Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, Việt Nam đang có những chuyển mình mạnh mẽ và sự khẳng định uy tín trên trường quốc tế. Các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng mở rộng phong phú và đa dạng. Cùng với sự phát triển hội nhập kinh tế quốc tế thì các mối quan hệ dân sự, việc gắn kết giữa công dân Việt Nam với công dân các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng khăng khít. Vì thế, hiện tượng hộ tịch có yếu tố nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều. Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài giúp nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời góp phần bảo đảm trật tự xã hội.

Trong thời gian vừa qua, các quy định điều chỉnh quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài ngày càng hoàn chỉnh. Việc thực hiện pháp luật đảm bảo thì pháp luật sẽ phát huy vai trò của nó trên thực tế, làm cho đời sống xã hội ổn định, trật tự; các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài được an toàn; bảo vệ được quyền và lợi ích của công dân việt nam cũng như tăng cường giao lưu quan hệ quốc tế. Thông qua việc thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài những hạn chế của pháp luật sẽ được bộc lộ, nhờ đó, pháp luật có thể được hoàn thiện một cách kịp thời.

Thành phố Hà Nội là Thủ đô của cả nước, là Trung tâm chính trị – hành chính, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế của cả nước nên tập trung lượng người nước ngoài sinh sống và làm việc rất đông, thêm vào đó Hà nội tập trung các cơ quan đại diện ngoại giao của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là nguyên nhân mà việc thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển và khẳng định vai trò của nó trong công tác quản lý nhà nước của Thủ đô Hà Nội.

Thời gian qua, trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn những thiếu sót và bộc lộ một số nhược điểm như: Việc quy định không rõ ràng hay không có sự tương đồng giữa các VBQPPL khác với Luật hộ tịch gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Ý thức thực hiện pháp luật của chủ thể thực hiện pháp luật chưa cao, Một số quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa phù hợp và đầy đủ…

Chính vì lý do trên, học viên chọn vấn đề “Thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học và góp phần hoàn thiện các quy định về vấn đề này, từ đó khắc phục những vi phạm pháp luật về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Có thể khẳng định rằng việc thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn, hơn nữa còn là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương và có hiểu biết sâu về pháp luật quốc tế. Có như vậy, nhà quản lý mới có thể áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của Nhà nước và pháp luật của quốc tế từ đó đưa ra các phương hướng giải quyết phù hợp, mang lại hiệu quả cao. Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng của cá nhân và tập thể được công bố:

  • Luận văn thạc sĩ:

Nguyễn Thị Kim Dung (2020), Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Thông qua luận văn Tác giả đã đưa ra khái niệm toàn diện về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở phân tích thực trạng thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, tìm ra những điểm còn tồn tại, hạn chế và đưa những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định trong pháp luật Việt Nam, làm tài liệu để cho các nhà làm luật tham khảo đưa vào các quy định cho hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. [40]

Nguyễn Thị Phương Dung (2021), Kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng pháp luật tại thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như khái niệm, đặc điểm, các quy định của pháp luật hiện hành…. Luận văn đã đưa ra nhận xét, đánh giá về các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến kết hôn có yếu tố nước ngoài, các vấn đề liên quan phát sinh mà pháp luật chưa có quy định để điều chỉnh Luận văn đã nêu được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc. Từ đó, luận văn kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài, giải pháp để tổ chức thực hiện các quy định pháp luật có hiệu quả trên địa bàn thành phố Hải Phòng. [41]

Nguyễn Minh Tú (2022), Thực trạng pháp luật và thực trạng giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Trong luận văn tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và hệ thống quy phạm pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, phân tích thực trạng và đưa ra các quan điểm, giải pháp.

Đỗ Đắc Tiến (2016), Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Học viện Khoa học xã hội. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Trong luận văn, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận về hộ tịch như khái niệm, đặc điểm, các quy định của pháp luật hiện hành…. Luận văn đã đưa ra nhận xét, đánh giá về các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến Hộ tịch, các vấn đề liên quan phát sinh mà pháp luật chưa có quy định để điều chỉnh. Luận văn đã nêu được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc. Từ đó, luận văn kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật hộ tịch, giải pháp để tổ chức thực hiện các quy định pháp luật có hiệu quả trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.

Phạm Thị Huệ (2016), Áp dụng pháp luật về hộ tịch qua thực tiễn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ. Luận văn đã hệ thống vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hộ tịch. Phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp để thực hiện tốt nội dung áp dụng pháp luật hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

  • Các tài liệu khác:

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Tài liệu Bồi dưỡng chuyên sâu về đăng ký, thống kê hộ tịch (2021). Tài liệu gồm các chuyên đề về hộ tịch được trình bày thống nhất từ cơ sở pháp lý đến phần nội dung. Mỗi chuyên đề đều có các câu hỏi thảo luận và tình huống cụ thể. Bên cạnh đó, tài liệu cũng cung cấp một số biểu mẫu và hướng dẫn chi tiết cách ghi biểu mẫu.

Bộ Tư pháp, Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã và cấp huyện (2019). Tài liệu cung cấp hệ thống các quy định pháp luật, hướng dẫn các tình huống chuyên môn nghiệp vụ cụ thể cho công chức Tư pháp trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong đó có hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền cấp huyện.

Nguyễn Công Khanh (2020), Hộ tịch cẩm nang nghiệp vụ, NXB Tư pháp, Hà Nội. Tác giả hệ thống lại vấn đề lý luận và quy định pháp luật và các tình huống về nghiệp vụ hộ tịch.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích toàn diện những vấn đề liên quan đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch từ lý luận đến thực tiễn và một số công trình nghiên cứu có so sánh với các quy định về hộ tịch một số nước, qua đó đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả việc thực hiện pháp luật hộ tịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc giao lưu hợp tác giữa các quốc gia ngày càng được tăng cường và mở rộng, cùng với đó việc phân cấp đăng ký, quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ thẩm quyền cấp tỉnh, nay thuộc thẩm quyền cấp quận theo Luật Hộ tịch. Đến nay chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về đề tài: “Thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội”.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề chủ yếu như sau:

Một là, hệ thống, phân tích các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện như khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội; ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân.

Ba là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Luận văn nghiên cứu lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện; thực tiễn thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.

  • Phạm vi: Thời gian 2019 đến 2022
  • Không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nội dung: Trong thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài, luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện pháp luật trong khai sinh, kết hôn, khai tử và nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch. Đồng thời, đưa ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế còn xảy ra và đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Để hoàn thành luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

  • Phương pháp hệ thống: Giúp hệ thống lại các kiến thức về Pháp luật Hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện, tạo tiền đề phát triển phân tích thực trạng hiện nay.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp các quy định pháp luật, phân tích chi tiết để hiểu rõ hơn về các quy định Pháp luật Hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê quy định pháp luật, thực trạng thực tiễn hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội. So sánh các điểm giống và khác nhau về pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trước và nay.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Từ những phân tích, thống kê, so sánh để tổng kết được những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

6.2. Về mặt thực tiễn

Luận văn có giá trị tham khảo hữu ích trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch nói chung và pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng. Bên cạnh đó, các giải pháp mà học viên đưa ra có thể được các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện nay.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu và kết thúc thì luận văn kết cấu gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện.
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI CẤP HUYỆN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

“Hộ tịch” là một trong các thuật ngữ quen thuộc trong đời sống hiện nay. Tuy nhiên, đến nay vẫn tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”.

Dưới góc độ ngôn ngữ, “Hộ tịch” được hiểu theo các nghĩa khác nhau trong các Từ điển Hán – Việt của nhiều tác giả, cụ thể:

Theo tác giả Nguyễn Văn Khôn viết tại Hán – Việt từ điển thì khái niệm Hộ tịch được hiểu là: “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Trong Từ điển tiếng Việt thì khái niệm Hộ tịch được nêu rõ hơn: “Hộ tịch là các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật, đăng ký hộ tịch, khai báo hộ tịch với công an khu phố”.

Giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa là tài liệu đầu tiên định nghĩa thuật ngữ “Hộ tịch” dưới góc độ pháp lý, trong đó tiêu biểu là quan điểm của một số tác giả sau:

Quan điểm “Hộ tịch – hay còn gọi là nhân thế bộ là cách sinh hợp pháp của một người trong gia đình và xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” được trình bày trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 của Tác giả Phan Văn Thiết. Theo đó, Tác giả Phan Văn Thiết cũng có thể coi là người đầu tiên nêu lên quan niệm về “Hộ tịch”.

Các tác giả Lê Đình Chân, Vũ Văn Mẫu lại đưa ra các quan điểm khác về khái niệm “Hộ tịch”: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”.

  • Ngoài ra, Hộ tịch còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.

Trước đây, khái niệm “Hộ tịch” hoàn toàn không dễ định nghĩa rõ ràng. Trên thực tế, đã có những cuộc thảo luận, những hội thảo về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng và dễ hiểu hơn. Trải qua quá trình lịch sử và phát triển, đến nay khái niệm này đã trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu vào trong nhận thức của nhân dân nên các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng định nghĩa này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản.

Tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 đến Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký hộ tịch như sau: “đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh…” [17]. Ngoài ra, Nghị định số 83/1998/NĐ- CP cũng quy định hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định. Với cách định nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” sẽ chính xác hơn chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch”. Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chưa xác định được rõ ràng nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “Hộ tịch”. [14]

  • Kế thừa từ các khái niệm về Hộ tịch của những người đi trước, Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

“Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết”. [48] Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Để hiểu rõ hơn về khái niệm hộ tịch, chúng ta cần biết được khái niệm đăng ký hộ tịch là gì. Đăng ký hộ tịch được định nghĩa rõ tại khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014: 2. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.” .

  • Nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm các nội dung sau:

Nội dung về xác nhận: Vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử.

Nội dung về ghi chú hộ tịch: Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch khác của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (khai sinh; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; khai tử; thay đổi hộ tịch).

Ngoài ra, còn có nội dung: Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, với sự kết hợp giữa khái niệm hộ tịch và đăng ký hộ tịch, chúng ta mới hiểu một cách đầy đủ khái niệm hộ tịch, những sự kiện hộ tịch của một con người từ khi sinh ra đến khi chết là những sự kiện nào thì khái niệm đăng ký hộ tịch đã chỉ rõ.

Từ những phân tích trên có thể hiểu Hộ tịch là những sự kiện cơ bản của nhân thân một con người từ khi sinh ra đến khi chết, bao gồm: các thông tin về khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, giám hộ, chấm dứt việc giám hộ; nhận cha, mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc; ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi.

Khái niệm “yếu tố nước ngoài” là một trong những thuật ngữ của Tư pháp quốc tế, dùng để chỉ những yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật mà những yếu tố đó có liên quan đến nước ngoài (theo Từ điển Luật học).

  • Yếu tố nước ngoài trong pháp luật hộ tịch bao gồm: Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Chủ thể: là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các sự kiện hộ tịch phát sinh ở Việt Nam, ví dụ như: việc sinh, việc kết hôn, việc tử của người nước ngoài tại Việt Nam.

Người nước ngoài ở đây được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài, trong một số trường hợp người nước ngoài đồng thời có cả quốc tịch Việt Nam. Người nước ngoài còn là người không quốc tịch. Hay một bên đương sự là người Việt Nam còn bên kia là người nước ngoài. Giữa người Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài.

  • Yếu tố sự kiện pháp lý:

Sự kiện đăng ký hộ tịch giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài.

Hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động đăng ký quản lý thông tin nhân thân bao gồm: các thông tin về khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, giám hộ, chấm dứt việc giám hộ; nhận cha, mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc; ghi vào sổ hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài của của công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài từ khi sinh ra đến khi chết.

Theo Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, khái niệm thực hiện pháp luật có thể hiểu là: “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình thực hiện hóa các quy định của pháp luật”. [32]

Đăng ký, quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động có mục đích của các cơ quan đăng ký hộ tịch, của các chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc thực hiện xác lập mối quan hệ pháp luật về hộ tịch, làm cho các quy định pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài đi vào đời sống và trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài còn là quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, người nước ngoài (đang cư trú tại Việt Nam hoặc sinh sống tại nước ngoài) và người Việt Nam ở nước ngoài. Họ có nghĩa vụ khai báo, đăng ký về những sự kiện hộ tịch phát sinh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực hiện pháp luật về hộ tịch được thể hiện thông qua hành vi của công dân Việt Nam, của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các hành vi này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, luôn phù hợp với các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Có thể hiểu thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong việc xác lập các quan hệ về hộ tịch, làm cho các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đi vào đời sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các cơ quan nhà nước và của các chủ thể tham gia.

Chủ thể thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài gồm cơ quan đăng ký hộ tịch cấp huyện, các chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài và người Việt Nam định cư tại nước ngoài.

Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu khái niệm Thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện là hoạt động có mục đích của các cơ quan đăng ký hộ tịch cấp huyện, của các chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc thực hiện xác lập mối quan hệ pháp luật về hộ tịch, làm cho các quy định pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện đi vào đời sống và trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện.” Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.1.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là một lĩnh vực thực hiện pháp luật, ngoài những đặc điểm của thực hiện pháp luật nói chung như:

Thực hiện pháp luật bằng hành vi: Hành vi là hành động và các cư xử được các cá nhân, sinh vật, hệ thống hoặc thực thể nhân tạo thực hiện kết hợp với chính họ hoặc môi trường của họ. Thực hiện pháp luật bằng hành vi gắn liền với chế độ trách nhiệm pháp lý của chủ thể.

Thực hiện pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu theo quy định pháp luật: thực hiện pháp luật trước hết và cơ bản là thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp được pháp luật quy định đối với chủ thể. Việc thực hiện pháp luật trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội là khác nhau. Như vậy, pháp luật cần đưa ra yêu cầu cho từng lĩnh vực: Về nhận thức với nội dung pháp luật, về thời hạn, an ninh xã hội…

Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích cụ thể: mục đích thực hiện pháp luật của chủ thể là phạm trù mang tính tổ chức hoặc cá nhân và tùy thuộc vào từng lĩnh vực mà thể hiện hình thức thực hiện pháp luật có mục đích không giống nhau, có tính rõ ràng đảm bảo thực hiện pháp luật có tác dụng lâu dài.

  • Mục đích trước hết là đáp ứng nhu cầu của các chủ thể.

Thực hiện pháp luật thông qua quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được xác lập, tồn tại, phát triển hay chấm dứt trên cơ sở quy định của các quy phạm pháp luật. Quan hệ pháp luật là kết quả của việc thực hiện pháp luật và ngược lại quan hệ pháp luật là môi trường, điều kiện cần thiết cho quá trình thực hiện pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật được đảm bảo bằng các biện pháp của Nhà nước vì pháp luật là sản phẩm của Nhà nước tạo nên. Thực hiện pháp luật vừa là một trong những hình thức hoạt động chủ yếu của Nhà nước vừa là trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội, đối với việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người và quyền công dân.

1.1.2.1. Đặc điểm về chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện gồm: UBND cấp huyện, công chức phòng Tư pháp, công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Chủ thể thứ nhất: UBND cấp huyện, công chức phòng Tư pháp Luật Hộ tịch năm 2014 quy định thẩm quyền thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện tại Chương III về đăng ký hộ tịch (gồm 7 mục, 18 Điều, từ Điều 35 đến Điều 52).

Chương này quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc quản lý nhà nước về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại địa phương và thực hiện xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch việc khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử.

Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Để thực hiện cải cách hành chính, thuận lợi cho người dân trong việc đăng ký giải quyết thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện thì UBND thành phố Hà Nội phương án ủy quyền theo Quyết định 4610/QĐ-UBND ngày 22/11/2022. Đến nay, 30/30 quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội đã thực hiện ủy quyền cho Trưởng phòng Tư pháp ký giải quyết TTHC đối với 16 TTHC thuộc lĩnh vực hộ tịch trong đó có các Thủ tục hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Việc này tạo điều kiện cho công chức và người dân khi tham gia quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch tham mưu lãnh đạo phòng Tư pháp, lãnh đạo UBND cấp huyện thực hiện việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Chủ thể thứ hai có vai trò hết sức quan trọng đó là cá nhân, công dân khi thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài thông qua việc đăng ký các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại UBND cấp huyện như: khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận cha mẹ con… Khi các cá nhân, công dân có ý thức tốt trong thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài thì việc thực hiện pháp luật của UBND cấp huyện sẽ đảm bảo đúng pháp luật, nhanh chóng, thuận lợi. Còn nếu ý thức pháp luật của cá nhân, công dân bị hạn chế hoặc có những sai phạm (dù vô tình hay cố ý) cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế đến thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài của UBND cấp huyện nói chung.

1.1.2.2. Đặc điểm về phạm vi không gian, thời gian của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Hiện nay, khi cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang bùng nổ khi mà nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển thì sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài không chỉ diễn ra trong lãnh thổ của Việt Nam và tại một thời điểm xác định mà còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Do đó, sự kiện của một cá nhân không chỉ liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước của UBND cấp huyện nơi người đó cư trú mà còn liên quan đến nơi cư trú của chủ thể tại nước ngoài, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Về thời gian, thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài không chỉ liên quan đến các sự kiện hộ tịch mới phát sinh mà còn liên quan đến nhiều sự kiện hộ tịch xuất hiện từ rất lâu trong quá khứ (như: thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch của công dân Việt Nam hiện đang cư trú tại nước ngoài hay đăng ký việc nhận cha, mẹ con của người nước ngoài tại Việt Nam). Việc thực hiện những thủ tục này lại phải dựa trên cơ sở dữ liệu hộ tịch đã đăng ký trước đây, căn cứ do người đăng ký hộ tịch cung cấp và quy định pháp luật để thực hiện. Việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài phải tuân theo trình tự, thủ tục, thời hạn do pháp luật quy định.

1.1.2.3. Đặc điểm về mục đích thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Mỗi chủ thể trong thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đều hướng đến mục đích cụ thể. Các chủ thể tham gia thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài không nhằm yếu tố về vật chất hoặc lợi nhuận mà mục đích chủ yếu của họ là bảo vệ các quyền về nhân thân và bảo đảm trật tự xã hội.

Mục đích của việc thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài của UBND cấp huyện là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và người nước ngoài trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam, các Hiệp định tương trợ Tư pháp mà Việt Nam tham gia ký kết và các Điều ước Quốc tế, các quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND cấp huyện trong thực hiện luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Mục đích các chủ thể khác đó là cá nhân, công dân khi thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài thông qua việc đăng ký các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại UBND cấp huyện mục đích của họ là bảo vệ quyền nhân thân

Vì các mục đích mà các chủ thể thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài hướng đến tạo điều kiện cho cơ quan đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói chung và UBND cấp huyện nói riêng thực hiện tốt các quy định đảm bảo cho pháp luật được thực thi, đảm bảo cho quyền lợi các chủ thể; hạn chế được các tiêu cực khi thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là cơ sở để Nhà nước xây dựng các chính sách về dân cư, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, quản lý xuất nhập cảnh.

Trong công tác quản lý nhà nước tại UBND cấp huyện thì việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là việc làm thường xuyên, nó thể hiện chức năng quản lý xã hội của nhà nước nhằm theo dõi thực trạng di biến động của tình trạng hộ tịch của công dân Việt Nam, người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, qua đó bảo vệ quyền và hợp ích hợp pháp của các chủ thể tham gia, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về dân cư, xuất nhập cảnh, kinh tế, an ninh, quốc phòng, y tế, giáo dục, dân số kế hoạch hóa gia đình.

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (bao gồm cơ sở dữ liệu hộ tịch trong nước và dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài) có sự kết nối với cơ sở dữ liệu về dân cư là một trong yếu tố tạo nên cơ sở dữ liệu về quốc gia đầy đủ, thống nhất, chính xác và thường xuyên được cập nhật. Đây là nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng của Nhà nước, qua đó Nhà nước xây dựng các chính sách có tính khả thi cao, tiết kiệm được chi phí cho xã hội. Cơ sở dữ liệu hộ tịch cho phép cơ quan quản lý của nhà nước nắm bắt được các thông tin về dân số như: cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú, tỷ suất sinh, chết, tình trạng hôn nhân, quốc tịch… tại mỗi thời điểm khác nhau để thực hiện cho việc xây dựng các chính sách trung và dài hạn trong phát triển kinh tế – xã hội, an sinh xã hội, di dân….

Thứ hai, thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo các quyền con người, quyền nhân thân.

Như đã phân tích ở trên “yếu tố nước ngoài” trong pháp luật về hộ tịch bao gồm: người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam bao gồm: người có một quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Theo đó, đề cập đến quyền và nghĩa vụ dành cho người nước ngoài phải được hiểu đầy đủ bao gồm dành cho những người là công dân của một hay nhiều quốc gia khác và những người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Hiến pháp năm 2013, khi xác định quyền và nghĩa vụ của “người nước ngoài”, bên cạnh tiếp cận theo thuật ngữ “người nước ngoài” như ở các văn bản quy phạm pháp luật đã đề cập ở trên còn phải tiếp cận thông qua thuật ngữ “mọi người”. Thực chất, nội hàm của khái niệm “mọi người” trong các quy định của Hiến pháp bao trùm tất cả các nhóm chủ thể bao gồm cả công dân và người nước ngoài. Điều 18 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Điểm sáng của Hiến pháp năm 2013 khi lần đầu tiên một số quyền trước đây chỉ dành cho công dân Việt Nam hiện nay đã dành cho cả người nước ngoài bởi sự nhận thức đầy đủ, tiến bộ và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đang là thành viên về những quyền không chỉ dành cho riêng ai mà là quyền dành cho tất cả mọi người. Vì vậy công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi tham gia thực hiện pháp luật về hộ tịch họ có quyền đối với họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền xác định quốc tịch, quyền kết hôn, quyền khai sinh, khai tử….Đăng ký hộ tịch là phương tiện để thực hiện các quyền đó; việc đăng ký hộ tịch của UBND cấp huyện là sự bảo hộ của nhà nước Việt Nam đối với việc thực hiện các quyền của con người, là sự thể hiện sâu sắc chức năng quản lý xã hội của Nhà nước.

Thứ ba, thực hiện pháp luật Hộ tịch có yếu tố nước ngoài góp phần tuân thủ pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Điều ước Quốc tế, các Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.

Thực hiện pháp luật Hộ tịch có yếu tố nước ngoài góp phần tuân thủ các quy định của các điều ước quốc tế đã được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật trong nước. Thực tế khi thực hiện các quy phạm pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã thể hiện rõ việc tuân thủ pháp luật của nước Việt Nam và pháp luật của nước mà công dân mang quốc tịch, được thể hiện tại các quy định về việc “miễn hợp pháp hóa lãnh sự” đối với công dân tại các nước mà Việt Nam có tham gia ký kết song phương về Hiệp định tương trợ Tư pháp, hoặc “hợp pháp hóa lãnh sự” đối với các giấy tờ dân sự của các nước chưa được ký hiệp định tương trợ tư pháp.

Thứ tư, thực hiện pháp luật Hộ tịch có yếu tố nước ngoài góp phần ổn định xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, đấu tranh phòng chống tội phạm.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị- xã hội, trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, các cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế và mọi công dân phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo Hiến pháp và pháp luật.

Do đối tượng điều chỉnh của pháp luật về “Hộ tịch có yếu tố nước ngoài” là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống làm việc tại Việt Nam, người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam. Vì vậy, các đối tượng điều chỉnh của pháp luật về “Hộ tịch có yếu tố nước ngoài” khi tham gia thực hiện pháp luật hộ tịch tại Việt Nam thì phải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, cho dù họ có địa vị pháp lý như thế nào.

Thông qua cơ sở dữ liệu hộ tịch, đã lưu giữ đầy đủ các thông tin của mỗi cá nhân như: ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, tên cha, mẹ, quan hệ hôn nhân… ngoài việc phục vụ cho công tác quản lý về dân cư, các giấy tờ này còn được sử dụng làm chứng cứ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm như xác định độ tuổi của tội phạm căn cứ vào giấy khai sinh của kẻ phạm tội…

1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.2.1. Chủ thể có trách nhiệm trong thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Để việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đảm bảo đúng quy định, hiệu quả vào đem lại ý nghĩa trong thực tiễn đời sống, Luật Hộ tịch năm 2014 đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân từ Trung ương (Chính phủ, Bộ Tư pháp) đến địa phương (UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện), cá nhân như: Công chức thực hiện đăng ký hộ tịch cấp huyện cụ thể như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tư pháp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện nói riêng. Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm: Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch; Ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; xây dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; thống kê hộ tịch; hợp tác quốc tế về hộ tịch.

Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch: Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch ở trong nước; ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch và các biểu mẫu hộ tịch khác; quy định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động; xây dựng và quản lý thống nhất Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; hướng dẫn, chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, sử dụng phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; hằng năm tổng hợp, phân tích, đánh giá, thống kê hộ tịch báo cáo Chính phủ.

Thứ hai, Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, thành phố Trực thuộc Trung ương

Thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương: Căn cứ quy định của Chính phủ, quyết định việc bố trí công chức làm công tác hộ tịch ở cấp huyện, bảo đảm cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch tại cấp huyện ; thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trái quy định của của pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện: Hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài điện tử theo quy định; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện theo quy định. Định kỳ tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức phòng Tư pháp thuộc cấp huyện. Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch có yếu tố nước ngoài báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói chung và hộ tịch nước ngoài tại cấp huyện nói riêng và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.

Thứ ba, trách nhiệm UBND cấp huyện trong thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương: Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bố trí công chức làm công tác hộ tịch; Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật Hộ tịch; tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài; quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo thẩm quyền; tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch có yếu tố nước ngoài báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ; lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Thứ 4, trách nhiệm của công chức Tư pháp thực hiện việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ tịch. Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp huyện và pháp luật về việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử;

Thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật để nâng cao năng lực và nghiệp vụ đăng ký hộ tịch; tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan tư pháp cấp trên tổ chức;

Chủ động báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp phối hợp với cơ quan, tổ chức kiểm tra, xác minh về thông tin hộ tịch; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin để xác minh khi đăng ký hộ tịch; phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Thứ năm, trách nhiệm cá nhân, công dân khi thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Đăng ký các sự kin hộ tịch của bản thân kịp thời tại cơ quan có thẩm quyền, cung cấp đầy đủ thông tin, hồ sơ theo quy định. Tuân thủ các quy định của pháp luật, không vi phạm các điều cấm khi thực hiện đăng ký hộ tịch.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài, UBND cấp huyện cần tuân thủ điều kiện về các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp. Theo đó giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc xác nhận để sử dụng cho việc đăng ký hộ tịch tại Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng việt và công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Nội dung chính về thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.2.2.1. Thực hiện pháp luật về đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì “trẻ em khi sinh ra có quyền khai sinh”. Khai sinh là sự kiện hộ tịch đầu tiên gắn với quyền con người.

Quyền khai sinh là quyền nhân thân quan trọng và được quy định tại Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi quy định về quyền khai sinh của cá nhân, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng được bổ sung khoản 3 quy định về điều kiện để được làm thủ tục khai sinh. Cụ thể là trẻ em sinh ra và sống được từ 24 giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh; nếu sinh ra và chết trong vòng 24 giờ thì chỉ thực hiện khai sinh cho đứa trẻ nếu cha, mẹ có yêu cầu. Như vậy, nội dung về quyền được khai sinh của cá nhân đã được cụ thể hóa hơn, phù hợp hơn với thực tiễn đời sống xã hội.

Thủ tục đăng ký khai sinh được quy định rõ tại Mục 1 Chương III Luật Hộ tịch năm 2014 về đăng ký Hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài là trách nhiệm của UBND cấp huyện trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch. Nội dung đăng ký khai sinh là việc UBND cấp huyện xác định các thông tin như: họ và tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc… và mã số định danh của cá nhân (nếu cha, mẹ hoặc người được ủy quyền của cha mẹ khi định đăng ký khai sinh lựa chọn quốc tịch nước ngoài thì không được cấp mã số định danh cá nhân). Một người khi được UBND cấp huyện cấp giấy khai sinh họ chính thức trở thành công dân (là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài), được xác lập mối quan hệ giữa nhà nước với công dân.

Trường hợp khi đi đăng ký khai sinh, cha và mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con là Việt Nam thì việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên con quá dài, khó sử dụng.

Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014, khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2015, Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 28/5/2020.

  • Điều 6. Nội dung khai sinh Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:

  1. Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.
  2. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.” (Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP)

Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.

Khi đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, UBND cấp huyện phải tuân thủ đầy đủ các quy định về đăng ký khai sinh như: thẩm quyền, thành phần hồ sơ, trình tự thủ tục giải quyết, thời hạn giải quyết và kết quả…..Các nội dung này được quy định cụ thể và chi tiết tại Luật Hộ tịch ban hành năm 2014, có hiệu lực từ 01/01/2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em trong các trường hợp sau đây:

Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam (bao gồm: có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch);

Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam (bao gồm: Có cha và mẹ là công dân Việt Nam; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam).

Ngoài ra, để đảm bảo mọi cá nhân khi sinh ra đều có quyền được khai sinh, pháp luật về hộ tịch còn quy định về việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp đặc biệt sau: đăng ký khai sinh kết hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài; đăng ký lại khai sinh có yếu tố nước ngoài; đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân.

1.2.2.2. Thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài. Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.

Hành vi đăng ký kết hôn vừa là quyền, là nghĩa vụ và là trách nhiệm của công dân khi thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài, UBND cấp huyện khi xét thấy các bên đủ điều kiện đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều cấm về đăng ký kết hôn của mỗi nước thì UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam, người nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn và tổ chức trao đăng ký kết hôn. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nêu rõ rằng:

Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.” Như vậy, để đăng ký kết hôn với người nước ngoài thì mỗi bên phải đáp ứng được điều kiện kết hôn của nước mình. Đồng thời, trường hợp đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài cần phải tuân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn, cụ thể tại Khoản 2 Điều 5 và Điều 8:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  • Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có giấy tờ cho phép cư trú do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp.

Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình, gồm:

  • Kết hôn giả tạo;
  • Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ;

Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Ngoài ra, UBND cấp huyện còn thực hiện việc đăng ký lại kết hôn có yếu tố nước ngoài khi có xác nhận của Cơ quan Đại diện về tình trạng sổ đăng ký kết hôn. Khi thực hiện đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, UBND cấp huyện tuân thủ đầy đủ các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục, thời gian giải quyết.

Thủ tục đăng ký kết hôn phải tuân thủ theo quy định tại Điều 38 Luật Hộ tịch năm 2014, cụ thể:

  • “Điều 38. Thủ tục đăng ký kết hôn Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Chính phủ quy định bổ sung giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, việc phỏng vấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.”

1.2.2.3. Thực hiện pháp luật về đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện

Khai tử là thủ tục pháp lý xác nhận việc kết thúc tồn tại của một cá nhân về mặt pháp lý, đồng thời bắt buộc chấm dứt quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người đã mất…

Khai tử là quyền nhân thân của mỗi người. Tại Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định : “1. Khi có người chết thì người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, tổ chức nơi có người chết phải khai tử cho người đó. 2. Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử, nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử”.

Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục duy trì và bổ sung quy định về quyền được đăng ký khai tử tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015: “ 2. Cá nhân chết phải được khai tử. 3. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Quyền khai tử là một trong những quyền nhân thân của cá nhân. Đăng ký khai tử chính là cơ sở để chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân đã chết.

Khi người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam mà không có người thân thì các cơ quan chức năng (hoặc theo ủy quyền) đến UBND cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Đăng ký khai tử là việc UBND cấp huyện, Cơ quan đại diện xác nhận một công dân đã chết căn cứ vào các giấy tờ, thông báo của cơ quan có thẩm quyền về nguyên nhân chết: do đau ốm, tai nạn, bệnh tật, già yếu hoặc các nguyên nhân khác. Cán bộ phòng Tư pháp cấp huyện, viên chức ngoại giao ghi vào sổ đăng ký khai và cấp cho người đi khai tử bản chính và một số bản sao. Việc khai tử cho công dân là cơ sở chấm dứt các quan hệ pháp lý giữa người chết với xã hội và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thân người chết (nếu có); việc đăng ký lại khai tử có yếu tố nước ngoài cũng được thực hiện tại UBND cấp huyện và phải có các giấy tờ chứng minh trước đây đã đăng ký khai tử.

Về thời hạn và trách nhiệm khi đi đăng ký khai tử, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết được quy định tại Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành.

1.2.2.4. Thực hiện pháp luật đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện

Việc nhận cha, mẹ, con là quyền của công dân nhằm mục đích bảo đảm cho đứa trẻ nhận được sự chăm sóc tốt nhất, đảm bảo cho trẻ có được một gia đình thực sự để hoàn thiện nhân cách học tập và phát triển trong một môi trường giáo dục tốt nhất. Đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau cần nộp giấy tờ, đồ vật; văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền xác nhận quan hệ cha – con, quan hệ mẹ – con hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Khi có đủ điều kiện như người nhận và người được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ con. Việc nhận cha, mẹ, con hoàn toàn tự nguyện và không có tranh chấp. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam.

  • Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại UBND cấp huyện theo Điều 44 Luật Hộ tịch 2014 như sau:

Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai đăng ký nhận cha mẹ con và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con bao gồm: Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở UBND cấp huyện trong thời gian 07 ngày liên tục,

Đồng thời gửi văn bản đề nghị UBND cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở UBND cấp xã.

Phòng Tư pháp báo cáo và đề xuất Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết.

Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt; công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch UBND cấp huyện cấp trích lục cho các bên.

1.2.2.5. Thực hiện pháp luật về thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc ở cấp huyện

Phạm vi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm các nội dung sau:

Pháp luật Việt Nam có quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợp thay đổi họ, thay đổi tên của vợ, của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ, tên trước khi thay đổi

  • Cải chính các nội dung đã được đăng ký trong sổ khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót trong khi đăng ký.
  • Xác định lại dân tộc của người con theo dân tộc của cha hoặc dân tộc của mẹ theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Bổ sung hộ tịch là bổ sung các nội dung chưa được đăng ký trong sổ khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

Khi cá nhân có đủ các yêu cầu, điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người yêu cầu mang quốc tịch thì UBND cấp huyện nơi cư trú của người yêu cầu thực hiện việc thay đổi, cải chính, bổ sung, xác định lại dân tộc có yếu tố nước ngoài. UBND cấp huyện thẩm định hồ sơ, điều kiện thực hiện việc thay đổi, cải chính, bổ sung, xác định lại dân tộc có yếu tố nước ngoài, nếu đúng quy định về trình tự, thủ tục thì cấp trích lục thay đổi cải chính, bổ sung, xác định lại dân tộc có yếu tố nước ngoài cho công dân.

Người yêu cầu thực hiện việc thay đổi, cải chính, bổ sung, xác định lại dân tộc có yếu tố nước ngoài có thể ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện.

1.2.3. Các hoạt động bổ trợ cho thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.2.3.1. Hoạt động vào sổ sách, cập nhật dữ liệu và lưu trữ sổ sách, hồ sơ đăng ký hộ tịch

Hiện nay, Việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện đang thực hiện 02 phương thức lập và lưu trữ sổ hộ tịch. Đó là lập và lưu trữ sổ hộ tịch giấy và cập nhật và lưu trữ hộ tịch điện tử

Thứ nhất, việc lập khóa sổ và lưu trữ sổ hộ tịch

  • Cơ quan đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài sẽ thực hiện lập sổ hộ tịch:
  • Sổ hộ tịch được lập thành 01 quyển theo từng loại việc hộ tịch được đăng ký,

Cơ quan đăng ký hộ tịch sử dụng sổ hộ tịch để ghi những việc hộ tịch được đăng ký bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 cho đến hết ngày 31 tháng 12 của năm. Công chức làm công tác hộ tịch phải khóa Sổ hộ tịch; thống kê đầy đủ, chính xác và ghi tổng số việc hộ tịch đã đăng ký của năm trước vào trang liền kề với trang đăng ký cuối cùng của năm; ký, ghi rõ họ tên, chức danh; báo cáo Thủ trưởng cơ quan đăng ký hộ tịch ký, đóng dấu xác nhận.

Về lưu trữ Sổ hộ tịch: Sổ hộ tịch đăng ký các nội dung hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện là tài sản quốc gia, được lưu trữ vĩnh viễn theo quy định của pháp luật về lưu trữ, UBND cấp huyện lưu giữ Sổ hộ tịch có trách nhiệm bảo quản, khai thác, sử dụng Sổ hộ tịch theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp an toàn, chống cháy nổ, bão lụt, ẩm ướt, mối mọt.

Ghi vào Sổ hộ tịch nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch: Để các thông tin hộ tịch của công dân được cập nhật đồng bộ, chính xác cơ quan đăng ký hộ tịch cần ghi vào sổ các nội dung thay đổi, cải chính, bổ sung. Ngay sau khi nhận được thông báo kèm theo bản sao trích lục hộ tịch công chức làm công tác hộ tịch căn cứ bản sao trích lục ghi đầy đủ nội dung thay đổi, cải chính vào Sổ hộ tịch, bao gồm: Số, ngày, tháng, năm; tên cơ quan cấp; họ, tên người ký trích lục hộ tịch; báo cáo Thủ trưởng cơ quan đăng ký hộ tịch ký, đóng dấu xác nhận. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Trường hợp Sổ hộ tịch đã được chứng thực chuyển lưu theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Nghị định này thì công chức làm công tác hộ tịch phải báo cáo bằng văn bản kèm bản chụp trích lục hộ tịch cho cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên để ghi tiếp nội dung thay đổi, cải chính vào bản sao Sổ hộ tịch tương ứng. Cơ quan tiếp nhận bản sao Sổ hộ tịch có trách nhiệm ghi nội dung thay đổi, cải chính vào bản sao Sổ hộ tịch tương ứng; Thủ trưởng cơ quan ký, đóng dấu xác nhận về nội dung đã ghi.

Thủ trưởng cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch nhận được văn bản thông báo mà không thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch hoặc có trách nhiệm thông báo mà không thực hiện thông báo và gửi bản sao trích lục hộ tịch theo quy định tại Khoản 3 Điều 28 của Luật Hộ tịch phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin hộ tịch sai lệch theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, Cập nhật dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

UBND cấp huyện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài sử dụng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung có trách nhiệm cập nhật dữ liệu thông tin hộ tịch của cá nhân và thông tin hộ tịch của cha, mẹ, vợ hoặc chồng của cá nhân khi có sự biến động do kết hôn, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc; nhận cha, mẹ, con; giám hộ; nuôi con nuôi; khai tử; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Khi nhận được giấy tờ hộ tịch hoặc nhận được thông tin thông qua hệ thống điện tử về việc biến động thông tin hộ tịch theo quy định pháp luật thì cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch trong trường hợp thông tin hộ tịch có biến động chưa được cập nhật thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung, ghi chú thông tin hộ tịch có biến động vào Sổ hộ tịch tương ứng ngay trong ngày làm việc. Trường hợp nhận được giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin sau 15h00 thì thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo.

Chủ tịch UBND cấp huyện, trưởng phòng Tư pháp có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát việc cập nhật dữ liệu của cơ quan mình; Sở Tư pháp có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát việc cập nhật dữ liệu của cơ quan đăng ký hộ tịch cấp huyện.

1.2.3.2. Hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện.

Hoạt động tuyên truyền pháp luật cho các tổ chức, các nhân, chủ thể khi thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hết sức quan trọng. Bởi các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài cần được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; giúp đảm bảo quyền con người, quyền nhân thân, quyền công dân của mỗi cá nhân cũng như giúp nhà nước quản lý và hoạch định chính sách.

Vì vậy, việc tuyên truyền pháp luật có yếu tố nước ngoài giúp các cá nhân, tổ chức có liên quan nâng cao nhận thức về pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ đó hình thành ý thức pháp luật có yếu tố nước ngoài từ đó đi đến thực hiện đúng các quy định.

1.2.3.3. Giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan đến thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Ủy ban nhân dân cấp huyện ngoài việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài như: đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, ghi chú các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam ở nước ngoài, còn thực hiện việc cấp bản sao trích lục hộ tịch đã được cấp huyện đăng ký, thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch; lưu trữ, bảo quản sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch, báo cáo thống kê hộ tịch có yếu tố nước ngoài, quản lý, cập nhật cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì còn phải giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Để đảm bảo quyền người dân khi sử dụng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

1.3. Yêu cầu và các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.3.1. Yêu cầu thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài có tính chất đặc thù, bởi chủ thể của việc thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam; các chủ thể này cư trú tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài; do vậy khi thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài thông qua “đăng ký hộ tịch” phải bảo đảm các yêu cầu sau:

1.3.1.1. Yêu cầu về tính kịp thời khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch phải được cán bộ tư pháp cấp huyện đăng ký và quản lý kịp thời, trong một thời hạn theo quy định của pháp luật đối với từng thủ tục cụ thể. Hạn chế việc bổ sung hồ sơ, làm ảnh hưởng đến chi phí đi lại của người nước ngoài, tạo hình ảnh của Việt Nam trước con mắt người nước ngoài.

Việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện kịp thời, mọi sự kiện về hộ tịch phải bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia, vừa phục vụ tốt cho hoạt động thống kê hộ tịch. Để đạt được yêu cầu của tính kịp thời của công tác quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài thì các chủ thể đi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài phải có ý thức tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Đồng thời cán bộ, công chức Tư pháp cấp huyện luôn phải có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

1.3.1.2. Yêu cầu về tính đầy đủ khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Đối với công dân Việt Nam, nước ngoài là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam, tính đầy đủ được thể hiện ngay trong thành phần hồ sơ khi thực hiện đăng ký hộ tịch. Nếu hồ sơ không đầy đủ theo quy định, các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp không được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chứng nhận lãnh sự thì việc đăng ký hộ tịch sẽ kéo dài thêm thời gian. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Tính đầy đủ còn đòi hỏi cán bộ, công chức Tư pháp cấp huyện khi thực hiện bất kỳ sự kiện hộ tịch nào cũng phải ghi đầy đủ các thông tin cần thiết vào các cột mục tương ứng trong sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch và cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đảm bảo chính xác; đây là cơ sở để phục vụ tra cứu thông tin hộ tịch có yếu tố nước ngoài khi có yêu cầu.

1.3.1.3. Yêu cầu về tính chính xác, khách quan khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài phải được phản ánh chính xác, trung thực sự kiện hộ tịch xảy ra trên thực tế, hạn chế tối đa các sai sót khi đăng ký hộ tịch do lỗi vô ý của cán bộ Tư pháp cấp huyện hoặc của người đi đăng ký hộ tịch. Đối với người nước ngoài không biết tiếng việt thì cần phải có phiên dịch. Nghiêm cấm việc cố ý đăng ký hộ tịch hoặc cấp giấy tờ hộ tịch có yếu tố nước ngoài không đúng với sự thật, hoặc không có trong cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Cơ quan Tư pháp cấp huyện phải chủ động phát huy vai trò tham mưu UBND cùng cấp thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở địa phương, đề xuất các giải pháp quản lý theo hướng áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý phù hợp với chỉ đạo chung của thành phố trực thuộc trung ương.

1.3.1.4. Yêu cầu về tính pháp chế khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Tính pháp chế trong đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thể hiện qua việc đăng ký đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết, thành phần hồ sơ theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Cơ quan đăng ký, cán bộ trực tiếp thực hiện đăng ký phải nắm vững pháp luật, vận dụng chính xác các quy định của pháp luật, đúng đối tượng đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

1.3.1.5. Yêu cầu về cải cách hành chính khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Các quy định pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài thể hiện rõ quan điểm đăng ký hộ tịch là đăng ký việc dân sự, cá nhân có liên quan có quyền tự do lựa chọn, quyết định, vừa bảo đảm thuận lợi tối đa cho công dân khi đi đăng ký cũng như khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ có liên quan đến hộ tịch. Vì vậy cán bộ phòng Tư pháp khi thực hiện đăng ký hộ tịch phải tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân đến đăng ký hộ tịch, không đặt ra các thủ tục mà pháp luật không quy định, trình tự, thủ tục phải được niêm yết công khai, tuyên truyền vận động, khuyến khích nhân dân đăng ký trực tuyến.

Cán bộ, công chức phòng Tư pháp cấp huyện phải luôn trau dồi phẩm chất chính trị, rèn luyện, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp. Khuyến khích cán bộ, công chức phòng Tư pháp cấp huyện tự học nâng cao trình độ ngoại ngữ để đáp ứng được yêu cầu trong giải quyết công việc hàng ngày.

Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và các chủ thể thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài thực hiện đầy đủ các yêu cầu về đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ, chính xác góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm cam kết của Nhà nước với tổ chức quốc tế trong việc thực hiện các Điều ước Quốc tế, Công ước Quốc tế, Hiệp định tương trợ tư pháp.

1.3.2. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

1.3.2.1. Cần có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có yếu tố nước ngoài đồng bộ và hoàn chỉnh.

Hiện tại, những quy định về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là một nội dung trong Luật Hộ tịch. Và các văn bản hướng dẫn như: Nghị định 123/2015/NĐ- CP của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định; Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/05/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định; Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là yếu tố quyết định trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Khi có một hệ thống pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đồng bộ, chính xác, đảm bảo chất lượng và dự liệu được các yếu tố phát sinh trong tương lai sẽ giúp cho các chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thuận lợi, kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật và phù hợp với các quy định quốc tế.

1.3.2.2. Chất lượng, năng lực, phẩm chất của công chức phòng Tư pháp cấp huyện

Pháp luật về hộ tịch đã có đổi mới căn bản, theo đó từ 01/01/2016 thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được phân cấp về UBND cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh. Đây là thách thức đối với UBND cấp huyện, đặc biệt là vấn đề năng lực, phẩm chất của công chức UBND cấp huyện là yếu tố quyết định đến hiệu lực và hiệu quả của việc thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài.

Vì vậy, cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức vững vàng về phẩm chất chính trị, có đạo đức, lối sống trong sạch, có văn hóa khi giao tiếp; nắm vững pháp luật, đặc biệt là pháp luật chuyên ngành và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học để thực thi nhiệm vụ trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.

Việc người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam thực hiện đúng quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của công chức Tư pháp cấp huyện. Vì vậy, công chức phòng Tư pháp phải vận dụng linh hoạt các kỹ năng, các quy định của pháp luật để giải quyết cho người đi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được nhanh chóng, cách giải thích phải thấu tình, đạt lý nhưng đảm bảo và tuân thủ các quy định của pháp luật.

1.3.2.3. Ý thức pháp luật của các chủ thể có liên quan Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có yếu tố nước ngoài luôn được quan tâm, chú trọng; đổi mới về nội dung, hình thức để phù hợp với đối tượng chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài hầu hết mọi người đều chủ động tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện các việc như: Đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử,… đảm bảo đúng thời gian, các thành phần hồ sơ theo quy định, thời gian giải quyết.

Trong đời sống hiện nay, ý thức chấp hành pháp luật của người dân Việt Nam cũng như người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được nâng cao. Tuy nhiên, do quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự đặc biệt nên có không ít đối tượng lợi dụng để vi phạm pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, cần phải thường xuyên tuyên truyền PBGDPL với nội dung phù hợp với từng đối tượng, thông qua các hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú.

1.3.2.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực tài chính phục vụ cho đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài, trong đó mạng Internet, phần mềm hộ tịch, phần mềm dịch vụ công, máy tính, bàn ghế, máy scan… cần được quan tâm, bố trí đầy đủ với chất lượng đảm bảo. Song song với đó là ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ, công chức phòng Tư pháp cấp huyện trong việc giải quyết công việc và giữ gìn, bảo quản tài sản công của Nhà nước.

Hiện nay, thành phố Hà Nội chú trọng việc đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ để đáp ứng công tác đăng ký và quản lý về hộ tịch có yếu tơ nước ngoài.

Thường xuyên tập huấn và đào tạo cho đội ngũ công chức về ứng dụng công nghệ thông tin, trình độ tin học đáp ứng yêu cầu.

Tiểu kết chương 1

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, hoạt động thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài là khâu quan trọng đưa pháp luật vào cuộc sống. Thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước là hoạt động mang tính đặc thù về chủ thể, tính chất cũng như nội dung. Hoạt động thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thể hiện qua bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Để thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài có hiệu lực, hiệu quả, cần chú trọng các điều kiện đảm bảo cơ bản như: mức độ hoàn thiện của pháp luật; điều kiện về tổ chức bộ máy, nhân sự; điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí,… Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN

2 thoughts on “Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội

  1. Pingback: Luận văn: Thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN

  2. Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội says:

    Luận văn: Pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464