Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
Có thể thấy, vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng Nhà nước ta đã thể hiện khá rõ sự quan tâm trong công tác bảo vệ và kiểm soát nguồn tài nguyên này. Theo đó, tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nguồn nước được chia thành những nhóm sau:
Thứ nhất, bảo vệ môi trường nước mặt. Được quy định từ Điều 7 đến Điều 9 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Theo đó, hoạt động bảo vệ nguồn nước mặt bao gồm các nội dung:
- Thống kê, đánh giá, giảm thiểu và xử lý nước thải xả vào môi trường nước mặt;
- Quan trắc, đánh giá chất lượng nước, trầm tích, môi trường thủy sinh của nguồn nước mặt và công khai thông tin phục vụ quản lý, khai thác và sử dụng nước mặt;
- Điều tra, đánh giá khả năng chịu tải của môi trường nước mặt; công bố các khu vực môi trường nước mặt không còn khả năng chịu tải; đánh giá hạn ngạch xả nước thải vào môi trường nước mặt;
- Xử lý ô nhiễm, cải tạo, phục hồi và cải thiện môi trường nước mặt bị ô nhiễm;
- Quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường nước mặt, trầm tích sông liên quốc gia và chia sẻ thông tin phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật và thông lệ quốc tế.
Thứ hai, bảo vệ môi trường nước biển. Được quy định tại Điều 11 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, vấn đề bảo vệ nguồn nước này phải đảm bảo:
- Các nguồn thải vào môi trường nước biển phải được điều tra, đánh giá và có biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu, kiểm soát chặt chẽ, xử lý đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.
- Vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo phải được đánh giá, xác định và công bố theo quy định của pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
- Hoạt động khai thác nguồn lợi từ biển và hải đảo, hoạt động kinh tế – xã hội khác phải phù hợp với quy hoạch và đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
- Bảo vệ môi trường nước biển phải bảo đảm phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; phối hợp giữa cơ quan nhà nước Việt Nam và cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc chia sẻ thông tin, đánh giá chất lượng môi trường nước biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển xuyên biên giới.
- Việc bảo vệ môi trường nước biển phải tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thứ ba, bảo vệ môi trường nước dưới đất. Theo quy định tại Điều 10 Luật Bảo vệ môi trường hiện hành, bảo vệ nguồn nước dưới đất phải thực hiện các nhiệm vụ: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
- Phải được quan trắc, đánh giá để có biện pháp ứng phó kịp thời khi phát hiện có thông số môi trường vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia hoặc có sự suy giảm mực nước theo quy định.
- Hoạt động khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất phải có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường nước dưới đất.
- Cơ sở có sử dụng hóa chất độc hại, chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không rò rỉ, phát tán hóa chất độc hại, chất phóng xạ vào nguồn nước dưới đất.
- Cơ sở, kho, bãi chứa, lưu giữ nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất, khu vực lưu giữ, xử lý chất thải phải được xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường nước dưới đất.
- Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân gây ô nhiễm môi trường nước dưới đất có trách nhiệm xử lý ô nhiễm.
- Việc bảo vệ môi trường nước dưới đất phải tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, pháp luật về tài nguyên nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Bộ trưởng Bộ TNMT quy định chi tiết việc bảo vệ môi trường nước dưới đất.
- UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bảo vệ môi trường nước dưới đất trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy, nguồn nước là một loại tài nguyên có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống và xã hội của con người. Hiểu được tầm quan trọng trong công tác giữ gìn, bảo vệ tài nguyên này, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm sâu sắc tới vấn đề trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức, cơ quan trong công tác bảo vệ nguồn nước cũng như những cơ sở có liên quan tới hoạt động này. Tùy vào từng loại nguồn nước, Luật bảo vệ môi trường hiện hành đã đưa ra những nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng. Tuy nhiên, đây là những quy định khung để pháp luật chuyên ngành căn cứ vào đó có những định hướng, chỉ đạo hợp lý đối với từng hành vi của từng đối tượng cụ thể. Theo đây, một số nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được thể hiện như sau:
2.1.1. Nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
Hiện tại pháp luật về bảo vệ môi trường của nước ta cũng như pháp luật chuyên ngành về tài nguyên nước chưa đưa ra được quy định cụ thể về nguyên tắc của việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Tuy nhiên, căn cứ theo nguyên tắc bảo vệ môi trường, nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra cùng với tình hình thực tế thực hiện công tác này, tác giả đưa ra một số nguyên tắc trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Thứ nhất, đảm bảo nguyên tắc cân bằng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền liên quan. Nguyên tắc này được lý giải bởi công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng là nhiệm vụ của toàn cộng đồng, xã hội, không phải của một cá nhân hay tổ chức bất kỳ nào. Do đó, hoạt động này cần có sự hợp tác, hỗ trợ từ nhiều chủ thể khác nhau nhằm đảm bảo một môi trường nước trong lành, hạn chế sự ô nhiễm. Từ đó, mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho toàn xã hội. Bên cạnh đó, tùy vào từng cá nhân, tổ chức sẽ có những quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau phù hợp với khả năng của mình, khi có sự phối hợp một cách nghiêm túc sẽ mang lại được mục tiêu mà công tác kiểm soát hướng tới.
Thứ hai, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước không phải chỉ là vấn đề của một quốc gia mà sẽ có thể liên quan tới một hoặc một vài quốc gia có liên quan tới nguồn nước, điều này được lý giải bởi đặc tính của nguồn nước là có tính luân chuyển. Do đó, việc sử dụng nguồn nước cũng như vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước của quốc gia này có thể ảnh hưởng tới quốc gia khác. Chính vì vậy, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước phải đảo đảm nguyên tắc “chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, công bằng, hợp lý trong bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đối với các nguồn nước liên quốc gia. Theo đây, khi tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc này một mặt góp phần giúp kiểm soát được sự ô nhiễm nguồn nước xảy ra ở quốc gia mình. Bên cạnh đó, cũng nâng cao tình hữu nghị, hợp tác của các quốc gia đến cộng đồng quốc tế. Từ đó, thúc đẩy sự về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa của các quốc gia có chung nguồn nước nói riêng.
Thứ ba, “bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải lấy phòng ngừa là chính, gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng, khả năng tái tạo tài nguyên nước, kết hợp với bảo vệ chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sinh, khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. Do đó, “kiểm soát ô nhiễm nguồn nước” lấy nguyên tắc phòng ngừa là trọng tâm và hàng đầu. Chính vì vậy, công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần phải nâng cao tính phòng ngừa, hạn chế để xảy ra việc ô nhiễm nguồn tài nguyên này rồi mới thực hiện các biện phải xử lý. Bên cạnh đó, việc đánh giá về nguồn tài nguyên nước để kịp thời đưa ra dự trù về những biện pháp khắc phục vấn đề liên quan tới tài nguyên này là một hoạt động vô cùng có ý nghĩa. Bởi vì, làm tốt việc phòng ngừa một vấn đề sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn là việc giải quyết, xử lý khi có tác động tiêu cực xảy ra đối với vấn đề đó.
Thứ tư, xuất phát từ vai trò của nguồn nước cũng như pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm đảm bảo sự phát triển của xã hội. Do đó, công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước phải đảm bảo được nguyên tắc gắn liền với sự phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước. Khi làm tốt được công việc này đồng nghĩa với đó là việc hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước xảy ra. Theo đó, việc sử dụng nguồn nước này vì mục đích sản xuất, kinh doanh cũng là cơ sở góp phần đảm bảo sự phát triển của đất nước. Chính vì lẽ đó, có thể hiểu mọi lĩnh vực nhằm mục đích phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một đất nước đều cần tới nguồn nước. Do đó, vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn tài nguyên này cần phải được coi là trọng tâm, là nhiệm vụ cấp bách. Vì vậy, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần phải được quan tâm đặc biệt không chỉ cơ quan có thẩm quyền mà còn là nhiệm vụ của toàn thể người dân.
2.1.2. Chủ thể tham gia pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Xuất phát từ vai trò của kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tác động tới việc điều chỉnh những quan hệ xã hội. Không những vậy, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ những đối tượng có liên quan tới công tác này. Theo đây, trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, có hai nhóm chủ thể gồm cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân. Theo đó, tương ứng với mỗi chủ thể sẽ có những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Cụ thể:
Thứ nhất, đối với cơ quan quản lý nhà nước. Có thể thấy nhà nước là cơ quan quản lý chung tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong đó, có quản lý nhà nước về vấn đề môi trường nước, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là một vấn đề vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ ràng về trách nhiệm của nhóm chủ thể này đặc biệt đối với công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Trong đó, đối với nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm 02 nhóm đối tượng chính sau:
- Một là, nhóm cơ quan có thẩm quyền chung
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp. Theo đó, Chính phủ là cơ quan cao nhất có thẩm quyền ban hành những văn bản pháp luật về môi trường nói chung và những quy định về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng, cụ thể là nghị định, nghị quyết. Theo đây, cơ quan này sẽ ban hành những quy định cụ thể việc lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; quy định cụ thể việc thăm dò, khai thác nước dưới đất; quy định cụ thể việc đăng ký, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; quy định cụ thể các trường hợp khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ của các cơ quan chuyên môn, … Ví dụ như: Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước; Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2020 quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, … Như vậy, đối với cơ quan này chủ yếu sẽ ban hành những văn bản, quy định mang tính định hướng, chỉ đạo thực hiện những công việc có tính chất chuyên môn đối với các cơ quan chuyên ngành. Trong đó, những quy hoạch, kế hoạch về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước sẽ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Bên cạnh đó, UBND các cấp có thẩm quyền ban hành các quyết định liên quan tới vấn đề môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng thuộc phạm vi địa phương mà mình quản lý. Căn cứ theo Điều 71 Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của UBND các cấp. Trong đó, có quy định cụ thể về trách nhiệm đối với từng cấp cơ quan này. Ví dụ như: Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương quy định quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Quyết định số 918/2012/QĐ-UBND ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương đến năm 2020, …
- Hai là, nhóm cơ quan có thẩm quyền chuyên môn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn bao gồm Bộ TNMT, các Sở TNMT, Chi cục bảo vệ môi trường, Phòng TNMT, … Theo đây, Bộ TNMT là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; viễn thám; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ”.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 70 Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của Bộ TNMT. Theo đó, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước và thực hiện một số nhiệm vụ như:
Ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá về quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, về điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước;
- Tổ chức lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, chiến lược tài nguyên nước; quy trình vận hành hồ chứa nước;
- Khoanh vùng cấm, hạn chế khai thác tài nguyên nước; thông báo tình trạng nguồn nước;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước; đào tạo nguồn nhân lực về tài nguyên nước;
- Cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước và cho phép chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền;
- Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phương án giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn nước liên quốc gia, việc tham gia tổ chức quốc tế, ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về tài nguyên nước; chủ trì các hoạt động hợp tác quốc tế về tài nguyên nước;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tài nguyên nước; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm theo thẩm quyền; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Về các nghĩa vụ chung của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được quy định chủ yếu tại Luật tài nguyên nước năm 2012, Nghị định số 02/2023/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về bảo vệ môi trường đối với tài nguyên nước tương đối cụ thể đối với các môi trường nước mặt, nước dưới đất và nước biển (từ Điều 7 đến Điều 11). Theo đó, một số nội dung chính về nghĩa vụ của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được kể đến bao gồm:
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tài nguyên nước.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch về khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước.
- Xây dựng và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ, phát triển tài nguyên nước.
- Cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước.
- Tổ chức thực hiện các hoạt động phòng chống, khắc phục sự cố môi trường do sự vận động bất thường của nước gây ra.
- Thanh tra thực hiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước.
Thứ hai, đối với các tổ chức, cá nhân. Có thể thấy, đây được coi là những chủ thể tác động đến nguồn nước thông qua các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, khai thác,… nguồn nước của mình. Do đó, đây là những đối tượng quyết định đến việc những chính sách, chiến lược của Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương có đạt hiệu quả hay không. Chính vì vậy, đây có thể được coi là chủ thể quyết định rất nhiều tới việc thực thi những quy định pháp luật liên quan tới công tác này. Theo đây, một số nghĩa vụ đặt ra đối với nhóm chủ thể này đối với công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được đưa ra như sau:
Một là, có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng. Theo đó, pháp luật quy định một số hành vi nghiêm cấm cụ thể tại Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Điều 9 Luật Tài nguyên nước năm 2012 bao gồm: “Đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước và các hành vi khác gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước; Đặt vật cản, chướng ngại vật, xây dựng công trình kiến trúc, trồng cây trái phép gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh, rạch; nguồn nước gây sạt, lở hoặc mất ổn định của bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa nước; Phá hoại các công trình góp phần giám sát quá trình sử dụng nguồn tài nguyên nước; Cản trở hoạt động điều tra của cơ quan có thẩm quyền; Thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trái phép;…” Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Hai là, trong quá trình khai thác, sử dụng nguồn nước căn cứ theo Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thì những chủ thể này có nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi trường. Bởi vì, phí bảo vệ môi trường có ý nghĩa cho việc bù đắp chi phí cải tạo về nước do quá trình sử dụng, khai thác của những đối tượng này. Bên cạnh đó, đây cũng là khoản để cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp góp phần kiểm soát sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này. Theo đây, đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được quy định tại Điều 4 Nghị định này bao gồm: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải theo quy định; Trường hợp các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và trả tiền dịch vụ xử lý nước thải cho đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung theo cơ chế giá dịch vụ thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định; Trường hợp các cơ sở sử dụng nguồn nước sạch từ tổ chức cung cấp nước sạch cho hoạt động sản xuất, chế biến thì chủ cơ sở phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp.” Đối với các trường hợp được miễn nghĩa vụ nộp thuế được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định này.
Tại Điều 6 quy định về mức phí bảo vệ môi trường bao gồm:
- Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1 m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn thì Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.
- Đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m3/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến đổi): Năm 2020, áp dụng mức phí 1.500.000 đồng/năm; kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trở đi, áp dụng theo lưu lượng nước thải bình quân: Từ 10 đến dưới 20m3/ngày: 000.000 đồng/ năm, từ 5 đến dưới 10m3/ngày: 3.000.000 đồng/ năm, dưới 5m3/ngày: 2.500.000 đồng/năm.
Ba là, có nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài nguyên nước cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để kiểm tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước, không gây cản trở hoặc làm thiệt hại tới lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Khi phát hiện thấy hành vi, hiện tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây mất an toàn nguồn nước phải ngăn chặn và báo cáo kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân liên quan để xử lý nhằm phòng chống ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường đối với tài nguyên nước. Cá nhân có hành vi gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước phải chịu trách nhiệm khôi phục hiện trạng tài nguyên nước và bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Bốn là, đối với các chủ thể khai thác, sử dụng nước vào các mục đích sản xuất kinh doanh khác nhau bao gồm các cơ sở khai thác vào mục đích sinh hoạt; các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước vào mục đích sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản; các tổ chức, cá nhân khoan, thăm dò địa chất, xử lý nền móng công trình, xây dựng công trình ngầm dưới đất, … có những nghĩa vụ chung về bảo vệ, phát triển tài nguyên nước được quy định tại Chương III Luật Tài nguyên nước năm 2012. Trong khi đó, tại Điều 38 Luật Tài nguyên nước năm 2012 đưa ra những quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với những chủ thể này bao gồm: “Được xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của giấy phép; được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp; được bồi thường thiệt hại do cá nhân, tổ chức khác xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình; có quyền thay đổi nội dung, gia hạn, trả lại giấy phép theo quy định; chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh; khởi kiện, khiếu nại tới cơ quan có thẩm quyền với các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của mình; chấp hành những nội dung giấy phép; thực hiện nghĩa vụ tài chính; đảm bảo việc xả thải đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép; không cản trở việc khai thác, sử dụng nguồn nước của chủ thể khác; có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm; thực hiện việc quan trắc, giám sát lưu lượng, chất lượng nước thải và chế độ báo cáo đầy đủ, trung thực về hoạt động xả thải… Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước cũng cần chú trọng tới việc phòng chống xâm nhập mặn gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng tới hệ sinh thái động thực vật. Căn cứ theo quy định tại Điều 61 Luật Tài nguyên nước năm 2012 về phòng, chống xâm nhập mặn như sau:
- Việc quản lý, vận hành các cống ngăn mặn, giữ ngọt và các hồ chứa nước, công trình điều tiết dòng chảy phải tuân theo quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn.
- Việc thăm dò, khai thác nước dưới đất ở vùng đồng bằng, ven biển phải bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn cho các tầng chứa nước dưới đất.
- Việc khai thác nước lợ, nước mặn để sử dụng cho sản xuất không được gây xâm nhập mặn các nguồn nước và làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước để sản xuất nông nghiệp phải có biện pháp phòng, chống chua, mặn, xói mòn đất và bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước.”
Ngoài ra, tương ứng với từng lĩnh vực khai thác, sử dụng nguồn nước, pháp luật tài nguyên nước đã quy định cụ thể về hoạt động nhằm bảo vệ chất lượng của nguồn tài nguyên này từ Điều 32 đến Điều 35 đối với từng chủ thể, những nội dung này bao gồm: Bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt (Điều 32); bảo vệ chất lượng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và các hoạt động khác (Điều 33); Phòng, chống ô nhiễm nước biển (Điều 34) và bảo vệ nước dưới đất (Điều 35). Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Năm là, phòng chống, khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra. Căn cứ theo Điều 26 Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định về trách nhiệm phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. Theo đây, thì “mọi hoạt động khai thác, sử dụng phải đảm bảo nằm trong quy hoạch mà cấp có thẩm quyền phê duyệt; không được xây dựng mới các bệnh viện, nghĩa trang, cơ sở sản xuất, khu chế xuất ở khu vực có nguồn nước nguy hại trong hành lang bảo vệ nguồn nước; việc xây dựng các khu tập trung đông người như khu công nghiệp, khu vui chơi, tuyến đường giao thông, … phải có phương án phòng, chống ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; việc xây dựng các công trình, khai thác mỏ cần phải bơm nước nếu có khiến mực nước dưới đất hạ thấp có thể gây cạn kiệt thì phải dừng lại việc bơm nước. Đồng thời, các ao, hồ chứa nước thải phải đảm bảo hệ thống chống thấm, chống tràn…” Theo đây, những việc không đáp ứng những điều kiện này khiến cho nguồn tài nguyên nước bị ảnh hưởng xấu hay cạn kiệt, gây hiện tượng sụt lún, … sẽ phải khắc phục hậu quả, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, bên cạnh việc bảo vệ trữ lượng, chất lượng nước nhằm phát huy vai trò to lớn của nước trong đời sống xã hội thì vấn đề phòng chống, khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ sự tồn tại, phát triển của con người. Khi xảy ra sự cố môi trường, trong đó có vấn đề ô nhiễm, các chủ thể có liên quan cần tuân thủ quy định pháp luật những biện pháp khắc phục hậu quả. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác và bảo vệ hồ chứa nước phải có phương án bảo đảm an toàn công trình, phòng chống lũ lụt phù hợp với quy hoạch phòng chống lũ lụt đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2.1.3. Quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Có thể thấy, công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng là một nhiệm vụ rất cần thiết nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm xảy ra đối với nguồn nước. Chính vì vậy, hoạt động đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta cần làm đó chính là đánh giá về tình hình nguồn nước nói chung hay tại mỗi địa phương là hoạt động đánh giá về tình trạng nguồn nước của địa phương đó. Qua đây, nhằm thực hiện bước tiếp theo là xây dựng các quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Cụ thể:
Đối với hoạt động đánh giá tình hình nguồn nước được hiểu là quá trình nhằm xác định trữ lượng, chất lượng nước, tình hình khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực tới trữ lượng, chất lượng nước của quốc gia nói chung và của địa phương nói riêng. Do đó, để hoạt động này mang lại những kết quả tích cực thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như chính quyền địa phương cần phải nâng cao ý nghĩa của hoạt động điều tra cơ bản đối với nguồn nước nhằm đánh giá tiềm năng của nguồn nước và đưa ra những chiến lược, quy hoạch sử dụng, bảo vệ tốt nhất cho nguồn tài nguyên này. Cụ thể là, các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện các hoạt động như kiểm kê, thu thập mẫu nước để tiến hành việc phân tích về chất lượng. Đồng thời, theo dõi về tình hình khai thác, sử dụng nguồn nước đó nhằm đưa ra những kết luận chính xác, khách quan về thực trạng của nguồn nước. Cùng với đó là đưa ra những dự liệu về các vấn đề có thể xảy ra với nguồn nước này và những nguyên nhân dẫn tới các vấn đề đối với nguồn nước đó. Theo quy định pháp luật hiện hành tại Luật Tài nguyên nước năm 2012, từ Điều 10 đến Điều 13 có thể thấy pháp luật quy định như: “Bộ TNMT tổ chức lập quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. hay “UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước trên phạm vi địa bàn theo phân cấp của Chính phủ và gửi Bộ TNMT để tổng hợp.
Đối với hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước có thể hiểu đây là một trong những cơ sở trong việc định hướng những hành vi, cách cư xử có liên quan trong công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Theo đó, quy hoạch, kế hoạch về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định, phân loại, đánh giá trữ lượng, chất lượng, sự vận động của các nguồn nước trong phạm vi từng khu vực, từng địa phương để khai thác, sử dụng vào những mục đích cụ thể, bảo vệ, phát triển một cách hợp lý, hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Căn cứ theo Luật Tài nguyên nước năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2018, tại Điều 15 quy định quy hoạch nguồn tài nguyên nước bao gồm quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước; quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh, nguồn liên tỉnh; quy hoạch bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia. Theo đây, đối tượng của quy hoạch nguồn tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất và được quy định mỗi kỳ quy hoạch có thời hạn là 10 năm và có tầm nhìn là từ 20 năm đến 30 năm.
Khi thực hiện hoạt động xây dựng quy hoạch nguồn tài nguyên nước trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần phải đảm bảo “tính toàn diện giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa khai thác, sử dụng tài nguyên nước với bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; bảo đảm phân bổ hài hòa lợi ích sử dụng nước giữa các địa phương, các ngành, giữa thượng lưu và hạ lưu và bảo đảm dựa trên kết quả của hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước. Bên cạnh đó, đối với nguồn nước liên quốc gia thì cần phải đảm bảo được nguyên tắc thỏa thuận của các quốc gia có liên quan tới nguồn nước, vì 63% lượng nước được hình thành bên ngoài lãnh thổ. Theo đây, việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước bắt buộc phải tuân thủ theo quy hoạch có liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên này.
Cùng với những quy hoạch có liên quan đến khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước nêu trên với vai trò là định hướng chung, các chiến lược, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được xây dựng trên cơ sở từ những quy hoạch này và phù hợp với tình hình phát triển xã hội trên địa bàn. Trong đó, chiến lược được hiểu là tổng hợp các kế hoạch hành động tác động đến môi trường trong một thời kỳ nhất định để nhằm mục tiêu bảo vệ, cải thiện môi trường được xây dựng dựa trên đặc điểm của nguồn nước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và quốc tế. Đối với vấn đề nguồn nước trong của quốc gia, chiến lược tài nguyên nước cần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cho người dân, nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, phát triển kinh tế, đảm bảo cho quốc phòng – an ninh và phòng chống hiệu quả, tác hại do nước gây ra. Đối với nguồn nước quốc tế, phải đáp ứng được khả năng hợp tác quốc tế và các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, từ những phân tích trên có thể thấy việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính sách bảo vệ phát triển nguồn tài nguyên nước phải tính tới những yêu cầu, mục đích sử dụng từng nguồn nước cũng như tiềm năng mà nguồn tài nguyên này mang lại một cách cụ thể trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế xã hội ở từng địa bàn nhất định để đảm bảo phát triển bền vững môi trường nước. Cụ thể, trong trường hợp quy hoạch khu vực xả nước thải, khu vực khai thác nguồn nước, các lưu vực sông thì không nhất thiết phải chia thành khu vực mà sẽ đánh giá hoạt động này thông qua sự vận động, tác động của nguồn nước tới sự phát triển kinh tế xã hội tới trữ lượng, chất lượng nguồn nước để xác định các hình thức, mục đích sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước phù hợp. Đặc biệt, đối với công tác xây dựng quy hoạch các khu vực lấy nước sinh hoạt thì phải căn cứ vào tình hình thăm dò, khảo sát thực tế để xây dựng những khu vực lấy nước phục vụ sinh hoạt, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, bảo vệ tốt nhất sức khỏe con người trong quá trình sử dụng nước sinh hoạt và bảo đảm tính kinh tế trong quá trình xử lý nước thành nước sinh hoạt. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
2.1.4. Xây dựng, ban hành, công bố quy chuẩn kỹ thuật môi trường nước
Căn cứ theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là quy định bắt buộc áp dụng mức giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô nhiễm có trong nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hóa, chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật”. Trong khi đó, khoản 11 Điều 3 Luật này quy định: “Tiêu chuẩn môi trường là quy định tự nguyện áp dụng mức giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức công bố theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.” Như vậy, có thể thấy đây được coi là những chuẩn mực, giới hạn về hoá học, lý học, sinh học được quy định bởi pháp luật nhằm xác định tính chất của tài nguyên nước, dùng làm căn cứ để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước. Từ đó, có những đánh giá, nhận xét về tình hình tài nguyên nước để đưa ra những biện pháp, chế tài xử lý khi có vi phạm. Theo đây, quy chuẩn kỹ thuật môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường. Trong khi đó, tiêu chuẩn môi trường do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản, có giá trị tự nguyện áp dụng.
Đối với việc xây dựng tiêu chuẩn về nguồn nước được thực hiện bởi Bộ TNMT, theo đó Bộ TNMT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, UBND ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường ở địa phương dưới sự kiểm định của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Hiện nay, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường của nước ta gồm nhiều nhóm quy chuẩn môi trường đối với từng nguồn nước khác nhau như: Quy chuẩn nước sinh hoạt, quy chuẩn nước thải, quy chuẩn nước dưới đất, quy chuẩn nước mặt, quy chuẩn chất lượng nước biển ven bờ, … Theo đó, có 13 bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước và nước thải, 07 bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng nguồn nước, cụ thể:
- Bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước và nước thải:
QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt; QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp; TCVN 5945:2010 Tiêu chuẩn Việt Nam về nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải; QCVN 28:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế; QCVN 29:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của kho và cửa hàng xăng dầu; QCVN 01-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sơ chế cao su thiên nhiên; QCVN 08-MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt; QCVN 09-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước dưới đất; QCVN 10-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển; QCVN 11-MT: 2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thuỷ sản; QCVN 12-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy; QCVN 13-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm; QCVN 62-MT:2016/BTNMT
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi.
- Bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng nguồn nước:
TCVN 5502:2003 – Nước cấp sinh hoạt – Yêu cầu chất lượng; QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (đối với nước dùng để ăn uống, nước dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm); QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm); QCVN 6- 1:2010/BYT – Quy chuẩn của Bộ Y Tế quy định các chỉ tiêu an toàn thực phẩm và các yêu cầu quản lý đối với nước khoáng thiên nhiên đóng chai và nước uống đóng chai; QCVN 08-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt; QCVN 09-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. Quy chuẩn này áp dụng để đánh giá và giám sát chất lượng nguồn nước ngầm, làm căn cứ để định hướng cho các mục đích sử dụng nước khác nhau; QCVN 10-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Việc công bố quy chuẩn kỹ thuật môi trường được thực hiện bởi Bộ TNMT hoặc UBND. Theo đó, các cơ quan này có trách nhiệm thông báo công khai việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật và việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ quy chuẩn kỹ thuật trong thời hạn ít nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Như vậy, từ đây có thể thấy tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường về nguồn nước có vai trò rất quan trọng đối với công tác kiểm soát môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Theo đó, đây được coi là những căn cứ khoa học, pháp lý làm cơ sở xác định chất lượng nước, làm cơ sở xác định tác động, mức độ ảnh hưởng của các hoạt động của con người đến tài nguyên nước, làm cơ sở để cấp có thẩm quyền đánh giá, báo cáo các tác động liên quan đến môi trường nước, kiểm tra việc thực hiện Luật Tài nguyên nước và những văn bản pháp luật có liên quan làm cơ sở cho quá trình thanh tra, xử lý vi phạm về tài nguyên nước, …
2.1.5. Cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước
Giấy phép tài nguyên nước được hiểu là chứng thư pháp lý do cơ quan có thẩm quyền cấp cho các tổ chức, cá nhân.Trong đó, xác định rõ các quyền, nghĩa vụ liên quan nhằm buộc các chủ thể này khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên nước. Giấy phép tài nguyên nước là một công cụ đắc lực trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Thông qua việc đăng ký, cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm soát được trữ lượng, chất lượng nước của nguồn nước. Các hoạt động của tổ chức, cá nhân làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước, ô nhiễm nguồn nước do khai thác, sử dụng tài nguyên nước bừa bãi. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước cũng như ô nhiễm môi trường.
Căn cứ Điều 15 Nghị định 02/2023/NĐ-CP có hiệu lực ngày 20/3/2023 quy định về giấy phép tài nguyên nước bao gồm: “Giấy phép thăm dò nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng nước biển.” Theo đây, nội dung của loại giấy phép này bao gồm các nội dung chính: “Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép; Tên, vị trí công trình thăm dò, khai thác nước; Nguồn nước thăm dò, khai thác; Quy mô, công suất, lưu lượng, thông số chủ yếu của công trình thăm dò, khai thác nước; mục đích sử dụng đối với giấy phép khai thác, sử dụng nước; Chế độ, phương thức khai thác, sử dụng nước; Thời hạn của giấy phép; Các yêu cầu, điều kiện cụ thể đối với từng trường hợp thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước do cơ quan cấp phép quy định nhằm mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác liên quan; Quyền, nghĩa vụ của chủ giấy phép.”
Để được cấp giấy phép tài nguyên nước, chủ thể phải đáp ứng được các điều kiện pháp luật quy định bao gồm: “Đã hoàn thành việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước nếu chưa có các quy hoạch; Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước; phương án quan trắc khí tượng, thủy văn, tổ chức dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Về thời hạn giấy phép tài nguyên nước sẽ tùy thuộc vào các loại như:
- Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển: Tối thiểu 05 năm, tối đa 15 năm và được gia hạn nhiều lần, tối thiểu 3 năm, tối đa 10 năm;
- Giấy phép thăm dò nước dưới đất: 02 năm, được gia hạn 01 lần không quá 01 năm;
- Giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất: Tối thiểu 03 năm, tối đa 10 năm và được gia hạn nhiều lần, tối thiểu 2 năm, tối đa 5 năm.
Đối với trường hợp thu hồi Giấy phép tài nguyên nước khi xảy ra một trong các sự kiện như: Chủ giấy phép phát hiện có thông tin sai lệch; chủ giấy phép bị giải thể hoặc bị tòa án tuyên bố phá sản (tổ chức), đã chết, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố mất tích (cá nhân); Chủ giấy phép đã bị đình chỉ và có tái phạm; cấp không đúng thẩm quyền; vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Theo đây, trình tự, thủ tục thực hiện việc thu hồi giấy phép tài nguyên nước sẽ căn cứ theo Điều 41 Nghị định này là trong quá trình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện giấy phép cả các tổ chức, cá nhân, nếu có phát hiện vi phạm thì cơ quan này sẽ báo cáo với cơ quan cấp giấy phép. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày dược báo cáo thì cơ quan cấp phép sẽ xem xét việc thu hồi, với trường hợp thuộc khoản đ Điều 25 thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho chủ giấy phép biết trước 90 ngày.
Pháp luật quy định các trường hợp điều chỉnh; đình chỉ hiệu lực giấy phép; Trả lại, chấm dứt hiệu lực giấy phép; Cấp lại giấy phép được quy định từ Điều 23 đến Điều 27 Nghị định này.
Thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước được quy định cụ thể tại Điều 28, cụ thể bao gồm: Bộ TNMT, UBND và Sở TNMT. Theo đó, căn cứ để xác định đúng cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục này sẽ tùy thuộc vào từng dự án, quy mô mà thẩm quyền được phân định theo quy định tại Điều này.
2.1.6. Xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được hiểu là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật về khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, gây ô nhiễm, suy thoái nước. Vi phạm về ô nhiễm nguồn nước có thể do nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện nhưng các hoạt động thương mại, sản xuất thường chiếm đa số trong các vi phạm lớn. Theo đó, những vi phạm này thường dẫn đến ô nhiễm và suy thoái nguồn nước. Hiện nay, theo báo cáo thống kê về tình hình ô nhiễm nguồn nước có thể thấy vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này được kể đến ở một số trường hợp chính sau:
- Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép;
- Xả, thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép hoặc gây ô nhiễm nước;
- Đổ nước thải trong vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Có thể thấy, xử lý các hành vi vi phạm Luật Tài nguyên nước bao gồm những biện pháp chấm dứt và ngăn chặn hành vi vi phạm. Thực hiện kịp thời các biện pháp phục hồi và bảo vệ tài nguyên và chất lượng nước cũng như ngăn chặn sự lan rộng của ô nhiễm nước thông qua sự di chuyển liên tục của nước. Theo đây, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi vi phạm sẽ áp dụng trách nhiệm xử lý khác nhau có thể là hành chính, hình sự hay dân sự. Cụ thể:
Thứ nhất, đối với trách nhiệm hành chính. Áp dụng với những hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nước do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chủ yếu quy định về hoạt động vi phạm các quy định về xả nước thải trong hai trường hợp:
Vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường (Điều 18 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP):
- Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,1 lần đến dưới 1,5 lần hoặc dưới 1,1 lần những trong trường hợp tái phạm.
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,5 lần đến dưới 3 lần.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 750.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 3 lần đến dưới 5 lần.
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 850.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 5 lần đến dưới 10 lần. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 950.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên.
Phạt tăng thêm 10% của mức phạt tiền cao nhất đã chọn đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này đối với mỗi thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 1,1 đến dưới 1,5 lần; 20% đối với mỗi thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 1,5 đến dưới 03 lần; 30% đối với mỗi thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 03 đến dưới 05 lần hoặc giá trị pH nằm ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật; 40% đối với mỗi thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 05 đến dưới 10 lần; 50% đối với mỗi thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 10 lần trở lên. Tổng mức phạt đối với mỗi hành vi vi phạm không quá 1.000.000.000 đồng, theo đây việc xác định mức phạt căn cứ vào mức xả nước thải được tính trong 24 giờ.
Vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường hoặc xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải có pH nằm ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật (Điều 19 Nghị định số 45/2022/NĐ- CP):
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,1 lần đến dưới 1,5 lần hoặc dưới 1,1 lần những trong trường hợp tái phạm.
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 750.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,5 lần đến dưới 2 lần.
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 850.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 2 lần đến dưới 3 lần hoặc có giá trị pH từ 4 đến dưới cận dưới của quy chuẩn kỹ thuật cho phép hoặc từ trên cận trên của quy chuẩn kỹ thuật cho phép đến dưới 10,5.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 950.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 3 lần đến dưới 5 lần hoặc có độ pH từ 02 đến dưới 04 hoặc từ 10,5 đến dưới 12,5.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 220.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 5 lần trở lên
- Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải có pH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14, trừ các trường hợp hành vi tội phạm về môi trường.
Theo đây, tương ứng với mỗi khung sẽ tăng dần 10% hình phạt của mức phạt tiền cao nhất đã chọn. Bên cạnh hình thức cảnh cáo, phạt tiền thì chủ thể vi phạm có thể bị phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động của nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm có thời hạn; Tước quyền sử dụng giấy phép; Đình chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm có thời hạn và một số biện pháp khắc phục hậu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Thứ hai, đối với trách nhiệm hình sự. Đối với những hành vi vi phạm lĩnh vực môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng, khi xác định có dấu hiệu tội phạm quy định tại Điều 235 “Tội gây ô nhiễm môi trường” BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì chủ thể vi phạm có thể chịu các hình phạt như: Phạt tiền, phạt tù, phạt cải tạo không giam giữ. Theo đây, mức phạt tiền tối thiểu đối với cá nhân là 50.000.000 đồng và tối đa là 3.000.000.000 đồng; mức phạt tù thấp nhất là 03 tháng, nhiều nhất là 07 năm.
Ngoài ra, đối với trách nhiệm của pháp nhân lần đầu tiên được quy định trong văn bản này, theo đó được quy định tại khoản 5 Điều này, cụ thể Mức phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng, hoặc có thể bị đình chỉ hoạt động 1 đến 3 năm. Mức độ cao nhất là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Thứ ba, đối với trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm dân sự mà chủ thể vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước chủ yếu là các trách nhiệm về khắc phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi nguồn nước và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước gây ra. Trách nhiệm này được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012, và Bộ Luật Dân sự năm 2015, theo đây tại Điều 602 BLDS năm 2015 quy định: “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.”
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
2.2.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo tư liệu từ Sở Thông tin và Truyền thông Bình Dương, “thuở ban đầu thời mở đất phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Năm 1808, huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên thành một trong bốn huyện của phủ Tân Bình. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thành lập nhưng không trùng với địa bàn của huyện Bình Dương trước đó. Năm 1997, tỉnh Bình Dương được tái lập nhưng không hoàn toàn trùng với địa phận của tỉnh Bình Dương trước năm 1995.
Như vậy, Bình Dương từng là tên gọi của những đơn vị hành chính theo những cấp độ khác nhau, từ tổng, huyện cho đến tỉnh với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Bình Dương từ lâu gắn liền với hình ảnh giao thương nhộn nhịp, hội tụ từ nhiều vùng miền trong cả nước. Dưới thời Pháp thuộc, Bình Dương là một tỉnh lỵ miệt vườn thuần nông, dân số chủ yếu là nông dân và chỉ có hai trục giao thông chính là Quốc lộ 13 và sông Sài Gòn.
Theo thông tin thống kê, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam bộ); dân số trung bình 2.568.689 người, GDP bình quân đầu người đạt 151 triệu đồng/ năm (Báo cáo của Cục Thống kê Bình Dương ngày 01 tháng 12 năm 2020); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An, thành phố Thuận An, thành phố Tân Uyên, thị xã Bến Cát và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (41 xã, 45 phường, 05 thị trấn).
- Về điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Dương:
Địa hình: Nhìn chung, địa hình tỉnh Bình Dương đặc trưng cho vùng trung du tiếp giáp giữa vùng núi cao Nam Trường Sơn và đồng bằng thấp Nam bộ. Bề mặt địa hình có độ cao trung bình từ 60m đến 40m so với mực nước biển ở phía Bắc và hạ thấp xuống 30m đến 10m so với mực nước biển ở phía Nam. Dựa vào độ cao và đặc điểm hình thái, có thể chia diện tích tỉnh Bình Dương ra 4 kiểu địa hình chính: Vùng đồi núi thấp ở huyện Phú Giáo, huyện Bắc Tân Uyên và thành phố Tân Uyên chiếm khoảng 40% diện tích toàn tỉnh, vùng địa hình bằng phẳng có ở tất cả huyện, thị xã, thành phố chiếm khoảng 55% diện tích toàn tỉnh, vùng địa hình thung lũng bãi bồi chiếm khoảng 5% diện tích toàn tỉnh và vùng địa hình núi sót ở phía Nam thành phố Dĩ An và huyện Dầu Tiếng chiếm diện tích không đáng kể. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Đất đai: Đối với nhóm tài nguyên này của địa bàn tỉnh Bình Dương khá đa dạng. Theo đó, được chia thành những nhóm chính sau: Đất xám có diện tích khoảng 444 ha (chiếm 54,8%), phù hợp với nhiều loại nhóm cây; Đất đỏ vàng có khoảng 65.243 ha (chiếm 25,12%), phù hợp với nhóm cây có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, tiêu, điều, cây ăn trái và rau màu…; Đất phù sa có diện tích khoảng 15.725 ha (chiếm 6,05%), phù hợp trồng lúa, lương thực, rau, quả,…; Đất phèn có khoảng 3.300 ha; Đất dốc tụ có diện tích khoảng 3.200 ha có độ phì nhiêu khá cao; Đất xói mòn trơ sỏi đá phục vụ làm vật liệu xây dựng. Như vậy, có thể thấy tùy từng loại nhóm đất mà sẽ phù hợp với từng chức năng khác nhau nhằm mang lại hiệu quả đối với địa bàn nói chung và người sử dụng đất nói riêng.
Khí hậu: Bình Dương nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo. Trong năm có hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm Đặc điểm khí hậu của tỉnh Bình Dương trong những năm qua như sau:
Số giờ nắng trong năm thời gian qua từ 000 – 2.300 giờ, các tháng có giờ nắng cao từ tháng 1 đến tháng 5 khoảng 199,3 – 215,0 giờ, các tháng có ít giờ nắng từ tháng 6 đến tháng 12 năm sau khoảng 156,0 – 195,0 giờ.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm, mùa mưa chiếm khoảng 3/4 tổng lượng mưa cả năm, mùa khô chỉ chiếm khoảng 25% lượng mưa.
Chế độ gió trong những năm qua tương đối ổn định, tốc độ gió bình quân khoảng 0,7m/s, tốc độ gió lớn nhất là 12m/s, có hai hướng gió chủ đạo trong năm là gió Tây – Tây Nam và gió Đông – Đông Bắc. Gió Tây – Tây Nam là hướng gió chính trong mùa mưa và gió Đông – Đông Bắc là hướng gió chính trong mùa khô.
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26 -27 độ. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3 độ và thấp nhất từ 16 -17 độ (ban đêm) và 18 độ vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2).
Chế độ thủy văn: Chế độ thủy văn phụ thuộc vào đặc điểm khí hậu của địa bàn, theo đó mùa mưa nước chảy rất lớn, trong khi mùa khô cạn kiệt. Tỉnh Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác. Cụ thể: “Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam bộ, bắt nguồn từ cao nguyên LangBiang chảy qua địa phận các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đồng Nai, Bình Dương, dài 635 km, đoạn chảy qua Bình Dương dài 58 km. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân.
Sông Sài Gòn dài 256 km, đoạn chảy qua Bình Dương dài 143 km. Bắt đầu từ Campuchia, chảy qua vùng đồi núi tỉnh Bình Phước và Tây Ninh xuống Bình Dương, nhập với sông Đồng Nai ở khu vực Nhà Bè thuộc Tp. Hồ Chí Minh. Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Ở thượng lưu, sông hẹp (khoảng 20m) uốn khúc quanh co, từ huyện Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thành phố Thủ Dầu Một và thành phố Thuận An rộng khoảng 200m. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua thị xã Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn. Cùng với sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở thị xã Bến Cát, thành phố Thủ Dầu Một tạo nên những vườn cây ăn trái đặc trưng.
Sông Bé là chi lưu lớn nhất nằm bên phải sông chính Đồng Nai. Dài trên 360 km, hình thành từ vùng núi phía Tây của Nam Tây Nguyên ở độ cao 600 – 800m với 3 nhánh lớn là Dak R’Lap, Dak Glun và Dak Huyot. Sông Bé hợp lưu với sông Đồng Nai tại xã Hiếu Liêm, thành phố Tân Uyên. Sông Bé có lưu vực hầu như nằm trọn trong hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào tỉnh Bình Dương dài khoảng 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại.
- Hệ thống giao thông: Bình Dương sở hữu hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy nối kết nối trong tỉnh và liên vùng. Trong đó:
Trong hệ thống đường bộ, Quốc lộ 13 nổi lên như một con đường chiến lược quan trọng xuất phát từ Thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài từ phía Nam lên phía Bắc tỉnh Bình Dương, qua tỉnh Bình Phước và kết nối với Campuchia đến biên giới Thái Lan không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quân sự, quốc phòng. Bên cạnh đó, quốc lộ 13 lại có vai trò chiến lược kể từ giai đoạn chiến tranh cho đến nay.
Đối với hệ thống đường thủy: Nhờ lợi thế nằm giữa 3 con sông lớn là sông Sài Gòn, sông Soài Rạp và sông Đồng Nai mà Bình Dương kết nối thuận tiện với các cảng lớn ở phía Nam, giao thương thuận tiện với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Có thể thấy cho đến nay, “toàn tỉnh có 29 khu công nghiệp (27 khu công nghiệp đi vào hoạt động) với tổng diện tích 12.670,5 ha, tỷ lệ cho thuê đạt 87,4%; 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích 790 ha, lấp đầy 67,4%. Trong đó, có những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An, … Bằng những chính sách phù hợp, tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2020, Bình Dương đã thu hút được 3.928 dự án và 35 tỷ 400 triệu đô la Mỹ vốn đầu tư, xếp thứ ba cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội”; toàn tỉnh có 48.456 doanh nghiệp trong nước, với vốn đăng ký hơn 434.708 tỷ đồng. Nhiều khu đô thị và dân cư mới văn minh, hiện đại được hình thành, trong đó tiêu biểu nhất là “Thành phố mới Bình Dương” với điểm nhấn là Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20 tháng 02 năm 2014.
2.2.2. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Từ một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Dương nêu trên cho thấy, đây là một địa bàn có hệ thống sông ngòi rất phong phú và đa dạng, có rất nhiều các con sông lớn chảy qua. Hàng năm, tổng lượng nước khai thác các sông đạt khoảng 26,4 tỷ m3, các hồ chứa là 1,1 tỷ m3. Tuy nhiên, với tình hình hiện nay các con sông lớn được kể đến như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Bé và sông Thị Tính đã có dấu hiệu suy giảm theo thời gian và ô nhiễm ngày càng trầm trọng.
Về ô nhiễm nước mặt: Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt các lưu vực sông trên địa bàn tỉnh Bình Dương được đánh giá trên cơ sở kết quả các chương trình quan trắc môi trường các lưu vực sông thuộc chương trình quan trắc của tỉnh thông qua các chỉ số chất lượng nước (WQI) và giá trị các thông số đặc trưng cho chất lượng môi trường nước mặt cho thấy trong thời gian qua nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương có xuất hiện các hiện tượng như: Suối nổi bọt trắng xóa, nước đổi màu, kèm mùi hôi,… khiến nhiều người lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Theo đây, có thể đưa ra một số vụ việc tiêu biểu như:
Khu vực ven suối Cây Sao, ở phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, người dân cảm thấy bất an bởi nguồn nước này thường xuyên bị nổi bọt trắng, đổi màu. Cụ thể, theo lời người dân đã từng sinh sống trong khu vực này cho biết trước kia đây là một dòng nước khá sạch, người dân buổi chiều thường rủ nhau bắt cá và đi bộ xung quanh đây nhưng thời gian gần đây đã không còn, nguyên nhân là do có sự tồn tại của các khu công nghiệp nên nguồn nước thải đổ ra thượng nguồn và chảy vào sông Đồng Nai khiến cho nguồn nước này bị ảnh hưởng.
Vụ việc ô nhiễm hồ chứa nước Tân Vĩnh Hiệp và kênh Suối Chợ – Tân Phước Khánh, thành phố Tân Uyên, Bình Dương: “Sau khi nhận được phản ánh từ người dân về tình hình nguồn nước này có hiện tượng nổi bọt trắng bất thường sau cơn mưa; Sở TNMT tỉnh Bình Dương đã tiến hành khảo sát, đánh giá mức độ ô nhiễm trên kênh này và cử Đội liên ngành kiểm tra đột xuất về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra đột xuất một số nguồn thải có khả năng gây ô nhiễm nguồn nước trong ngày 9/4/2020. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Theo kết quả phân tích đoạn kênh Suối Chợ bị ô nhiễm chất hoạt động bề mặt và chất hữu cơ. Mức độ ô nhiễm cao nhất là từ Khu công nghiệp Đại Đăng và giảm dần từ phía hạ nguồn. Chất gây ô nhiễm có hàm lượng chất hoạt động bề mặt là 30,3 m/l (vượt quy chuẩn 75,7 lần), hàm lượng chất hữu cơ là 84m/l (vượt quy chuẩn 2,8 lần). Theo đây, xác định được nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nổi bọt trắng sau cơn mưa đó chính là một số nguyên liệu sản xuất của Công ty cổ phần bột giặt LIX (Khu công nghiệp Đại Đăng, phường Phú Tân, Thành phố Thủ Dầu Một), thoát ra cống thoát nước mưa. Bên cạnh đó, qua kiểm tra hệ thống thoát nước và nhà xưởng của Công ty bột giặt này còn thấy nhiều thùng chứa nguyên liệu sản xuất. Trong đó, có nguyên liệu là chất hoạt động bề mặt (LAS) và một số thùng đang sử dụng nắp đậy không kín. Đồng thời, một số hố ga thoát nước mưa có chứa nước lẫn nguyên liệu sản xuất. Chính vì vậy, việc mưa lớn khiến cho nước mưa hòa trộn với nguyên liệu sản xuất đã gây nên hiện tượng trên khiến cho người dân vô cùng hoang mang. Vì vậy, Đội liên ngành đã yêu cầu Công ty cổ phần Bột giặt LIX thực hiện các biện pháp khắc phục là chuyển toàn bộ nguyên liệu để ngoài trời vào trong kho chứa. Đồng thời, thu gom toàn bộ nước trong các hố ga thoát nước mưa đưa về công trình xử lý nước thải để xử lý. Ngoài ra, tiến hành hoàn thiện hồ sơ xử lý các hành vi vi phạm đối với Công ty cổ phần bột giặt LIX và KCN Đại Đăng theo quy định pháp luật về kiểm soát môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng.
Theo kết quả quan trắc các năm gần đây của các kênh rạch đổ ra sông Sài Gòn (Suối Cát, Suối Chòm Sao, Suối Đờn, kênh Ba Bò, kênh An Tây, kênh D), sông Đồng Nai (Suối Bưng Cù, Suối Ông Đông, suối Cái, Suối Siệp), sông Thị Tính cho thấy vẫn còn bị ô nhiễm hữu cơ, nồng độ Amoniac (NH3-N), COD vượt quy chuẩn cho phép.
Về ô nhiễm nước ngầm: Có thể thấy, theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bình Dương, nhìn chung chất lượng nguồn nước ngầm địa bàn này tại hầu hết các vị trí quan trắc còn tương đối tốt, nước có vị nhạt, không màu, hàm lượng các nguyên tố thay đổi theo mùa, các chỉ tiêu phân tích đều đạt quy chuẩn cho phép. Tuy nhiên, một số khu vực như phường Vĩnh Phú, phường Thuận Giao của Thành phố Thuận An, phường Dĩ An của Thành phố Dĩ An, chất lượng nước ngầm ở đây vẫn bị nhiễm hữu cơ, nồng độ amonia, COD, Fe vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần. Một số khu vực nước dưới đất bị nhiễm mặn như: Khu vực An Tây thị xã Bến Cát, phường Vĩnh Phú, Thuận Giao của thành phố Thuận An, nước dưới đất còn bị nhiễm mặn (hàm lượng Clorua vượt quy chuẩn nhiều lần) do bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm thủy triều dịch chuyển lên phía thượng nguồn sông Sài Gòn.
Như vậy, có thể thấy một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước nói chung trên địa bàn tỉnh Bình Dương được kể đến là do tại đây được coi là thủ phủ của các khu công nghiệp nên tình trạng chất thải xả ra nguồn nước cũng như hệ thống xử lý nước thải tại đây chưa thật sự được quan tâm, dẫn tới tình trạng ô nhiễm này ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và đời sống của người dân, nhất là khu vực xung quanh hạ lưu. Bên cạnh đó, do công tác quản lý của các cơ quan nhà nước đối với nguồn tài nguyên này vẫn còn hạn chế. Nhiều hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước chưa được kiểm tra, xử lý triệt để, khiến ý thức trách nhiệm về bảo vệ nguồn nước của chủ thể tham gia sử dụng, khai thác nguồn nước càng ngày càng giảm sút. Trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước nhiều khi chồng chéo, chưa rõ ràng. Sự phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
2.2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Từ thực trạng ô nhiễm nguồn nước nêu trên, hiểu được sự cần thiết của công tác kiểm soát môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng trong thời điểm hiện tại khi mà những con sông lớn của địa bàn đã có dấu hiệu ô nhiễm. Điều này gây ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và đời sống của người dân. UBND tỉnh Bình Dương đã tổ chức triển khai thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn, cụ thể như:
“Từ năm 2011, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tại khu vực phía Nam của tỉnh. Đến năm 2015, tỉnh điều chỉnh, bổ sung danh mục vùng hạn chế, vùng đăng ký khai thác nước dưới đất trên toàn tỉnh và đến nay, đang thực hiện Đề án điều chỉnh vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo Nghị định số 167/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ”. Hàng năm, Sở TNMT sẽ báo cáo thuyết minh về kết quả thực hiện dự án điều tra, xác định danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh. Trong đó, thống kê những nội dung, khối lượng công việc đã thực hiện, bao gồm điều tra, thu thập thông tin dữ liệu; xử lý, tổng hợp dữ liệu, thông tin đã thu thập và điều tra bổ sung; khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; tổng hợp, xây dựng các báo cáo kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất, báo cáo kết quả khoanh định vùng hạn chế. Bên cạnh đó, báo cáo sẽ phân tích những đặc điểm địa chất thủy văn và hiện trạng việc phân tích, sử dụng tài nguyên này và đưa ra những giải pháp tổ chức thực hiện biện pháp hạn chế khai thác tài nguyên này để nhằm giữ gìn và bảo tồn những khu vực đã được khoanh vùng hạn chế. Cụ thể, căn cứ theo Báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ từng năm trong giai đoạn 2019-2021 như sau:
Trong năm 2019, theo Báo cáo về “Tình hình thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước năm 2019”, “tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận, thẩm định, cấp và trình UBND tỉnh cấp tổng cộng 185 giấy phép về tài nguyên nước; Tổ chức triển khai thực hiện 3 đề án làm cơ sở cho công tác thẩm định cấp phép về tài nguyên nước tại địa phương; Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với 15 đơn vị, tổng số tiền phạt 550.000.000 triệu đồng; lập danh mục các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ cũng như tăng cường công tác tuyên truyển, phổ biến pháp luật…
Trong năm 2020, Theo Báo cáo về “Tình hình thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước năm 2020”, “UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 16/2020/QĐ- UBND ngày 20 tháng 7 năm 2020 về việc quy định bảng giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn; Công tác tổ chức triển khai thực hiện các đề án giống năm 2019; Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với 8 đơn vị, tổng số tiền phạt 400.000 triệu đồng; lập danh mục các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ cũng như tăng cường công tác tuyên truyển, phổ biến pháp luật, … Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Trong năm 2021, theo Báo cáo của Sở TNMT tỉnh Bình Dương về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2021 và phương hướng năm 2022, theo đây “tình hình thực hiện đề án, dự án được triển khai khá tốt, theo đó đã được thẩm định phê duyệt; về công tác cấp phép tài nguyên nước và khoáng sản đạt 96,73% (trong đó có 01 hồ sơ cấp phép tài nguyên nước trễ hạn); công tác báo cáo chuyên ngành được thực hiện đúng thời hạn, quy trình, …
Ngoài ra, UBND tỉnh chỉ đạo Trung tâm Quan trắc – Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thực hiện chương trình quan trắc với 34 điểm quan trắc nước mặt trên toàn tỉnh với các mục đích đánh giá hiện trạng, xem xét diễn biến xu hướng chất lượng môi trường. Cung cấp số liệu, thông tin có độ tin cậy và có hệ thống về chất lượng môi trường phục vụ cho công tác quản lý môi trường, làm cơ sở xây dựng các kế hoạch bảo vệ môi trường và tài nguyên nhằm phát triển bền vững. Theo dõi hiện trạng và xu hướng diễn biến chất lượng nguồn nước mặt trên các sông, rạch, các chi lưu của hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương, …
Trong thời gian qua, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành khá nhiều văn bản về lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, về cơ bản các cơ quan ban hành các văn bản pháp luật phần lớn đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Một số văn bản nổi bật được kể đến như: Quyết định 2566/QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2017 về danh mục các ngành nghề, vùng, địa điểm có nguy cơ xảy ra ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh và các giải pháp phòng ngừa, xử lý; Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ban hành quy định quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Quyết định số 2999/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2021 về phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Quyết định số 1270/QĐ-UBND ngày 31 tháng 5 năm 2022 của UBND tỉnh Bình Dương về phê duyệt danh mục bản đồ các vùng khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương, …
Bảo vệ môi trường nước và dự trữ tài nguyên nước được tỉnh Bình Dương nghiêm túc thực hiện với hàng chục công trình, dự án khác nhau. Theo đây, đối với việc quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, Sở TNMT tỉnh Bình Dương đã lập xong Quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Trong đó, “mục tiêu quy hoạch nhằm phân bổ, đáp ứng đủ nhu cầu cho các đối tượng sử dụng nước; Bảo vệ, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt các tầng chứa nước, các nguồn nước mặt; Phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông và xâm nhập mặn tầng chứa nước nhằm đảm bảo nguồn nước cho dân sinh, phát triển kinh tế – xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Đây sẽ là cơ sở định hướng cho công tác quản lý tài nguyên nước.
Về việc thực hiện các quy định về cấp giấy phép tài nguyên nước được địa phương thực hiện khá nghiêm chỉnh. Cụ thể, Sở TNMT tỉnh Bình Dương sẽ là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép này cho các cá nhân, tổ chức đủ điều kiện và các trường hợp thuộc thẩm quyền của mình được cấp. Cơ quan này cũng có thẩm quyền thu hồi loại giấy phép tài nguyên nước trong trường hợp được cấp nhưng không sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc chủ giấy phép vi phạm nội dung quy định của giấy phép, gây cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.
Về việc xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn được thực hiện căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, hình thức xử phạt cụ thể chủ yếu áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bộ luật Dân sự năm 2015 và những văn bản pháp luật có liên quan tùy thuộc vào từng hành vi cụ thể. Kết quả, trong 06 tháng đầu năm 2021, “lực lượng Cảnh sát môi trường phát hiện, kiểm tra và thụ lý gần 1.500 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm. Trong đó, phát hiện mới hơn
1.200 vụ. Kết quả, đã xác minh làm rõ và đề xuất xử lý hơn 1.100 vụ với tổng số tiền phạt trên 45 tỷ đồng. Khởi tố hình sự 4 vụ, trong đó, số vụ gây ô nhiễm môi trường là 241 vụ. Xử phạt vi phạm hành chính với số tiền khoảng 38 tỷ đồng. Trong đó, đối tượng vi phạm lĩnh vực này chủ yếu là tổ chức (chiếm 65% tổng số vụ vi phạm). Theo đó, bên cạnh việc bị xử lý bằng hình phạt chính thì chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, Sở TNMT đã cho xây dựng và áp dụng quy trình vận hành liên hồ chứa bảo đảm điều hòa lưu lượng nước giữa các mùa, hạn chế tình trạng ngập lụt vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô. Tăng cường kiểm tra, cấp phép và hậu kiểm sau cấp phép khai thác sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước. Đặc biệt kiểm sát gắt gao vấn đề ô nhiễm nguồn nước dưới tầng đất ở các khu công nghiệp, nhất là vùng phía Nam của tỉnh Bình Dương. Theo đó, hoạt động này góp phần giúp cho việc khai thác, sử dụng nguồn nước trên địa bàn mang lại những hiệu quả. Hạn chế xảy ra việc sử dụng một cách bừa bãi gây ô nhiễm nguồn tài nguyên này, ảnh hưởng tới đời sống của người dân, nhất là khu vực nơi có nguồn nước này chảy qua.
Hiện nay, Sở TNMT đang thực hiện Đề án “Điều tra, khảo sát xây dựng cơ sở dữ liệu để đánh giá sức chịu tải và dự báo chất lượng nước các sông suối trên địa bàn tỉnh Bình Dương”. Qua hoạt động này, góp phần xác định được mức độ và phân loại nguồn nước dựa trên sự ô nhiễm trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, đánh giá, cảnh báo, dự báo diễn biến bất thường về chất lượng nguồn nước là những hoạt động của điều tra cơ bản tài nguyên nước để thực hiện các nội dung về đánh giá tình hình ô nhiễm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước biển.
Trong thời gian qua, “Công ty Cổ phần Nước – Môi trường Bình Dương là đơn vị cấp nước tập trung chính, lớn nhất trên địa bàn tỉnh đã xây dựng Kế hoạch Cấp nước an toàn. Kế hoạch được xây dựng căn cứ Thông tư số 08/2012/TT-BXD ngày 21 tháng 11 năm 2012 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn thực hiện bảo đảm cấp nước an toàn và đề ra các giải pháp kiểm soát chặt chẽ chất lượng nước đầu vào, đầu ra và các phương án xử lý trong quá trình hệ thống xử lý, hệ thống phân phối gặp sự cố. Đặc biệt, các nhà máy cấp nước trên địa bàn tỉnh được liên thông với nhau nên có thể ứng phó kịp thời khi một nhà máy nào đó gặp sự cố về nguồn cấp nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Ngoài ra, tại các địa phương, Sở TNMT tỉnh đã phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dương và các đơn vị liên quan tích cực tuyên truyền cho người dân về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng để người dân hiểu và thực hiện, giúp hạn chế sự ô nhiễm môi trường xảy ra. Đặc biệt là tại những khu vực có hệ thống nguồn nước có dấu hiệu bị ô nhiễm, những khu vực ao tù, nước đọng nhằm đảm bảo nguồn nước sinh hoạt của người dân.
2.3. Đánh giá áp dụng thực hiện quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.3.1. Những mặt đạt được
Từ những phân tích về thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương nêu trên có thể thấy Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012 và những văn bản có liên quan tới lĩnh vực này đã tạo một hành lang vững chắc trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó, có vấn đề môi trường. Theo đây, có thể thấy nhờ có sự áp dụng các quy định này một cách khá nghiêm túc mà địa bàn tỉnh Bình Dương đã đạt được một số thành quả được kể đến như:
Thứ nhất, việc xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ tài nguyên nước nói riêng thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo ra một hành lang pháp lý khả thi để quản lý chặt chẽ tài nguyên nước. Với việc ban hành Luật Tài nguyên nước năm 2012, công tác quản lý, sử dụng nước của nước ta và tỉnh Bình Dương từng bước được cải thiện. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước không bị ô nhiễm, nhiễm bẩn và khai thác quá mức nguồn tài nguyên này.
Thứ hai, việc áp dụng nghiêm túc quy định pháp luật cũng như sự quan tâm sâu sắc từ chính quyền địa phương trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, việc xử lý hành vi vi phạm đã giải quyết được rất nhiều trường hợp có hành vi vi phạm tại địa phương. Đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp khi đây là các đối tượng có khả năng gây ra nguồn thải lớn ra môi trường. Đồng thời, Bình Dương lại được coi là “thủ phủ của các khu công nghiệp”. Chính vì vậy, việc xử lý nghiêm khắc những trường hợp xả nước thải, chất thải hay bất kỳ vi phạm nào dẫn tới sự ô nhiễm nguồn nước sẽ được coi là bài học nhằm răn đe các trường hợp xảy ra. Từ đó, giúp cho nguồn nước tại đây có thể được phục hồi, mang lại những giá trị tích cực cho người dân.
Thứ ba, việc thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước không phải là nhiệm vụ của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào mà đó là nhiệm vụ của toàn xã hội. Chính vì vậy, tuyên truyền pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là công cụ giúp từng cá nhân hiểu và biết nhiệm vụ, vai trò của mình. Hoạt động này góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các toàn thể người dân, đặc biệt là những khu vực, địa bàn có nguồn nước ô nhiễm chảy qua, dẫn đến cuộc sống bị tác động khá nhiều bởi nguồn nước này. Theo đó, đây được coi là phương tiện giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này, đồng nghĩa với đó là việc cải thiện môi trường sống của chính bản thân họ, cải thiện nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cũng như sản xuất, kinh doanh. Qua đó, góp phần đưa đất nước ta ngày càng phát triển toàn diện.
2.3.2. Những khó khăn, vướng mắc Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì việc áp dụng quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng gặp không ít những khó khăn ảnh hưởng tới hoạt động quản lý, quá trình khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này. Theo đây, tác giả đưa ra một số những khó khăn, vướng mắc nổi bật được kể đến như sau:
Thứ nhất, qua thực tiễn áp dụng các quy định về lĩnh vực môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng có thể thấy một vấn đề nổi bật đó chính là hệ thống pháp luật quy định liên quan tới công tác này dàn trải ở rất nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho các chủ thể trong quá trình áp dụng. Cụ thể, tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Nghị định số 02/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước năm 2012, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và một số những văn bản pháp luật khác có liên quan. Vì vậy, đối với vấn đề này cần rà soát lại các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đang bị mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Ví dụ tại Điều 28 Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định khá cụ thể về trách nhiệm của từng cấp đối với hoạt động quan trắc tài nguyên nước bao gồm của Bộ TNMT, UBND cấp tỉnh và của các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. Trong khi đó, tại khoản 5 Điều 111 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về quan trắc nước thải chỉ đưa ra các trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Chính vì vậy, việc pháp luật quy định có sự mâu thuẫn như vậy sẽ rất khó khăn trong thực tế thực hiện các công việc có liên quan tới việc kiểm soát nguồn tài nguyên này. Do đó, trong thời gian tới cần phải tiến hành nhanh chóng việc rà soát và kịp thời có sự sửa đổi, hướng dẫn nội dung các quy định này cho thống nhất.
Thứ hai, một số quy định về kiểm kê tài nguyên nước; việc giám sát, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và báo cáo hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước tỉnh Bình Dương triển khai thực hiện còn gặp khó khăn. Cụ thể, đối với Đề án “Kiểm kê tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh” do chưa có thông tư hướng dẫn nội dung, biểu mẫu kiểm kê, báo cáo kết quả kiểm kê tài nguyên nước nên Sở TNMT đã tạm dừng thực hiện Đề án trên để đợi sau khi có thông tư hướng dẫn sẽ tiếp tục triển khai thực hiện. Đối với việc xây dựng đề cương Đề án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các vùng khan hiếm nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương”, do chưa có đơn giá thực hiện nên đã tạm dừng xây dựng để chờ có quy định về đơn giá. Với chế độ giám sát hoạt động khai thác nước dưới đất theo Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ TNMT thì các đơn vi ̣khai thác tài nguyên nước rất khó thực hiện, đặc biệt đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, hộ trồng trọt, chăn nuôi,… Vì hầu hết các đơn vị không có đủ nhân lực, chuyên môn và kinh phí đầu tư thực hiện. Việc yêu cầu các đơn vị xin phép xả nước thải vào nguồn nước thực hiện đánh giá khả năng tiếp nhận của nguồn nước cho từng hồ sơ theo quy định tại Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 với yêu cầu kỹ thuật cao, số lượng mẫu phân tích chất lượng nguồn tiếp nhận và nguồn thải nhiều sẽ gây khó khăn, tốn kém, lãng phí cho doanh nghiệp. Vì vậy, cần có thông tư, quy định hướng dẫn cụ thể, để tỉnh và các tổ chức, cá nhân có liên quan thuận lợi triển khai thực hiện, góp phần kiểm soát ô nhiễm nguồn nước đạt hiệu quả.
Thứ ba, đối với vấn đề phân công trách nhiệm của các chủ thể trong việc xử lý vi phạm liên quan tới kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Cần phải quy định rõ về trách nhiệm này đối với từng cơ quan, tổ chức có liên quan để hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan như hiện nay khiến cho kết quả của công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước chưa được cao và triệt để. Đặc biệt là trách nhiệm của Bộ TNMT, Sở TNMT cũng như sự phối hợp của cơ quan này với UBND và các cấp, ngành có liên quan nhằm giúp cho công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước đạt hiệu quả hơn.
Thứ tư, việc tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước sau cấp phép còn hạn chế. Theo đó, cần phải tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Đồng thời, thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, các buổi tọa đàm, trao đổi về kinh nghiệm, kỹ năng của cán bộ làm công tác này tại các địa phương khác nhau, nhất là những địa phương có xảy ra ô nhiễm nguồn nước. Cơ quan quản lý về tài nguyên nước cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nước và xả thải vào nguồn nước, theo dõi biến động về nguồn nước. Bên cạnh đó, tổ chức các kỳ kiểm tra đột xuất, nhất là các khu vực nguồn nước có dấu hiệu thay đổi bất thường, nhằm phát hiện một cách khách quan nhất về tình hình biến động về nguồn nước của địa phương. Qua đó, nếu có hành vi vi phạm gây ô nhiễm nguồn nước cũng được phát hiện và xử lý kịp thời.
Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục vận động người dân trên địa bàn về việc tuân thủ và thực hiện các yêu cầu về công tác bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng còn hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm của người dân. Hàng năm, Sở TNMT tỉnh tổ chức hưởng ứng Ngày Nước thế giới bằng các hoạt động như: Treo cờ, băng rôn, đặt standee tuyên truyền tại Trung tâm Hành chính tỉnh; đặt pa – nô tuyên truyền trên các tuyến đường chính, …; Theo đó, hoạt động này sẽ giúp người dân nhận thức được vai trò và tầm quan trọng trong hoạt động bảo vệ, kiểm soát và xử lý ô nhiễm nguồn nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
2.3.3. Nguyên nhân
Từ những khó khăn, bất cập nêu trên, tác giả cho rằng bất kỳ vấn đề nào xảy ra đều có những nguyên nhân nhất định. Đó có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan nhưng cho dù là nguyên nhân nào cũng có thể là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng của công tác kiểm soát, quản lý việc khai thác, sử dụng nguồn nước. Theo đây, tác giả đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những khó khăn, bất cập được kể đến như:
Thứ nhất, do hệ thống pháp luật của nước ta liên quan đến công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn chưa được hoàn thiện. Theo đó, có thể thấy những quy định liên quan tới kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn không tập trung vào một văn bản mà được quy định tại rất nhiều văn bản khác nhau bao gồm luật, nghị định, thông tư và những văn bản hướng dẫn khác. Bên cạnh đó, còn chưa kể đến việc những quy định này còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa cụ thể, không khả thi để triển khai trong thực tiễn, khiến cho việc áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là việc chưa áp dụng đúng và đủ khiến cho hiệu quả mà hoạt động này mang lại chưa cao, chưa giải quyết được triệt để các vấn đề xảy ra trên thực tế tại địa bàn.
Thứ hai, do các quy định về xử lý vi phạm liên quan tới kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn khá chung chung. Theo đó, đối với việc phân công trách nhiệm của các chủ thể còn chưa rõ ràng. Mặc dù theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012, Bộ TNMT chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước nhưng các quy định đó không làm rõ trách nhiệm của Bộ TNMT trong việc giúp Chính phủ. Chính vì vậy, trong thời gian tới để công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần thiết phải có sự sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm giúp cho việc phân công trách nhiệm về quản lý nhà nước về quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước đạt hiệu quả. Từ đó, tài nguyên nước được khai thác, sử dụng một cách hợp lý.
Thứ ba, do đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ làm công tác bảo vệ môi trường và đặc biệt là kiểm soát ô nhiễm nguồn nước còn mỏng, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm còn hạn chế đối với các hành vi cố tình vi phạm một cách tinh vi. Chính vì vậy, để giúp cho việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, cũng như quản lý việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lý. Trong thời gian tới Đảng và Nhà nước cần phải chú trọng tới vấn đề nhân lực này. Đây là một bộ phận có vai trò rất quan trọng mang đến những kết quả mà chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thứ tư, về việc xử lý vi phạm đối với các chủ thể có hành vi vi phạm hiện nay pháp luật quy định bên cạnh việc khắc phục hậu quả do hành vi đó gây ra thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm của hành vi mà có thể chịu các trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện trách nhiệm này chưa đạt được hiệu quả triệt để. Điều này có thể được giải thích bởi việc chưa có cơ chế phối hợp xử lý giữa các địa phương trong trường hợp nguồn nước có liên quan tới nhiều địa phương. Do đó, tạo nên sự bất cập trong quá trình xác định chính xác chủ thể này. Ngoài ra, các quy định về xử phạt còn nhẹ khiến chưa đủ sức răn đe đối với các chủ thể vi phạm, đặc biệt là trách nhiệm hình sự được áp dụng rất ít mà chủ yếu là hành chính nên các chủ thể này vẫn không quá chú trọng tới việc bảo vệ môi trường nói chung và nguồn nước nói riêng trong quá trình hoạt động. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
Thứ năm, do công tác tuyên truyền, phổ biến về tình hình ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng cũng như vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn tài nguyên này đối với đời sống chưa được chính quyền thật sự quan tâm sâu sắc. Bên cạnh đó, người dân thường coi đây là nhiệm vụ của chính quyền và các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn. Do đó, họ dửng dưng với sự ô nhiễm xảy ra, chỉ khi tình trạng ô nhiễm đã có ảnh hưởng tới cuộc sống của chính họ thì mới có phản hồi lên chính quyền khiến cho công tác giải quyết hầu như chỉ mang tính chất khắc phục hậu quả chứ chưa đề cao được tính phòng ngừa. Trong khi, đây chính là lực lượng nòng cốt để mang lại hiệu quả của công tác này. Chính vì vậy, việc tiếp cận và có hiểu biết pháp luật, đặc biệt là công kiểm soát ô nhiễm nguồn nước sẽ giúp cho các cá nhân, tổ chức chủ động hơn trong những hành động của mình, khi để xảy ra vi phạm thì có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.
Kết luận Chương 2
Ở Chương này tác giả phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, cụ thể là các nội dung pháp luật về quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; chủ thể tham gia pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; xây dựng, ban hành, công bố quy chuẩn kỹ thuật môi trường nước; cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước và xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Tại phần 2.2, tác giả phân tích về thực trạng áp dụng kiểm soát ô nhiễm nguồn nước qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương. Tác giả đưa ra một số những đánh giá về quá trình thực hiện công tác này để có thể thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo vệ công dân tại đây vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần phải khắc phục.
Từ đó, Chương 2 chính là cơ sở để đưa ra những giải pháp khắc phục, bổ sung các quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói chung và tại địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng được thể hiện ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước