của điều ước quốc tế.

1.3. Vai trò và lợi ích của việc hợp tác KTC Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

KTC được hiểu là một sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ các nguồn tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn về yêu sách chủ quyền hay các nguồn tài nguyên nằm vắt ngang qua đường phân định ranh giới trên biển. Đây là giải pháp tạm thời để cùng nhau khai thác tài nguyên, dựa trên nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của các quốc gia, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại. Một giải pháp tạm thời nhằm giảm thiểu các xung đột, tranh chấp trên biển giữa các quốc gia yêu sách chủ quyền là cùng nhau thỏa thuận hợp tác KTC, thỏa thuận KTC không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia hữu quan. Theo khoản 3 Điều 74 và Điều 83 Công ước Luật biển năm 1982 nêu rõ: “Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”. Ngày nay KTC càng trở nên hiệu quả bởi KTC vừa có tác dụng giảm căng thẳng giữa các bên, làm “mền hóa” những xung đột, hạn chế được các tranh chấp kéo dài ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước, hạn chế xung đột, chạy đua vu trang, xây dựng lòng tin, giảm tranh chấp, hợp tác cùng phát triển. Mặt khác, KTC được coi là giải pháp ưu tiên trong các giải pháp “dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn” là sự lựa chọn mang tính khả thi rất cao được nhiều quốc gia thỏa thuận áp dụng, nhưng bản thân nó lại không ảnh hưởng đến việc phân định cuối cùng, nên KTC có thể đáp ứng được nhu cầu khai thác tài nguyên vì lợi ích kinh tế của các quốc gia hữu quan. Đối với những khu vực đang tồn tại tranh chấp chủ quyền, các quốc gia yêu sách chủ quyền không thể đơn phương tiến hành khai thác tài nguyên, vì nó sẽ làm cho tình trạng tranh chấp trở nên sấu đi, căng thẳng leo thang. Một thỏa thuận hợp tác KTC tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc về hợp tác khai thác, phân chia lợi nhuận, tạm gác tranh chấp và là tiền đề cho việc phân định sau này trở nên có cơ sở hơn. Như vậy, hợp tác KTC góp phần vào việc giải quyết các tranh chấp về phân định ranh giới trên biển[10,tr.30 ].

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, hợp tác KTC là một giải pháp “dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn” là sự lựa chọn mang tính khả thi rất cao được nhiều quốc gia thỏa thuận áp dụng nhằm chung hòa lợi ích giữa các quốc gia, giảm thiểu căng thẳng tranh chấp ảnh hưởng đến tình hình kinh tê, chính trị, an ninh, an toàn hàng hải, ảnh hưởng rất lớn đến hòa bình, ổn định và phát triển. Hợp tác KTC còn đáp ứng được nhu cầu về khai thác tài nguyên biển phục vụ lợi ích kinh tế và góp phần vào cũng cố mối quan hệ về chính trị, ngoại giao giữa các nước, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia, đem lại hòa bình, hữu nghị láng giềng thân thiện, hợp tác cùng phát triển.

1.4. Phân loại khai thác chung

  • Hoạt động KTC giữa các quốc gia thường được phân loại như sau:

1.4.1. Căn cứ vào đối tượng KTC Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Phân loại căn cứ vào đối tượng KTC đươc phân thành nhóm đối tượng cơ bản là KTC nguồn tài nguyên thiên nhiên phi sinh vật và nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật[11,tr.58 ].

KTC nguồn tài nguyên thiên nhiên phi sinh vật: Nhóm tài nguyên này chủ yếu là dầu và khí đốt, các tài nguyên khác như than đá, kim loại, quạng sa khoáng…ít được đề cập đến bởi việc khai thác đòi hỏi công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại, chi phí khai thác cao hơn rất nhiều lần so với khai thác trên đất liền, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, không mạng lại lợi ích kinh tế. Dầu mỏ và khí đốt luôn là ngành công nghiệp mũi nhọn đóng góp nhiều cho nên kinh tế của các quốc gia có mỏ dầu và khí. Dầu mỏ và khí đốt mạng lại siêu lợi nhuận cho mỗi quốc gia hữu quan, bởi vì dầu mỏ và khí đốt đang giữ một vai trò quan trọng so với các dạng năng lượng khác trong việc làm nhiên liệu cho máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, giao thông vận tải. Dầu mỏ và khí đốt cùng với than đá chiếm tới 90% tổng tiêu thụ năng lượng trên thế giới.

Dầu mỏ và khí đốt là một nguồn nhiên liệu có sẵn trong thiên nhiên dưới lòng đất. Tuy nhiên việc khai thác dầu mỏ và khí đốt trên biển luôn gặp vấn đê rủi ro rất cao, do vậy việc khai thác dầu và khí luôn đòi hỏi phải có trình độ kỷ thuật cao, máy móc thiết bị hiện đại từ khau thăm dò đến khâu khai thác. Việc thăm dò và khai thác các mỏ dầu và khí dưới đáy biển phải hiệu quả và phải đáp ứng được cá yêu cầu khắt khe như: bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường biển, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển tại khu vực khai thác.

KTC nhóm nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật: bao gồm hợp tác KTC nghề cá, đánh bắt hải sản và các tài nguyên sinh vật, thực vật…Khai thác tài nguyên sinh vật không chỉ đòi hỏi hiệu quả cao, mà còn phải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về khai thác bền vững, bảo tồn và duy trì khả năng sinh sản và phát triển nguồn tài nguyên đó.

Khai thác tài nguyên sinh vật không cần đến những máy móc thiết bị công nghệ như khai thác tài nguyên phi sinh vật và được thực hiện chủ yếu bởi các ngư dân và các đội tàu khai thác. Hoạt động của các đội tàu khai khác chịu sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt chịu sự quy định về công cụ khai thác và mức sản lượng khai thác. Việc khai thác nguồn tài nguyên sinh vật phụ thuộc vào các yếu tố như mùa sinh sản, luồng cá, khí hậu, thời tiết và năng lực đánh bắt của mối quốc gia.

KTC tài nguyên sinh vật có bản chất là hợp nhất ngư trường, hợp tác quản lý việc khai thác như: đánh bắt trữ lượng và xác định khả năng cho phép khai thác thực tế, quy định công cụ đánh bắt, quy đinh xử lý các hành vi khai thác trái phép, thu thuế… nhằm để bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ ngư dân, bảo vệ môi trường biển, tránh đánh bắt tận thu, tận diệt.

KTC các nguồn lợi hỗn hợp và các tiềm năng khác của biển: Về bản chất là thỏa thuận hợp tác KTC theo ý chí của các quốc gia, nhằm khai thác tận dụng mức tối đa tiềm năng và lợi ích mà biển đem lại. Trong lĩnh vực hợp tác khai thác, ngoài những hợp tác KTC tài nguyên phi sin vật và sinh vật, các quốc gia còn hợp tác cùng nhau khai thác tiềm năng và nguồn lợi của biển như trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, du lịch, giao thông vận tải, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, bảo vệ môi trường biển… Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

1.4.2. Căn cứ vào chủ thể quan hệ

Chủ thể của quan hệ hợp tác KTC là các quốc gia tham gia vào hoạt động thỏa thuận hợp tác KTC. Vì vậy hoạt động KTC được phân loại thành[11,tr.58 ]:

KTC song phương: là quan hệ hợp tác KTC giữa hai quốc gia có vùng biển tranh chấp về chủ quyền trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. KTC song phương giữa hai quốc gia nên việc đi đến thỏa thuận hợp tác thường dễ hơn hợp tác nhiều quốc gia, trên thực tế các thỏa thuận KTC phần lớn đều là các thỏa thuận song phương. Tuy nhiên, thực tê không phải mọi tranh chấp song phương đều có thể dễ dàng thiết lập được thỏa thuận hợp tác KTC song phương được, vì do yếu tố chủ quân của từng quốc gia.

KTC đa phương: Vùng KTC liên quan đến quyền chủ quyền của nhiều quốc gia (nhiều quốc gia đòi hỏi chủ quyền đối với vùng biển đó). Thực tế về hợp tác KTC đa phương rất khó để đi đến được một thỏa thuận cuối cùng, cho tới nay KTC đa phương cũng chỉ nhiều nhất có bốn bên tham gia hợp tác KTC. Đối với vùng biển đang tồn tại phức tạp về tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia có yêu sách chủ quyền, chưa phân định được đường ranh giới phân định biển thì cơ chế hợp tác KTC nhiều bên là một giải pháp tôi ưu vì nó vẫn đảm bảo được yếu tố yêu sách chủ quyền và vẫn khai thác được tài nguyên phục vụ lợi ích kinh tế, mặt khắc giúp các bên tham gia tranh chấp hiểu nhau hơn, tự do thỏa thuận đàm phán…

1.4.3. Căn cứ vào vị trí vùng KTC

Căn cứ vào vị trí hợp tác KTC có thể được phân chia thành nhưng loại sau:

  • KTC ở vùng biển nơi chưa có đường ranh giới phân định biển.
  • KTC ở vùng biển nơi đã có đường ranh giới phân định biển.
  • KTC ở vung biển thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định.

Về cơ bản các loại hình KTC trên đều thể hiện quan hệ hợp tác cùng khai thác chung tài nguyên biển vì mục đích phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Nhưng điểm khác biệt cơ bản của các loại hình hợp tác trên thể hiện ở mức độ về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia khi tham gia thỏa thuận hợp tác KTC. Ví dụ như trong trường hợp hợp tác KTC ở vùng biển nơi chưa có đường ranh giới phân định biển, các quốc gia không chỉ đóng góp quyền chủ quyền yêu sách của mình cùng với việc đóng góp hợp nhất nguồn tài nguyên và các nghĩa vụ đi kèm như bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, thuế phí, quyền kiểm tra hải quan. Đối với vùng biển đã được phân định đường ranh giới trên biển, các quốc gia hợp tác có thể thỏa thuận việc hợp nhất hoặc không hợp nhất quyền chủ quyền của mình theo từng khu vực biển trong vùng KTC có đường ranh giới trên biển phân định. Trường hợp KTC trong vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định thì không bị giới hạn bởi quyền chủ quyền và các nghĩa vụ khác.

1.4.4. Căn cứ theo phương thức quản lý

Hoạt động hợp tác KTC có thể được chia thành:

  • KTC được quản lý bởi Chính phủ các quốc gia
  • KTC được quản lý bởi cơ quan, tổ chức được nhà nước ủy quyền

Ngoài ra, Phân loại KTC có thể được phân loại căn cứ theo tiêu chí mực tiêu hợp tác KTC như: KTC vì mục tiêu kinh tế, KTC vì mục đích hòa bình, ổn định..

1.5. Cơ sở của hoạt động hợp tác KTC Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

1.5.1. Cơ sở pháp lý

1.5.1.1. Luật Quốc tế

Sự ra đời của LHQ vào năm 1945 đã khuyến khích sự phát triển của luật pháp quốc tế và việc pháp điển hóa luật pháp quốc tế. Điều 13.1 Hiến chương LHQ quy định: “Đại hội đồng tổ chức nghiên cứu và thông qua những kiến nghị nhằm:

  • Phát triển sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chính trị và thúc đẩy các biện pháp pháp điển hóa và sự phát triển của luật quốc tế theo hướng tiền bộ;..”

Các nguyên tác cơ cơ bản của LHQ là những nguyên tắc có tính bao trùm, xuyên suốt và mang tính căn bản làm cơ sở xây dựng và thi hành Luật quốc tế. Những nguyên tắc cơ bản này được ghi nhân rộng rãi trong nhiều văn kiện quốc tế như Hiến chương LHQ, Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng LHQ ngày 24/10/1970 về nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các nguyên tắc cơ bản [ 17,tr. 32] gồm:

  • Nguyên tác bình chủ quyền giữa các quốc gia;
  • Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;
  • Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực;
  • Nguyên tác giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế;
  • Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác;
  • Nguyên tắc dân tộc tự quyết;
  • Nguyên tắc tận tâm, tự nguyện thực hiên các cam kết quốc tế.

Luật quốc tế là một trong những cơ sở pháp lý quan trong, tạo điều kiện cho quá trình pháp điển hóa các quy phạm pháp luật quốc tế. Khi các quốc gia thỏa thuận xác lập mối quan hệ hợp tác KTC thì những nguyên tắc cơ bản trên của Luật quốc tế sẽ chia phối, điều chỉnh để góp phần đảm bảo cho một thỏa thuận hợp tác KTC có hiệu lực pháp lý.

1.5.1.2. Quy phạm Điều ước quốc tế Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Quy phạm Điều ước quốc tế là những quy phạm (thành văn bản) được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế. Hoạt động hợp tác KTC điều chỉnh bởi các quy phạm Điều ước quốc tế, đặc biệt trong Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 và các Điều ước quốc tế song phương và đa phương khác về hợp tác KTC trên biển. Công ước Luật biển 1982 đã mở ra cho các nước đang có tranh chấp về “yêu sách chủ quyền chồng lấn” một sự lựa chọn mới mang tính tạm thời có tính thực tiễn đó là việc hợp tác KTC trong thời gian chờ đợi đàm phán để đi đến một thỏa thuận phân định biển cuối cùng. Điều 74 và Điều 83 của Công ước nêu rõ: “Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các quốc gia hữu quan tiến hành đàm phán, thương lượng, ký kết các thỏa thuận về hợp tác KTC. Các thỏa thuận này có thể được sửa đổi, bổ xung, gia hạn hoặc chấm dứt hiệu lực tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên tham gia, sao cho không trái với các nguyên tác cơ bản của Luật quốc tế.

Quy phạm Tập quán quốc tế: Là những quy tắc xử sự chung hình thành trong thực tiễn (bất thành văn) quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc. Vậy đây cũng là một căn cứ pháp lý quan trọng, hình thành nên từ thực tiễn. Luật biển quốc tế được hình thành dưới dạng các quy phạm của luật tập quán và các hệ tư tưởng về quyền khai thác tài nguyên biển của con người. LHQ đã pháp điển hóa các quy tắc này qua đó đã xây dựng thành các quy phạm và nguyên tác Luật biển hiện đại. Các tập quán quốc tế về hợp tác KTC có thể được hình thành rất lâu hoặc mới được hình thành từ thực tiễn nhưng chúng phải phù hợp và được các quốc gia ven biển chấp thuận cao vì tính khả thi trong việc áp dụng nó đối với các chủ thể của Luật quốc tế. Các tập quán như: Vùng nước lịch sử, tự do thông thương không gây hại của tàu buôn, tự do đánh bắt cá, tôn trọng vùng biển gần bờ của các quốc gia khác… đã và đang được ghi nhận và áp dụng. Ngày nay, mặc dù các điều ước quốc tế về Luật biển được nhân rộng nhưng tập quán quốc tế về biển nói chung và về hợp tác KTC trên biển nói riêng vẫn được bảo tồn và phát huy giá trị. Các quốc gia vẫn sử dụng nguồn quy phạm tập quán và đôi khi có thể lại được thiết lập một tập quán mới.

Các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế: là nguồn bổ trợ của Luật quốc tế và là một trong các cơ sở để các quốc gia ký kết thỏa thuận hợp tác KTC, ví dụ: Trong phán quyết của Tòa Công lý quốc tế xét xử vụ tranh chấp phân định TLĐ biển Bắc năm 1969 giữa CHLB Đức, Hà Lan và Đan Mạch đã phân tích về các nguyên tắc áp dụng để phân định TLĐ trong hoàn cảnh thực tế vụ việc và đề cập đến khả năng các quốc gia có thể quyết định: “hoặc bằng việc phân chia các vùng chồng lấn thông qua thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì bằng cách phân chia thành các phần đều nhau trừ khi các bên quyết định sử dụng chế độ tài phán chung hoặc KTC toàn bộ hay một phần bất kỳ nào của vùng chồng lấn”.

Ngoài ra, hoạt động KTC còn được đề cập đến trong các văn kiện pháp lý quốc tế khác như: Công ước về đa dạng sinh học biển năm 1992; Nghị quyết số 2295 của Đại hội đồng LHQ năm 1972 về hợp tác trong lĩnh vực môi trường; Nghị quyết số 3129 năm 1973 về hợp tác trong lĩnh vực môi trường liên quan đến tài nguyên thiên nhiên có chung của hai hay nhiều quốc gia; Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO năm 1995…

1.5.2 Cơ sở khoa học Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Cơ sở khoa học của hoạt động hợp tác KTC trên biển theo luật pháp quốc tế phải bao hàm cả hai góc độ lý luận và thực tiễn. Từ đó, những luận điểm chính trong cơ sở khoa học của hoạt động hợp tác KTC ở các vùng biển gồm:

Đặc điểm điều kiện tự nhiên như vị trí địa vật lý,thủy văn, môi trường, nguồn tài nguyên…và tầm quan trọng của các vùng biển có khả năng để tiến hành xác lập các hoạt động hợp tác KTC;

Nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và quản lý khai thác biển vể phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo yêu sách chủ quyền và quyền chủ quyền…

Yêu cầu giải quyết xung đột, tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền của các quốc gia đối với các vùng biển yêu sách chủ quyền và những vấn đề pháp lý liên quan

Xu thế hội nhập, hợp tác trong lĩnh vực khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên biển, những lới ích của hoạt động hợp tác KTC đối với các quốc gia hữu quan, các vấn đề cơ bản đảm bảo cho việc thiết lập và thực hiện thỏa thuận hợp tác KTC tại các vùng biển[10,tr.64].…

Nội dung những luận điểm chính trong cơ sở khoa học của hoạt động hợp tác KTC được giải thích cụ thể như sau:

1.5.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Với điều kiện tự nhiên, diện tích chiếm gần hết bề mặt của trái đất (khoảng 71% diện tích bề mặt trái đất là đại dương), cùng với nguôn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú. Trong khi đó, nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt và trở nên khan hiếm hơn, nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trở nên cấp thiết. Vì vậy, chiến lược tiến ra biển, làm chủ biển để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những chiến lược quan trọng của mối quốc gia. Xu thế tiến ra biển ngày càng rõ nét của các quốc gia, điều này đã góp phần làm gia tăng các xung đột, tranh chấp trên biển giữa các vùng biển chưa có đường ranh giới phân định. Tranh chấp càng trở nên gay gắt và phức tạp hơn khi những vùng biển liền kề hoăc đối diện nhau giữa các quốc gia ven biển có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao. Các vùng biển được các quốc gia hữu quan tính đến khả năng hợp tác KTC thường là những vùng biển giàu tài nguyên thiên nhiên hoặc những vùng biển có khả năng đem lại những lợi ích quốc gia như: lợi ích kinh tế, thương mại, hàng hải, an ninh – quốc phòng… Vì vậy, đặc điểm điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, nguồn lợi tài nguyên, khoáng sản…) là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên (xét ở khía cạnh cả về khoa học cũng như khía cạnh thực tế) cần phải tính đến trong vấn đề hợp tác KTC giữa các quốc gia.

Vị trí địa lý cũng tạo ra lợi thế nhất định cho các quốc gia trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt các quốc gia ven biển. Vị trí địa lý của quốc gia ven biển giúp cho các quốc gia ven biển phát triển thuận lợi trong giao thông vận tải đường biển, đường hàng hải, giao thương quốc tế, du lịch, nghiên cứ khoa học và khai thác tài nguyên thiên nhiên, đánh bắt cá…Khi xảy ra tranh chấp trên biển, vị trí địa lý là nhân tố ảnh hường đầu tiên, từ vị trí địa lý dẫn đến vấn đề nảy sinh yêu sách chủ quyền chồng lấn, đồng thời vị trí địa lý cũng là một trong những điều kiện để các quốc gia tiến hành thỏa thuận hợp tác KTC và tiến tới đàm phán phân định đường ranh giới trên biển.

Trong các vùng biển, có vùng biển giàu tài nguyên, có vùng biển ít tài nguyên. Những vùng biển giàu tài nguyên thường thu hút nhiều hơn sự quan tâm của các quốc gia ven biển, do đó những vùng biển này cũng thường xảy ra tranh chấp về yêu sách chủ quyền nhiều hơn…Trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển, dầu mỏ và khí tự nhiên một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên rất cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế, là nguồn nguyên liệu, năng lượng không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng, đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn thu chính của nhiều quốc gia ven biển. Hoạt động hợp tác KTC dầu khí trên biển thường được tiến hành ở những vùng biển được dự đoán là có trữ lượng dầu khí lớn. Ví dụ như Vịnh Ba tư là vành đai nông của Ấn Độ Dương nằm giữa Ả Rập và vùng Tây Nam Iran được đánh giá là vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới (theo số liệu nghiên cứu từ năm 2003 của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ thì trữ lượng dầu mỏ tại đây đo được ước khoảng 674 tỉ thùng). Đây được coi là vùng nóng bởi tranh chấp về chủ quyền của các quốc gia vên biển trong khu vực này (trong đó đã có hai quốc gia là Ba-ranh và A-rập Xê-út đã đạt được thỉa thuận về KTC và ranh giới trên biển từ rất sớm, từ năm 1958 đã ký thỏa thuận KTC và năm 1985 ký Hiệp ước phân định ranh giới TLĐ) [10,tr.65]. Biển Đông cũng được xem là vùng biển có trữ lượng dầu mỏ lớn, hiện tại cũng là một điểm nóng, có nhiều tranh chấp…

1.5.2.2. Nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và quản lý khai thác biển phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng..

Trước sự phát triển như vũ bão của kinh tế và sự phát triển vượt bậc về khoa học – kỹ thuật như như ngày nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang dần trở nên khan hiếm, nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng. Để đáp ứng cung cấp đủ cho nhu cầu sử dụng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, các quốc gia luôn tìm cách khai thác triệt để nguồn tài nguyên, trong đó vươn ra biển, làm chủ biển luôn được các quốc gia ven biển tính đến.

Trong trường hợp nguồn tài nguyên thiên nhiên nằm trong vùng biển chồng lấn về yêu sách chủ quyền của quốc gia ven biển, việc một quốc gia đơn phương khai thác tại khu vực đang có tranh chấp sẽ không được các quốc gia khác chấp nhận, dẫn đến xung đột, căng thẳng giữa các quốc gia.Kết luận Chương I

Hợp tác KTC sẽ giải quyết được rất nhiều trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên để phục vụ cho sự phát triển

kinh tế xã hội, an ninh năng lượng, giúp các quốc gia tham gia hợp tác KTC đạt được những lợi ích thiết thực từ nguồn lợi của các tài nguyên. Hợp tác KTC là hoạt động thể hiện mong muốn, thiện chí của quốc gia, để đi đến một thỏa thuận hợp tác đòi hỏi các quốc gia hữu quan phải hết sức thiện chí trên tình thần hữu nghị hợp tác cùng có lợi.

Để đảm bảo được an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển, đặc biệt tại các vùng biển đang xảy ra căng thẳng về tranh chấp chủ quyền và yêu sách chủ quyền chồng lấn, hoạt động hợp tác KTC được coi là biện pháp hữu hiệu làm giảm bớt căng thẳng, tránh được xung đột vũ trang và là tiền đề cho vấn đề đàm phán phân định ranh giới trên biển. Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464