Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Các loại hình hợp tác KTC điển hình

2.1.1 KTC phân theo tiêu chí tính chất khu vực

Hợp tác KTC theo tính chất khu vực, được phân thành ba loại sau: KTC ở vùng biển chồng lấn (về yêu sách chủ quyền) nơi chưa có đường ranh giới phân định biển; KTC tại nơi có đường ranh giới phân định nhưng có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua; KTC trong vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia.

2.1.1.1 Hợp tác KTC ở vùng biển chồng lấn (về yêu sách chủ quyền) nơi chưa có đường ranh giới phân định biển

Từ khi áp dụng Công ước luật biển năm 1982 quy định quy chế vùng Đặc quyền kinh tế 200 hải lý và Thềm lục địa có thể kéo dài tới 350 hải lý. Rất nhiều những quốc gia đã được hưởng lợi việc mở rộng quyền chủ quyền và quyền tài phán khi áp dụng Công ước này, điều này làm ra tăng các vùng biển chồng lấn chủ quyền mà các quốc gia ven biển có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau giữa các quốc gia hữu quan. Khi có sự chồng lấn chủ quyền, nếu một quốc gia đơn phương tiến hành thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên ở khu vực tranh chấp này là việc không được quốc gia có tranh chấp và cộng đồng quốc tế chấp nhận. Vì vậy, để giảm bớt căng thẳng nhưng vẫn đảm bảo có thể khai thác được nguồn tài nguyên và đảm bảo được yêu sách chủ quyền , tạm thời gác tranh chấp, các quốc gia hữu quan trao đổi, thỏa thuận một giải pháp tạm thời là hợp tác KTC tại vùng biển tranh chấp chủ quyền này là một giải pháp thích hợp cho cả đôi bên.

Đây là loại hình phổ biến nhất trong thực tế vì nó được hình thành trong quá trình các quốc gia tìm phương thức giải quyết các tranh chấp về chủ quyền tại vùng biển chồng lấn. Đặc biệt, đây là một giải pháp mang tính dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn, nhưng không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của mỗi bên và không ảnh hưởng đến kết quả phân định cuối cùng, nhưng có thể được xem là một trong những khả năng lựa chọn để các bên có thể làm căn cứ cho việc đi đến một thỏa thuận hoạch định đường ranh giới trên biển. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Trong các thỏa thuận hợp tác KTC tại khu vực chồng lấn về yêu sách chủ quyền thì đa số đều thỏa thuận liên quan đến KTC nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí tư nhiên (sau đây gọi là dầu khí), với trên 40 thỏa thuận KTC. Trong đó, một số thỏa thuận KTC dầu khí được cho là thỏa thuận KTC điển hình tại các khu vực chồng lấn sau:

Thỏa thuận hợp tác KTC giữa Cô-oét và A-rập Xê-út ngày 07/7/1965 đối với vùng biển trung lập;

Bản ghi nhớ giữa Malaysia và Thái lan ngày 21/02/1979 xuất phát từ những mâu thuẫn bất đồng về hiệu lực của đảo Ko Losin trong quá trình phân định đường ranh giới đã không thống nhất được vì quan điểm của hai nước hoàn toàn trái ngược nhau. Cuối cùng giải pháp tạm thời là hợp tác KTC được hai bên thống nhất khi yêu sách của Thái lan ngày 15/8/1973 và yêu sách của Malaysia ngày 21/12/1979 tạo thành vùng chồng lấn;

Thỏa thuận hợp tác KTC giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974 về vùng KTC phía Nam TLĐ liền kề hai nước, hai nước thống nhất phạm vi KTC rộng 24.092 hải lý vuông và được chia thành 09 tiểu vùng. Chính phủ hai nước sẽ cấp đặc nhượng cho các Doanh nghiệp được phép thăm dò, khai thác ở một khu vực nhất định thuộc một trong chín tiểu vùng;

Bản ghi nhớ giữa Iran và Sharjah ngày 29/11/1971;

Hiệp định giữa Australia và Indonexia ngày 11/12/1989 xác định vùng KTC rộng 11.129 hải lý vuông, được chia làm 03 khu vực được ký hiệu A, B, C. Theo đó Australia có quyền Tài phán đối với khu vực B, Indonesia có quyền Tài phán đối với khu vực C, khu vực A được đặt dưới sự kiểm soát của hai quốc gia;

Bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Malayxia ngày 05/6/1992 đã xác định tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới TLĐ;

Hiệp định giữa Colombia và Jamaica ngày 12/11/1993 thiết lập một vùng KTC ở nơi hai bên chưa đạt được thỏa thuận về việc phân định đường ranh giới biển có diện tích khoảng 4.500 hải lý vuông, là nơi mà cả hai bên “cùng nhau quản lý, kiểm soát, thăm dò, khai thác tài nguyên phi sinh vật và sinh vật”;

  • Tuyên bố chung của Acgentina và Anh ngày 27/9/1995 về hợp tác thăm dò dầu khí xung quanh đảo Falkland;
  • Hiệp ước giữa Australia và Đông Timor ngày 20/5/2002;
  • Hiệp định giữa Nigieria với CHDC São Tô-mê và Prin-xi-pê ngày 21/02/2001;
  • Hiệp ước giữa Bahrain và Ả-rập Xê-út ngày 22/02/1958;
  • Hiệp ước giữa Qatar và A-bu Da-bi ngày 30/3/1969;

Ngoài những thỏa thuận KTC phi sinh vật (chủ yếu dầu khí) như trên, tại các khu vực chồng lấn, nơi chưa có đường ranh giới phân định biển còn có một số thỏa thuận KTC tài nguyên sinh vật điển hình như:

Vùng đánh bắt cá chung (được gọi là: “thỏa thuận vùng xám”) giữa Na Uy và Liên Xô (USSR) đã ký kết 03 thỏa thuận, các thỏa thuận được ký hết tại Moscow năm 1977, áp dụng đối với khu vực rộng 67.500km² ở phía Nam biển Barent. Kể từ đó Na Uy và Liên Xô cùng nhau khai thác đánh bắt cá ở 03 ngư trường với nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như: cá Tuyết, cá Tuyết chấm đen… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Thỏa thuận nghề cá năm 1977 giữa Venezuela và Trinidad and Tobago thiết lập 02 vùng đánh cá chung ở phía Bắc nơi ngư dân Venezuela phải xin phép và phía Nam Trinidad nơi ngư dân cả hai nước được đánh bắt tự do. Năm 1985 hai bên thiết lập thêm các vùng đánh cá chung ở phía Đông của Trinidad;

Thoa thuận giữa Đan Mạch và Thụy Điển năm 1977 khu vực có thẩm quyền đánh cá chung trong vùng Kattegat vượt ngoài giới hạn 12 dặm ngoài bờ biển của hai nước

Hiệp định KTC nghề các giữa Hàn Quốc và Nhật Bản năm 1965 và 1999: Hai nước đã ký kết hiệp định đầu tiên vào năm 1965 trên cơ sở Công ước Luật biển lần thứ nhất và lần thứ hai. Hai nước thồng nhất mỗi nước đều có thẩm quyền đánh bắt cá rộng 12 hải lý. Hiệp định năm 1965 kéo dài co tới năm 1999 đã được thay thế bằng Hiệp định KTC nghề cá được Nhật Bản và Hàn Quốc ký ngày 28/11/1998, có hiệu lực từ ngày 22/01/1999 [11, tr.158 ];

  • Hiệp định KTC nghề cá giữa Nhật Bản và Trung Quốc năm 1975 và Hiệp định ngư nghiệp giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản ngày 11/11/1997;
  • Thỏa thuận KTC nghề cá giữa Ca-na-da và Liên Xô ngày 22/01/1971;
  • Hiệp định hợp tác vùng ĐQKT giữa Bar-ba-dos và Guy-a-na liên quan đến thẩm quyền tài phán trong vùng chồng lấn ĐQKT ở ranh giới hai nước và vượt ra khỏi ranh giới hai nước;
  • KTC trong Hiệp định phân định biển giữa Gia-mai-ca và Cô-lôm-bi-a năm 1993 tại vùng chồng lấn TLĐ phía Bắc của Gia-mai-ca và phía Nam của Cô-lôm- bi-a trong vùng biển Ca-ri-bê…[11,tr.193]

Ngoài ra, có một số thỏa thuận KTC tài nguyên hỗn hợp điển hình như:

  • Hiệp định KTC hỗn hợp giữa Xê-nê-gan và Ghi-nê Bit-xao ngày 14/10/1993 và Ghị định thư bổ sung cho Hiệp định ngày 12/6/1995;
  • Hiệp định KTC giữa Ni-giê-ria với São Tome & Prin-ci-pê tháng 02/2001[10,tr.177];

2.1.2 KTC theo tiêu chí đối tượng Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • KTC áp dụng đối với duy nhất một loại tài nguyên (KTC riêng lẻ)

Nguồn tài nguyên chủ yếu được chia thành có hai loại chủ yếu, đó là tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật. Dạng tài nguyên sinh vật, đối tượng hợp tác chủ yếu là cá và các loại hải sản khác có giá trị kinh tế (gọi chung là nghề cá). Tài nguyên phi sinh vật đối tượng KTC chủ yếu là dầu mỏ, khí tự nhiên và các loại khoáng sản khác, một số trường hợp KTC nhằm vào đối tượng khác như: du lịch, nghiên cứu khoa học, giao thông vận tải biển…cũng được xếp vào nhóm tài nguyên phi sinh vật.

Trên thực tế, đa số các thỏa thuận KTC được các bên ký kết thường nhằm vào một loại tài nguyên nhất định trong các loại tài nguyên sinh vật cũng như tài nguyên phi sinh vật ở một vùng biển nhất định nào đó nhằm đảm bảo việc KTC được tập chung, thuận lợi trong quá trình đi đến sự đồng thuận, công tác tổ chức quản lý cũng thuận lợi hơn. Các quốc gia hữu quan căn cứ vào lượng tài nguyên, loại tài nguyên của từng vùng biển cụ thể mà các quốc gia tham gia thỏa thuận KTC và thống nhất phương thức KTC với loại tài nguyên nào. Loại hình KTC này gọi là KTC riêng lẻ (duy nhất KTC một loại tài nguyên) ví dụ: Thỏa thuận KTC nghề cá, Thỏa thuận KTC dầu khí…

KTC tài nguyên phi sinh vật, chủ yếu là KTC trong lĩnh vực dầu khí. Đây là một hoạt động rất phức tạp với nhiều công đoạn, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao, máy móc thiết bị hiện đại, các quy trình chặt chẽ từ mặt nhân lực, bảo hộ lao động, máy móc công nghệ, môi trường… thông qua nhiều công đoạn từ khâu thăm dò, tiềm kiếm, khai thác, kho bãi, vận chuyển, chế biến. Vì vậy, một thỏa thuận KTC riêng lẻ về khai thác dầu khí thông thường chỉ thỏa thuận hợp tác một số công đoạn nhất định và thường có sự đóng góp của các nhà thầu có đầy đủ tiềm lực về kinh tế và công nghệ hiện đại…

  • b. KTC hỗn hợp (áp dụng với nhiều loại tài nguyên) Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Là sự thỏa thuận hợp tác giữa hai quốc gia cùng thỏa thuận hơp tác KTC tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong một vùng biển nhất định. Hai quốc gia nếu đạt được một thỏa thuận hợp tác KTC hỗn hợp, thì đó chính là một sự hợp tác toàn diện để xây dựng cơ chế phối hợp cùng quản lý, khai thác các loại tài nguyên biển giữa các quốc gia hữu quan. Loại hình KTC hỗn hợp này, do mục tiêu nhằm đến đối tượng KTC là đa dạng (bao gồm cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật) cho nên nội dung của thỏa thuận hơp tác cũng rất phong phú, cũng như đòi hỏi một quy trình hợp tác cũng hết sức chặt chẽ để đảm bảo khai thác hiệu quả. Chính vì vậy, loại hình KTC này cũng ít được áp dụng trong thực tế do tính chất phức tạp, yêu cầu cao về cơ chế hợp tác và trên thực tê cũng có ít những vùng biển hội đủ yếu tố dồi dào cả về tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để các bên cùng hợp tác.

Mặc dù ít được áp dụng, nhưng loại hình KTC hỗn hợp này lại quy định khá chi tiết cụ thể nội dung, mô hình quản lý tương đối chặt chẽ, mang lại hiệu quả tích cực đối với lợi ích kinh tế của các quốc gia hữu quan tham gia. Một số thỏa thuận KTC hỗn hợp điển hình là: Hiệp định giữa A-rập Xê-ut và Cô-oét ở vùng biển trung lập; Thỏa thuận KTC trong Hiệp định phân định biển giữa Giamaica và Colombia ngày 12/11/1993; Hiệp định giữa Xê-nê-gan và Ghi-nê Bit-xao, ngày 14/10/1993 về việc KTC tài nguyên khoáng sản và các loại cá và Nghi định thư bổ sung cho Hiệp định liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý và hợp tác ngày 12/6/1995; Hiệp định chung giữa Nigieria và São Tome ngày 21/02/2001…Các hiệp định này có thể coi là điển hình, tiêu biểu cho tiêu chí hỗn hợp, đây là loại hình khá mới nhưng cũng rất hiệu quả. Trên thực tế, để đi đến một thỏa thuận KTC hỗn hợp, đòi hỏi vùng KTC phải hội đủ những yếu tố:

Một là, yếu tố về tài nguyên: KTC hỗn hợp đòi hỏi vùng biển mà các quốc gia hợp tác KTC đó phải có lượng tài nguyên phong phú, đa dạng. Mà KTC chủ yếu ở các khu vực xảy ra tranh chấp chủ quyền chồng lấn, để có vùng biển vừa có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng lại nằm trong vùng chồng lấn về yêu sách chủ quyền là một điều rất ít gặp trong thực tế.

Hai là, yếu tố chính trị: KTC hỗn hợp đòi hỏi rất cao về cơ chế hợp tác. Bởi lẽ đó, khi một vùng biển chồng lấn chủ quyền, ngoài yếu tố có nguồn tài nguyên phong phú, đa dang, thì yếu tố quan trọng nữa là các quốc gia hữu quan phải có mối quan hệ thân thiết, gần gủi, hợp tác trên tinh thần thiện trí và có sự hiểu biết sâu sắc lẫn nhau, gạt bỏ những bất đồng, cùng nhau đàm phán, thỏa thuận hợp tác KTC.

2.1.3 KTC theo tiêu chí chủ thể

Gồm hai loại hình chủ yếu là KTC song phương và KTC đa phương. KTC song phương là loại hình chỉ có hai quốc gia là chủ thể hợp tác KTC, từ ba quốc gia trở lên là chủ thể hợp tác KTC thì gọi là KTC đa phương. Trên thực tế loại hình KTC song phương được áp dụng nhiều hơn, một số vùng biển mặc dù có nhiều quốc gia yêu sách chủ quyền chồng lấn nhưng các quốc gia vẫn tiến hành hợp tác song phương với nhau. Một ví dụ là: vùng biển yêu sách chồng lấn giữa 3 nước là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia ở Vịnh Thái Lan, nhưng Thái Lan đã đàm phán và ký thỏa thuận hợp tác KTC với riêng từng nước.

  • a. KTC song phương Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Như ta đã biết, hợp tác KTC giữa các quốc gia thường chủ yếu diễn ra ở khu vực tranh chấp chủ quyền chồng lấn hoặc ở nơi có đường biên giới phân định nhưng có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua. KTC song phương (giữa hai quốc gia) là loại hình phổ biến nhất trên thế giới. Cho tới nay có hàng trăm hiệp định hợp tác KTC song phương đã được thiết lập giữa các quốc gia trong nhiều lĩnh vực khai thác tài nguyên sinh vật và phi sinh vật. Các lĩnh vực hợp tác KTC song phương chủ yếu là dạng hợp tác riêng lẻ (duy nhất một loại tài nguyên), ví dụ: trong nguồn tài nguyên phi sinh vật thì thỏa thuận KTC chủ yếu là lĩnh vực dầu khí, trong nguồn tài nguyên sinh vật thì chủ yếu KTC nghề cá.

  • b. KTC đa phương

KTC mà được tiến hành khi chủ thể từ ba quốc gia trở lên thì gọi là KTC đa phương, trên thực tế ở các vùng biển chồng lấn về yêu sách chủ quyền của nhiều quốc thì việc tiến hành đàm phán một thỏa thuận hợp tác KTC đa phương rất khó đạt được. Hiệp ước Svalbard (liên quan đến quần đảo Spitbergen), quần đảo Svalbard nằm trong biển Barent, cách bờ biển Nauy 600 hải lý về phía Bắc, do Wiliam Barent ngưới Đức phát hiện ra năm 1596, sau đó ngư dân của các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nauy, Nga hoạt động tại đây, tại khu vực này có nhiều tiềm tàng về khoáng sản, các bên liên quan nhất trí thảo luận việc quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đánh cá, kiểm soát các hoạt động và vấn đề liên quan đến chủ quyền và quyền chủ quyền. Hiệp định Svalbard được ký kết ngày 09/02/1920, đến nay có khoảng 40 nước tham gia, trong đó có Nga và Hoa Kỳ.

Theo Hiệp ước quy định Nauy có chủ quyền đầy đủ đối với quần đảo, nhưng các bên ký kết có quyền lợi kinh tế ngang nhau trong đánh bắt ca, khai thác tài nguyên thiên nhiên và quyền tự do hàng hải, công dân của các quốc gia hữu quan được đối xử bình đẳng về mặt thuế và được duy trì quyền sở hữu đối với các tài sản có từ trước trên quần đảo, Nauy là nước duy nhất được giao quyền điều hành khai thác mỏ nhưng cần sự chấp thuận của tất cả các bên…

2.1.4 KTC theo phương thức quản lý Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Loại hình quản lý thông qua cơ quan quyền lực chung

Theo loại hình này, hai bên thống nhất cùng nhau ký thỏa thuận giao quyền quản lý vùng biển chồng lấn cho một cơ quan quyền lực chung. Cơ quan quyền lực chung được nhân danh chính phủ hai nước để tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên. Chính phủ hai nước thu được lợi nhuận từ việc thu thuế tài nguyên và các nguồn thu khác từ hoạt động khai thác.

Thỏa thuận hợp tác KTC giữa Thái Lan và Malaysia ngày 21/12/1979 là một trong những điển hình cho loại hình khai thác này. Đây được coi là loại hình KTC tiến bộ bởi khi trao quyền cho một cơ quan quyền lực chung (siêu quốc gia) điều hành, khai thác tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo, tự chủ trong hoạt động khai thác tài nguyên. Cơ quan quyền lực chung này nhân danh chính phủ hai nước, có quyền trong việc quyết định kế hoạch hoạt động, chương trình làm việc, phê duyệt và gia hạn thời hạn thăm dò, phê duyệt chương trình hoạt động của các nhà thầu trong thời hạn 50 năm hoặc hơn (nếu hai quốc gia không đạt được một thỏa thuận nào về phân định đường ranh giới TLĐ…)

  • b. Loại hình Chính phủ các quốc gia cùng nhau quản lý

Theo loại hình này, các quốc gia cùng nhau kết các thỏa thuận lập ra một cơ quan quản lý các hoạt động hợp tác KTC ở vùng biển tranh chấp, có nghĩa rằng các quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ở vùng biển chồng lấn này sẽ được một cơ quan quản lý chung của các quốc gia hữu quan thực hiện, bao gồm cả việc phân bổ các nhượng quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và đánh bắt cá. Các quốc gia có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho cơ quan này hoạt động và nhận được lợi nhuận từ việc khai thác tài nguyên thông qua hoạt động của cơ quan này. Phân chia lợi nhuận như thế nào cho hợp lý và công bằng phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Quyền quản lý ở khu vực KTC tại vùng biển tranh chấp giữa các quốc gia được phân thành hai cấp:

  • Cấp thứ nhất: Cấp Hội đồng Bộ trưởng sẽ đưa ra những quyết sách và chính sách trong tưng giai đoạn
  • Cấp thứ hai: Cấp Ủy ban Liên hợp có nhiệm vụ quản lý các hoạt động kinh doanh

Việc phân chia theo các cấp này có lợi cho chính phủ các quốc gia hữu quan có thể trực tiếp chỉ đạo công tác tham dò, khai thác trong khu vực chồng lấn tranh chấp chủ quyền. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Đại diện điển hình cho loại hình này là Hiệp định Timor Gap giữa Australia và Indonesia, đây là một Hiệp định hợp tác KTC được cho là rất chi tiết và điển hình về cấu trúc quản lý, theo đó chính phủ hai nước trực tiếp quản lý khu vực KTC. Với việc phân chia thành hai cáp quản lý như trên, chính phủ hai nước có thể trực tiêp quản lý vùng KTC. Vào những năm 70 của Thế kỷ 20, hai nước đã tiến hàn ký kết 02 thỏa thuận phân định biên giới TLĐ ở vùng biển Arufura ngoài khơi Tây Timor, tuy nhiên biên giới Đông Timor đã không ký được một thỏa thuận phân định biển nào, vì có nhiều bất đồng trong thỏa thuận. Việc tìm thấy mỏ dầu cách rãnh ngầm Timor 200km về phía Tây đã khiến hai quốc gia tạm thời khép lại tranh chấp chủ quyền, cùng nhau dàn xếp giải pháp tạm thời để cùng hợp tác KTC. Hiệp định Timor Gap ký ngày 11/12/1989 (khoản 1 điều 3) đã vạch ra trong vùng KTC được ký hiệu là khu vực A và tại đó các bên có: “quyền và trách nhiệm pháp lý của hai quốc gia thành viên sẽ được thực hiện bởi Hội đồng Bộ trưởng và Cơ quan quyền lực chung phù hợp với Hiệp ước này. Các hoạt động dầu mỏ trong khu vực A sẽ được đưa ra thông qua các hợp đồng chia sẻ sản lượng”

Ngoài ra, còn phải kể đến Hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng là một ví dụ điển hình: Do hai nước yêu sách chủ quyền ở đảo Điếu Ngư nên việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế ở biển Đông Hải tạm thời bị gác lại. Hai bên cùng nhau thỏa thuận một Hiệp định nghề cá mang tính lâm thời trong thời kỳ quá độ. Theo đó Hiệp định KTC nghề cá xác định các bên cùng nhau quản lý ở vùng biển tranh chấp, mỗi quốc gia tự quản lý tàu thuyền đánh cá và ngư dân của mình, đồng thời tiến hành giám sát nhất định đối với tàu thuyền và ngư dân bên kia. Hai bên cùng nhau lập “Ủy ban liên hợp nghề cá Trung – Nhật” gồm những thành viên được chính phủ hai nước cử ra, mỗi bên cử 02 ủy viên. Hàng năm Ủy ban này sẽ tổ chức một phiên họp luân phiên tại mỗi nước và phiên họp lâm thời nếu cần thiết sau khi hai bên đồng ý. Tuy nhiên, do chỉ dừng ở mức độ hai bên cùng nhau tự quản lý tàu thuyền đánh cá và ngư dân của mình, đồng thời tiến hành giám sát nhất định đối với tàu thuyền và ngư dân bên kia nên Hiệp định này chính phủ hai nước được độc lập tự chủ hơn, song chưa thể hiện được một cơ chế chặt chẽ ở vùng chông lấn mà hai bên cùng KTC.

Hiệp định Nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000 cũng được áp dụng theo loại hình này.

  • c. Loại hình KTC đại diện quản lý Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Theo loại hình KTC này, tại khu vực tranh chấp chủ quyền, quốc gia này có thể thay mặt quốc gia kia quản lý, khai thác toàn diện tài nguyên thiên nhiên trên vùng biển tranh chấp chủ quyền giữa hai quốc gia. Hoạt động kinh doanh của quốc gia này tương tự như hoạt động kinh doanh tại vùng biển có chủ quyền của quốc gia đó, lợi nhuận đươc chia đều cho hai bên.

Loại hình này ít được áp dụng, vì ngoài việc hai quốc gia phải thật sự là láng giềng thân thiện, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, thiện chí hợp tác còn vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với vùng biển tranh chấp đó. Đại diện cho loại hình này là thỏa thuận hợp tác KTC giữa Ba-ranh và A- rập Xê-út ngày 22/02/1958, với sự nhượng bộ trên tinh thần thiện chí hợp tác và tin tưởng lẫn nhau của hai quốc gia.

  • d. Loại hình góp vốn kinh doanh

Theo đó, tại vùng KTC, Chính phủ hai nước đồng ý ủy quyền cho một bên được chỉ định tiến hành các hoạt động KTC trong vùng biển tranh chấp chủ quyền. Hai nước đều có sự đóng góp kinh tế ngang bằng nhau trong quá trình khai thác.

Hiệp định giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1974 cùng khai thác vùng biển TLĐ biển Đông Hải thuộc loại hình này. Hai bên thống nhất thành lập một Ủy ban hợp tác (Joint Commission) gồm 04 thành viên do Chính phủ hai nước chỉ định, Ủy ban này thành lập một tiểu ban chung gồm các chuyên gia làm nhiệm vụ nghiên cứu, trao đổi kỹ thuật, khoa học công nghệ, đề xuất các ý kiến. Lợi nhuận thu được từ hoạt động KTC này sẽ được chia đều cho hai quốc gia. Loại hình KTC này bắt nguồn từ ý tưởng KTC được nêu trong phán quyết của Tòa án Quốc tế trong vụ TLĐ Biển Bắc và được coi là điển hình với một cơ quan quản lý chung, hoạt động như là một cơ quan tư vấn, điều phối các hoạt động hơp tác KTC.

  • e. Loại hình KTC doanh nghiệp nhà nước trực tiếp quản lý

Theo loại hình này, Chính phủ của hai nước ủy quyền cho các công ty dầu khí của mỗi nước cùng thăm dò, khai thác tài nguyên trong vùng biển tranh chấp được xác định theo thỏa thuận đã được Chính phủ hai nước thông qua. Các doanh nghiệp được ủy quyền sẽ thống nhất lập ra một Cơ quan điều phối chung.

Hiệp định KTC đối với vùng biển tranh chấp thuộc Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Malaysia ký năm 1992. Theo đó, Chính phủ Việt Nam ủy quyền cho Petrovietnam và Chính phủ Malaysia ủy quyền cho Petronas tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thắc dầu khí trong vùng biển xác định. Hai công ty sẽ tiến hành tham dò, khai thác trên cơ sở dàn xếp thương mại giữa hai công ty sau khi được Chính phủ hai bên phê chuẩn trên cơ sở Bản ghi nhớ KTC giữa hai quốc gia ngày 25/8/1993. Hai bên thành lập một Ủy ban hỗ hợp (Joint Committee) để giải quyết các vấn đề cao cấp, đông thời có thẩm quyền thành lập một Ủy ban điều phối (Coordination Committee). Các hoạt động KTC trong vùng biển KTC đều do hai công ty này quản lý, điều hành.

Nhiều hiệp định hợp tác KTC dầu khí của các quốc gia trên thế giới cũng áp dụng loại hình KTC này như: Hiệp định KTC giữa Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len với Hà Lan năm 1993, Chính phủ mỗi bên đã yêu cầu các doanh nghiệp được nhượng quyền được ký kết các thỏa thuận vào thời điểm Hiệp định có hiệu lực, để điều chỉnh các hoạt động KTC mỏ.

2.2. Một số kinh nghiệm hợp tác KTC trên thế giới và khu vực Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

2.2.1 Kinh nghiệm hợp tác KTC của một số quốc gia Châu Âu

  • a. Một số thỏa thuận hợp tác KTC dầu khí điển hình
  • Hiệp đinh hợp tác KTC giữa Ai-xơ-len và Nauy năm 1981 tại khu vực đảo Jan Mayen

Ngày 22/10/1981 Ai-xơ-len và Na Uy thống nhất ký Hiệp định hợp tác KTC trong vùng chồng lấn TLĐ khu vực đảo Jan Mayen, có diện tích khoảng 373 km², với chiều dài gần 53 km, chiều rộng gần 20 km [10, tr.215]. Vùng chồng lấn được hai quốc gia ký kết hợp tác KTC có diện tích khoảng 45.470 km², trong đó phần phía Bắc có diện tích khoảng 32.750 km² và phần còn lại khoảng 12.720 km². (gần 70% diện tích vùng KTC nằm về phía biển Na Uy).

Nghĩa vụ của Nauy là phải thanh toán chi phí nghiên cứu ban đầu như: nghiên cứu địa chấn và từ lực…Trong vùng KTC các bên được tham gia góp vốn 25% cổ phần ở phần KTC thuộc bên kia; Nếu một mỏ tài nguyên có khả năng thương mại được phát hiện ở phần của Nauy, Ai-xơ-len cũng được tham gia khai thác và sau đó sẽ bù đắp cho Nauy một phần chi phí mà Nauy đã bỏ ra cho đến giai đoạn này. Sau khi phát hiện ra mỏ, mỗi bên sẽ đóng góp cho việc khai thác theo tỉ lệ trong hợp đồng. Ngoài ra, thỏa thuận còn quy định rằng: “Nếu một mỏ Hydro cacbon nằm vắt ngang qua đường biên giới hoặc nằm hoàn toàn trong biển phía Nam nhưng lại vượt quá phạm vi vùng hoạt động KTC thì hai bên sẽ áp dụng nguyên tắc thống nhất hóa thông thường đối với sự phân bổ khai thác mỏ này. Nếu một mỏ Hydro cacbon nằm hoàn toàn trong biển hoàn toàn phần phía Bắc của ranh giới, nhưng lại vượt ra ngoài vùng KTC thì mỏ đó được coi là nằm hoàn toàn trong vùng KTC”.

Về quy định Luật áp dụng: Mỗi bên áp dụng chính sách cũng như các quy định pháp luật trên các vùng biển tương ứng thuộc thẩm quyền tài phán của mình. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Nhìn chung: Hiệp định hợp tác KTC này, Ai-xơ-len được ưu tiên hơn so với Nauy, có thể do tài đàm phán của Ai-xơ-len và có thể do diện tích mà Ai-xơ-len được phân chia nhỏ hơn phần của Na Uy…

  • Hiệp định KTC giữa Anh và Na Uy năm 1976 tại mỏ Frigg Field

Ngày 10/5/1976 tại London – Anh hai nước đã ký kết Hiệp định hợp tác KTC ) khu vực mỏ Frigg [10, tr.209], đây là mỏ tài nguyên năm vắt ngang qua đường biên giới biển giữa Anh và Nauy (tháng 10/2004 mỏ Frigg đã ngừng hoạt động, nhưng là một trong những hiệp định được ký sớm nhất trong khu vực và Hiệp định cũng rất thành công trong việc hợp tác KTC).

Chính phủ hai nước có nghĩa vụ thỏa thuận xác định đường phân định biển trên cơ sở Hiệp định phân định TLĐ năm 1965 và thống nhất số lượng và địa điểm đặt các công trình khai thác trong khu vực mỏ của mỗi quốc gia. Hiệp định quy định thành lập một Ủy chung giữa hai chính phủ, gọi là “Ủy ban tư vấn mỏ Frigg Field” gồm có 06 thành viên (mỗi nước 03 thành viên), Chức năng của Ủy ban sẽ được hai nước thỏa thuận.

Chính phủ mỗi nước đảm bảo luật áp dụng sẽ là luật của nước mà doanh nghiệp được cấp phép, trừ trường hợp người lao động thực hiện quyền lựa chọn luật áp dụng (Khoản 1 Điều 24 của Hiệp định). Mỗi nước vẫn giữ nguyên quyền của mình đối với TLĐ của mình trên cơ sở quy định thẩm quyền của mình đối với TLĐ trên cơ sở quy định của luật quốc tế. Đặc biệt, các công trình nằm bên TLĐ của nước nào thì vẫn thuộc quyền điều chỉnh của luật nước đó. Mỗi nước đều có quyền đánh thuế theo quy định pháp luật của nước mình đối với các hoạt động khai thác trong vùng mỏ trên cơ sở các doanh nghiệp mà chính phủ đó cấp giấy phép, không phụ thuộc vào hoạt động khai thác mà doanh nghiệp đó hoạt động diễn ra trên TLĐ của quốc gia nào. Việc thu thuế chỉ diễn ra với doanh nghiệp mà chính phủ đó cấp phép và không được quyền đánh thuế vào doanh nghiệp mà chính phủ phía bên kia cấp phép… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định hoặc bất kỳ vấn đề nào được quy định cho Chính phủ giải quyết theo quy định của thỏa thuận giữa các doanh nghiệp được nhượng quyền của mỗi bên sẽ được giải quyết thông quả Ủy ban tham vấn mỏ Frigg Field hoặc thông qua đàm phán giữa hai Chính phủ. Nếu một vụ tranh chấp không thể giải quyết được bởi thủ tục trên, hoặc bằng bất ký một thủ tục nào khác do hai Chính phủ thỏa thuận thì sẽ được đưa ra Tòa Trọng tài. Trường hợp Tòa Trọng tài không đạt được sự đồng thuận tuyết đối, quyết định của Tòa Trọng tài theo quyết định đa số. Quyết định của Tòa Trọng tài có giá trị bắt bộc đối với hai Chính phủ và được coi như thỏa thuận ràng buộc giữa hai bên.

  • b. Một số thỏa thuận hợp tác KTC nghề cá điển hình của Châu Âu

Hiệp định nghề cá ở khu vực Châu Âu rất phong phú và đa dạng [10, tr.208], có khoảng trên 100 hiệp định đã được ký kết giữa các nước Châu Âu hoặc giữa các nước Châu Âu với các nước thuộc châu lục khác, một số thỏa thuận điển hình sau:

  • Thỏa thuận hợp tác KTC nghề các giữa các nước Nauy – Nga – Ai-xơ- len ngày 15/9/1999

Thỏa thuận xác định vùng KTC được thiết lập giữa ba nước là vùng biển Bắc Đại Tây Dương thuộc vùng ĐQKT của Nga và Nauy, đây là vùng biển yêu sách chủ quyền của hai nước là Nauy và Nga nhưng do tính chất địa lý, tiềm năng hải sản và quan hệ ngoại giao tốt đẹp của ba nước trên, nên các nước trên đã cùng nhau thỏa thuận hợp tác KTC vùng biển này.

Theo thỏa thuận này, Nauy sẽ được quyền khai thác trong vùng ĐQKT của Nauy và Nga với sản lượng gồm 500 tấn cá và 17.000 tấn cá vảy nhỏ. Nauy và Ai- xơ-len phải tuân thủ các quy định của pháp luật về vùng ĐQKT của Nga, phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Nga về tên, số hiệu các tàu đanh cá của Nauy và Ai-xơ-len trước khi vào hoạt động tại vùng đó KTC đó. Vì ba nước có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp và đây là vùng đánh bắt cá truyền thống của ba nước nên thỏa thuận không quy định việc thành lập cơ quan quản lý chung.

Luật áp dụng trong Hiệp định và Nghị đinh thư là luật của Nga và các thỏa thuận giữa các thành viên (Trong việc thực hiện đánh cá tại khu khu vực biển này Nauy và Ai-xơ-len phải tuân thủ các quy định của pháp luật về vùng ĐQKT của Nga. Đồng thời phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Nga về tên, số hiệu các tàu đanh cá của mình trước khi vào hoạt động tại vùng đó). Nếu có tranh chấp xảy ra, các bên thống nhất: “bất kỳ xung đột nào liên quan đến việc giải thích và áp dụng thỏa thuận này sẽ được các bên giải quyết bằng thương lượng”. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Hiệp định có thời hạn kể từ ngày ký đến hết ngày 31/12/2002 và có thể gia hạn thêm 04 năm nếu các bên có nhu cầu…

Thỏa thuận KTC nghề cá Nauy – Ai-xơ-len – Nga là thỏa thuận về hợp tác KTC đa phương. Hiệp định đã quy định rất cụ thể những vấn đề như chỉ tiêu đánh bắt cá, số lượng tàu cá trong vùng KTC, số lượng cá được phép đánh bắt của từng bên ở trong vùng KTC, luật áp dụng, phương thức giải quyết tranh chấp…Tồn tại của Hiệp định như chưa quy định rõ tọa độ vùng được phép KTC, không chỉ rõ cơ quan nhà nước chuyên trách đảm nhận các vấn đề hơp tác nhưng do ba nước có mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, vùng KTC là vùng ngư trường truyền thống của cả ba nước, cho nên những việc trên không thực sự ảnh hưởng đến thỏa thuận…

  • Hiệp định hợp tác KTC nghề cá và yêu sách TLĐ giữa Nauy và Ai-len ngày 28/5/1980 và Nghị định thư ngày 11/11/1997

Một số nội dung KTC quan trọng như:

Ai-len thiết lập một vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, Nauy sẽ thiết lập một vùng đánh cá bao quanh đảo Jan Mayen thuộc Nauy.

Về mô hình quản lý KTC: Hai nước thỏa thuận thành lập một Ủy ban quản lý chung nghề cá, trong đó mỗi bên sẽ cử ra 01 đại diện của mình vào Ủy ban, những đại diện được nhóm các chuyên gia và cố vấn trợ giúp. Một nhóm nghiên cứu khoa học được tành lập để tư vấn cho Ủy ban. Cơ quan quản lý chung sẽ đưa ra các đề xuất và khuyến nghị về việc đánh bắt cá và việc di cư của cá trên biển.

Việc Phân bổ trữ lượng đánh bắt cá, Hiệp định KTC chỉ quy định phân bố trữ lượng cá đối với cá ốt vảy nhỏ (Capelin). Tổng lượng cá Capelin quanh đảo Jan Mayen được phân bổ trong 04 năm đầu của hiệp định là Nauy 15%, Ai-len cũng có quyền đánh bắt tương ướng với phần của Nauy (15%), ngoài ra cơ quan quản lý chung có thể xem xét phân bổ lại vào cuối năm thứ tư trong thời gian 04 năm đầu tiên của hiệp định. Việc phân bổ đàn cá trên cho Ai-len phụ thuộc vào việc thỏa thuận giữa Ai-len với Nauy và các nước khác.

Việc nhượng quyền cho bên thứ ba: Mỗi bên có thể nhượng quyền đánh bắt cho nước thứ ba trong phạm vi hạn ngạch mà họ được phân bổ theo Điều 5 của Hiệp định. Việc đánh bắt của bên thứ ba có thể diễn ra trong vùng ĐQKT của mỗi quốc gia. Mặt khác, Hiệp định cũng quy định hai quốc gia phải có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác trong việc bảo tồn và khai thác hiệu quả các đàn cá di cư, bao gồm cả vấn đề phân bổ trữ lượng đánh bắt cá phù hợp với Điều 63 của Văn kiện Hội nghị quốc tế về Luật biển và quy định của thỏa thuận hiện hành. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Thỏa thuận nghề cá Canada và Liên Xô ngày 22/01/1971

Thỏa thuận này ra đời từ khi chưa có Công ước Luật biển năm 1982, là một trong những thỏa thuận sớm nhất trong lịch sử KTC nghề cá. Mục tiêu của thỏa thuận hợp tác KTC chính là việc dàn xếp về chủ quyền bằng việc cùng khai thác các lợi ích kinh tế trước mắt để làm bước đệm cho việc thương lượng và dàn xếp các vấn đề chủ quyền mà hai quốc gia yêu sách trước đó. Đây là mục tiêu và là điểm nổi bật nhất của thỏa thuận, một ưu điểm nữa là hai bên đã quy định rõ ràng, cụ thể các biện pháp thực hiện an toàn hàng hải.

Thỏa thuận đã quy định vùng KTC nghề cá và quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên là tiến hành các hoạt động nghề cá và các hoạt động nghiên cứu khoa học khác. Xác định những biện pháp đánh bắt cá thích hợp để đánh bắt cá ở độ sâu 100m. Ngoài ra Canada còn cho phép tàu chở dầu và chuyên chở chung của đoàn tàu đanh cá của Liên Xô được phép cập cảng ở một số cảng của Canada như cảng Vancouver, British Columbia theo phong tục và Luật nhập cư của Canada (Điều 6 Hiệp định nghề cá Canada-Liên Xô gnayf 22/1/1971). Liên Xô cũng cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn hàng hải và đảm bảo cam kết các tàu hoạt động phù hợp với quy định của luật pháp Canada cũng như thỏa thuận của hai nước.

Hai bên thống nhất nguyên tắc: “Không một điều khoản nào của thỏa thuận này làm ảnh hưởng đến các quyền, các yêu sách và quan điểm của mỗi bên về ranh giới lãnh hải, các ranh giới vùng đánh cá quốc gia hoặc vấn đề đánh bắt cá ở biển cả” (Điều 8). Điều này khẳng định thỏa thuận hợp tác KTC này là một giải pháp tạm thời đối với các bên có yêu sách chủ quyền trong khi chờ phân định đường ranh giới, không ảnh hưởng đến thỏa thuận cuối cùng về phân định biển. Đây là một tròn những điểm nổi bất của thỏa thuận, mặc dù chưa ra đời của Công ước Luật biển năm 1982.

Hiệp định cũng còn tồn tại một số hạn chế như: không quy định về luật áp dụng và giải quyết tranh chấp, không thành lập một Ủy ban chung chuyên trách phụ trách các vấn đề đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học, chỉ quy định việc trao đổi dữ liệu nghề cá sẽ do cơ quan chuyên trách của mỗi bên đảm nhận.

2.2.2. Kinh nghiệm hợp tác KTC của một số quốc gia Châu Mỹ Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Một số thỏa thuận hợp tác KTC dầu khí điển hình

Cho tới nay, khu vực Châu Mỹ chưa có các hiệp định về KTC dầu khí riêng lẻ mà KTC dầu khí được lồng ghép vào các hiệp định phân định đường ranh giới quốc gia trên biển. Đa số chưa diễn ra các hoạt động hợp tác KTC, các bên mới chỉ xác định khu vực tiềm năng cho hoạt động KTC sau này [10, tr.228].…

  • Hiệp định giữa Mê-hi-cô và Hoa Kỳ về phân định TLĐ ở phía Tây vịnh Mê-hi-cô ngày 09/6/2000

Đây là Hiệp định phân định biên giới trên biển trong khu vực tranh chấp vùng Westerm Gap. Theo Hiệp định thì 40% khu vực này sẽ thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ, 60% còn lại thộc chủ quyền Mê-hi-cô. Hai bên thỏa thuận quy định một vùng đêm chung, là vùng nằm trên đường phân định ranh giới cách đều về phía mỗi bên, vùng đệm này có chế độ pháp lý đặc biệt và được áp dùng trong 10 năm. Vùng đêm này chưa được coi là vùng KTC, tuy nhiên nếu cần thiết có thể dẫn tới hoạt động KTC sau này…

Hiệp định quy định Luật áp dụng là luật của mỗi quốc gia đối với phần TLĐ thuộc vùng được xác định theo đường ranh giới. Hai quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau, tạo điều kiện, cho phép các hoạt động nghiên cứu địa chất, địa mạo thuộc địa phân bên kia ranh giới nhằm xác định khả năng tồn tại mỏ dầu khí xuyên biên giới. Nếu một bên phát hiện mỏ dầu ở khu vực này thì có nghĩa vụ thông báo cho bên kia. Sau thời hạn 10 năm, các bên có nghĩa vụ thông báo cho nhau về các quyết định cấp, nhượng quyền hoặc cho thuê quyền khai thác của mình trong khu vực phân định.

Hai bên thống nhất việc Giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán hòa bình. Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh trong quá trình giải thích, áp dụng Hiệp định đều phải giai quyết bằng con đường đàm phán hòa bình giữa các bên, hoặc bằng bất cứ biện pháp nào do hai bên thỏa thuận.

  • Tuyên bố chung giữa Acgentina và Anh ngày 27/9/1995

Hai bên thống nhất thiết lập một vùng hợp tác KTC đặc biệt (Special Area) trong việc thăm dò và khai thác khí Hydrococbon ở phía Tây Nam các hòn đảo. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Hai quốc gia thiết lập một Ủy ban chung (Jiont Commission) bao gồm các đại diện của hai quốc gia, đây là cơ quan duy nhất thực hiện quản lý vùng KTC và thực hiện các nhiệm vụ mà hai nước thống nhất giao cho.

Nhiệm vụ của Ủy ban: Về điều hành các hoạt động hợp tác, Uỷ ban đệ trình chính phủ hai nước các khuyến nghị về tiêu chuẩn bảo vệ môi trường vùng Tây Nam Atlantic, thúc đẩy các hoạt động thăm dò Hidrocacbon. Trong vùng KTC được các bên thống nhất chia thành 06 vùng nhỏ (mỗi vùng có diện tích khoảng 3.500 km²), mỗi vùng KTC được Ủy ban lập ra một Tiểu ban quản lý từng vùng riêng biệt.

Giải quyết tranh chấp: Tuyên bố chung quy định giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mô hình KTC này đã được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng vì có nhiều đặc điểm ưu việt: Tuyên bố chung này đã thành lập một khu vực đặc biệt trong vùng biển tranh chấp chủ quyền giữa hai quốc gia (ở nơi chưa có đường ranh giới phân định); các thỏa thuận đạt được trong Tuyên bố chung không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của mỗi bên, cũng như quyền chủ quyền của mỗi bên đối với các vùng biển đảo tranh chấp, không ảnh hưởng đến việc đàm phán cuối cùng về phân định đường biên giới trên biển sau này.

Tuyên bố chung là một thỏa thuận về KTC với tư cách là một giải pháp tạm thời trong vùng biển mà các bên yêu sách về chủ quyền. Đặc biệt, Tuyên bố chung này không tạo ra một vùng biển có quy chế pháp lý chung của hai bên mà các hoạt động trong khu vực Tuyên bố chung đề cập vẫn thuộc quyền Tài phán riêng biệt của mỗi quốc gia, Ủy ban chung quản lý khu vực KTC đặc biệt này hoạt động chủ yếu là như một đơn vị mang tính tư vấn cho hai quốc gia, hoạt động của Ủy ban chủ yếu đưa ra các khuyến nghị, đề xuất các giải pháp…

  • Hiệp định giữa Venezuaela với Trinidad và Tobago ngày 18/4/1990

Hai nước thống nhất ký Hiệp định phân định biển tổng hợp gồm vùng biển Nội thủy, vùng ĐQKT, TLĐ giữa hai nước.

Trong hiệp định đề cập đến việc khả năng phát hiện một khu vực tài nguyên, khoáng sản chung nằm ở khu vực biên giới phân định trong hiệp định: Nếu tồn tại một mỏ dầu, khí ga nằm vắt ngang qua đường phân định mà một phần hoặc toàn bộ mỏ có thể khai thác được từ một bên đường phân định thì hai quốc gia sẽ đàm phán và đi đến các thỏa thuận về khai thác chung dầu và khí ga với nguyên tác phân chi theo tỉ lệ các chi phí và lợi nhuận có được.

Hai bên cũng thống nhất thiết lập một Ủy ban chung chịu trách nhiệm về đường phân định và các hoạt động liên quan như bảo vệ môi trường, giải quyết tranh chấp… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Căn cứ Hiệp định, năm 2003 hai nước đã ký Nghị định thư thiết lập vùng KTC về dầu lửa tại khu vực mỏ Loran nằm xuyên đường ranh giới phân định biển. Năm 2007, hai nước ký thỏa thuận về phân chia trữ lượng dầu mỏ trong khu vực mỏ Loran, hai bên xác định 73% tương đương với 7,3 trillion cubic feet (Tcf) hay tương đương 109m³ của mỏ thuộc về TLĐ của Venezuaela, 23% còn lại thuộc về Trinidad và Tobago.

  • b. Các thỏa thuận hợp tác KTC nghề cá điển hình

Hiệp định hợp tác KTC giữa Barbados và Guyana liên quan đến thẩm quyền tài phán trong vùng biển chồng lấn ranh giới của hai nước ở vùng ĐQKT và vượt khỏi ranh giới ngoài của mỗi quốc gia Hai bên thống nhất vùng KTC là một vùng rất rộng lớn, không những nằm trong khu vực chồng lấn về vùng ĐQKT mà còn cả khu vực ngoài đường ranh giới ĐQKT của cả hai nước mà hai nước yêu sách chủ quyền [10, tr.235].

Hai nước có quyền cùng thực hiện thẩm quyền tài phán, cùng kiểm soát, quản lý, thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cũng như các quyền và nghĩa vụ khác được quy định trong Công ước tại khu vực chồng lấn tập trung giữa vùng ĐQKT của hai nước và vùng ngoài vùng ĐQKT của quốc gia kia. Hiệp định không quy định rõ về cơ quan quản lý chung mà chỉ đề cập đến vấn đề tham vấn, thông báo qua kênh ngoại giao do cơ quan ngoại giao hai nước chỉ định. Hiệp định cũng không quy định nghĩa vụ đóng góp và phân chia lợi nhuận của các bên. Hai bên thỏa thuận một vùng hợp tác KTC, trong đó mỗi bên đều có thẩm quyền tài phán trong vùng KTC đó, công dân của mỗi bên có thể vào khai thác trong vùng KTC đó và lợi nhuận, sản lượng thu được thuộc bên nào khai thác được bên đó được hưởng, do vậy không quy định nghĩa vụ đóng góp tài chính và phân chia lợi nhuận.

Hiệp định không quy định cụ thể Luật áp dụng giải quyết tranh chấp nhưng quy định nếu có tranh chấp xảy ra thì các bên phải ưu tiên giải quyết bằng biện pháp hòa bình, thương lượng và tôn trọng Công ước, tôn trọng phán quyết của Tòa án cũng là một nguyên tác giải quyết… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Hiệp định không quy định thời hạn cụ thể nhưng hiệp định có thời hạn cho đến khi hai nước đàm phán ký kết một thỏa thuận quốc tế về phân định đường ranh giới trên biển giữa hai nước được ký kết.

Có thể nói Hiệp định là một thành công lớn của hai nước đạt được, không những hợp tác KTC trong vùng chồng lấn về vùng ĐQKT mà còn KTC cả vùng biển nằm ngoài vùng ĐQKT của hai nước. Mô hình của hiệp định tương đối gọn nhẹ. Tuy nhiên, do Hiệp định không quy định thành lập Ủy ban chung của hai quốc gia mà chỉ đề cập đến vấn đề tham vấn qua con đường ngoại giao do cơ quan ngoại giao hai nước; không áp dụng cụ thể Luật áp dụng giải quyết tranh chấp mà việc giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, thương lương là vấn đề được ưu tiên hàng đầu… với mô hình đơn giản, gọn nhẹ này dễ dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc giải quyết khi xảy ra các tinh huống khẩn cấp hoặc không khắc phục kịp thời các hậu quả xảy ra. Vấn đè bảo vệ môi trường biển cũng không được lưu ý; Hiệp định cũng không quy định về só lượng tàu thuyền, sản lượng khai thác của mỗi bên dễ dẫn đến tình trạng đánh bắt tận diệt…

2.2.3. Kinh nghiệm hợp tác KTC của một số quốc gia tại Châu Phi

Về KTC dầu khí: Châu Phi có 3 hiệp định KTC dầu khí và hỗn hợp. Trong đó có 01 hiệp định KTC dầu khí ở khu vực đã có đường biên giới là Hiệp định hợp tác KTC giữa Xu – đăng và A-rập Xê út ngày 16/5/1974, 02 hiệp định KTC hỗn hợp ở khu vực chồng lấn yêu sách chủ quyền là Hiệp định giữa Xê-nê-gan với Ghi- nê Bít-xao ngày 14/10/1993 và Hiệp định giữa Ni-giê-ri-a với São Tome và Prin- ci-pe thàng 2/2001 [10, tr.242].

Về KTC nghề cá: Châu Phi có rất nhiều các hiệp định về hợp tác KTC nghề cá, tuy nhiên các hiệp định rất đa dạng, chủ yếu là những hiệp định dưới dạng nhượng quyền, hoặc chuyển giao khoa học kỹ thuật…thường diễn ra ở nơi có đường ranh giới phân định

Trên cơ sở góc độ luận văn về KTC ở vùng chồng lấn, tác giả xin giới thiệu 02 hiệp định KTC hỗn hợp ở khu vực chồng lấn yêu sách chủ quyền là Hiệp định giữa Xê-nê-gan với Ghi-nê Bít-xao ngày 14/10/1993 và Hiệp định giữa Ni-giê-ri-a với São Tome và Prin-ci-pe thàng 2/2001. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Hiệp định giữa Ni-giê-ri-a với São Tome và Prin-ci-pe thàng 2/2001

  • Hai bên xác định vùng KTC là vùng biển bao trùm lên vùng ĐQKT mà hai nước yêu sách chủ quyền.
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên được hai nước thỏa thuận xây dựng các nguyên tắc chung trong vùng KTC như:

Việc kiểm soát các hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên sẽ được thực hiện bởi hai quốc gia

Hai quốc gia sẽ chia sẻ tất cả lợi nhuận và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động hợp tác KTC trong vùng theo tỉ lệ Ni-giê-ri-a 60%, São Tome và Prin-ci-pe 40%.

Khi khai thác dầu khí và nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong khu vực KTC, các bên phải tuân thủ hiệp định và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển, tuân thủ các cách thức đã được chấp thuận phổ biến ở đa số các mỏ dầu và ngư trường trên thế giới.

Mô hình quản lý: Hai bên thống nhất mô hình đồng quản lý, trong đó hai nước thành lập ra một Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan quản lý cao cấp nhất quẩn lý các hoạt động hợp tác KTC.

Hội đồng Bộ trưởng thành lập Cơ quan quyền lực chung (Joint Authority), đây là cơ quan điều hành, thực hiện triển khai các kế hoạch, chính sách của Hội đồng Bộ trưởng. Cơ quan quyền lực chung gồm một Ủy ban có 04 giám đốc điều hành đảm nhận điều hành những lĩnh vực quản lý cụ thể như: Điều hành bộ phận Thanh tra, Kiểm tra; Điều hành bộ phận Thương mại; Điều hành bộ phận Tài chính, Hành chính; Điều hành bộ phận Tài nguyên.

Về Quyền lợi và nghĩa vụ tài chính: Các bên thống nhất hưởng quyền lợi cũng như nghĩa vụ đóng góp theo tỉ lệ như đã thống nhất ở trên, nghĩa là hưởng bao nhiêu phần trăm thì tỉ lệ đóng góp tương đương…

Giải quyết tranh chấp: Các bên thỏa thuận mọi tranh chấp sẽ được Ủy ban cố gắng giải quyết dựa trên nguyên tác thương lượng, nếu không thương lượng được sẽ đưa ra Hội đồng Bộ trưởng hoặc các lãnh đạo của hai quốc gia đàm phán, giải quyết. Tranh chấp giữa các quốc gia có thể sẽ dẫn đến áp dụng Điều 52 của Hiệp định về chấm dứt Hiệp định. Hai nước cũng thỏa thuận về việc xem xét lại luật áp dụng, theo đó Cơ quan quyền lực chung vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể đưa lên Hội đồng Bộ trưởng những thay đổi về luật áp dụng hoặc những giải pháp, phương án giàn xếp nếu thấy cần thiết…

Hiệp định hỗn hợp này được các chuyên gia đánh giá là có nhiều ưu điểm nổi bật như: Đây là một hiệp định hỗn hợp KTC bao gồm tài nguyên phi sinh vật và sinh vật, các điều khoản quy định chi tiết và đầy đủ tất cả các vấn đề liên quan đến vấn đề hợp tác KTC như việc xác định phạm vi KTC, tỉ lệ phân chia lợi nhuận và nghĩa vụ đóng góp, vấn đề sức khỏe, vấn đề ngăn chặn ô nhiễm và bảo vệ môi trường biển. Mô hình quản lý khá chặt chẽ từ việc thành lập Hội đồng Bộ trưởng, Cơ quan quyền lực chung, vấn đề điều hành từng bộ phận, giải quyết tranh chấp… Tuy nhiên, Hiệp định vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Mô hình quản lý qua nhiều cơ quan, nhiều cấp từ Chính phủ hai nước, Hội đồng Bộ trưởng, Cơ quan quyền lực chung, Ủy ban điều hành… dẫn đến vấn đề điều hành KTC chưa được linh hoạt, chủ động vì phải xin ý kiến nhiều cấp, hiệp định có đưa vấn đề ngăn chặn ô nhiểm và bảo vệ môi trường nhưng chưa đươc ra được các biện pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật cũng bảo tồn các loài cá trong quá trình khai thác dầu khí… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Hiệp định giữa Xê-nê-gan với Ghi-nê Bít-xao ngày 14/10/1993 và Nghị định thư bổ sung cho hoạt động hợp tác liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của Cơ quan quản lý và hợp tác ngày 12/6/1995

Hiệp định quy định Vùng KTC bao gồm TLĐ và vùng ĐQKT liền kề của hai quốc gia vùng KTC này là vùng biển chung giữa hai nước[11,tr.202].

Quyền và nghĩa vụ của các bên: Hiệp định và Nghị định thư quy định quyền và nghĩa vụ của các bên không chỉ hợp tác giữa hai quốc gia mà còn là sự hợp tác giữa quốc gia với Hội đồng Quản lý (Agency) do chính hai quốc gia thống nhất thành lập làm đại diện cho hai quốc gia

Mô hình quản lý vùng hợp tác KTC: Hai bên thống nhất áp dụng theo mô hình đồng quản lý là thành lập một Hội đồng quản lý (Agency) có vai trò như là một tổ chức quốc tế đại diện cho hai quốc gia trong các hoạt động hợp tác, quản lý, khai thác nguồn tài nguyên. Hội đồng quản lý có thể trực tiếp tổ chức tự khai thác tài nguyên hoặc có thể thông qua thành viên cấp dưới là doanh nghiệp, các công ty con của doanh nghiệp hoặc có thể ký hợp đồng với công ty khác..Đây là một dạng mô hình quản lý khá điển hình được rất nhiều các quốc gia áp dụng.

Các quy định về đóng góp tài chính và phân chia lợi nhuận cũng được hai quốc gia thống nhất thông qua Hội đồng Quản lý và Doanh nghiệp, cụ thể:

Về vốn góp: Xê-nê-gan góp 67,5%, Ghi-nê Bít-xao góp 32,5%. Trong phần góp vốn của Doanh nghiệp thì Hiệp định quy định 51% cổ phần góp A chia cho các quốc gia và không được phép chuyển nhượng. 49% còn lại là cổ phần B được phép chuyển nhượng cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Về phân chia lợi nhuận: Lợi nhuân được chia 50/50 cho mỗi quốc gia về KTC tài nguyên đánh bắt cá. Đối với nguyền tài nguyên từ TLĐ, lợi nhuận được chỉ 85% cho Xê-nê-gan và 15% cho Ghi-nê Bít-xao, tuy nhiên tỉ lệ phân chia lợi nhuận này có thể được xem xét lại trong trường hợp có phát hiện nguồn tài nguyên khác và phụ thuộc vào trữ lượng nguồn tài nguyên mới được phát hiện.

Luật áp dụng được hai quốc gia quy định: Trong trường hợp giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dầu khí thì áp dụng luật của Xê-nê-gan, giải quyết tranh chấp trong các hoạt động nghề cá thì áp dụng luật của Ghi-nê Bít-xao. Hai bên thống nhất giải quyết tranh chấp bằng biện pháp trực tiếp đàm phán thương lượng, nếu thương lượng bất thành thì giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án Công lý Quốc tế.

Thời hạn của Hiệp định: Hiệp định có thời hạn 20 năm kể từ ngày ký và có thể tự động gia hạn nếu hai bên xét thấy nhu cầu, nguồn tài nguyên tiếp tục có thể khai thác được…Một số điều khoản đặc thù khác trong Nghị định thư bổ xung ngày 12/6/1995 đã quy định khác chi tiết một sô điều khoản như: Mục đích hợp tác, an toàn, dịch vụ vận chuyển, tìm kiếm giải cứu, bảo vệ môi trường…

Đây là một Hiệp đinh điển hình trên thê giới về tất cả các mặt như việc quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên, phương thức quản lý, phân chia đóng góp và lợi nhuận… Hiệp định quy định đầy đủ, chi tiết và cụ thể từng vấn đề hợp tác KTC tài nguyên dầu khí và nghề cá, quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc KTC dầu khí, KTC nghề cá đều được quy định rõ ràng trong hiệp định, mô hình quản lý cũng là một trong những dạng quản lý vận dụng sáng tạo. Vấn đề giải quyết tranh chấp được quy định cụ thể với từng loại hình hợp tác KTC, luật áp dụng và phương án giải quyết với từng loại hình hợp tác KTC[11,tr.202].

2.2.4. Kinh nghiệm hợp tác KTC của một số quốc gia tại Châu Á Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Một số thỏa thuận hợp tác KTC dầu khí điển hình
  • Hiệp định hợp tác KTC dầu khí giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974

Theo Hiệp định Vùng hợp tác KTC là vùng rộng 24.092 hải lý vuông, được phân chia thành 09 tiểu vùng. Mỗi tiểu vùng được chia theo kinh độ và vĩ độ quy định trong Hiệp định, có diện tích rõ ràng tương ứng với từng tiểu vùng theo thứ tự từ 1 đến 9[11,tr.241]. Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, hai nước có quyền cấp đặc nhượng cho các công ty theo thẩm quyền của mình, công ty được cấp đặc nhượng có thể chỉ định các Nhà điều hành thông quá một hợp đồng. Số lượng các Nhà điều hành được lựa chọn trên cơ sở sự cân bằng về quốc tịch của hai quốc gia và có sự thay đổi luân phiên nhau trong khu vực KTC. Hai nước thống nhất với nhau, thiết lập và duy trì một Ủy ban chung Nhật – Hàn (Commission) có nhiệm vụ chủ yếu như: xem xét việc thực hiện Hiệp định, nhận báo cáo từ các công ty được cấp đặc nhượng, đề nghị các giải pháp giải quyết tranh chấp, giám sát các hoạt động của nhà thầu, nghiên cứu luật áp dụng và một số chức năng tư vấn khác. [10,tr.255]. Các công ty được Chính phủ hai nước nhượng quyền sẽ có nghĩa vụ chia sẻ bình đẳng các nguồn tài nguyên khai thác được trong vùng KTC. Chi phí trong hoạt động KTC sẽ được chia theo tỉ lệ công bằng giữa các công ty được nhượng quyền của hai quốc gia.

Luật của mỗi quốc gia sẽ được áp dụng với vùng KTC mà quốc gia đó được cấp đặc nhượng cho công ty. Trong trường hợp tranh chấp (nếu có) sẽ giải quyết bằng đàm phán thông qua con đường ngoại giao, nếu việc giải quyết không thành thì sẽ đưa vấn đề tranh chấp theo đường trọng tài[10,tr.255].

Hiệp định được hai nước thống nhất có thời hạn là 50 năm, có thể ra hạn thêm 3 năm. Trong trường hợp hai bên nhận thấy rằng nguồn tài nguyên trong khu vực KTC không còn giá trị về mặt kinh tế để hợp tác khai thác thì có thể cùng nhau thỏa thuận chấm dứt Hiệp định trước thời hạn.

Ưu điểm: Hiệp định chia nhỏ vùng chồng lấn ra 09 tiểu vùng KTC nhỏ để rễ phân chia quyền cấp đặc quyền; đã thiết lập được mô hình quản lý đơn giản, tinh gọn hơn (thành lập Ủy ban chung Nhật – Hàn là cơ quan duy nhất quản lý vùng KTC); việc cấp đặc quyền cho các công ty thể hiện tính linh động, tự chủ, mang lại hiệu quả kinh tế cao; vấn đề giải quyết tranh chấp theo hướng chung của quốc tế và giữ được nét riêng về láng giềng thân thiện; Hiệp định khẳng định không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của hai quốc gia, không làm phương hại đến yêu sách về TLĐ của mỗi quốc gia.[11,tr.141]…

  • Hiệp định hợp tác KTC dầu khí giữa Indonesia và Austraia ngày 11/12/1989

Hiệp định quy định vùng hợp tác KTC là vùng rộng 11.129 hải lý vuông được chia làm 3 tiểu vùng A, B, C. Trong đó mỗi nước được quyền tài phán đối với một tiểu vùng nằm về phía bờ biển của mình và một tiểu vùng còn lại ở giữa đặt dưới sự kiểm soát chung của hai nước, cụ thể: Australia kiểm soát vùng B, Indonesia kiểm soát vùng C, vùng A là vùng kiểm soát chung của cả hai nước. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Tiểu vùng A đặt dưới sự quản lý KTC của hai nước, hai nước thống nhất thành lập một Hội đồng Bộ trưởng với số Bộ trưởng ngang nhau do Chính phủ hai nước chỉ định. Hội đồng Bộ trưởng sẽ chịu trách nhiệm đối với tất cả các vấn đề liên quan đến thăm dò, khai thác dàu khí trong khu vực tiểu vùng A và có thể thực hiện các chức năng khác khi hai bên thống nhất giao cho. Theo hình thức quản lý này, Chính phủ hai nước có thể trực tiếp chỉ đạo công tác tham dò, khai thác tài nguyên chung tại khu vực tiểu vùng A (mô hình Cộng quản)[11,tr.134].

Quyền và nghĩa vụ của các bên: Hai quốc gia có nghĩa vụ thông báo cho nhau biết về việc chấp thuận, hủy bỏ các giấy phép khai thác, việc duy trì hay mãn hạn các hợp đồng với các công ty khai thác đối với những doanh nghiệp được hai nước cho phép khai thác trong vùng quản lý riêng của hai nước. Australia có nghĩa vụ đóng góp Indonesia 10% của số thuế thu được trong việc khai thác tại khu vực B, ngược lại Indonesia có nghĩa vụ đóng góp cho Australia 10% của số thuế thu được trong việc khai thác tại khu vực C. Tại khu vực A là khu vực chung, hai nước có quyền lợi ngang nhau và lợi nhuận thu được sẽ được chia sẻ công bằng cho hai quốc gia. Hai bên thống nhất giải quyết tranh chấp bằng phương án thỏa thuận hoặc thương lượng.

Hiệp định có hiệu lực trong thời hạn 40 năm kể từ ngày có hiệu lực quy định trọng Hiệp định. Hiệp định có thể gia hạn thêm 20 năm tiếp theo trừ khi hai nước thỏa thuận chấm dứt hoặc cho đến khi hai bên đạt được thỏa thuận phân định đường ranh giới cố định trong vùng chồng lấn này. Hiệp định còn đề cập đến các vấn đề khác như: Các biện pháp an toàn; tìm kiếm cứu hộ; Thiên văn học và khảo sát địa chấn; bảo vệ môi trường biển; trách nhiệm của nhà thầu trong bảo vệ môi trường biển[11,tr.134]

Hiệp định hợp tác KTC giữa Australia và Indonesia là một trong những Hiệp định điển hình về “một giải pháp tạm thời trong khi chờ hai quốc gia đạt được thỏa thuận phân định đường ranh giới trên biển”. Hiệp định quy định quy định khá chia tiết, đầy đủ những vấn đề liên quan đến vùng KTC. Đặc biệt, Hiệp định đã chia nhỏ vùng chồng lấn thành 03 vùng nhỏ, mỗi bên có quyền lợi riêng 01 vùng, vùng còn lại là vùng KTC, tuy nhiên mỗi bên có nghĩa vụ bù đắp cho bên kia 10% của khoản thuế thu được từ hoạt động khai thác dầu khí vùng được chia của mình. Hiệp định cũng đã khẳng định không làm ảnh hưởng đến quyền chủ quyền tương ứng mà hai quốc gia yêu sách chủ quyền trong vùng hợp tác KTC. Bên cạnh đó Hiệp định cũng có một số nhược điểm, tồn tại như: Hiệp định chưa đề cấp đến một số quyền lợi và nghĩa vụ của bên thứ ba; mô hình quản lý chung là Hội đồng Bộ trưởng với số Bộ trưởng ngang nhau do mỗi bên chỉ định nên chịu nhiều ảnh hưởng từ các quốc gia, tính động lập không cao; việc chia thành 03 tiểu vùng giao cho mỗi bên tự quản lý 01 tiểu vùng sẽ gây thiệt thòi cho nếu tiểu vùng mà quốc gia quản lý, khai thác có trữ lượng hoặc không có tài nguyên dầu khí… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Bản Ghi nhớ giữa Malaysia và Thái Lan ngày 21/02/1979

Vùng hợp tác KTC là vùng biển mà Thái Lan Tuyên yêu sách chủ quyền năm 1973 và Malaysia Tuyên bố yêu sách chủ quyền năm năm 1979. Với diện tích 7.250km² được giới hạn đánh dấu bởi 07 điểm. Với mốc trung tâm vùng KTC cách bờ biển tình Pattani khoảng 180km, cách bờ biển Songkhla khoảng 260km và Kota Bahru ở Bang Kelantan của Malaysia 150km[11,tr.145].

Tại khu vực này, hai nước thống nhất thiết lập một Cơ quan quyền lực chung (Joint Authority) có nhiệm vụ điều hành các hoạt động trong khu vực KTC. Cơ quan quyền lực chung có 02 đồng Chủ tịch đến từ mỗi quốc gia và các thành viên trong Cơ quan quyền lực chung đều được hai quốc gia bổ nhiệm với số lượng bằng nhau. Cơ quan quyền lực chung có quyền và nghĩa vụ như: Đề xuất việc trao quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu vực KTC dưới hình thức Hợp đồng chỉa sẻ sản phẩm khai thác được với Chính phủ để phê duyệt; Giám sát, quản lý, điều hành các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; Thu thuế và lợi nhuận từ hoạt động KTC.

Hai nước thống nhất chia đôi vùng KTC, đường chạy từ đỉnh đến đáy chia đôi vùng KTC sẽ là đường phân định chia quyền tài phán hình sự giữa hai quốc gia. Thái Lan có quyền tài phán ở khu vực phía Bắc đường phân định, còn Malaysia có quyền tài phán đối với phần phía Nam (việc chia đường phân định để chia quyền tài phán hình sự giữa hai quốc gia, đây không được coi là đường phân định ranh giới biển và không không làm phương hại đến yêu sách chủ quyền của hai quốc gia).

Bản Ghi nhớ cũng quy định: Nếu có mỏ dầu nằm trải rộng ra ngoài vùng hợp tác KTC thì các bên có nghĩa vụ thông báo cho nhau và cùng tìm cách giải quyết sao cho việc khai thác đem lại hiệu quả nhất, không ảnh hưởng đến lợi ích của các bên.

Nhìn chung, đây là bản Ghi nhớ giữa hai nước về vấn đề KTC dầu khí tại vùng biển chồng lấn chủ quyền trong khu vực liên quan đến biển Đông, bản Ghi nhớ quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực chung…

  • b. Một số thỏa thuận hợp tác KTC nghề cá điển hình
  • Hiệp định nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1965 và năm 1999
  • Hiệp định nghề cá năm 1965 Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

Vùng KTC: Vùng KTC được quy định cụ thể trong Hiệp định là vùng có đường nối 11 điểm với các tọa độ cụ thể, đây là vùng biển mà hai quốc gia yêu sách chủ quyền, vùng chồng lấn giữa hai quốc gia.

Thời hạn của Hiệp định: Hiệp định có hiệu lực trong thời gian 05 năm và có thể kéo dài 01 năm kể từ ngày mà một bên quốc gia gửi công hàm cho quốc gia kia về việc thông báo dự định chấm dứt hợp đồng. Hiệp định cũng đã quy định về các quy chuẩn cho việc khai thác nhằm đảm bảo việc duy trì và bảo tồn nghề cá. Quy định số lượng và kích cỡ của tàu thuyền đánh bắt cá, kích cỡ của lưới bắt cá và việc sử dụng đèn chiếu sáng..

  • Hiệp định nghề cá Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1999

Hiệp định xác định vùng KTC là vùng ĐQKT chồng lấn giữa hai nước, nơi chưa có đường ranh giới phân định biển và cũng là vùng biển hai quốc gia đã lý thỏa thuận hợp tác KTC năm 1965[10,tr.262].

Theo quy định của Hiệp định, mỗi bên sẽ cho phép tàu cá của bên kia được quyền khai thác cá trong vùng ĐQKT của mình phù hợp với quy định trong Hiệp định (Điều 2 của Hiệp định). Các bên có thể thực hiện các biện pháp quốc tế cần thiết theo luật Quốc tế trong vùng ĐQKT của mình để đảm bảo cho việc ngư dân và tàu cá của bên kia sẽ thực hiện các hoạt động nghề cá phù hợp với các quy định trong Hiệp định và các quy định liên quan khác (Điều 5 Hiệp định). Hai nước thiết lập một “Ủy ban Nghề cá Hàn Quốc và Nhật Bản” để đưa ra những tư vấn, những khuyến nghị liên quan đến các hoạt động nghề cá trong vùng KTC, các ý kiến khuyến nghị về việc bảo tồn và quản lý tài nguyên nghề cá và các sinh vật biển và các quyết định ràng buộc đối với Chính phủ của hai nước về những việc liên quan đến vấn đề thực thi Hiệp định. Vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có được hai nước đề xuất giải quyết bằng Trọng tài, tuy nhiên thủ tục giải quyết bằng Trọng tài không bắt buộc đối với hai bên.

  • Hiệp định KTC nghề cá giữa Hàn Quốc và Trung Quốc năm 1993

Hiệp định xác định vùng KTC là vùng ĐQKT chồng lấn, chưa có đường phân định giữa hai quốc gia. Đây là vùng yêu sách chủ quyền trong vùng ĐQKT giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, nên vùng KTC được thiết lập theo các danh nghĩa khác nhau như: vùng KTC thứ nhất gọi là “vùng biện pháp tạm thời” và vùng thứ hai gọi là “vùng chuyển tiếp nằm ở khu vực Biển Vàng (Yellow sea) là vùng tiếp giáp với bờ biển một bên là Hàn Quốc, một bên là Trung Quốc. Hiệp định quy định mỗi bên sẽ cho phép tàu cá và ngư dân bên kia được khai thác trong vùng ĐQKT của quốc gia mình phù hợp với các quy định trong Hiệp định và các quy định có liên quan khác. Hai nước thành lập Ủy ban nghề cá để thúc đẩy việc thực thi hiệp định, Ủy ban nghề cá có thẩm quyền quyết định những vấn đề liên quan đến việc bảo tồn, quản lý các hoạt động khai thác đánh bắt cá trong vùng “tạm thời” và vùng “chuyển tiếp”; đưa ra các khuyến nghị cho Chính phủ mỗi bên liên quan đến vấn đề cho phép tàu thuyền đánh cá của bên kia được phép vào đánh bắt ở vùng ĐQKT của mình, cũng như những loại cá được đánh bắt, trữ lượng đánh bắt cá, các điều kiện hoạt động của tàu thuyền. Hai nước đồng thời cũng quy định duy trì vùng đánh bắt cá truyền thống vẫn đang được đánh bắt hay gọi là “khu vực tự do hoạt động nghề cá”. Ủy ban nghề cá của hai nước trước khi đưa ra vấn đề khuyến nghị nào cũng cần có sự đồng thuận của các bên. Chính phủ hai nước sẽ tôn trọng các khuyến nghị do Ủy ban đưa ra và sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để thực hiện các khuyến nghị đó. Trong quá hợp tác KTC nếu có xảy ra tranh chấp thì các bên sẽ thống nhất giải quyết bằng con đường đàm phán[10,tr.262]. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Hiệp định nghề cá giữa Nhật Bản và Trung Quốc năm 1975

Những năm 1950, Trung Quốc tuyên bố một đường ranh giới “Mao Tse- teng” và thực hiện những thẩm quyền của Trung Quốc về đường ranh giới đó chống lại các tàu cá của Nhật Bản đang hoạt động nghề cá trong khu vực đó. Hai bên đã nổ lực đàm phán và năm 1975 Hiệp định KTC nghề cá đầu tiên ra đời nhằm tạm gác tranh chấp và khai thác đánh bắt cá trên vùng biển tranh chấp một cách hòa bình, hợp tác cùng khai thác[11,tr.168].

Vùng đánh bắt cá chung bao gồm các điểm có kinh độ và vĩ độ đã quy định trong Điều 1 của Hiệp định đã được các bên thỏa thuận ký kết. Các bên phải đưa ra những hướng dẫn và giám sát đối với các tàu thuyền của mình, đồng thời phải giải quyết bất kỳ vi phạm nào đối với Hiệp định để đảm bảo ngăn chặn được những vi phạm khác (nếu có). Ủy ban KTC nghề cá Trung Quốc – Nhật Bản được thành lập với các nhiệm vụ cụ thể như: Rà soát tổng thể việc thực hiện Hiệp định; đưa ra các khuyến nghị đối với các bên nhằm sửa đổi, bổ sung những phụ lục đi kèm của Hiệp định; Trao đổi những dữ liệu nghề cá và xem xét thực trạng nguồn tài nguyên cá tại vùng nước KTC; Tiến hành các hoạt động nghiên cứu việc bảo vệ nguồn tài nguyên cá và đưa ra các khuyến nghị cho các bên. Hiệp định cũng quy định liên quan đến số lượng tàu thuyền của mỗi bên được phép hoạt động trong vùng KTC, tiêu chuẩn kỹ thuật, kích cỡ lưới, vấn đề bảo đảm an toàn cho tàu thuyền, thông tin liên lạc giữa tàu thuyền…Hiệp định có hiệu lực trong thời hạn 03 năm và sau giai đoạn này Hiệp định tiếp tục có hiệu lực cho đến khi hai bên tuyên bố về việc chấm dứt Hiệp định.

Điểm mới của Hiệp định là đã quy định cụ thể cơ chế quản lý của hoạt động hợp tác KTC như việc thành lập một Ủy ban nghề cá chung giữa hai nước; trao đổi dữ liệu và thực trạng nguồn tài nguyên, quy định số lượng tàu thuyền đánh cá, kích cỡ lưới đánh bắt cá… Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

  • Hiệp định ngư nghiệp giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản ngày 11/11/1997

Vùng KTC là vùng biển chồng lấn thuộc vùng ĐQKT của Trung Quốc và Nhật Bản gọi là “vùng nước đánh bắt cá tạm thời” [10,tr.266], hai bên cũng phải xem xét đến ảnh hưởng của hoạt động ngư nghiệp truyền thống của mỗi bên nhằm đảm bảo duy trì nguồn tài nguyên, thực hiện các biện pháp bảo tồn thích hợp và các biện pháp quản lý về số lượng cá. Mỗi nước có quyền hạn trong vùng ĐQKT của mình, các bên có thể thực hiện các biện pháp cần thiết căn cứ vào luật quốc tế để đảm bảo ngư dân và thuyền đánh cá của mỗi bên phải tuân thủ các biện pháp bảo tồn tài nguyên sinh vật biển và các điều kiện khác như xử lý các sự cố trên biển, vấn đề hợp tác nghiên cứu khoa học về ngư nghiệp, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển..Hiệp định cũng quy định đến biện pháp như bắt hoặc tạm giữ thuyền đánh cá và thuyền viên vi phạm những điều quy định trong Hiệp định.

Mô hình quản lý hoạt động KTC, cũng tương tự như Hiệp định năm 1975, Hiệp định thành lập Ủy ban liên hiệp Ngư nghiệp Trung – Nhật (Ủy ban Ngư nghiệp); Chính phủ mỗi nước cử ra 02 thành viên là Ủy viên của Ủy ban. Ủy ban có thẩm quyền tư vấn cho Chính phủ mỗi bên liên quan đến các hoạt động nghề cá trong vùng ĐQKT như: các loại cá được phép đánh bắt, trữ lượng cá được đánh bắt, các điều kiện để thực hiện đánh bắt cá trong vùng KTC. Các quyết định, khuyến nghị của Ủy ban Nghư nghiệp chỉ được phép đưa ra khi có sự đồng thuận của đại diện hai quốc gia tham gia Ủy ban, Chính phủ hai nước sẽ tôn trọng các quyết định, khuyến nghị mà Ủy ban đề xuất và sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để thực hiện khuyến nghị đó.

Thời hiệu của hiệp định: Hiệp định có hiệu lực trong vòng 05 năm. Sau thời gian trên, Hiệp định sẽ có hiệu lực cho đến khi xuất hiện các trường hợp sau: Bất kỳ bên ký kết nào kết thúc thời hạn 05 năm đầu tiên hoặc bất kỳ lúc nào sau thời hạn 05 năm đầu tiên có thể chấm dứt Hiệp định nếu bên chấm dứt thông báo bằng văn bản cho bên kia trước 06 tháng. Hiệp định cũng quy định rõ rằng không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền “không được cho rằng các quy định của Hiệp định này làm tổn hại tới lập trường của mỗi bên về các vấn đề có liên quan đến Luật biển”. Hiệp định không quy định cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh (nếu có) từ hoạt động nghề cá giữa hai nước trong khu vực hợp tác KTC.

Kết luận Chương II

Với vai trò và tầm quan trọng vô cùng to lớn của biển đem lại, cùng với sự phát triển vược bậc của khoa học kỹ thuật, các quốc gia ven biển không ngừng vươn ra biển, làm chủ biển và cũng không từ bỏ tham vọng độc chiếm biển. Công ước Luật biển 1982 đã được không ít các quốc gia ven biển áp dụng để mở rộng chủ quyền quốc gia đối với vùng biển mà các quốc gia tuyên bố chủ quyền, điều này cũng dẫn đến sự chồng lấn đối với những vùng biển hẹp, vùng biển liền kề. Khi mà các quốc gia chưa thể đàm phán đi đến phân định biển thì KTC là một giải pháp tối ưu. Các mô hình hợp tác KTC trên thế thới và khu vực tại các vùng biển chồng lấn về chủ quyền chủ yếu là KTC về dầu mỏ và khí đốt, ngoài ra còn có một số thỏa thuận KTC về nghề cá, nghiên cứu khoa học…Trong đó, một số mô hình KTC được cho là điển hình như nêu ở phần trên đã và đang được các quốc gia ven biển nhân rộng áp dụng trong thực tiễn. Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

One thought on “Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

  1. Pingback: Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464