Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang từng bước phát triển thành nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Chính vì vậy, hàng loạt các khu công nghiệp được hình thành ồ ạt, kéo theo đó là người dân cũng tập trung tới các khu đô thị, khu công nghiệp để làm việc, sinh sống. Do đó, một trong những vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong xã hội chính là ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường và không thể không kể đến đó chính là vấn đề ô nhiễm nguồn nước. Giải quyết vấn đề này trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Vì vậy, việc đánh giá kết quả thực tiễn hoạt động phòng chống ô nhiễm nguồn nước là một hoạt động vô cùng ý nghĩa đối với chính người dân chúng ta. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng có nhiều chế định liên quan. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý chung để những nhà quản lý doanh nghiệp áp dụng vào thực tiễn hoạt động của công ty mình nhằm cải tạo môi trường, cũng như kịp thời ngăn chặn những hành vi xâm phạm nghiêm trọng gây ô nhiễm nguồn nước, suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người dân.
Có thể thấy, pháp luật về bảo vệ môi trường nước nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Cụ thể, Đảng đã đưa ra quan điểm: “Bảo vệ môi trường phải là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân, nhằm hạn chế, tiến tới ngăn chặn căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, lưu vực sông, khu và cụm công nghiệp, khu đô thị và khu dân cư tập trung ở nông thôn, trong đó phải chú trọng bảo vệ môi trường nước. Theo tinh thần này, hiện nay có thể thấy có rất nhiều các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này. Cụ thể như: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành khác có liên quan đã tạo nên hành lang pháp lý vô cùng quan trọng trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước của nước ta. Cụ thể, tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã phân định khá rõ về từng loại tài nguyên, theo đó đã dành hẳn một Mục 1, Chương II quy định về “Bảo vệ môi trường nước”. Như vậy, có thể thấy vấn đề môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng, cho đến thời điểm hiện tại, đây là một trong những vấn đề có tầm chiến lược quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố khác nhau khiến cho những chủ trương này chưa mang lại những kết quả mà Đảng và Nhà nước hướng tới, cũng như bộc lộ những điểm chưa phù hợp với tình hình xã hội. Chính vì vậy, những bất cập trong các quy định này là một trong những nguyên nhân khiến cho những vụ ô nhiễm môi trường nước vẫn diễn ra trong thực tế. Do đó, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về mặt luật pháp để phù hợp với thực tế phát sinh trong giai đoạn hiện nay.
Bình Dương như đã biết là một địa bàn có hệ thống sông ngòi rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, thời gian gần đây tình trạng môi trường nước tại đây có dấu hiệu suy giảm theo thời gian và ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Cụ thể, đối với môi trường nước mặt qua chương trình quan trắc môi trường các lưu vực sông thuộc chương trình quan trắc của tỉnh thông qua các chỉ số chất lượng nước (WQI) và giá trị các thông số đặc trưng cho chất lượng môi trường nước mặt cho thấy trong thời gian qua, một số nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng như: Nước suối nổi bọt, đổi màu, có mùi hôi, … Ví dụ như, tại khu vực ven suối Cây Sao, ở phường Tân Bình, thành phố Dĩ An hay vụ việc ô nhiễm hồ chứa nước Tân Vĩnh Hiệp và kênh Suối Chợ – Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên nguồn nước có bọt trắng nổi lên sau cơn mưa do hàm lượng chất ô nhiễm và hàm lượng chất hữu cơ vượt quá quy chuẩn nhiều lần, … Đối với môi trường nước ngầm một số khu vực như phường Vĩnh Phú, phường Thuận Giao của Thành phố Thuận An, phường Dĩ An của Thành phố Dĩ An, chất lượng nước ngầm ở đây vẫn bị nhiễm hữu cơ, nồng độ Amoniac (NH3-N), nhu cầu oxy hóa học các hợp chất trong nước (COD), sắt (Fe) vượt quy chuẩn cho phép, một số nơi còn có tình trạng nước nhiễm mặn, … Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng cũng như xuất phát từ tình hình thực tiễn tại địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương” để làm đề tài nghiên cứu. Với mong muốn đưa ra những đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cũng như nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác này, góp phần thực hiện tốt các chủ trương, đường lối mà Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chú trọng bảo vệ môi trường nước.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- 2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước dựa trên các nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Bên cạnh mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của Luận văn bao gồm:
- Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, cụ thể phân tích về khái niệm, đặc điểm, vai trò của kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
- Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành
- Thứ ba, đánh giá những ưu điểm và hạn chế về thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đồng thời, đưa ra những nguyên nhân dẫn tới những bất cập, hạn chế này.
- Thứ tư, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất, cơ sở lý luận của pháp luật về ô nhiễm nguồn nước nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng là gì?
- Thứ hai, pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước gồm những nội dung gì?
- Thứ ba, các yếu tố nào đã ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên thực tiễn?
- Thứ tư, những hạn chế nào của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện?
- Thứ năm, những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước theo pháp luật hiện hành?
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Hiện nay, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng khá nhiều. Tuy nhiên, đa số những công trình nghiên cứu hiện nay vẫn quan tâm nhiều hơn đến hoạt động bảo vệ môi trường nước hay kiểm soát chất lượng môi trường nước. Tính đến thời điểm hiện tại việc nghiên cứu các vấn đề liên quan tới kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được các tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh và ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong đó, một số công trình nghiên cứu có vai trò là tài liệu giúp tác giả trong việc nghiên cứu đề tài được kể đến như:
Đoàn Tiến Dũng (2017), “Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn Quảng Bình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, tác giả Đoàn Tiến Dũng đã đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển bền vững kinh tế – xã hội tại Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung.
Nguyễn Quốc Hùng (2017), “Pháp luật về phòng chống và khắc phục ô nhiễm nguồn nước – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tại đây, qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến công tác phòng chống, khắc phục ô nhiễm nguồn nước, tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã đánh giá về thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở đó đánh giá những bất cập và nguyên nhân dẫn đến các bất cập đó để tìm ra những hướng khắc phục vấn đề này trong thời gian tới.
Lê Thị Kiều Oanh (2018), “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo đây, dựa vào việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, từ đó tìm hiểu đánh giá đúng thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thực tế trên địa bàn Hà Nội. Phân tích, đánh giá và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Đỗ Thị Hường (2020), “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Trong công trình này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước; Nghiên cứu những quy định pháp luật về ở một số nước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam; Đưa ra những số liệu thực tế về tình hình bảo vệ môi trường nước trong thời gian qua để đề ra những giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Hồ Anh Tuấn, (2022), “Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ, Học viện Khoa học xã hội. Theo đây, bài luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Tuy nhiên, những vấn đề này lại chưa đưa ra cái nhìn cụ thể nhất đối với đề tài nghiên cứu, do đó tác giả đưa ra một số tài liệu được các tác giả đề cập đến, hỗ trợ tác giả trong quá trình nghiên cứu vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước như:
- Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Môi trường, NXB Công an nhân dân.
- Đỗ Thị Hường (2019), “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị chính trị, số 1/ 2019.
- Lê Kim Nguyệt (2014), “Trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12 (273).
- Đỗ Thị Hường (2020), “Pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị, Số 5 năm 2020.
- Nguyễn Thị Hạnh (2021), “Hoàn thiện các quy định pháp luật về tài nguyên nước ở Việt Nam”, Tạp chí Công thương, tháng 05 năm 2021.
- Trần Linh Huân (2021), “Pháp luật về kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước – Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 05.2021.
Có thể thấy, những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường nước nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng được khá nhiều tác giả quan tâm. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách khái quát cũng như cụ thể nhất về vấn đề “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương”. Do đó, đây là công trình đầu tiên và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây. Như vậy, tác giả hi vọng Luận văn này sẽ đóng góp vào những phần kiến thức pháp luật vẫn còn thiếu sót trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Từ đó, ta có thể rút ra được những bất cập, hạn chế trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện hành. Đồng thời, đưa ra những đề xuất để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật có liên quan đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khảo sát
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là những quy định pháp luật Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2018 có liên quan đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
- (i) Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung về các quy định tại pháp luật Việt Nam hiện hành, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Tài nguyên nước năm 2012 nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến chủ đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Từ việc nghiên cứu nội dung pháp luật về vấn đề này có thể đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật không chỉ đối với việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mà còn trên tất cả các lĩnh vực có liên quan.
- (ii) Phạm vi không gian nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng trên phạm vi địa bàn tỉnh Bình Dương theo quy định tại pháp luật Việt Nam hiện hành.
Việc nghiên cứu vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tập trung vào các trường hợp luật định cũng như dựa trên tình hình thực tế của xã hội, nhất là trong thời gian vừa qua khi mà tình hình bùng phát dịch bệnh Covid-19 vừa qua cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động sản xuất không chỉ của các khu công nghiệp mà còn tới đời sống của người dân. Do đó, việc nghiên cứu về vấn đề môi trường nói chung và nguồn nước nói riêng trong giai đoạn này là một nhiệm vụ rất cần thiết.
- (iii) Phạm vi thời gian nghiên cứu
Có thể thấy, các bài nghiên cứu trước đây, hầu hết các tác giả đều lấy thời gian từ năm 2014 để nghiên cứu lý luận, vì thời điểm này là thời gian Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được ban hành. Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, tác giả đã phân tích pháp luật hiện hành điều chỉnh trực tiếp về hoạt động kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, cụ thể là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012 và những văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề này.
Bên cạnh đó, tác giả chọn mốc thời gian từ năm 2019- 2021 để nghiên cứu thực tiễn vì tính chất đặc thù của giai đoạn này, nổi bật nhất trong khoảng thời gian này chính là sự kiện đại dịch Covid-19 diễn ra trên toàn cầu vô cùng phức tạp, đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng.
4.3. Các chỉ tiêu khảo sát
Việc khảo sát được thực hiện chủ yếu trên phạm vi tỉnh Bình Dương, cụ thể việc khảo sát dựa trên các tiêu chí sau:
- Sự phù hợp của các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
- Các chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc tổ chức xây dựng và thực hiện pháp luật về vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng.
- Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Phương pháp luận: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng, kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Đồng thời, bám sát với tình hình thực tế của tỉnh Bình Dương trong việc phân tích về thực trạng và công tác áp dụng pháp luật liên quan đến đề tài nghiên cứu. Qua đó, tạo điều kiện giúp cho công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội một cách hiệu quả. Đồng thời, tạo nên một môi trường sống bảo đảm sức khỏe cho con người, góp phần xây dựng một đất nước phát triển lành mạnh.
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu bằng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng trong hoạt động nghiên cứu pháp lý bao gồm:
- Phương pháp phân tích: Phân tích những quy định pháp luật hiện hành về vấn đề môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng để làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh đối tượng nghiên cứu của đề tài. Tổng hợp các vụ việc, các số liệu thực tế, tài liệu, báo chí, tạp chí liên quan đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước theo quy định pháp luật hiện hành.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh thực tiễn hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước ở một số quốc gia trên thế giới. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay.
6. Kết quả nghiên cứu
Luận văn dự kiến sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn pháp lý về môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Cụ thể làm rõ các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước; khái quát pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; lịch sử và thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Thông qua những phân tích về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua. Đồng thời, đánh giá được tình hình thực tiễn, những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hay những vấn đề mà pháp luật còn thiếu sót. Từ những phân tích, đánh giá này tác giả đưa ra những đề xuất về định hướng cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trong thời điểm hiện nay và có ý nghĩa cho cả tương lai. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
7. Đóng góp của nghiên cứu
7.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Luận văn hướng đến mục tiêu đóng góp những vấn đề lý luận pháp lý liên quan đến đề tài kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Từ đây, góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo về ngành luật và dành cho các sinh viên có sự quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực này. Đồng thời, phổ biến những điều chưa rõ về vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên thực tế đối với người dân. Bên cạnh đó, qua Luận văn này giúp tác giả có cái nhìn sâu hơn đối với vấn đề. Từ đó, có thể đưa ra cái nhìn khách quan về thực trạng xã hội, để có thể đề xuất những kiến nghị không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mà còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực pháp lý khác liên quan.
Bên cạnh đó, những kiến nghị, đề xuất này có thể sẽ là cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực môi trường. Qua đó, là điều kiện để xây dựng một môi trường sống lành mạnh, đảm bảo sức khỏe cho con người. Ngoài ra, đề tài cũng có thể dùng để làm tư liệu, tài liệu cho các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực có liên quan.
8. Dự kiến bố cục Luận văn nghiên cứu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; phần chính của luận văn có 03 chương và những nội dung cơ bản như sau:
- Chương 1. Tổng quan về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
- Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tại tỉnh Bình Dương
- Chương 3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
1.1. Khái quát về ô nhiễm nguồn nước
1.1.1. Khái niệm ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Tại khoản 14 Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012 định nghĩa ô nhiễm nguồn nước như sau: “Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.” Như vậy, có thể thấy định nghĩa này được đưa ra về cơ bản đã phù hợp với quy định tại Luật Bảo vệ môi trường hiện hành. Do đó, có thể hiểu khái niệm này một cách cụ thể như lấy một lượng nước nhất định tại một thời điểm xác định trong quá khứ so với một lượng nước tương tự ở thời điểm hiện tại thì có sự thay đổi về tính chất vật lý, hóa học, thành phần sinh học. Nếu so với những quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nguồn nước đã đặt ra thì lượng nước ở thời điểm hiện tại đã vượt quá mức cho phép và điều này gây ảnh hưởng một cách tiêu cực tới đời sống của con người cũng như môi trường sống của sinh vật.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, để phân loại ô nhiễm nguồn nước có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như:
- Căn cứ theo nguồn gốc của ô nhiễm nguồn nước bao gồm: Ô nhiễm nguồn nước theo nguồn gốc tự nhiên như mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng, … và ô nhiễm nguồn nước theo nguồn gốc nhân tạo như quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
- Căn cứ theo bản chất của các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước có thể chia ô nhiễm nguồn nước thành các loại như ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
- Căn cứ theo vị trí tồn tại của nguồn nước được chia thành hai loại chính là ô nhiễm nguồn nước mặt và ô nhiễm nguồn nước ngầm.
1.1.2. Đặc điểm của ô nhiễm nguồn nước
Dựa vào khái niệm của “ô nhiễm nguồn nước” nêu trên, tác giả đưa ra một số đặc điểm đối với vấn đề này như sau:
Thứ nhất, ô nhiễm nguồn nước tác động trong phạm vi rất rộng. Điều này được lý giải bởi nước có tính chất luân chuyển cũng như quá trình chuyển hóa trong tự nhiên, kể cả nước trong trạng thái tĩnh như ao, hồ, … vẫn có sự hấp thụ với đất và quá trình bay hơi, ngưng tụ, … Do đó, có thể thấy tính chất của một nguồn nước này có thể sẽ lây lan tới các nguồn nước khác trong tự nhiên, không chỉ riêng đối với các nguồn nước có sự liên thông, luân chuyển liên tục. Khi đã có sự ô nhiễm thì khả năng lây lan và phạm vi ảnh hưởng là rất lớn. Do đó, cần phải có sự phối hợp trong công tác tổ chức, quản lý tới vấn đề ô nhiễm này tại các địa phương, khu vực.
Thứ hai, ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ nhiều tác nhân. Nước là một loại tài nguyên chiếm số lượng lớn, bao trùm toàn bộ lãnh thổ của đất nước, nguồn nước bị ô nhiễm là nguồn nước chịu ảnh hưởng của nhiều tác nhân khác nhau. Chính vì vậy, để kiểm soát tốt nhất về vấn đề này, cơ quan có thẩm quyền phải làm tốt công tác xác định và khoanh vùng tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, làm tốt công tác xác định tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước sẽ hạn chế được sự lây lan tác động tiêu cực tới chất lượng của nguồn nước này dẫn tới mức không thể kiểm soát được. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng là cơ sở để tiến hành việc đưa ra biện pháp xử lý vi phạm liên quan tới ô nhiễm nguồn nước một cách phù hợp, tương xứng với mức độ của hành vi gây ra.
1.1.3. Nguyên nhân của ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Như đã phân tích ở trên, nguồn nước bị ô nhiễm xuất phát từ nhiều những nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, dù ở bất kỳ nguyên nhân nào cũng sẽ dẫn tới việc chất lượng nước bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực. Theo đó, sẽ phải tiến hành các biện pháp để kiểm soát về vấn đề này nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những hậu quả mà ô nhiễm nguồn nước gây ra. Theo đây, tác giả đưa ra một số nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm nguồn nước như sau:
Thứ nhất, do quá trình tăng dân số. Gia tăng dân số đồng nghĩa với đó là nhu cầu sử dụng nước trong các hoạt động thường ngày như: Ăn uống, sinh hoạt, đi lại, xây dựng, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, … Bên cạnh đó, sự phát triển của một con người có được sẽ phụ thuộc cũng như tác động rất nhiều vào môi trường tự nhiên, trong đó có môi trường nước.
Thứ hai, do rác thải trong sinh hoạt. Trong quá trình sinh hoạt, con người có thể vô ý hoặc cố ý xả các loại rác thải ra môi trường, theo đó các loại rác thải này sẽ ngấm vào đất hay tích tụ tại một nguồn nước dẫn tới việc tắc nghẽn gây nên tình trạng chất bẩn tồn đọng gây ra hiện tượng ô nhiễm.
Thứ ba, do các điều kiện tự nhiên. Những yếu tố tự nhiên gây ô nhiễm nguồn nước được kể đến như lũ lụt, gió bão, tuyết tan, hạn hán, … Bên cạnh đó, hiện tượng động thực vật chết cũng ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước trong tự nhiên.
Thứ tư, do quá trình sản xuất nông nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ kéo theo những chất thải gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng nguồn nước như: Các loại thức ăn thừa không qua xử lý, phân và nước tiểu của vật nuôi xả trực tiếp ra ngoài, … Bên cạnh đó, các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, … khi được sử dụng cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm nguồn nước. Ngoài ra các loại hóa chất này nếu không được bảo quản đúng cách thì có thể sẽ là nguyên nhân dẫn tới sức khỏe của con người bị ảnh hưởng.
Thứ năm, do quá trình sản xuất công nghiệp. “Nước thải và rác thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp phần lớn đều được xả trực tiếp ra ao, hồ, sông suối mà chưa qua xử lý. Theo đó, nước thải từ công nghiệp có chứa rất nhiều chất có khả năng gây ô nhiễm môi trường nước như Chlor (Cl-), Ion sunfat (SO4)2-, Phosphate (PO43), Natri (Na+), Kali (K+) và vô số các hợp chất kim loại nặng mang độc tính cao như: Thủy ngân (Hg), Chì (Pb), Crom (Cr), Fluor (F), … chúng sẽ hòa tan trong nước, khiến nguồn nước bị thay đổi tính chất theo chiều hướng có hại. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Thứ sáu, do quá trình đô thị hóa. Quá trình đô thị hóa của mỗi quốc gia kéo theo đó là sự gia tăng các tòa nhà, chung cư, cùng với đó là sự phá hủy hệ thống cây xanh để dựng nhà, làm cầu cống, công trình giao thông, … Tốc độ tăng nhanh chóng của quá trình đô thị hóa ngày nay tác động rất nhiều tới môi trường sống. Theo đó, cuộc sống của chính con người sẽ bị ảnh hưởng do việc tiêu thụ cũng như xả một lượng rác quá nhiều ra ngoài môi trường và điều này không thể không kể đến chính là môi trường nước.
Như vậy, trên đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới ô nhiễm nguồn nước. Nhờ vào việc xác định những khả năng có thể gây ra ô nhiễm nguồn nước này có thể giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan tới lĩnh vực tài nguyên và môi trường cũng như người dân đánh giá được vấn đề xảy ra đối với môi trường sống của mình. Bên cạnh đó, cũng là tiền đề để tiến hành việc ban hành những văn bản góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng cũng như việc xác định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc gây ra sự ô nhiễm này.
1.1.4. Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm nguồn nước gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ với hệ sinh thái mà còn cả đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người. Theo đây, tác giả đưa ra một số hậu quả nổi bật của vấn đề “ô nhiễm nguồn nước” như sau:
Thứ nhất, đối với hệ sinh vật dưới nước. Sinh vật dưới nước là những sinh vật sinh sống ở môi trường nước. Khi nguồn nước bị ô nhiễm, kéo theo đó là môi trường sống của chúng bị thay đổi và kéo theo hệ lụy là một số loài sinh vật không thể thích nghi được mà sẽ bị hủy diệt. Điều này được thể hiện ở việc thủy, hải sản chết hàng loạt dẫn tới sự sụt giảm nghiêm trọng hệ sinh thái dưới nước.
Thứ hai, đối với thực vật trên cạn. Không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh vật sống dưới nước mà một trong những tác hại của ô nhiễm nước còn ảnh hưởng đến đời sống của hệ sinh vật trên cạn. Cụ thể như việc dùng nước ô nhiễm tưới cây sẽ dẫn tới việc những cây cối này bị kém phát triển, còi cọc hay nghiêm trọng hơn có thể chết.
Thứ ba, làm giảm chất lượng nguồn nước. Nguồn nước bị ô nhiễm là nguồn nước bị biến đổi tính chất theo hướng tiêu cực, do đó dẫn tới chất lượng của nguồn nước này bị suy giảm.
Thứ tư, gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Nguồn nước ô nhiễm kéo theo đó là hệ sinh thái bị ảnh hưởng như đã phân tích ở trên và đồng nghĩa với đó là sức khỏe của con người bị liên lụy. Cụ thể ở việc con người sử dụng một số loại sinh vật dưới nước và thực vật để làm thức ăn và việc sử dụng những loại thức ăn do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm sẽ dẫn tới việc những chất độc này tích tụ trong cơ thể con người và lâu dần sẽ sinh ra mầm bệnh. Bên cạnh đó, quanh khu vực con người sinh sống có nguồn nước bị ô nhiễm cũng ảnh hưởng tới sức khỏe con người, điển hình như việc các mùi hôi khó chịu từ rác thải, động thực vật chết, …
Thứ năm, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội. Nói một cách chung nhất, nguồn nước bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Cụ thể ở việc giảm sản lượng, chất lượng sản phẩm tạo ra gây ảnh hưởng tới đời sống người dân.
Ngoài ra, khi tình trạng ô nhiễm nguồn nước xảy ra buộc phải thực hiện những biện pháp xử lý nhằm phục hồi, tái tạo về tình trạng ban đầu. Do đó, sẽ mất một khoản chi phí không nhỏ để thực hiện công việc này.
1.2. Khái quát về pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
1.2.1. Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
Đối với mỗi một vấn đề xảy ra trong đời sống con người, pháp luật được ban hành nhằm cụ thể hóa những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề đó. Hiện nay, chưa có một khái niệm “pháp luật” thống nhất nhưng dựa trên các tài liệu từ các cơ sở đào tạo luật học cũng như trong sách báo, có thể hiểu về thuật ngữ này như sau: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.” Theo đây, hiểu một cách cơ bản, pháp luật là một tập hợp các quy tắc được tạo ra bởi chủ thể có thẩm quyền nhằm điều chỉnh những xử sự của các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh đối với từng lĩnh vực cụ thể, từ đó giúp họ có tư duy, cách hành xử phù hợp với xã hội, hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm phạm đối với quyền và lợi ích của các chủ thể khác. Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được hiểu là những hoạt động có vai trò kiểm tra, rà soát đối với vấn đề ô nhiễm nguồn nước xảy ra trong cuộc sống bằng những biện pháp cụ thể nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm nguồn nước. Theo đây, có thể hiểu, pháp luật trong lĩnh vực môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng, pháp luật sẽ thể hiện vai trò của mình thông qua việc ban hành những quy tắc xử sự, những quy định về việc được phép hay không được phép đối với nguồn nước. Bên cạnh đó, pháp luật cũng thể hiện tính răn đe, cưỡng chế của mình thông qua các quy định về xử lý vi phạm liên quan đến ô nhiễm nguồn nước.
Hiện nay pháp luật chưa đưa ra một khái niệm rõ ràng, thống nhất về thuật ngữ “pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước” nhưng căn cứ theo khái niệm “pháp luật” và “kiểm soát ô nhiễm nguồn nước” mà có thể rút ra một khái niệm chung nhất như sau: “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Cụ thể là điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, tránh những tác động tiêu cực mà các hoạt động của con người có thể gây hại đến nguồn nước.” Theo đây, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được hiểu là tổng thể những biện pháp, những cách thức được cơ quan có thẩm quyền đặt ra điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vấn đề tiêu cực xảy ra đối với nguồn nước.
1.2.2. Đặc điểm và yêu cầu của pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Là một trường hợp trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cũng có những đặc điểm chung của vấn đề xây dựng pháp luật được kể đến như: Tính hoàn thiện, tính thống nhất, tính đồng bộ, tính công khai, tính minh bạch dễ hiểu, chi phí xây dựng và hoàn thiện, tính hiệu quả, … Song, bên cạnh những tiêu chí chung này thì dựa vào tính chất đặc thù của vấn đề ô nhiễm nguồn nước dẫn tới pháp luật về kiểm soát ô nhiễm ô nhiễm nguồn nước cũng có những yêu cầu nhất định như:
Thứ nhất, tính dự báo, cảnh báo. Nguồn nước là một tài nguyên có phạm vi rất rộng trong lãnh thổ nước ta. Theo đó, ô nhiễm nguồn nước cũng có ảnh hưởng rất lớn và rất khó để có thể lường trước được. Chính vì vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước ra đời mang tính dự báo về những hiện tượng, tình trạng xảy ra đối với nguồn nước. Bên cạnh đó, cũng đưa ra những cảnh báo về hậu quả có thể xảy ra do ô nhiễm nguồn nước tác động tới đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, sinh vật. Theo đây, việc pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng mang tính dự báo, cảnh báo sẽ là cơ sở để các quốc gia, các tổ chức, các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân chủ động hơn trong phòng ngừa, hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước, giảm thiểu được những thiệt hại do ô nhiễm nguồn nước gây ra.
Thứ hai, tính phòng ngừa rủi ro phát sinh. Với bản chất có phạm vi bao trùm rất rộng và khó kiểm soát, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được xây dựng với mục tiêu nhằm giảm thiểu, hạn chế những hậu quả mà ô nhiễm nguồn nước xảy ra với con người và xã hội và theo đó là phòng ngừa từ giai đoạn trước khi có sự ô nhiễm xảy ra. Chính vì vậy, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần có những quy định đồng bộ để phòng ngừa ô nhiễm nguồn nước, nhằm giảm thiểu thiệt hại do ô nhiễm nguồn nước gây ra.
Thứ ba, tính nhanh chóng, kịp thời. Pháp luật nói chung và pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dự trù những vấn đề xảy ra trong đời sống và ở trường hợp này là trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Với bản chất dễ dàng lây lan sang các nguồn nước lân cận và khó khăn trong việc quản lý dẫn tới việc ô nhiễm nguồn nước ngày càng bao trùm trong phạm vi rộng, đồng nghĩa với đó là hậu quả đã xảy ra và phải tiến hành việc khắc phục, xử lý những hậu quả này nhằm hạn chế sự phát tán của những tác động tiêu cực này. Chính vì vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần phải được ban hành theo hướng đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể có liên quan. Qua đó, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý các vi phạm trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, thì đây cũng được coi là một giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro, thiệt hại cũng như sự phát tán ô nhiễm, gây ảnh hưởng tới đời sống, xã hội. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Thứ tư, tính cộng đồng. Ô nhiễm nguồn nước là một hiện tượng xảy ra tác động tới đời sống, xã hội của cả một tập thể, một cộng đồng dân cư. Do đó, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là nhiệm vụ không phải chỉ của một cá nhân, một tổ chức nhất định mà sẽ là nhiệm vụ chung của mọi người hay nói cách khác là trách nhiệm của cả cộng đồng dân cư, của quốc gia và toàn nhân loại. Theo đó, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cũng phải đảm bảo về tính cộng đồng, có nghĩa là mọi chủ thể trong xã hội đều có trách nhiệm kiểm soát nguồn nước. Qua đó, nhằm phòng ngừa, hạn chế những hậu quả mà ô nhiễm nguồn nước gây ra.
Thứ năm, tính liên kết, hợp tác giữa các khu vực có liên quan. Bản chất nguồn nước có tính luân chuyển và liên kết giữa các khu vực, các quốc gia. Bên cạnh đó, với cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm soát nhằm khắc phục, xử lý tình trạng ô nhiễm nguồn nước của một quốc gia cụ thể là Việt Nam hiện nay chưa đủ khả năng để giải quyết triệt để được vấn đề này. Do đó, cần phải có sự hỗ trợ từ phương tiện, công nghệ từ các quốc gia, khu vực khác. Vì vậy, cần phải đề cao vai trò liên kết, hợp tác của các quốc gia, khu vực có liên quan tới nguồn nước.
Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cũng như tính toàn cầu của tình trạng ô nhiễm nguồn nước, tác giả cho rằng pháp luật cần phải đảm bảo được tính liên kết, hợp tác giữa các khu vực, các quốc gia có liên quan, góp phần đảm bảo kết quả của công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước một cách triệt để.
1.2.3. Nhiệm vụ của pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
Là một công cụ góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thể hiện được vai trò của mình như sau:
Thứ nhất, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tạo thành khung pháp lý quy định các quy tắc xử sự của con người khi tác động đến nguồn nước.
Không chỉ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng mà tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội đều cần tới pháp luật để điều chỉnh. Theo đây, đối với công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, pháp luật về vấn đề này có vai trò là hành lang pháp lý quy định những xử sự của con người liên quan tới nguồn nước. Bởi vì, con người là chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đối với vấn đề này. Cụ thể, thông qua những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về nước để quy định mức, điều kiện chất thải mà con người có thể xả thải ra nguồn nước. Bên cạnh đó, pháp luật cũng định ra những hành vi được coi là vi phạm và sẽ bị xử lý một cách phù hợp với mức độ này nhằm hướng đến mục đích chung là bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên trên lãnh thổ nước ta. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Thứ hai, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước quy định nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là trách nhiệm của tất cả mọi người. Tuy nhiên, bất cứ vấn đề nào trong đời sống thì người lãnh đạo cũng có vai trò vô cùng cần thiết góp phần định hướng, chỉ đạo quá trình thực hiện một vấn đề và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cũng không phải ngoại lệ. Theo đó, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng đã cụ thể hóa chức năng này thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước. Căn cứ theo những quy định này, cơ quan quản lý nhà nước sẽ thực hiện những công việc mà Nhà nước cho phép. Bên cạnh đó, không được thực hiện những điều mà pháp luật cấm. Đồng thời, có trách nhiệm phối hợp hoạt động giữa các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan nhà nước của nước ta có liên quan tới lĩnh vực môi trường.
Như vậy, việc các cơ quan nhà nước tuân thủ theo những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn giúp các cơ quan này phát hiện ra những sai phạm, vi phạm trên thực tế. Ngoài ra, với những quy định này sẽ là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi những biện pháp xử lý về hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng như công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường của những cá nhân, tổ chức vi phạm. Thông qua việc quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước sẽ giúp cho từng cá nhân tại đây biết được nhiệm vụ của mình là gì. Từ đây, sẽ hạn chế được sự không biết việc mình phải làm hay sự ỷ lại vào người khác, … Do đó, sẽ giúp cho công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mang lại kết quả tốt hơn.
Thứ ba, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước có ràng buộc các chủ thể phải thực hiện những yêu cầu của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Với bản chất là một hoạt động mang tính xã hội nên không có lợi ích của cá nhân trong đó. Chính vì vậy, xảy ra hiện tượng những người được bố trí thực hiện công tác liên quan tới bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng như trước đây thực hiện một cách khá hời hợt, thiếu trách nhiệm dẫn tới kết quả của hoạt động này chưa cao. Kể từ khi có pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước ra đời quy định về trách nhiệm của các chủ thể, nhất là các tổ chức, cá nhân có vai trò kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thì công tác này đã mang lại hiệu quả vô cùng rõ rệt, khi mà những chủ thể này buộc phải thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật đã đưa ra. Khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng có thể sẽ bị coi là vi phạm và có thể bị xử lý bởi các chế tài pháp luật quy định nhằm giúp họ có bài học cũng như răn đe cho những trường hợp tương tự. Như vậy, với đặc điểm này, có thể hiểu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước không chỉ dừng lại ở việc ngăn ngừa, phòng chống những hành vi vi phạm mà còn là cơ sở để tiến hành các biện pháp mang tính cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước.
Thứ tư, việc duy trì và phát triển pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước giúp đảm bảo sự phát triển của xã hội.
Có thể thấy nguồn nước là tài nguyên không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Theo đó, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là một nhiệm vụ không thể thiếu để bảo vệ nguồn tài nguyên này không bị phá hủy gây ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như sự phát triển của mỗi một quốc gia. Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo đó là nhu cầu sử dụng, sinh hoạt của con người cũng ngày càng nhiều và trong đó thì nhân tố không thể thiếu chính là nguồn nước và đây cũng là một nguyên nhân chính dẫn tới sự ô nhiễm nguồn nước như hiện nay. Chính vì vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được xây dựng nhằm khắc phục tình trạng này thông qua việc quy định về trách nhiệm cả các chủ thể có liên quan. Theo đó, khi nguồn nước được ổn định, tình trạng ô nhiễm nguồn nước được kiểm soát sẽ là một tín hiệu tốt cho các nhu cầu sử dụng nguồn tài nguyên này vào nhu cầu sản xuất, kinh doanh của con người, góp phần đảm bảo sự phát triển của xã hội.
1.3. Lược sử pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Pháp luật liên quan đối với công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển luật pháp của đất nước ta. Trước hết là những văn bản xuất phát từ những yêu cầu cơ bản phục vụ cho quá trình đổi mới đất nước sau khi trải qua những năm tháng đấu tranh giành độc lập, chủ quyền dân tộc và cho đến ngày nay là hàng loạt những văn bản quy định liên quan tới công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Qua đó, nhằm hướng đến mục tiêu đảm bảo chất lượng nguồn nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi khu vực, cộng đồng dân cư, … Cụ thể, về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được thể hiện qua các giai đoạn sau:
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1986
Trong thời gian này các chủ trương của Đảng và Nhà nước chủ yếu hướng tới là xây dựng lại một nhà nước với rất nhiều khó khăn, thách thức, cũng như khôi phục nền kinh tế kiệt quệ sau những cuộc chiến đầy mất mát, đau thương. Vì vậy, công tác liên quan tới kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trong giai đoạn này chưa được các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm. Trong giai đoạn này một số văn bản liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường được kể đến như Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21 tháng 12 năm 1949 quy định về kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, Nghị quyết số 36/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 11 tháng 3 năm 1961 về Quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất. Bên cạnh đó, tại Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về vấn đề bảo vệ môi trường như sau: “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống.”
Như vậy, có thể thấy hệ thống pháp luật về môi trường của nước ta trong giai đoạn này chưa thật sự được quan tâm đến. Điều này được lý giải bởi việc đây là thời kỳ bước đầu nhà nước ta được xây dựng lại nền kinh tế đất nước, do đề cao vai trò của pháp luật về kinh tế, tài chính nên vấn đề về môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng là một điều chưa thật sự được chú trọng. Bên cạnh đó, ở giai đoạn này Nhà nước ta cũng chưa tham gia bất cứ Điều ước nào liên quan tới lĩnh vực môi trường nên do đó tại các văn bản có liên quan tới lĩnh vực môi trường nêu trên chủ yếu xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước. Tuy nhiên, đây chỉ là những bước khởi đầu cho sự hình thành và phát triển pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước ở những giai đoạn sau.
1.3.2. Giai đoạn từ 1986 đến trước năm 1998 Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Trong giai đoạn này, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường, pháp luật đầu tiên về lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng được thông qua tại Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư vào ngày 27 tháng 12 năm 1993. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 bao gồm tổng cộng 55 điều, được chia làm 7 chương, quy định những vấn đề có tính cốt lõi nhất trong công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, văn bản pháp luật này chưa phân ra những quy định liên quan tới môi trường nước một cách riêng biệt mà các điều luật chỉ tập trung xung quanh là lĩnh vực môi trường.
Cũng trong giai đoạn này, Luật Tài nguyên nước lần đầu tiên được ban hành thông qua Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ ba vào ngày 20 tháng 5 năm 1998. Đây được coi là văn bản có tác động trực tiếp tới nguồn tài nguyên nước. Theo đó, đã thể hiện cụ thể hóa được cơ bản những chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra đối với vấn đề môi trường ở thời điểm lúc bấy giờ. Luật Tài nguyên nước năm 1998 có tổng cộng 75 điều chia thành 10 chương. Qua đó, đã góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2012
Trong giai đoạn này, Luật Bảo vệ môi trường ra đời năm 1993, Luật Tài nguyên nước năm 1998 thì việc khai thác, sử dụng nguồn nước về cơ bản đã được thực hiện và từng bước đi vào nề nếp. Cũng trong thời gian này, vào năm 2002 Bộ TNMT được thành lập có chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, … Cùng với đó thì hệ thống những văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực này có vai trò hoàn thiện hệ thống pháp luật điển hình như công tác thanh tra, kiểm tra, công tác cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, …
Nhận thấy, trải qua 11 năm thực thi Luật Bảo vệ môi trường, xã hội có xu hướng ngày càng thay đổi, đòi hỏi pháp luật liên quan tới vấn đề này cũng phải được thay đổi nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Tại Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ tám vào ngày 29 tháng 11 năm 2005 thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có tổng cộng 136 điều, chia thành 15 chương. Theo đó, tại văn bản này đã bắt đầu xuất hiện những điều luật liên quan trực tiếp đối với nguồn tài nguyên nước. Như vậy, có thể thấy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 bước đầu đã chú trọng tới nguồn tài nguyên này. Qua đó, đặc biệt thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực này, để từng bước quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả.
Cũng trong thời gian này, Luật Tài nguyên nước đã có những thay đổi nhằm phù hợp với tình hình của đất nước. Theo đó, tại Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 thông qua Luật Tài nguyên nước bao gồm 79 điều, chia thành 10 chương. Tại Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật này bao gồm: “quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra thuộc lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, đề cập sâu hơn đến các biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
1.3.4. Giai đoạn từ sau năm 2012 đến nay Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
Trong giai đoạn này có thể thấy, Nhà nước ta đã có sự thay đổi, sửa đổi, bổ sung khá nhiều đối với hệ thống pháp luật liên quan tới công tác bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Trong đó, được kể đến là Luật Bảo vệ môi trường đã có hai lần thay đổi bao gồm Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và gần đây nhất chính là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2020. Theo đó, bao gồm tổng cộng 171 điều, được chia thành 16 chương, cùng với đó là hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan tới vấn đề này được kể đến như: Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định điều kiện về tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn Luật Tài nguyên nước; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014 của Chính phủ quy định về thoát nước và xử lý nước thải, …và gần đây nhất là Nghị định số 22/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Chính phủ hướng dẫn Luật bảo vệ Môi trường; Nghị định 02/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 02 năm 2023 của Chính phủ hướng dẫn Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ ngày 20 tháng 3 năm 2023 thay thế cho Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn Luật Tài nguyên nước,…
Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn này Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới vấn đề môi trường, cũng như công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, được thể hiện qua việc số lượng những văn bản điều chỉnh liên quan đến vấn đề này được ban hành rất nhiều. Trong đó, đã phần nào bao quát được những vấn đề xảy ra đối với nguồn tài nguyên nước. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật liên quan đến nguồn tài nguyên nước nói chung và kiểm soát nguồn tài nguyên này đa dạng như vậy cũng là một khó khăn đối với việc tìm kiếm và áp dụng trên thực tế. Do đó, cần phải có sự tìm hiểu một cách kỹ lưỡng những chế định liên quan tới lĩnh vực này để công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được hiệu quả hơn, góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm xảy ra, gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.
Kết luận Chương 1
Đất nước ta đang từng bước phát triển thành nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Chính vì vậy, hàng loạt các khu công nghiệp được hình thành một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, người dân lại thường tập trung ở khu đô thị, khu công nghiệp để sinh sống, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay đang trở thành một vấn đề nóng bỏng trong đời sống của chúng ta. Chính vì lẽ đó, pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước ra đời nhằm giải quyết được vấn đề này nhằm mang lại sự ổn định, tính chất vốn có của loại tài nguyên được coi là không thể thiếu đối với sự tồn tại của con người đó chính là nguồn nước.
Tại Chương 1, tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Cụ thể, tác giả phân tích về: Khái niệm, đặc điểm nguồn nước; Khái niệm, đặc điểm ô nhiễm nguồn nước; Nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước; Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước; Khái niệm, đặc điểm pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; Vai trò của pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; Các yêu cầu đối với pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cùng với lược sử pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Thông qua những cơ sở lý luận được tác giả phân tích tại Chương này sẽ là căn cứ để phục vụ cho việc phân tích pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này được thể hiện ở Chương 2. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước