Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong các vụ án dân sự, việc dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Tình hình hành nghề luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay, Đoàn luật sư TP.HCM có số lượng LS thuộc chiếm hơn 40% tổng số LS cả nước, trong đó có nhiều LS chuyên về thương mại, đầu tư, thông thạo tiếng Anh và tự tin tranh luận với các LS nước ngoài về các vấn đề pháp lý, cũng như tham gia tranh tụng đối với các tranh chấp thương mại quốc tế khi cần thiết.
Số lượng LS và tập sự hành nghề LS của Đoàn luật sư TP.HCM tăng vọt theo từng năm:
- Năm 2018, tổng số luật sư : 4.530 người, số luật sư thực tập: 2.299 người.
- Năm 2019, tổng số luật sư : 4.985 người, số luật sư thực tập: 2.506 người.
- Năm 2020, tổng số luật sư : 5.527 người, số luật sư thực tập: 3.292 người.
- Năm 2021, tổng số luật sư : 5.945 người, số luật sư thực tập: 3.640 người.
- Năm 2022, tổng số luật sư : 6.489 người, số luật sư thực tập: 4.040 người.
Biểu đồ 2.1: Số lượng luật sư và tập sự hành nghề luật sư của Đoàn luật sư TP.HCM
Cùng với việc số lượng luật sư tăng, số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng đồng thời tăng đáng kể. Hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có trên 2.109 tổ chức hành nghề luật sư. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.1: Tổ chức hành nghề luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trong giai đoạn từ năm 2018 – 2022, luật sư cả nước nói chung và luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã đảm nhiệm tốt hoạt động chuyên môn và nhiệm vụ xã hội. Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh luôn quan tâm, kiểm tra, giám sát quá trình tập sự hành nghề LS của những người mới đăng ký tập sự tại Đoàn. Phần đông những người mới này đều đáp ứng được yêu cầu của quy định về tập sự hành nghề luật sư theo Thông tư 19/2013/TT-BTP ngày 28/11/2013 của Bộ Tư pháp. Tại các kỳ kiểm tra do Liên Đoàn luật sư Việt Nam tổ chức, kết quả của người tập sự hành nghề luật sư thuộc Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh đều đạt tỷ lệ khác cao. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Đối với luật sư: tất cả các LS của Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đều có trình độ cử nhân luật trở lên (đạt tỷ lệ 100%). Đa số đã qua đào tạo nghề LS, chỉ một số ít điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán nghỉ việc hoặc nghỉ hưu đảm bảo các điều kiện được miễn đào tạo hành nghề LS, được cấp chứng chỉ hành nghề LS và gia nhập Đoàn luật sư. Nhìn chung, đội ngũ LS của Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh đã đáp ứng được nhu cầu dịch vụ pháp lý của xã hội trong thời gian qua.
Về bồi dưỡng nghiệp vụ: Thực hiện Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07/04/2014 của Bộ Tư pháp về đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc cho LS, Đoàn đã thực hiện nghiêm túc việc mở lớp đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc cho LS, cụ thể: Mỗi năm mở lớp đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc cho LS. Chuyên đề bồi dưỡng cũng được chú trọng với các nội dung liên quan đến các văn bản PL mới, những văn bản PL phổ biến, quan trọng có liên quan nhiều đến hoạt động hành nghề LS. Sau khi tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, các LS đủ điều kiện đều được cấp Giấy chứng nhận tham gia lớp bồi dưỡng bắt buộc.
Phần lớn các LS đều có ý thức chấp hành tốt PL, tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của LS, điều lệ Liên Đoàn luật sư Việt Nam, và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của Đoàn luật sư thành phố. Tuy nhiên, Đoàn luật sư TP.HCM đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-ĐLS ngày 27/12/2018 về việc xóa tên 320 LS ra khỏi danh sách LS của Đoàn luật sư, vì 320 LS này đã không đóng phí thành viên trong một thời gian dài; đồng thời có 12 LS phải chịu hình thức xử lý kỷ luật khác.
2.1.2. Tình hình thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong các vụ án dân sự, việc dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của LS trong TTDS ngày càng được coi trọng. Do kinh tế phát triển đã kéo theo những hệ quả tương ứng, đặc biệt là việc xảy ra ngày càng nhiều tranh chấp, lĩnh vực tranh chấp ngày càng đa dạng, quy mô ngày càng lớn, mức độ phức tạp càng cao. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tối đa, các tổ chức, cá nhân không chỉ tìm kiếm sự tư vấn của LS khi chuẩn bị giao dịch dân sự, mà càng cần sự có sự hỗ trợ của LS khi phát sinh tranh chấp. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Thực trạng thực hiện PL về vai trò của LS trong các VADS, VDS nói chung và tại TP.HCM nói riêng đã có nhiều phát triển trong thời gian vừa qua. Đồng thời, với sự ra đời của BLDS năm 2015 và Bộ luật TTDS năm 2015 đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho quá trình giải quyết VADS, VDS trên địa bàn thành phố. Trên cơ sở đó, TA tại TP.HCM đã tôn trọng và tạo điều kiện tốt nhất để LS tham gia TTDS phát huy vai trò của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, số VADS, VDS tại TP.HCM có sự tham gia của LS ngày càng tăng theo từng năm.
- Biểu đồ 2.2: Số vụ án dân sự mà Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh tham gia từ năm 2018 – 2022
Thứ nhất, việc LS tham gia vào các VADS, VDS tại TP.HCM đã giúp cho các đương sự có nhận thức đầy đủ và rõ ràng về các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ PL (đặc biệt là quan hệ TTDS), từ đó có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tiếp đó, khi tham gia vào VADS, LS góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện, PL được thực thi, giúp quá trình giải quyết vụ án diễn ra nhanh chóng, triệt để, góp phần bảo về quyền lợi và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Có thể minh chứng vai trò của quan trọng của LS tham gia bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VADS điển hình về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn. Trước đây, bà Trần Thị B và ông Tôn Thất C là vợ chồng. Đến ngày 13/08/2012 cả hai đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 447/2012/QĐST-HNGĐ của TA nhân dân huyện Cần Giờ . Khi ly hôn bà B và ông C không yêu cầu chia tài sản. Ngày 05/11/2012, bà B khởi kiện ra TA yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Căn nhà căn nhà 2SB XX, phường TT, Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh do ông Tôn Thất C đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất được mua năm 2005. Nguồn tiền ông C mua nhà là do được thừa kế của mẹ ông C và được cha ông C cho. Ngày 02/10/2014, bà Trần Thị B là nguyên đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 67/2014/DS- ST ngày 09/09/2014 của TA nhân dân thành phố Nha Trang và yêu cầu cấp Phúc thẩm: “Sửa bản án sơ thẩm, chia tài sản tranh chấp cho bà B được hưởng 50% giá trị căn nhà và đất”. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Mấu chốt của vụ án là muốn chia tài sản chung thì trước tiên phải chứng minh được tài sản trên là tài sản chung của vợ chồng. Đây là một điều rất khó vì nó là ý chí của con người là vật vô hình chứ không phải vật hữu hình có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên, LS đã thuyết phục được Hội đồng xét xử phúc thẩm rằng trong quá trình sống chung ông C đã tự nguyện đưa tài sản này vào khối tài sản chung. Sau khi nghe LS trình bày Hội đồng xét xử Phúc thẩm đã quyết định công nhận tài sản trên là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên xét về công đóng góp thì chia theo tỷ lệ 7/3 ông Cường sẽ được 70% giá trị căn nhà và bà B sẽ được 30% giá trị căn nhà. Đó là kết quả của một quá trình đấu tranh kiên trì bằng việc tìm kiếm các chứng cứ mới, tình tiết mới mà phiên tòa sơ thẩm chưa xem xét toàn diện. Bản án phúc thẩm hợp cả về tình và về lý, bảo vệ quyền lợi cho bên yếu thế hơn.
Vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” là một ví dụ. Nội dung bản án sơ thẩm của TA nhân dân quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Tường, bà Đặng Thị Hà. Công nhận diện tích 296,1m2 nằm trong diện tích 1.555m2 thuộc thửa đất số 326(2), tờ bản đồ 375-A thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Lương Tường, bà Đặng Thị Hà. Buộc bị đơn, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái PL trả lại đất cho nguyên đơn. Đất có giới cận: Đông giáp sân nhà Lương Tường, Đặng Thị Hà của thửa 326(2), tờ bản đồ 375-A, tây giáp đường bê tông; Nam giáp ruộng lúa; Bắc giáp lối đi chung hai nhà Đặng Xuân Hoan, Nguyễn Thị Luyến và Lương Tường, Đặng Thị Hà (kèm theo sơ đồ thửa đất định giá). Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 132227 do Ủy ban nhân dân quận Bình Tân cấp ngày 30/11/2005, cấp cho hộ Lương Tường, Đặng Thị Hà; không chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 296,1m2 ; có giới cận: Đông giáp sân nhà Lương Tường, Đặng Thị Hà của thửa 326(2), tờ bản đồ 375-A, tây giáp đường bê tông; Nam giáp ruộng lúa; Bắc giáp lối đi chung hai nhà Đặng Xuân Hoan, Nguyễn Thị Luyến và Lương Tường, Đặng Thị Hà ”.
Trong vụ án này, hai bên đương sự đều đưa ra những bằng chứng để chứng minh cho quyền sử dụng đất của mình là hợp pháp. Do đó, vai trò của LS trong vụ án này là phải chứng minh được chứng cứ phía nguyên đơn đưa ra là phù hợp với quy định PL và tìm ra những điểm không phù hợp với sự thật khách quan của những chứng cứ mà phía bị đơn đưa ra. LS đã xác định và chứng minh được di chúc mà bị đơn dựa vào để khẳng định quyền sử dụng đối với diện tích đất đang tranh chấp là không cơ sở vì di chúc đó được lập để định đoạt tài sản khác. LS đã chứng minh được tài sản tranh chấp không còn là tài sản của người để lại di chúc vì khi di chúc được lập, tài sản này đã được đưa vào sở hữu của Hợp tác xã.
Trong các vụ án tranh chấp về đất đai, lao động, đa số các vụ án có thời gian xảy ra sự việc khá lâu và phức tạp, đương sự thiếu hiểu biết về PL nên việc mời LS tham gia tư vấn PL, bảo vệ quyền lợi là cần thiết. Nhiều vụ án tranh chấp đất đai với sự tham gia của LS tư vấn PL đã giảm bớt những tranh chấp kéo dài, giảm khiếu nại vượt cấp. Các vụ án tranh chấp thừa kế khá phức tạp, nhiều vụ việc xác định nguồn gốc tài sản chung từ đó xác định chia cho hàng thừa kế cần nhiều chứng cứ và áp dụng PL qua nhiều thời kỳ, sự tham gia của LS trong các vụ án này có vai trò rất quan trọng. Số lượng LS tham gia các vụ án dân sự tại TP. Hồ Chí Minh ngày càng nhiều, người dân đã dần quen với việc mời LS tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình để vụ án được xét xử khách quan, đúng quy định PL. Khi LS tham gia vụ kiện dân sự sẽ dùng kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tư vấn, tranh tụng để tư vấn, hướng dẫn khách hàng thực hiện bảo vệ quyền lợi theo quy định của PL.
Thứ hai, tranh tụng trong vụ án dân sự dựa vào chứng cứ mà các bên thu thập hợp pháp để chứng minh bảo vệ quyền lợi. LS tham gia vụ án dân sự sẽ hướng dẫn đương sự và sử dụng chứng cứ có lợi khi bảo vệ cho thân chủ.
Để hiểu rõ ý nghĩa, vai trò cần thiết của luật sư đối với công tác thu thập bằng chứng đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn, chúng tôi muốn trình bày một vụ việc vụ kiện với Công ty Luật TNHH Trung Nam Thái.
Ngày 06/12/2022, Công ty Luật TNHH Trung Nam Thái nhận được thư đề nghị luật sư của CTCP xây dựng thuỷ lợi TH (dưới đây viết là công ty TH) hỗ trợ pháp lý về HĐ thuê khoán số 56/HĐGK – CĐSH kí ngày 16/01/2014 với CTCP Sơn Hưng SH (dưới đây viết tắt là công ty SH). Công ty Luật TNHH Trung Nam Thái đồng ý cung ứng dịch vụ pháp lý đối với Công ty TH và LS Lại Văn Doãn là LS trực tiếp tham gia bảo hộ quyền, lợi ích đối với Công ty TH. Vụ việc đã được TAND huyện Củ Chi thụ lý giải quyết theo Thông báo số 10/TB-TLVA ngày 12/08/2022. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Ngày 25/8/2012, Công ty TH gửi tờ trình lên SXD đề nghị Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố chấp thuận chủ trương lắp đặt dây truyền sản xuất gạch Tuynel cho Công ty SH. Ngày 03/9/2012, Công ty TH tiếp tục gửi tờ trình cũng với nội dung nêu trên lên SXD và UBND TP. HCM và được sự đồng ý của UBND.
Ngày 20/9/2012 UBND TP. HCM đã có chỉ đạo theo công văn số 1411/UB-CN chấp thuận việc Công ty TH cùng Công ty SH hợp tác lắp đặt các dây chuyền sx gạch Tuynel cho Công ty SH.
Ngày 16/01/2014, Công ty SH cùng Công ty TH ký hợp đồng thuê khoán tài sản cố định số 56/HĐGK-CĐSH với nội dung hợp đồng thuê khoán hoạt động sản xuất của dây chuyền gạch Tuynel với giá trị thuê khoán là 275.000.000 đồng/quý (Bằng chữ: Hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng chẵn.)
Tháng 7/2018 cơn bão số 01 gây nhiều thiệt hại nặng nề nên để sớm quay trở lại sản xuất, Công ty TH tiếp tục tự bỏ tiền ra để sửa chữa các thiệt hại với tổng chi phí là hơn 1 tỷ đồng.
Ngày 30/03/2019, Công ty SH bất ngờ gửi thông báo yêu cầu Công ty TH thanh lý hợp đồng thuê khoán số 56/HĐGK-CĐSH.
Ngày 01/08/2019, Công ty SH làm hồ sơ khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Củ Chi – TP. HCM lấy trả nhà xưởng, máy móc trang thiết bị đã thuê khoán theo HĐ thuê khoán số 56/HDTK-CĐSH ngày 16/01/2014.
LS đã phối hợp với Công ty TH điều tra, xác minh và thu thập đầy đủ bằng chứng trong sự việc trên nên quyền và lợi ích chính đáng của KHÁCH HÀNG bị xâm phạm trầm trọng. Đồng thời, công ty làm đơn phản tố gửi tới TAND TP.HCM. Ngoài những chứng cứ khách hàng cung cấp như:
- Đơn khởi kiện ngày 01/08/2019
- Thông báo về việc thụ lý vụ án ngày 12/08/2019
- Các Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty SH các lần thay đổi 2, 3, 4, 5, 6, 7.
- Điều lệ Công ty Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
- Hợp đồng thuê khoán và các Phụ lục hợp đồng đi kèm. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 05/BL ngày 06/02/2014.
Thông báo về việc thực hiện TLHĐ của Công ty SH. Về vấn đề thu thập bổ sung tài liệu chứng minh, LS Lại Văn Doãn đã giúp Công ty TH tìm hiểu, thu thập bổ sung đầy đủ các bằng chứng kiện nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của Công ty, để có thêm cơ sở pháp lý phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty SH.
Có tất cả 12 lần Công ty TH tạm ngừng đốt trong suốt 2 năm ký kết hợp đồng thuê giao khoán do tác động của mưa bão và các lý do khách quan khác (Ngừng từ 20/06/2016 đến 12/02/2017 và ngừng từ 10/11/2017 đến 11/03/2018 đều có chứng nhận của chính quyền địa phương). Theo quy định tại Hợp đồng đã ký:
- Điều 8: Bất khả kháng:
Thời gian thực hiện hợp đồng đối với trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng sẽ được kéo dài theo thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng khi bên bị ảnh hưởng chưa thể hoàn thành xong nghĩa vụ theo hợp đồng của mình.
Nếu sự kiện bất khả kháng kéo dài liên tiếp trong thời gian trên 180 ngày làm việc. Theo Điều 6 trên, một trong các bên có toàn quyền chấm dứt hợp đồng giao khoán này. Việc lún lò và thiên tai là do yếu tố khách quan nằm ngoài ý chí chủ quan của cả hai bên đều được coi là sự kiện bất khả kháng và theo quy định trên thì Hợp đồng số 56/HĐGK-CĐSH ký kết giữa hai bên phải được kéo dài đúng bằng thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng. Bên cạnh đó Công ty SH cũng đã họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2015 và ra quyết định kéo dài Hợp đồng số 56 nói trên.
Đến cuối năm 2015, Công ty TH đã tiến hành cải tạo các hạng mục hư hỏng như:
- Lắp đặt lưới điện hạ áp theo HĐ ngày 10/11/2016 giữa Công ty TH với ông Đặng Văn Chiến giá trị 41. 194. 000 VNĐ (Có hoá đơn chứng từ)
- Sửa nhà kho đất theo hợp đồng giữa Công ty TH với ông Nguyễn Hữu Phong ngày 18/11/2016 trị giá 64.540.000 VNĐ (có chứng từ thanh toán)
- Sửa chữa lò nung gạch Tuynel Hợp đồng giữa Công ty TH với ông Nguyễn Đức Cưởng ký ngày 25/12/2017 trị giá 000.000 VNĐ (có chứng từ thanh toán).
- Làm cửa lò nung sấy, dàn nâng cửa vả dường ray trong nhà máy ký Hợp đồng giữa Công ty TH với ông Phạm Minh Hoài ngày 20/02/2017 trị giá 80.000.000 VNĐ. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
- Đốt lại là bị thiệt hại = 000.000 VNĐ
Tổng trị giá Công ty TH đầu tư vào dự án nhằm sửa chữa nâng cấp là 435.734. 000 VNĐ. Vậy tổng số tiền đầu tư của dự án 435. 734. 0 VNĐ tương ứng với 9 tháng và 2 tháng dừng lò để sửa chữa tại thời điểm tháng 11/2016 thì hợp đồng còn được kéo dài tiếp 11 tháng nữa. Khi đó thời điểm hết hạn hợp đồng phải là ngày 31/12/2019.
Tháng 7/2017 Cơn bão số 01 gây nhiều thiệt hại nặng nề nên Công ty TH đã họp bàn phương hướng thực hiện theo thông báo của Ủy ban nhân dân TP.HCM về việc nhanh chóng khắc phục hậu quả cơn bão số 01 để sớm đưa công ty vào sản xuất. Đồng thời với tư cách là một bên liên doanh đã tham gia dự án từ khi mới được Ủy ban nhân dân TP.HCM cấp phép năm 2012
Công ty TH đã tự bỏ tiền ra để sửa chữa các thiệt hại nhanh chóng đưa dự ánThời gian sửa chữa mất 04 tháng từ ngày 28/07/2017 đến 07/11/2017 cộng với số tiền đầu tư sửa chữa là 1,527,870,933 VNĐ tỉnh theo đơn giá thuê khoán của Đại hội thường niên 2015 đề nghị với mức 500.000.000 VNĐ/năm thì số tiền đầu tư ra khấu trừ vào tiền thuê khoán sẽ tương dương với mức 36 tháng + 4 tháng sửa chữa, tổng là 40 tháng. Do đó thời hạn hết hợp đồng phải là tháng 04/2022.
Với sự trợ giúp, tư vấn của luật sư Lại Văn Doãn trong vụ VDS này, đặc biệt là trong việc tìm kiếm, thu thập thêm các chứng cứ đồng thời nộp đơn phản tố tới cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích cho Công ty TH, ngày 26/10/2018 TA nhân dân huyện Củ Chi, TP.HCM ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2022/QĐST-KDTM với lý do đợi Cục thuế TP. HCM cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của TA.
Trong quá trình giải quyết VA, cùng với sự trợ giúp của LS đến ngày 2/4/2022 hai bên đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất phương án giải quyết tranh chấp, quyền lợi hợp pháp của các bên đã được đảm bảo. Do vậy, CTy SH đã nộp đơn đề nghị rút đơn khởi kiện, đồng thời CTy TH rút đơn phản tố.
Thứ ba, vai trò của LS trong tranh chấp dân sự còn thể hiện ở việc bảo đảm thủ tục tố tụng dân sự được tuân thủ đúng PL. LS sẽ đề xuất việc tham gia của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nếu cần thiết trong vụ án dân sự.
Thứ tư, giai đoạn hòa giải trong TTDS là một trong những thủ tục bắt buộc trong VADS. Tuy nhiên, để các đương sự có thể hòa giải được với nhau, LS sẽ tư vấn để đương sự có thể đưa ra được phương án hòa giải tốt nhất. Đối với vụ án tranh chấp đất đai, để hòa giải được cần hiểu sâu, rõ vụ án và nguyện vọng các bên để đưa ra được phương án mà hai bên có thể chấp nhận. Việc có LS tư vấn và giải thích những quy định của PL liên quan để đương sự hiểu và thực hiện đúng là cần thiết.
Như vậy có thể thấy rằng ở một khía cạnh khác, LS với tư cách là những người có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực PL, đã góp phần thúc đẩy đội ngũ cán bộ TA phải không ngừng học hỏi, trau dồi và nâng cao kiến thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ của mình. Đồng thời việc LS trình bày quan điểm, lập luận và tham gia tranh tụng dựa trên kinh nghiệm và sự am hiểu PL của mình đã phần nào giúp tránh được tình trạng quan điểm một chiều , suy diễn, áp đặt trong việc giải quyết vụ án, hạn chế xảy ra tiêu cực trong quá trình tố tụng, phát huy sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án nói chung và VADS, viêc dân sự nói riêng. Có thể thấy rằng, bên cạnh sự gia tăng về số lượng LS cũng như tần suất LS tham gia vào các vụ án (bao gồm cả VADS, VDS) thì chất lượng của hoạt động tố tụng trong các vụ án có LS tham gia cũng được nâng cao đáng kể. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Thứ năm, việc LS tham gia vào các VADS, VDS góp phần duy trì và phát huy chức năng xã hội của LS trong công cuộc bảo vệ công lý, đảm bảo quyền tự do, dân chủ cuả công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCNVN của dân, do dân và vì dân.
Ngoài ra, việc tham gia vào quá trình giải quyết VADS còn giúp LS có cơ hội trau dồi, nâng cao được trình độ và kinh nghiệm của mình, góp phần nâng cao uy tín và danh tiếng của cá nhân LS, không những đem lại thu nhập hợp pháp cho bản thân LS mà còn đóng góp tích cực vào ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, việc các LS có trình độ và kĩ năng tham gia vào các vụ án nói chung và VADS nói riêng còn thúc đẩy những LS khác không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ, trau dồi kiến thức cũng như các kỹ năng bổ ích phục vụ cho việc hành nghề của mình. Kết quả rõ nét mà chúng ta có thể thấy được là trong những năm qua, chất lượng đội ngũ LS Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã từng bước được cải thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu của xã hội. Số LS có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ luật ngày càng tăng lên.
2.2. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong các vụ án dân sự, việc dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
2.2.1. Những kết quả đạt được
Nhìn chung đội ngũ luật sư Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời gian vừa qua đã đạt được những thành quả đáng mừng, đông lên về số lượng, mạnh hơn về quy mô cộng với phạm vi hành nghề ngày càng được mở rộng, hoạt động của luật sư ngày càng phong phú đa dạng, có hiệu quả rõ rệt hơn.
Bên cạnh đó, chất lượng và hiệu quả hoạt động tham gia các VADS, VDS của luật sư cũng tăng cao. Nhờ có sự tham gia của luật sư đã góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc để TA đưa ra phán quyết đúng đắn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự. Với cách đưa ra các kiến nghị, đề xuất đối với việc xử lý VADS, VDS, luật sư đã thực hiện khá tốt việc đảm bảo hài hoà lợi ích của công dân với lợi ích nhà nước và góp phần giúp cho người tiến hành tố tụng giải quyết đúng đắn vụ việc. Bằng việc nêu rõ được những điểm thiếu sót, sơ hở của các quy định PL hiện hành, LS cũng có khả năng hệ thống hoá các quy định của PL TTDS, từ đó đưa ra các kiến nghị sửa đổi bổ sung, hoàn thiện nhằm phù hợp với thực tiễn.
Đối với hoạt động của LS tại các VADS, VDS biểu hiện trên nhiều phương diện với nhiều hình thức, biện pháp linh hoạt, đa dạng: suốt những năm vừa qua, đội ngũ LS của Đoàn Luật sư TP. HCM đã phổ biến pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng cùng các hình thức khác; đồng thời tham gia vào công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo thói quen tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong các tầng lớp nhân dân; góp phần thúc đẩy công tác thực thi pháp luật, giáo dục pháp luật, thực thi công lý, tăng cường pháp chế XHCN, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong đó, hình thức tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng mang lại hiệu quả cao. Sự tham gia của LS trong các VADS, VDS cơ bản đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các LS tham gia tích cực và có tinh thần trách nhiệm, khi tham gia tố tụng, bào chữa tại phiên Tòa, các LS có nghiên cứu hồ sơ, tiếp xúc bị can, bị cáo và làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
Bằng hoạt động của mình, LS hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực thi công vụ, làm tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hạn chế tình trạng tùy tiện, lạm quyền, góp phần giải tỏa các vướng mắc pháp luật, giảm thiểu tranh chấp
Sự có mặt của LS Đoàn luật sư TP. HCM vào các VADS, VDS đã tạo ra hiệu quả thiết thực cho nhà nước và xã hội: chính đội ngũ LS là cầu nối để chính quyền các địa phương đối thoại, giải quyết những bức xúc của chính quyền và là cầu nối “đối thoại” giữa chính quyền với dân. Đồng thời đóng góp tích cực cho đổi mới tư pháp, tạo điều kiện nhằm thực thi quyền tranh tụng tại Toà án, giúp đỡ các CQTHTT cùng các cơ quan Nhà nước khác xử lý vụ việc được chuẩn xác, công khai, minh bạch và đúng pháp luật. Đặc biệt, Luật sư cũng khám phá thêm nhiều kiến thức với kinh nghiệm hành nghề cùng kiến thức chuyên ngành cao. “lỗ hổng” của Pháp luật, qua đó có những nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh phù hợp, nhằm cải thiện pháp luật nói chung và pháp luật về hỗ trợ pháp lý nói riêng.
2.2.2. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Trên thực tế, vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định của PL về vai trò của LS với tư cách là người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong VADS, VDS.
Thứ nhất, quy định của PL hiện hành về sự tham gia của LS trong VADS, VDS không được quy định chi tiết, rõ ràng. Đồng thời, thẩm phán chủ tọa không ý thức được giá trị của LS dẫn đến rất ít trường hợp được tòa bảo đảm thời gian tiến hành thủ tục là 3 ngày theo quy định của PL. Thay vào đó, ngay từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, các thủ tục công nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng còn khá chậm.
Thứ hai, số lượng LS tham gia TTDS tại TP. Hồ Chí Minh đã gia tăng đáng kể cả về chất lượng và số lượng nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu của thực tế. Số lượng LS hiện có so với dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn rất thấp. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ LS còn hạn chế. Tuy nhiên, hiệu quả tham gia tố tụng của LS vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại TA .
Ngoài ra, trình độ chuyên môn của LS còn rất hạn chế: kiến thức về PL chưa sâu rộng, kỹ năng tranh tụng tại TA chưa sắc bén, rõ ràng. Thậm chí, nhiều LS còn trích dẫn sai luật, hiểu sai tinh thần của PL trong quá trình tham gia tranh tụng, từ đó không đưa ra được những lập luận chắc chắn, mang tính khẳng định để thuyết phục được Hội đồng xét xử. Những câu hỏi thẩm vấn chưa rõ ý, còn lủng củng, khiến cho người được hỏi cũng chưa trả lời đúng trọng tâm…đã ảnh hưởng rất nhiều đến hình ảnh, uy tín và vai trò của LS trong hoạt động tranh tụng.
Một số LS còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tang chứng, vật chứng, nhằm củng cố hồ sơ vụ án, cũng như đưa ra các yêu cầu, đề nghị trong quá trình bào chữa, tranh luận tài TA . Thái độ ứng xử nghề nghiệp của một số LS cũng chưa đúng mực trong quan hệ với CQTHTT, người tham gia tố tụng và thậm chí là cả với đồng nghiệp, người giám định, người phiên dịch… đã phần nào ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ LS của Đoàn luật sư tại TP.HCM.
Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ và kiến thức PL quốc tế của LS còn yếu. Không có thế mạnh về ngoại ngữ, nên khi họ tham gia tranh tụng những vấn đề tranh chấp có đương sự là người nước ngoai hầu như phải có phiên dịch, như vậy làm kéo dài thời gian tố tụng, tốn kém và không hiệu quả. Thậm chí họ sẽ không có nhiều cơ hội trao đổi, tiếp thu kinh nghiệm quý báu về hoạt động tố tụng với đồng nghiệp trong khu vực cũng như quốc tế. Nguyên nhân là do công tác đào tạo, bồi dưỡng LS phục vụ hội nhập quốc tế chưa được bài bản và chú trọng; việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tiến bộ, sử dụng kỹ thuật còn hạn chế,… đặc biệt đội ngũ LS chuyên sâu trong lĩnh vực TTDS vẫn đang trong quá trình hình thành.
Thứ ba, tỷ lệ số VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh có LS tham gia trên tổng số vụ việc/vụ án dân sự được các cơ quan chức năng thụ lý, giải quyết còn thấp. Nguyên nhân là do thói quen, ý thức người dân, doanh nghiệp về sự cần thiết sử dụng dịch vụ LS chưa cao. Hiện nay chưa có cơ chế sử dụng LS khi thực hiện các dự án, chính sách công,… các quy định này nếu có hiện mới ở mức khuyến khích các cơ quan nhà nước sử dụng nhưng lại bị cản trở bởi quy định về Luật Ngân sách nhà nước và không thực hiện được. Trên thực tế, cơ quan nhà nước, đặc biệt nhóm cơ quan hành pháp không ít khi sử dụng dịch vụ LS. Hiện nay, PL mới chỉ quy định cơ quan nhà nước phải mời LS trong các vụ án do TA chỉ định.
Thứ tư, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể cũng không thực sự được CQTHTT coi trọng. Mặc dù chủ trương của ĐCSVN trên cơ sở thượng tôn Hiến pháp, PL là nêu cao vai trò, địa vị và củng cố quyền lực đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do vậy, tính “độc đoán”, “chủ quan duy ý chí” của CQTHTT sẽ bộc lộ.Tuy nhiên, thực tế cho thấy những tinh thần, quan điểm tiến bộ ấy vẫn chưa thể làm nên một nền văn hoá tư pháp như mong muốn.
- Nguyên nhân của hạn chế, bất cập Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
Một là, xuất phát từ việc lập pháp và thực hiện PL. Với những hạn chế, bất cập trong quy định PL Việt Nam về vai trò của LS trong VADS, VDS như đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng một trong những nguyên nhân gây ra hạn chế, bất cập này là do một số điều luật của Bộ luật TTDS năm 2015 vẫn chưa rõ ràng, bên cạnh đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về các vấn đề đó, dẫn đến tình trạng các TA có cách hiểu không thống nhất, có quan điểm và cách áp dụng PL khác nhau, khiến cho LS gặp khó khăn trong việc tham gia vào quá trình giải quyết VSDA, VDS.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác dẫn đến sự tồn tại của những hạn chế, bất cập này là do một số quy định hiện hành của Bộ luật TTDS năm 2015 chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế của các bên liên quan, thậm chí còn gây ra tình trạng hạn chế một số quyền mà LS đáng lẽ cần chủ động thực hiện để có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VADS, VDS, ví dụ như quyền được chủ động tham gia vào phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Hai là, nguyên nhân xuất phát từ các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác liên quan đến hoạt động tố tụng của LS trong VADS, VDS. Theo học viên, nguyên nhân này chủ yếu xuất phát từ việc vẫn còn tồn tại những định kiến, ngộ nhận chưa đúng về LS và hoạt động hành nghề của LS trong tư tưởng của một số cơ quan, tiến hành tố tụng và các chủ thể khác. Bởi lẽ, một số người vẫn cho rằng sự tham gia của LS trong quá trình giải quyết VADS là sự thừa thãi bởi nội dung và bản chất của vụ án đã được phản ánh đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Không những vậy, việc LS tham gia vào VADS còn gây tốn lém chi phí cho đương sự. Ngoài ra, hoạt động hành nghề của LS trong VADS còn có thể làm cản trở quá trình giải quyết vụ án, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo và quản lý của một số cơ quan, người tiến hành tố tụng. Chính những định kiến, ngộ nhận chưa chính xác về LS và hoạt động hành nghề của LS này đã phần nào hạn chế vai trò của LS trong VADS, VDS.
Ba là, xuất phát từ bản thân các luật sư. Đội ngũ LS nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phát triển nhanh chóng nhưng phân bổ chưa đồng đều tại các quận trên địa bàn, dẫn đến tình trạng thiếu LS tham gia vào các VADS tại một số quận, huyện. Trong khi đó, nhu cầu pháp lý của người dân ngày càng tăng cao. Do đó, tại một số địa phương có thể xảy ra tình trạng quá tải, kéo theo đó là việc trong một số vụ án nói chung và VADS nói riêng sẽ không có LS tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự duới tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc LS bảo vệ cho đương sự.
Trình độ chuyên môn và kỹ năng hành nghề của một số LS trên địa bàn còn hạn chế. Luật cho phép một số người có thể chuyển sang làm LS mà không qua đào tạo. Do vậy, có thực trạng là những cán bộ tố tụng bị kỷ luật chuyển sang làm LS khiến cho chất lượng của LS không đồng đều. Thậm chí, có trường hợp cá nhân không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề LS theo quy định của PL nhưng vẫn tham gia hành nghề dưới tư cách là LS trong suốt một khoảng thời gian dài. Ngoài ra, tỷ lệ LS hoàn thành nghĩa vụ bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của LS còn khá thấp.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương 2 của luận văn đã trình bày các quy định của PL hiện hành về vai trò của LS trong các VADS, VDS tại TP. Hồ Chí Minh. Tác giả đã nghiên cứu, phân tích các hoạt động của LS trong từng giai đoạn TTDS với vai trò là người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua đó luận văn chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong các quy định hiện hành hay những khó khăn mà LS gặp phải khi tham gia TTDS.
Và từ những đánh giá chung đó, học viên sẽ căn cứ để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện PL cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện PL về vai trò của LS trong VADS, VDS tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới. Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM