Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền kháng cáo của bị cáo – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là thành quả của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là một trong những giá trị quý báu nhất của nền văn minh trong thời đại ngày nay. Ghi nhận và bảo vệ quyền con người trên thực tế là thể hiện của một Nhà nước nhân dân, tiến bộ, dân chủ, văn minh. Các quyền con người trở thành đối tượng bảo vệ trong việc ghi nhận về pháp lý, trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của Nhà nước.

Quyền kháng cáo là một quyền cơ bản của người tham gia tố tụng, đây là cách thức để người tham gia tố tụng có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trước những phán quyết không hợp pháp, không có căn cứ của Tòa án cấp sơ thẩm. Bảo vệ và nâng cao quyền kháng cáo cũng góp phần bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.

Quyền kháng cáo được ghi nhận từ lâu và không ngừng được hoàn thiện, mở rộng nhằm đảm bảo quyền con người của người tham gia tố tụng, về cơ bản các quy định về quyền kháng cáo trong pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện quyền này trên thực tế, đảm bảo được ý nghĩa thực sự của nó.

Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự hiện nay, nhiều quy định về quyền kháng cáo đã dần bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế cũng như những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng mà đặc biệt là đối với bị cáo. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo cũng như đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền kháng cáo đối với bị cáo là một nhu cầu tất yếu khách quan trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được xây dựng với nhiều thay đổi quan trọng, trong đó quyền kháng cáo của bị cáo được nâng cao hơn. Cùng với việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã được thể hiện trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền đang được đẩy mạnh, việc nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành các quy định về quyền kháng cáo, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền này là hết sức quan trọng, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện tốt công tác xét xử các vụ án hình sự, hầu hết việc áp dụng các quy định về quyền kháng cáo là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do cách nhận thức pháp luật không thống nhất dẫn đến thực tiễn áp dụng các quy định về quyền kháng cáo còn có sự khác nhau. Do đó, cần nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo cả về lý luận và thực tiễn từ thực tiễn tại địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk là cần thiết, góp phần giải quyết những hạn chế, tồn tại, để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện thêm quyền kháng cáo nói riêng và góp phần vào việc xây dựng hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam ngày càng hoàn thiện nói chung.

Những lí do trên đây lập luận cho việc học viên lựa chọn đề tài “Quyền kháng cáo của bị cáo – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk’’ để làm luận văn thạc sỹ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Kháng cáo là một chế định quan trọng trong tố tụng hình sự, cho đến nay, quyền kháng cáo của bị cáo đã được tập trung nghiên cứu trong nhiều bài viết, công trình là sách chuyên khảo, giáo trình, luận văn, luận án tiến sĩ luật học như:

Kháng cáo là một chế định quan trọng trong Tố tụng hình sự, do đó về vấn đề này có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ Luật học “Quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Võ Ngọc Triều (2014) năm 2014, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sỹ Luật học “Quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự Việt Nam” (2015) của tác giả Lê Thị Thùy Dương, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Tạp chí khoa học:“Quyền kháng cáo và phạm vi quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Trần Hồng Ca; Tạp chí khoa học“Bàn về quyền kháng cáo, kháng nghị và xét xử phúc thẩm theo hướng tăng nặng đối với bị cáo” của tác giả Nguyễn Văn Trượng; “Một số ý kiến về bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự” của tác giả Ngô Thanh Xuyên; “Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng” của PGS. TS Trần Văn Độ.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đề cập đến quyền kháng cáo. Tuy nhiên các công trình hoặc nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác trong Tố tụng hình sự Việt Nam, hoặc nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo trên phạm vi địa phương nhất định, có đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau nên kết quả nghiên cứu có thể khác nhau khi liên hệ với thực tiễn.

Do đó, việc nghiên cứu, tiếp cận quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng dưới góc độ là một quyền tố tụng, nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận, đồng thời đánh giá các vụ án hình sự đã đưa ra xét xử trên thực tế, xem xét quy định của Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo là yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Do vậy, tác giả của luận văn chọn đề tài “Quyền kháng cáo của bị cáo – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk’’ để làm rõ thêm về lý luận và thực tiễn áp dụng quyền kháng cáo của bị cáo.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận và nội dung cơ bản về quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, làm sáng tỏ những thiếu sót bất cập của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 về quyền kháng cáo của bị cáo, việc áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo trong thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự tại TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk cũng như xác định một số vi phạm, sai lầm và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở này, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự hiện hành.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

Một là, làm sáng tỏ vấn đề lý luận về quyền kháng cáo của bị cáo (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa).

Hai là, phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền kháng cáo của bị cáo.

Ba là, phân tích thực tiễn áp dụng quyền kháng cáo của bị cáo tại địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2023, qua đó, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quyền kháng cáo của bị cáo.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền kháng cáo của Tòa án nhân dân trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung và phạm vi không gian: Luận văn có phạm vi nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các tình tiết này đối với người phạm tội trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong một số năm gần đây.

Phạm vi thời gian: Từ năm 2018 đến năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2023.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, giáo dục, cải tạo người phạm tội.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tác giả nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, nghiên cứu ngẫu nhiên các bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa khoa học

Với những nội dung mà luận văn đặt ra, là cơ sở góp phần làm cho các quy định về quyền kháng cáo của bị cáo được thể hiện cụ thể, rõ ràng hơn, đa chiều hơn. Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại hiệu quả trong việc làm phong phú hơn những vấn đề lý luận về quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam áp dụng đối với bị cáo từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là một tài liệu tham khảo cho các chủ thể áp dụng pháp luật, phục vụ công tác xét xử các vụ án hình sự. Với việc nghiên cứu của đề tài, tác giả cố gắng phân tích một số quy định còn có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau, về thực tiễn thực hiện quyền kháng cáo. Chỉ rõ những bất cập trong quy định của pháp luật cần hoàn thiện cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật cần khắc phục và nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo và đảm bảo quyền con người thể hiện được chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương gồm:

  • Chương 1 : Cơ sở lý luận – pháp lý về quyền kháng cáo của bị cáo.
  • Chương 2 : Thực trạng thực hiện và giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền kháng cáo

1.1.1. Khái niệm quyền kháng cáo

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền pháp lý của cá nhân đang ở vào tình thế bất lợi vì họ bị tình nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, các điều ước quốc tế về quyền con người quy định những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, các quyền này được áp dụng ở các quốc gia thành viên, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng được quy định trong các công ước quốc tế khác nhau.

Một trong những quyền cơ bản của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam đó là quyền kháng cáo. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo chưa được pháp luật quy định một cách cụ thể như chủ thể có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, thủ tục kháng cáo… Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Quyền kháng cáo là một trong những quyền cơ bản của một số người tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng. Hiểu và thực hiện một cách hiệu quả quyền này giúp bị cáo có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo như chủ thể có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, thủ tục kháng cáo,…được pháp luật quy định khá rõ ràng và cụ thể, nhưng văn bản pháp lý hiện hành vẫn chưa đưa ra được một cách hiểu thống nhất về quyền kháng cáo. Để làm rõ hơn khái niệm quyền kháng cáo và có một cái nhìn tổng thể hơn, áp dụng đúng đắn vào thực tiễn điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

  • Hiện nay, trong khoa học pháp lý, khái niệm kháng cáo còn có nhiều quan điểm khác nhau:

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Kháng cáo là chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử” hay theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì kháng cáo là “Chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại”

Như vậy, trong khái niệm trên thì quyền kháng cáo là quyền chống lại bản án, thể hiện sự không đồng ý với các phán quyết của Tòa án, bằng việc “yêu cầu xét xử lại” chứ không phải “chống đối” bằng một hành vi khác. Tuy nhiên, đây là một khái niệm mang tính khái quát vì chưa đề cập đến đối tượng kháng cáo, chủ thể kháng cáo.

Theo Từ điển Luật học – Nhà xuất bản Tư pháp thì “Kháng cáo là hành vi chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật trong trường hợp đương sự không đồng ý với toàn bộ bản án hoặc một phần của bản án, quyết định sơ thẩm”. Trong khái niệm này đã nêu được vấn đề như chủ thể, đối tượng, mục đích nhưng vẫn còn một số điểm chưa đầy đủ vì theo quy định tại Điều 54 BLTTHS năm 2015 thì đương sự có thể hiểu là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền nghĩa vụ liên quan, điểm không hợp lý ở đây chính là quyền kháng cáo không chỉ dành riêng cho những chủ thể này mà còn có những người khác.

Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại ” khái niệm này đã nêu bật được chủ thể, đối tượng kháng cáo. Tuy nhiên, khái niệm chỉ mới đề cập đến đối tượng kháng cáo là bản án hoặc quyết định của Tòa án mà không có điều kiện phải là bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Tác giả dùng từ “mình” khi nói về chủ thể có quyền kháng cáo và không thể xác định một cách cụ thể là ai có quyền kháng cáo; Thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo khái niệm mà tác giả Đinh Văn Quế đã đưa ra là thuộc về “Tòa án cấp trên” là chưa cụ thể. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Hệ thống Tòa án nước ta hiện ta hiện nay theo Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 gồm bốn cấp xét xử gồm: Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền, theo cách hiểu này là chưa chuẩn xác vì Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo quy định hiện hành phải là Tòa án cấp trên trực tiếp.

Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: “Quyền kháng cáo là quyền của những chủ thể theo quy định của pháp luật được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ”.

  • Từ khái niệm trên có thể khái quát một số đặc điểm của kháng cáo như sau:

Thứ nhất, quyền kháng cáo là quyền mà công dân thể hiện sự không đồng đối với những bản án, quyết định của Tòa án thông qua việc yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại đối với vụ án, xem xét lại quyết định. Ở Việt Nam thì Tòa án cấp phúc thẩm phải là Tòa án cấp trên trực tiếp. Như vậy, kháng cáo là quyền của công dân chống lại bản án, quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại. Quyền kháng cáo được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Nghị định thư số 7, Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của cộng đồng Châu Âu hay Công ước Châu Mỹ về nhân quyền.

Thứ hai, không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo bởi vì chủ thể kháng cáo là những chủ thể tham gia tố tụng mà quyền lợi bị ảnh hưởng bởi bản án, quyết định của Tòa án, những chủ thể này thực hiện quyền kháng cáo là để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước những phán quyết của Tòa án mà theo họ là không hợp lý, không đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy, chỉ những người tham gia tố tụng mà quyền và lợi ích bị ảnh hưởng bởi những phán quyết của Tòa án thì mới có quyền thể hiện sự bất đồng của mình thông qua việc thực hiện quyền kháng cáo.

Thứ ba, theo quy định tại Điều 330 BLTTHS năm 2015 quy định: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Sau khi xét xử sơ thẩm thì bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm chưa phát sinh hiệu lực ngay mà có một thời gian nhất định để bị cáo thực hiện quyền kháng cáo nên đối tượng của kháng cáo là những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp kháng cáo quá hạn. Điều này có thể khẳng định rằng bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực thì không thể là đối tượng kháng cáo để phát sinh thủ tục phúc thẩm, trường hợp cần xem xét lại vì có vi phạm thì sẽ xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc thủ tục Tái thẩm.

Thứ tư, căn cứ để Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án hoặc xem xét lại quyết định của Tòa án sơ thẩm trên cơ sở nội dung đơn kháng cáo của bị cáo, như vậy quyền kháng cáo được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền vì thế kháng cáo là cơ sở, là nội dung của xét xử phúc thẩm. Theo đó kháng cáo là căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định của Tòa án sơ thẩm. Tại Điều 345 BLTTHS năm 2015 quy định: “ Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo,…” quyền kháng cáo là quyền của bị cáo, quyền này sẽ được đảm bảo thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền, để thực hiện quyền kháng cáo đúng thời hạn, thủ tục luật định thì bị cáo phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật, có như vậy mới làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về quyền kháng cáo của bị cáo được khái quát như sau: “Kháng cáo là hành vi của chủ thể tham gia tố tụng theo luật định, đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án hoặc xét lại quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định khi cho rằng bản án, quyết định sơ thẩm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể mà mình đại diện, bào chữa hoặc bảo vệ”.

1.1.2. Đặc điểm quyền kháng cáo của bị cáo Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

  • Thứ nhất, quyền kháng cáo là quyền cơ bản của bị cáo trong lĩnh vực tư pháp hình sự, là phương tiện để bị cáo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Để bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, pháp luật quy định cho bị cáo nhiều quyền lợi và một trong những quyền cơ bản đó là quyền kháng cáo của bị cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, đây chính là quyền của bị cáo bày tỏ sự không đồng ý với phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình nhằm thực hiện quyền tư pháp, đây là hoạt động đặc thù vì nó tác động trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân. Nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng từ phía những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là bị cáo. Đối với những vụ án có luật sư tham gia pháp luật quy định sự có mặt của luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử như quá trình hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh tụng tại Tòa án,…mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo.

  • Thứ hai, quyền kháng cáo của bị cáo là quyền gắn liền với một xã hội mang tính dân chủ.

Việt Nam, tổ chức bộ máy Nhà nước hiện nay theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tòa án là cơ quan thực hiện hoạt động tư pháp – hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công lý thì

Tòa án phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì Tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lý. Mặt khác, nguyên tắc này hình thành còn xuất phát từ chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta. Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham gia đã được hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Pháp luật giao trọng trách cho Hội thẩm nhân dân thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giúp cho việc xét xử của Tòa án được rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Vì vậy xuất phát từ một xã hội dân chủ thì quyền con người càng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, một trong những mục tiêu cơ bản của nhà nước ta là bảo đảm quyền con người trong đó có bị cáo, vì vậy nhà nước luôn tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng quy định của luật pháp. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng và các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, công bằng, nhân đạo, suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo thì quyền kháng cáo của bị cáo ra đời như một tất yếu khách quan khi các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự ngày càng hướng đến việc bảo vệ hiệu quả quyền con người. Thông qua quyền kháng cáo giúp bị cáo nói lên được tiếng nói của mình, thể hiện thái độ không đồng tình với những phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo thông qua thủ tục xét xử phúc thẩm. Điều này khẳng định trong chế độ có nền dân chủ, tôn trọng quyền con người thì quyền kháng cáo mới được bảo vệ hiệu quả.

  • Thứ ba, quyền kháng cáo của bị cáo là quyền mang tính quốc tế

Không chỉ pháp luật Việt Nam mà trong các văn kiện pháp lý quốc tế quyền kháng cáo được quy định tại Khoản 5 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Bất kỳ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật”. Trong Công ước Châu Mỹ về nhân quyền; Quyền kháng cáo được quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Công ước: “…

Trong tố tụng, bất kì ai cũng đều hoàn toàn bình đẳng trong việc bảo đảm những điều tối thiểu sau đây: Quyền kháng cáo bản án lên tòa cấp cao hơn…”.

Trong các văn kiện quốc tế về quyền con người thì quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các Công ước về quyền con người trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền chính trị và dân sự năm 1966).

Vì quyền con người không chỉ là quyền tự nhiên vốn có mà nó còn được ghi nhận trên quan điểm pháp lý, vì vậy vấn đề quyền con người được các quốc gia trên thế giới quan tâm vì vậy quyền kháng cáo không chỉ quy định trong pháp luật Việt Nam mà còn được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

  • Thứ tư, quyền kháng cáo của bị cáo có mối liên hệ với quyền được xét xử công bằng.

Với trách nhiệm là chủ thể bảo đảm quyền công dân, Nhà nước có trách nhiệm ngăn chặn sự vi phạm quyền công dân từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội và cá nhân, đồng thời Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho công dân thực hiện được và tự bảo vệ các quyền công dân của mình trong các lĩnh vực.

Nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện khách quan, thì quyền được xét xử công bằng là một trong những quyền cơ bản, thực hiện hiệu quả nguyên tắc này có có vai trò bảo đảm tính đúng đắn, hợp pháp góp phần bảo đảm quyền con người, quyền của bị cáo. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Cốt lõi của quyền được xét xử công bằng là quyền bình đẳng trước Tòa án; xét xử độc lập, công bằng, tuân theo pháp luật; xét xử công khai, minh bạch Sự bình đẳng, ngang bằng về quyền giữa các bên tham gia tố tụng, mặt khác khi xét xử, Tòa án cần đảm bảo tính độc lập, độc lập giữa thẩm phán và Hội thẩm, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, với các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội, với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự…,mặt khác quyền được xét xử công bằng còn thể hiện không phải trong những điều kiện và hoàn cảnh phạm tội giống nhau thì người phạm tội phải bị kết án và xử phạt như nhau. Vì vậy trên cơ sở chứng cứ và các quy định của pháp luật, thẩm phán chủ toạ phiên tòa đưa ra phán quyết chính xác, khách quan và đúng quy định của pháp luật.

Thông qua thủ tục phúc thẩm, công tác kiểm tra được thực hiện và tính chính xác của các phán quyết sẽ cao hơn, đó chính là sự đảm bảo quyền được xét xử công bằng. Quyền kháng cáo giúp cho Thẩm phán làm việc một cách có trách nhiệm và tránh các sai sót xảy ra đối với bị cáo, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo vì vậy quyền kháng cáo của bị cáo có mối liên hệ với quyền được xét xử công bằng.

Thứ năm, quyền kháng cáo của bị cáo có mối liên hệ với quyền bào chữa Trong các đạo luật của mỗi quốc gia luôn đề cập đến quyền bào chữa vì quyền này là một trong những quyền quan trọng của công dân khi tham gia tố tụng. Ở Việt Nam, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự. Mục đích của việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác và khách quan. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 lần đầu tiên quy định quyền bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư”. Tiếp theo đó trên cơ sở kế thừa và phát huy tinh hoa của bản hiến pháp trước Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa của công dân. Tại khoản 4, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Phạm vi đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa được mở rộng, quy định này không chỉ có bị cáo có quyền bào chữa như các bản Hiến pháp trước đây, mà ngay từ khi bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa đối với họ.

Pháp luật đã quy định để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa dễ dàng, hiệu quả bằng nhiều cách thức khác nhau như: Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa, có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, trình bày tranh tụng tại Tòa án, …

Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện thẩm quyền của mình như đưa ra những phán quyết đối với bị cáo, còn bị cáo có quyền bào chữa, phản bác lại những suy luận không đúng, áp đặt cho bị cáo vì vậy quyền bào chữa đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan, giúp cho bị cáo thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhằm làm giảm nhẹ trách 15 nhiệm hình sự bằng cách yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại.

Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị cáo thực hiện quyền kháng cáo trước những phán quyết mà bị cáo cho rằng chưa hợp lý và thông qua quyền kháng cáo đã tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa một cách hiệu quả. Khi xem xét nội dung kháng cáo, Tòa án phải mở phiên tòa và tại phiên tòa, bị cáo có quyền tự bào chữa cho mình, hoặc nhờ người bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình. Vì vậy quyền bào chữa và quyền kháng cáo có mối liên hệ mật thiết với nhau.

1.1.3. Ý nghĩa quyền kháng cáo của bị cáo Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Đối với bị cáo quyền kháng cáo là quyền quan trọng và không thể thiếu vì nếu không quy định quyền kháng cáo, những bản án oan, sai sau khi xét xử và được đưa ra thi hành sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo. Vì vậy ý nghĩa quyền kháng cáo của bị cáo được thể hiện như sau:

  • Thứ nhất, quyền kháng cáo là phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Thông qua việc xét xử các vụ án quyền kháng cáo là một trong những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo. Khi bất đồng với những phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án đó nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xét xử. Mặt khác thông qua việc kháng cáo theo trình tự phúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các Thẩm phán Tòa sơ thẩm cấp dưới trực tiếp, qua đó Tòa án cấp phúc thẩm có cơ hội kiểm tra, phát hiện và khắc phục những sai lầm thiếu sót nếu có, bên cạnh đó quyền kháng cáo giúp bị cáo được trình bày ý kiến, nguyện vọng cũng như những yêu cầu của mình đối với Tòa án cấp trên khi cho rằng quyền và lợi ích của bị cáo bị xâm phạm.

  • Thứ hai, quyền kháng cáo của bị cáo là biểu hiện của việc giám sát hoạt động xét xử của Tòa án

Tòa án là cơ quan tư pháp thực hiện chức năng xét xử, và hoạt động xét xử của Tòa án là trọng tâm của quá trình giải quyết vụ án, thông qua những phán quyết của Tòa án, số phận pháp lý của một cá nhân sẽ được quyết định. Chính vì vậy, việc kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án vô cùng quan trọng. Sự giám sát hoạt động xét xử của Tòa án thông qua việc Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa; còn đối với việc giám sát của nhân dân vào hoạt động xét xử xủa Tòa án thông qua sự tham gia của hội thẩm nhân dân, những người tham gia phiên tòa có quyền phát biểu ý kiến tranh tụng tại phiên tòa.

Mặt khác thông qua quyền kháng cáo là quyền yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại bản án, xem xét lại quyết định của Tòa án thể hiện sự giám sát của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, đảm bảo tính đúng đắn, khách quan và công bằng trong hoạt động tố tụng. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

  • Thứ ba, quyền kháng cáo là điều kiện để phát sinh thủ tục phúc thẩm; là cách thức để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Vai trò của thủ tục phúc thẩm là rất quan trọng, tuy nhiên không phải bất cứ vụ án nào đã được xét xử sơ thẩm đều phải trải qua giai đoạn xét xử phúc thẩm vì đây không phải là thủ tục đương nhiên phát sinh mà là thủ tục phát sinh có điều kiện. Một trong những điều kiện để phát sinh thủ tục phúc thẩm chính là quyền kháng cáo của bị cáo.

Như vậy, việc quy định và thực hiện quyền kháng cáo là một trong những căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, đồng thời cũng là căn cứ xác định phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm. Khi kháng cáo hợp pháp, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa xét xử và giải quyết lại đối với vụ án bị kháng cáo đó. Thủ tục phúc thẩm phát sinh là biểu hiện của nguyên tắc hai cấp xét xử và chính kháng cáo là điều kiện để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.

Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng hình sự, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự. Nguyên tắc thể hiện sự thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra những phán quyết, quyết định số phận pháp lý của một con người. Chính quyền kháng cáo của bị cáo đã trở thành một trong những điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể xét xử lại, là cơ chế để có thể đảm bảo được nguyên tắc này.

  • Thứ tư, quyền kháng cáo của bị cáo tạo điều kiện cho Tòa án tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình; phát hiện, khắc phục những sai lầm thiếu sót đồng thời có những hướng sửa chữa, khắc phục.

Xét xử phúc thẩm không những là một cấp xét xử mà còn là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các vụ án khi kháng cáo theo trình tự phúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các Thẩm phán Tòa sơ thẩm cấp dưới trực tiếp. Vì vậy, khi bị cáo thực hiện quyền kháng cáo cũng chính là cơ hội để Tòa án tự kiểm tra, đánh giá lại hoạt động xét xử của mình.

Việc xem xét kháng cáo cũng giúp cho Tòa án phát hiện những điểm còn vướng mắc trong quy định của pháp luật vì nguyên nhân dẫn đến những sai phạm chính là thiếu sót, bất cập, những điểm còn vướng trong quá trình áp dụng trong quy định của pháp luật, từ đó có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan cho phù hợp với thực tiễn áp dụng.

  • Thứ năm, quy định và thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo giúp tạo niềm tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước và pháp luật. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Sự hình thành và phát triển của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự như công bằng; nhân đạo; suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp và bằng lời nói,…

Sự ra đời của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là nhu cầu tất yếu khách quan là bảo vệ có hiệu quả hơn quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Quyền kháng cáo là biểu hiện của dân chủ và tiến bộ, bảo đảm pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự.

Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, mỗi bản án, quyết định đều có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức có liên quan. Do đó, bản án được đưa ra thi hành là những bản án đảm bảo tính hợp pháp, hợp hiến như vậy mới củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và pháp luật. Thông qua việc thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp trên trực tiếp kiểm tra, xem xét lại, đảm bảo tính chính xác của những bản án, quyết định được đưa ra thi hành. Tạo niềm tin tuyệt đối cho nhân dân vào kết quả của hoạt động xét xử, đồng thời quyền kháng cáo cũng thể hiện Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án.

1.2. Chủ thể có quyền kháng cáo và chủ thể có trách nhiệm đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

1.2.1. Chủ thể có quyền kháng cáo

Quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự là quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự; nhưng quyền này chỉ có thể được thực hiện khi họ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự. Đây là phương tiện để người tham gia tố tụng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo. Theo Tố tụng hình sự hiện hành, người tham gia tố tụng hiện nay được chia thành 3 nhóm:

Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án: Người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác và góp phần bảo vệ công lý: Người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi cho đương sự.

Người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý: Người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.

Trong ba nhóm người tham gia tố tụng này, phù hợp với lý luận Tố tụng hình sự thì chỉ có một số chủ thể thuộc nhóm thứ nhất có quyền kháng cáo, vì đây là những chủ thể có quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án, họ có khả năng bị ảnh hưởng bởi bản án, quyết định của Tòa án, cụ thể đó là: bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự;người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Nội dung mà người có quyền kháng cáo được yêu cầu xét xử lại sẽ xác định tương ứng với mức độ ảnh hưởng của bản án đến quyền và lợi ích của họ. Theo đó, quyền, lợi ích của người kháng cáo bị tác động bởi phần nào của bản án thì sẽ có quyền kháng cáo, yêu cầu xét xử lại phần đó; mức độ ảnh hưởng nhiều thì phạm vi kháng cáo rộng, ảnh hưởng ít thì phạm vi kháng cáo hẹp hơn. Chính vì vậy, phạm vi kháng cáo sẽ khác nhau giữa các chủ thể do mức độ ảnh hưởng của bản án, quyết định đến quyền và lợi ích của họ là khác nhau.

Tóm lại, thực hiện quyền kháng cáo bao gồm nhiều chủ thể khác nhau theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự, là người bị Tòa án cấp sơ thẩm phán quyết là có tội và phải chịu hình phạt theo bản án sơ thẩm.

1.2.2. Chủ thể có trách nhiệm đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Theo quy định của BLTTHS Việt Nam hiện hành, chủ thể trong tố tụng hình sự gồm chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng. Chủ thể tiến hành tố tụng hình sự là cơ quan và người có chức danh tư pháp thuộc cơ quan tố tụng hình sự được BLTTHS quy định có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành giải quyết vụ án hình sự.

Quyền kháng cáo là một trong những quyền tố tụng quan trọng, được pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện để những chủ thể có quyền kháng cáo được bày tỏ sự phản đối của mình đối với một phần hoặc toàn bộ phán quyết thể hiện trong bản án của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và là một trong những cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm. Vì vậy quyền kháng cáo chỉ phát sinh khi phiên tòa sơ thẩm đã kết thúc và bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa phát sinh hiệu lực pháp luật cho nên quyền kháng cáo là một trong những quyền cơ bản của bị cáo và trách nhiệm đảm bảo quyền kháng cáo là chủ thể tiến hành tố tụng hình sự.

Chủ thể có trách nhiệm đảm bảo cho việc thực hiện quyền kháng cáo là Tòa án và cơ quan công an mà cụ thể là Nhà tạm giữ, tạm giam trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam hoặc bị bắt tạm giam sau khi Tòa tuyên án. Tòa án sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm là chủ thể có trách nhiệm đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo bởi vì Tòa án là cơ quan tiếp nhận kháng cáo, xử lý kháng cáo cũng như giải quyết, xem xét nội dung kháng cáo. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án phải đảm bảo việc giải thích quyền kháng cáo cho bị cáo, về thời hạn cũng như thủ tục kháng cáo. Đối với trường hợp bị cáo đang bị tạm giam thì Ban giám thị trại tạm giam phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo như cung cấp giấy, bút để bị cáo viết đơn kháng cáo, xác nhận ngày kháng cáo của trại giam và gửi đơn kháng cáo của bị cáo đến Tòa án có thẩm quyền đúng thời hạn để bị cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình theo đúng quy định pháp luật. Đối với trường hợp bị cáo tại ngoại, khi tiếp nhận đơn kháng cáo, Tòa án phải có trách nhiệm xem xét, hướng dẫn, giải thích cho người kháng cáo, hạn chế trường hợp kháng cáo không hợp pháp do sai về mặt thủ tục, sai phạm vi kháng cáo.

1.2.3. Điều kiện bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo

Kháng cáo là một trong những cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, nhưng trước hết kháng cáo là quyền tố tụng quan trọng, được pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện để những chủ thể có quyền kháng cáo được bày tỏ sự không đồng tình của mình đối với phán quyết của Tòa án thể hiện trong bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Quyền kháng cáo phải được thực hiện đúng thủ tục, thời hạn và giới hạn cho phép. Trên thực tế, để được Tòa án xem xét, giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì chủ thể có quyền kháng cáo phải kháng cáo đúng thủ tục, thời hạn và giới hạn của việc kháng cáo theo quy định của pháp luật. Việc tuân thủ về thủ tục, thời hạn và giới hạn của việc kháng cáo của những chủ thể có quyền kháng cáo còn là cơ sở khẳng định tính hợp pháp của kháng cáo. Nếu kháng cáo do người không có quyền kháng cáo thực hiện là một dạng kháng cáo không hợp pháp vì việc yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật, nếu không xem hành vi đó là của chủ thể có quyền kháng cáo, thì không có cơ sở để phân biệt được đâu là hành vi kháng cáo với hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.

Trước đây, trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003, những quy định về quyền kháng cáo đã được ghi nhận, kế thừa, sửa đổi, bổ sung, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người thực hiện quyền kháng cáo, đảm bảo tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa án, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, đảm bảo công bằng xã hội, cũng như củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, những quy định đó vẫn còn chung chung, làm cho trong một số trường hợp hiệu quả của việc thực hiện quyền kháng cáo chưa cao, ảnh hưởng đến tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Khắc phục hạn chế này, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về kháng cáo một cách rõ ràng, mạch lạc, cụ thể quy định như sau:

Về chủ thể kháng cáo được quy định tại Điều 331 BLTTHS năm 2015 về chủ thể có quyền kháng cáo gồm: Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị cáo, bị hại, người bào chữa, người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người được Tòa án tuyên không có tội. BLTTHS 2015 quy định cụ thể về người có quyền kháng cáo, quy định này nhằm đảm bảo quyền của người có quyền kháng cáo, góp phần hạn chế tình trạng oan sai trong tố tụng.

Về quyền kháng cáo, BLTTHS được sửa đổi theo hướng ghi nhận thêm quyền kháng cáo của bị can đối với quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Cụ thể, ghi nhận này được thực hiện tại Điều 60 quy định về bị can và Điều 331 quy định về người có quyền kháng cáo của BLTTHS năm 2015.

So với quy định tại Điều 233 BLTTHS năm 2003 thì quy định tại khoản 1 Điều 332 BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định rõ trách nhiệm không những của Giám thị Trại tạm giam mà cả Trưởng Nhà tạm giữ nơi đang giam, giữ bị cáo phải “nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo”.

Một điểm đáng chú ý là BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định người kháng cáo ngoài việc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì họ còn có thể trình bày trực tiếp với “Tòa án cấp phúc thẩm” về việc kháng cáo và “Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung”. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Bên cạnh đó, Điều 332 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm khoản 2 quy định về nội dung đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo; Lý do và yêu cầu của người kháng cáo; Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Đồng thời, Điều 332 BLTTHS năm 2015 cũng đã bổ sung thêm khoản 3 quy định về việc trình bày trực tiếp kèm theo đơn kháng cáo là những chứng cứ, tài liệu bổ sung… để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo: “Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo”.

Với những quy định mới trên đây đã giúp cho người kháng cáo có nhiều quyền lợi hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước pháp luật.

Những sửa đổi bổ sung của BLTTHS năm 2015 về quyền kháng cáo ngày càng được hoàn thiện và nhận thức và sự hiểu biết của người có quyền kháng cáo được thực hiện đầy đủ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được thể hiện như sau:

Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết đinh đưa ra xét xử (Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định về bị cáo). Như vậy, khái niệm bị cáo xuất hiện từ khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và chấm dứt khi vụ án bị đình chỉ hoặc khi có bản án mà bị cáo được tuyên vô tội. Trách nhiệm pháp lý của bị cáo được xác định trong bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có liên quan đến nhiều vấn đề về tội danh, hình phạt áp dụng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý khác. Vì vậy, phạm vi quyền và lợi ích hợp pháp cần được bày tỏ thái độ để bảo vệ rất đa dạng không bị hạn chế. Đó cũng là cơ sở lý luận mà pháp luật TTHS quy định quyền được kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm cho bị cáo.

Chủ thể có quyền kháng cáo phải thực hiện quyền đó theo đúng cách thức, thời điểm của quá trình tố tụng và nội dung pháp lý chứa đựng phạm vi, yêu cầu cụ thể. Bởi lẽ, quyền kháng cáo không thể coi là được thực hiện trên thực tế nếu nó không biểu hiện bằng những cách thức cụ thể, là cơ sở để ghi nhận việc thực hiện đó. Do quyền kháng cáo có đối tượng kháng cáo là cơ sở phân biệt với thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm nên phải được thực hiện trong khoảng thời gian hoặc thời điểm mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Xuất phát từ những quyền lợi hợp pháp cần được bảo vệ và sự không đồng tình với bản án, quyết định sơ thẩm mà mỗi chủ thể có quyền kháng cáo sẽ được kháng cáo những vấn đề gì và yêu cầu cụ thể như thế nào để vừa bảo đảm quyền lợi của mình, vừa tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác trên thực tế.

Bị cáo là người có quyền và lợi ích hợp pháp gắn liền với việc giải quyết vụ án nên việc kháng cáo của bị cáo là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình. Trong khi đó, đối với những người không có quyền, lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ án như người đại diện hợp pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì việc kháng cáo của họ là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người mà họ có trách nhiệm bào chữa, bảo vệ quyền lợi, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật.

Như vậy, kháng cáo là quyền của bị cáo lợi thể hiện sự không đồng ý đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Quyền kháng cáo của bị cáo có được thực hiện hay không và hiệu quả đến mức độ nào phụ thuộc vào các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển quyền kháng cáo của bị cáo trong pháp luật Tố tụng hình sự Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

1.3.1. Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1960

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã xóa bỏ chính quyền nhà nước thực dân phong kiến, lập ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là nhà nước độc lập dân chủ thực sự của nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của nước ta. Dưới chế độ thực dân phong kiến, chế độ tư bản, nền tư pháp chủ yếu là một bộ máy đàn áp, một bộ máy bóc lột tư sản. Vì vậy, nhiệm vụ tuyệt đối của cách mạng vô sản không phải là cải cách các chế định tư pháp…, mà là hủy bỏ toàn bộ, phá hủy đến tận gốc rễ nền tư pháp cũ và bộ máy nhà nước.

Trong những ngày đầu sau khi giành được chính quyền, Nhà nước non trẻ phải thực hiện nhiều nhiệm vụ nhắm chống lại thù trong, giặc ngoài, đồng thời khẩn trương bắt tay xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng một Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân.

Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 33C thành lập Tòa án quân sự ở các địa phận khác nhau trong cả nước. Các Tòa án quân sự ban đầu chưa phải là tổ chức chuyên trách, thường trực mà chỉ khi có vụ án thì lập ra Tòa án để xét xử. Tại Điều 1 của sắc lệnh quy định : “Tòa án quân sự xử tất cả các người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945, có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoàtrừ khi phạm nhân là binh sỹ thì thuộc về nhà binh tự xử lý theo quân luật”. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Hệ thống Tòa án trong giai đoạn này chỉ được tổ chức ở một cấp, do đó “Những quyết nghị của Tòa quân sự sẽ đem thi hành ngay, không có quyền chống án, trừ trường hợp sau này nếu bản án tuyên xử tử, thì tội nhân có quyền đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm. Bản án sẽ hoãn thi hành chờ quyết nghị của ông Chủ tịch Chính phủ ” (Điều 3).

Như vậy, theo quy định này thì bản án, quyết định của Tòa án sẽ có giá trị thi hành ngay sau khi tuyên án, đồng nghĩa với việc không thừa nhận quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Quy định này là phù hợp với tình hình đất nước lúc bấy giờ, bè lũ phản cách mạng đang tìm cách chống phá chính quyền còn non trẻ nên những bản án, quyết định của Tòa án cần phải được thi hành ngay để nghiêm trị kịp thời, làm gương cho kẻ khác. Quyền kháng cáo của bị cáo trong gia đoạn này không được ghi nhận.

Nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của bộ máy Nhà nước nói chung và Tòa án nói riêng, ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ra sắc lệnh số 13 về Tổ chức của Tòa án và ngạch Thẩm phán. Đây là sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ về tổ chức, giải quyết các tranh chấp, xử phạt các vi phạm ở cơ sở cũng như tổ chức của Tòa án. Đồng thời trong sắc lệnh này, tại Điều 34 đã quy định: “Tòa đại hình xử sơ thẩm. Ông biện lý, bị can, nguyên đơn có quyền chống án lên tòa thượng thẩm”. Như vậy, quyền kháng cáo đã được chính thức ghi nhận dưới thuật ngữ “chống án”. Đây là cơ sở cho việc cụ thể hoá và hoàn thiện các quy định của chế định này trong các giai đoạn sau này.

Ngày 17/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 51/SL quy định về thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án. sắc lệnh quy định: ‘Tòa đệ nhị cấp có quyền xử chung thẩm những án vi cảnh của Tòa án sơ cấp bị kháng cáo(Điều thứ 10). “Tòa Thượng thẩm có quyền xét xử những việc kháng cáo án sơ thẩm của các Tòa đệ nhị cấp và Phòng luận tội của Tòa Thượng thẩm xét xử kháng cáo những mệnh lệnh của Dự thẩm (Điều thứ 13). Biện lý và các đương sự trong đó có bị cáo, có quyền kháng cáo những mệnh lệnh của Dự thẩm (Điều thứ 24)”.

Như vậy, bên cạnh việc xác định những bản án, mệnh lệnh nào có thể bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, sắc lệnh 51/SL cũng đã khẳng định Tòa án có thẩm quyền xét kháng cáo là Tòa án đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm. Đây đều là những Tòa án cấp trên trực tiếp với Tòa án có bản án, quyết định bị kháng cáo. Để cụ thể hơn những quy định về quyền kháng cáo, ngày 28/6/1946, sắc lệnh 112/SL được ban hành, quy định một cách chi tiết hơn về việc kháng cáo.

Với hai sắc lệnh này, những quy định về quyền kháng cáo của bị cáo đã được ghi nhận một cách khá cụ thể và được áp dụng thống nhất trong phạm cả nước. Nhìn chung, trong giai đoạn này, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, tình hình xã hội còn nhiều phức tạp do chính quyền còn non trẻ nhưng Nhà nước vẫn quan tâm, chú ý đến công tác xét xử nói chung và quyền kháng cáo nói riêng. Thủ tục xét xử sơ thẩm đồng thời phúc thẩm được duy trì để phù hợp với tình hình xã hội, nhưng bên cạnh đó pháp luật vẫn ghi nhận và có những quy định nhằm thực hiện tốt quyền kháng cáo. Đây sẽ là những cơ sở ban đầu để Nhà nước tiếp tục ghi nhận và không ngừng hoàn thiện các quy định về quyền kháng cáo của bị cáo sau này.

1.3.2. Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 thay thế cho Hiến pháp năm 1946 là một bước ngoặc lớn trong lịch sự lập pháp nước ta. Hiến pháp năm 1959 đã dành một chương riêng để quy định về Tòa án. Căn cứ vào quy định của Hiến pháp năm 1959, ngày 14/07/1960 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa II đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Theo Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, lần đầu tiên nguyên tắc hai cấp xét xử được ghi nhận:“Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử. Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân sơ thẩm lên trên một cấp ”. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Để đảm bảo thực hiện các quy định về quyền kháng cáo, nhiều văn bản hướng dẫn khác của Tòa án nhân dân tối cao đã được ban hành như: Công văn số 570/TC ngày 2/4/1963 về thủ tục gửi hồ sơ án bị kháng án hoặc bị kháng nghị; Công văn số 1932/NCLP ngày 4/9/1963 về giải quyết đơn kháng cáo quá hạn; Thông tư số 03/NCLP ngày 15/9/1967 quy định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị…

Tuy nhiên, những văn bản này bộc lộ nhiều hạn chế. Chính vì thế, bản hướng dẫn về trình tự xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao ban hành kèm theo Thông tư số 19/TANDTC ngày 2/10/2974 đã có hướng dẫn cụ thể về chủ thể có quyền kháng cáo, thủ tục, thời hạn kháng cáo.

Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án năm 1981 đã tiếp tục ghi nhận và hoàn thiện hơn nữa các quy định về quyền kháng cáo. Các văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo liên tiếp được ban hành. Với những nội dung đã được cụ thể hóa như đối tượng kháng cáo, thời hạn, thủ tục kháng cáo…đã khẳng định được sự phát triển vượt bậc trong công tác lập pháp về nội dung lẫn kỹ thuật.

Tuy nhiên, vấn đề quyền kháng cáo của bị cáo nói riêng và các quy định về tố tụng hình sự nói chung cũng chỉ mới được thể hiện trong những văn bản pháp luật đơn hành mà chưa được pháp điển hóa thành một bộ luật chuyên ngành mang tính hệ thống. Đồng thời, pháp luật lúc bấy giờ vẫn duy trì thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao cũng như Tòa án nhân dân đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh, điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền kháng cáo của bị cáo và đây chính là vấn đề cần phải được hoàn thiện trong các giai đoạn sau đó.

Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trước đây, mở ra những hướng mới, nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh đó, những văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử…Chính vì vậy, việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự là vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết. Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa VIII, đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, có hiệu lực từ ngày 1/1/1989 BLTTHS năm 1988 đã quy định một cách cơ bản tất cả các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo và cách thức thực hiện quyền kháng cáo như: chủ thể có quyền kháng cáo (Điều 205), đối tượng, giới hạn của việc kháng cáo (Điều 205); thủ tục kháng cáo (Điều 207); thời hạn kháng cáo (Điều 208); kháng cáo quá hạn (Điều 209); bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo (Điều 212) và kháng cáo những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (Điều 213). Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Nhìn chung, trên cơ sở kế thừa các quy định trước đó, BLTTHS năm 1988 đã khá thành công trong việc quy định những nội dung liên quan đến quyền kháng cáo của bị cáo. Tuy nhiên, qua thời gian, những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 cũng dần bộc lộ những hạn chế, những điểm chưa phù hợp với những thay đổi của xã hội.

Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp đã được các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đặt ra, đồng thời cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi cũng như đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất với các văn bản pháp luật có nội dung liên quan như Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002… Ngày 26/11/2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã được Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ tư thông qua toàn văn và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004.

Bộ luật dành Phần thứ tư: “Xét xử phúc thẩm”, với Chương XXIII: ‘‘Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị” và Chương XXIV: “Thủ tục phúc thẩm” quy định về kháng cáo và các vấn đề liên quan đến chế định này. Các quy định về kháng cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều điểm mới và ngày càng hoàn thiện, khắc phục những hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Thêm vào đó, để các quy định về kháng cáo được áp dụng một cách thống nhất và chính xác, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Với những quy định cụ thể, tiến bộ, quá trình áp dụng BLTTHS năm 2003 cho thấy, các quy định của Bộ luật đã góp phần tích cực vào việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nêu cao trách nhiệm, tính chủ động của cơ quan và của người tiến hành tố tụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Tuy nhiên, hơn 10 năm triển khai áp dụng, BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, không còn phù hợp trong tình hình mới. Cùng với việc sửa đổi và ban hành Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 với 510 điều chia làm 9 phần, 36 chương có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Bộ luật được xây dựng trên cơ sở khoa học, tiếp thu những tiến bộ và rút kinh nghiệm thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội.

2.1. Quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

2.1.1. Quy định của pháp luật về chủ thể và phạm vi kháng cáo.

Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, trong đó: Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất và xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Bản án, Quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hành vi tố tụng của đương sự yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc thực hiện quyền kháng cáo thể hiện sự bất đồng của những người tham gia tố tụng đối với các quyết định của Tòa án có thẩm quyền trong việc xét xử vụ án và yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại cho phù hợp. Vấn đề đặt ra là chủ thể nào có quyền kháng cáo và phạm vi kháng cáo liên quan đến một phần hay toàn bộ nội dung bản án.

“Chủ thể của kháng cáo là những chủ thể tham gia tố tụng, có quyền lợi bị ảnh hưởng bởi bản án, quyết định của Tòa án hoặc là những người đại diện, bào chữa, bảo vệ cho chủ thể có quyền lợi bị ảnh hưởng”.

Bị cáo là đối tượng của việc buộc tội trong vụ án hình sự, phải chịu hình phạt và bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra bằng một bản án, quyết định của Tòa án hoặc có thể được tuyên vô tội và được trả tự do ngay. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị cáo có quyền kháng cáo. Quyền kháng cáo của bị cáo được quy định tại Điều 331 BLTTHS năm 2015 như sau: “Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm… người được Tòa án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội”.

Các chủ thể có quyền kháng cáo chỉ được thực hiện quyền kháng cáo trong phạm vi giới hạn của mình “Phạm vi kháng cáo là giới hạn nội dung mà người kháng cáo được yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xem xét quyết định đẻ bảo vệ quyền lợi cho mình, cho người mình bào chữa, bảo vệ hoặc đại diện”.

Về phạm kháng cáo là giới hạn nội dung mà người kháng cáo được yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định để bảo vệ quyền lợi cho họ, cho người mình bào chữa hoặc đại diện, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị.

Kháng cáo giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm, trên cơ sở kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại nội dung vụ án, quyết định giữ nguyên, sửa hoặc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm không được xem xét và quyết định ngoài phạm vi kháng cáo không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo theo hướng không có lợi cho họ.

Vì vậy, khi nhận bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ảnh hưởng đến quyền lợi của mình hoặc xét thấy có các dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng,…bị cáo hoàn toàn có thể sử dụng quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xem xét, xét xử lại. Qua đó, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án, giúp Tòa án xem xét lại và ra quyết định một cách khách quan, công bằng, góp phần giúp các cơ quan tố tụng thay đổi nhận thức, rút kinh nghiệm. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Trong trường hợp phạm vi kháng cáo là một phần bản án, quyết định sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được xét xử lại phần vụ án hoặc xét lại phần quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Nếu chỉ kháng cáo phần hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét phần dân sự của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Nếu chỉ kháng cáo phần dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm không được xem xét phần hình sự của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Nếu chỉ kháng cáo, về việc vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự ở cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại mặt pháp luật của vụ án, chứ không xem xét lại nội dung vụ án. Việc Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong phạm vi kháng cáo là phù hợp với nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Nguyên tắc này đòi hỏi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Phạm vi kháng cáo, kháng nghị là toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm thì toàn bộ bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật và Tòa án cấp phúc thẩm phải xét xử lại toàn bộ vụ án hoặc xét lại toàn bộ quyết định sơ thẩm.

Mặt khác Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền theo hướng kháng cáo không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng không có lợi cho họ phù hợp với nguyên tắc không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự bảo đảm quyền tự do kháng cáo của bị cáo và đương sự, bảo đảm sự an toàn về tình trạng pháp lí của họ không bị xấu hơn nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị tăng nặng.

Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nguyên cứu về chủ thể là bị cáo có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là chủ thể quan trọng nhất trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, ngoài bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo cũng có quyền kháng cáo theo các quy định cụ thể như sau:

  • Quyền kháng cáo đối với bị cáo

Bị cáo là người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử, thời điểm bị can trở thành bị cáo là thời điểm thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị cáo là chủ thể bị tác động trực tiếp bởi bản án, quyết định của Tòa án. Quyền kháng cáo này dành cho chính bị cáo, do vậy việc ghi nhận quyền kháng cáo của bị cáo là cách thức để bị cáo tự bảo vệ quyền lợi của mình trước những quyết định của Tòa án sơ thẩm. Theo quy định của pháp luật, bị cáo có quyền kháng cáo một phần hoặc toàn bộ nội dung của bản án, quyết định (về điều khoản BLHS, về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính và hình phạt bổ sung, về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí…) kháng cáo phần dân sự trong bản án hình sự (về mức bồi thường, chủ thể bồi thường…) vì nội dung bản án, quyết định sơ thẩm có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Tuy nhiên, phạm vi kháng cáo của bị cáo như pháp luật hiện hành dễ gây nhầm lẫn vì quy định bị cáo có thể kháng cáo đối với toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án là chưa hợp lý bởi vì không phải lúc nào toàn bộ nội dung bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cũng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, nhất là trong vụ án có nhiều đồng phạm, hoặc vụ án ghép của nhiều vụ án. Trường hợp này, bị cáo chỉ được quyền yêu cầu xem xét lại những phần nào liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các phần khác không liên quan, bị cáo sẽ không có quyền kháng cáo, còn bị cáo có được kháng cáo đối với những nội dung không ảnh hưởng đến quyền lợi của mình hay không thì chưa được thể hiện rõ trong BLTTHS năm 2015. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Tại Khoản 6 Điều 331 BLTTHS năm 2015 quy định người được Tòa án tuyên không có tội vẫn là bị cáo do bản án tuyên không có tội chưa có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã được thi hành ngay tại Tòa. Đây là quyền của bị cáo được Tòa án tuyên không có tội thực hiện nhằm khôi phục lại danh dự chứng minh cho sự trong sạch của mình việc BLTTHS quy định cho bị cáo có quyền kháng cáo vẫn nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của bị cáo.

Trường hợp bị cáo bị cáo kháng cáo phát sinh thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Phiên tòa phúc thẩm có nhiệm vụ xem xét, đánh giá lại sự thật khách quan của vụ án trên cơ sở tất cả những chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Tùy thuộc nội dung của kháng cáo, việc xét xử lại nội dung vụ án có thể tiến hành đối với toàn bộ hoặc một phần của vụ án. Thông qua thủ tục phúc thẩm, công tác kiểm tra được thực hiện và tính chính xác của các phán quyết sẽ cao hơn, đảm bảo quyền được xét xử công bằng. Quyền kháng cáo thúc đẩy mạnh mẽ cho các Thẩm phán làm việc một cách tận tình và tránh các sai sót hay sự chuyên quyền.

Theo quy định tại Điều 334 BLTTHS năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm là người tiếp nhận đơn kháng cáo và quyết định kháng nghị của VKS. Việc tiếp nhận kháng cáo có thể bằng đơn hoặc lời trình bày trực tiếp của bị cáo và những người tham gia tố tụng, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho VKS và những người tham gia tố tụng khác biết.

Pháp luật đã quy định khi hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại, tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm không được quy định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc bác bỏ cũng như không quyết định trước về điều khoản BLTTHS và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng nhưng việc “Tòa án cấp trên” hủy án “Tòa cấp dưới” cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy định của pháp luật, đảm bảo việc xét xử công bằng, khách quan. Khi án bị hủy để xét xử sơ thẩm lại, HĐXX cũng phải xem xét lại nguyên nhân mà Tòa án cấp trên hủy, xem xét toàn diện các chứng cứ, thông tin có phù hợp với thực tế khách quan hay không để xét xử lại đúng pháp luật, không phụ thuộc vào kết quả bị hủy. Nếu cấp trên hủy đúng cần xem xét để xử lại cho chính xác; Nếu cấp trên hủy sai thì phải bảo vệ chính kiến, quan điểm của HĐXX, miễn xóa bản án, quyết định phải có căn cứ và hợp pháp.

  • Quyền kháng cáo đối với người đại diện hợp pháp của bị cáo

Theo quy định tại khoản 1 Điều 331 BLTTHS năm 2015 khi bản thân bị cáo không có khả năng nhận thức hoặc khả năng thực hiện quyền được thì người đại diện có quyền kháng cáo để bảo vệ quyền lợi cho họ. Về mặt pháp lý, người dưới 18 tuổi được xác định là người chưa phát triển đầy đủ về tâm lý, sinh lý và nhận thức về pháp luật. Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người do những ảnh hưởng của những nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất làm ảnh hưởng đến khả năng tự quyết định và thực hiện việc bảo vệ quyền lợi cho mình. Cho nên, người đại diện chỉ được kháng cáo để bảo vệ cho bị cáo trong các trường hợp như người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo. Trong trường hợp này nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, thì bị cáo vẫn có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo hoặc thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của bị cáo để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo mà không cần có sự đồng ý hay yêu cầu của bị cáo, đây là quyền kháng cáo độc lập, không phụ thuộc vào yêu cầu của bị cáo và không làm mất đi quyền kháng cáo của bị cáo.

2.1.2. Quy định của pháp luật về thời hạn kháng cáo Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Thời hạn kháng cáo là khoảng thời gian mà pháp luật quy định cho các chủ thể có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình. Thời hạn kháng cáo là một trong những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của kháng cáo. Do đó mọi kháng cáo phải được thực hiện đúng thời hạn, trừ trường hợp kháng cáo quá hạn khi có lý do chính đáng và được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận. Việc xác định đúng thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của quyền kháng cáo là rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến tính hợp pháp của kháng cáo.

Kháng cáo là quyền được yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định chưa phát sinh hiệu lực. Như vậy, bản chất của quyền kháng cáo là quyền yêu cầu, thể hiện ý chí của người có quyền kháng cáo. Quyền kháng cáo được thực hiện tùy vào tính đúng đắn của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, đồng thời cũng phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức chủ quan của những người có quyền kháng cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và các quyết định sơ thẩm sẽ không có hiệu lực pháp luật ngay. Pháp luật tố tụng hình sự sẽ quy định một khoảng thời gian nhất định trước khi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực để bị cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình. Như vậy, bản án, quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo phúc thẩm nếu bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật.

  • Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm

Thời hạn kháng cáo bản án hình sự sơ đảm bảo rằng bản án của tòa án sơ thẩm được kiểm tra lại một cách hiệu quả và không bị kéo dài quá mức cần thiết đảm bảo công bằng trong xã hội. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tin tưởng của công chúng vào hệ thống pháp luật và bảo vệ quyền của người dân.

Theo Điều 333 BLTTHS năm 2015 quy định bị cáo có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Khi bị cáo tham gia phiên tòa, bị cáo biết rõ nội dung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xử, việc Tòa tuyên án có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình hay không, bị cáo có thể thực hiện ngay quyền kháng cáo của mình, như vậy quy định thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là hợp lý nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo cũng là 15 ngày nhưng được tính từ ngày bản án được giao cho họ, hoặc được niêm yết. Bị cáo vắng mặt tại Tòa chỉ có thể biết nội dung phán quyết của mình sau khi đã được nhận bản án từ Tòa án giao cho họ hoặc được niêm yết. Vì vậy, quyền kháng cáo được phát sinh kể từ những thời điểm nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, quy định này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của bị cáo, thể hiện triệt để nguyên tắc nhân đạo của pháp luật nước ta. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Việc giao bản án sơ thẩm theo quy định tại tại Điều 262 BLTTHS năm 2015, chậm nhất là 10 ngày sau khi tuyên án, Tòa án phải giao bản án sơ thẩm cho bị cáo, VKS cùng cấp, người bào chữa, giao bản án cho những người bị xét xử vắng mặt và thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan tổ chức nơi bị cáo cư trú, làm việc. Thời hạn gửi bản án sơ thẩm là căn cứ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể liên quan, đặc biệt trong trường hợp xét xử mà bị cáo vắng mặt. Với mục đích nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, để bị cáo biết được mình đang ở trong tình trạng nào của quá trình giải quyết vụ án từ đó có thể chuẩn bị tâm lý hay thuê người bào chữa cho mình, thực hiện thủ tục kháng cáo khi có mong muốn.

  • Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm

Điều 333 BLTTHS năm 2015 quy định trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án thì người có quyền kháng cáo quyết định của Tòa án. Nếu đơn kháng cáo được gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo sẽ bắt đầu được xác định từ ngày bưu cục nơi gửi đóng dấu trên phong bì.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 333 BLTTHS năm 2015 quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm, theo đó những quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong tố tụng hình sự là: Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án; Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; Quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của BLTTHS năm 2015.

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định, bản án của Tòa án như quy định hiện hành là tương đối hợp lý. Tuy nhiên, có một vài hạn chế sau đây:

Quy định thời hạn kháng cáo sẽ là 15 ngày kể từ ngày tuyên án hay là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, trường hợp bị cáo tham gia phiên tòa nhưng lại bỏ về hoặc bỏ trốn trong thời gian Hội đồng xét xử nghị án thì thời hạn kháng cáo sẽ được tính như thế nào. Vấn đề này chưa được pháp luật ghi nhận một cách cụ thể, do đó cần phải có quy định hoặc hướng dẫn thống nhất.

Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo được hướng nhưng tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có thể gây nhầm lẫn : “15 ngày kể từ ngày tuyên án….” Theo quy định này thì ngày Tòa tuyên án sẽ là thời điểm bắt đầu của thời hạn kháng cáo. Mặc dù, kháng cáo được thực hiện ngay trong ngày Tòa tuyên án vẫn được chấp nhận nhưng nếu nhận thức về ngày bắt đầu không đúng thì việc xác định ngày kết thúc cũng sẽ không chính xác. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo rơi vào ngày nghỉ, ngày lễ; còn trường hợp nếu ngày bắt đầu của thời hạn này rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ thì vẫn chưa có hướng dẫn.

Như vậy, việc xác định đúng thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền kháng cáo có vai trò quan trọng vì nó liên quan đến tính hợp pháp của kháng cáo. Nhưng nội dung này lại không được quy định trực tiếp trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sự mà lại được hướng dẫn tại một Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán. Theo quan điểm của tôi là nên pháp điển hóa nội dung của Nghị quyết vấn đề này thành một điều luật trong Bộ luật tố tụng hình sự để tạo điều kiện cho mọi người tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.

  • Kháng cáo quá hạn Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Kháng cáo quá hạn là việc kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong tố tụng hình sự, là hành vi chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật trong trường hợp đương sự không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định sơ thẩm để xem xét lại bản án, quyết định đó. Việc kháng cáo quá hạn được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo theo Khoản 3 Điều 335 BLTTHS năm 2015 thì kháng cáo quá hạn vẫn phát sinh hiệu lực nếu thoả mãn hai điều kiện. Thứ nhất là điều kiện về nội dung: Kháng cáo quá hạn có lí do chính đáng, trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định. Lý do chính đáng được giải thích cụ thể tại tiểu mục 5.1 mục 5 phần I Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP quy định lý do chính đáng có nghĩa là người có quyền kháng cáo mong muốn thực hiện việc kháng cáo nhưng không thể thực hiện được việc kháng cáo hoặc không thể gửi được đơn kháng cáo đúng thời hạn mặc dù đã áp dụng hết khả năng để thực hiện việc kháng cáo hoặc gửi đơn kháng cáo. Trường hợp này, người kháng cáo phải ghi rõ lý do kháng cáo quá hạn và làm đơn kháng cáo ngay sau khi lý do cản trở không còn nữa. Thứ hai, việc xét lý do kháng cáo quá hạn phải được thực hiện trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và không phụ thuộc vào việc ngoài bị cáo, đương sự kháng cáo quá hạn, trong vụ án còn có kháng cáo của các bị cáo hoặc đương sự khác trong thời hạn quy định của BLTTHS; Vì vậy khi nhận Tòa án hồ sơ vụ án có nhiều người kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm phải kiểm tra có kháng cáo quá hạn hay không. Nếu có thì phải xét lý do kháng cáo quá hạn trước khi mở phiên tòa.

Việc ghi nhận quyền kháng cáo quá hạn là thể hiện tính nhân đạo, phù hợp với thực tiễn bởi vì trong cuộc sống gặp những trở ngại khách quan mà con người không thể lường trước được như do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau,…

Để đảm bảo tính chính xác, hợp pháp và có căn cứ trong việc xét lý do kháng cáo quá hạn và đảm bảo quyền lợi của bị cáo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi quy định về xử lý đơn kháng cáo quá hạn trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn.

Tòa án cấp phúc thẩm phải thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn trên cơ sở giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn kháng cáo. Trong trường hợp cần thiết Hội đồng xét xử có quyền triệu tập người kháng cáo quá hạn đến phiên họp trình bày bổ sung về lý do kháng cáo quá hạn hoặc yêu cầu họ cung cấp giấy tờ, tài liệu bổ sung chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn của mình là có lý do chính đáng. Trước khi Hội đồng xét xử thảo luận, một thành viên của Hội đồng xét xử nêu tóm tắt nội dung đơn kháng cáo quá hạn, các giấy tờ, tài liệu chứng minh lý do của việc kháng cáo quá hạn. Nếu người kháng cáo quá hạn được triệu tập đến phiên họp thì Hội đồng xét xử yêu cầu trình bày bổ sung lý do kháng cáo quá hạn. Trong trường hợp có đại diện Viện kiểm sát cùng cấp tham gia thì đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phát biểu ý kiến chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm và người kháng cáo quá hạn. Trong trường hợp nhận được quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn của Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo theo quy định của BLTTHS. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

2.1.3. Quy định của pháp luật về thủ tục thực hiện quyền kháng cáo.

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong việc kháng cáo bản án, quyết định cấp sơ thẩm, người có quyền kháng cáo phải thực hiện đúng thủ tục kháng cáo, đây là cơ sở để đảm bảo tính hợp pháp của kháng cáo.

Thủ tục kháng cáo bản án hình sự là hành vi tố tụng sau khi có quyết định, bản án của Tòa án, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của Tòa án sơ thẩm thì có quyền chống án, và yêu cầu Tòa cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Hình thức và thủ tục kháng cáo được quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định này người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáp theo hai hình thức là đơn kháng cáo và trình bày kháng cáo trực tiếp tại Tòa án.

Trường hợp kháng cáo bằng văn bản thì người kháng cáo gửi đơn trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Hiện nay chưa có văn bản nào quy định mẫu đơn kháng cáo bản án hình sự. Tuy nhiên, theo Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì đơn kháng cáo phải có các nội dung chính bao gồm: Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo; Lý do và yêu cầu của người kháng cáo; Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo, nếu kháng cáo quá hạn thì phải nêu rõ lý do kháng cáo quá hạn, theo đó, văn bản trình bày phải có lý do chính đáng, cung cấp thêm các bằng chứng chứng minh đó là lý do bất khả kháng. Sau khi làm xong đơn kháng cáo và các giấy tờ có liên quan thì người kháng cáo tiến hành nộp đơn kháng cáo tại Tòa án nhân dân đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm.

Trường hợp người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án cấp sơ thẩm phải tiếp nhận và lập biên bản về việc kháng cáo, ghi rõ những thông tin cần thiết cũng như yêu cầu của người kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án cấp phúc thẩm lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung. Gửi kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.

Như vậy, khi nhận bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật xét thấy có các dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng,…người dân có thể sử dụng quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án các cấp cao hơn xem xét, xét xử lại. Qua đó, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án. Giúp Tòa án xem xét lại và ra quyết định một cách khách quan, công bằng. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Việc tiếp nhận và xử lý kháng cáo được quy định tại Điều 334 như sau:

  • Đối với việc nhận và xử lý đơn kháng cáo được gửi đến Tòa án có thẩm quyền.

Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận đơn và kiểm tra người làm đơn kháng cáo có thuộc chủ thể có quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo thuộc giới hạn của việc kháng cáo hay không. Trong trường hợp kháng cáo đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định thì tiến hành thông báo về việc kháng cáo theo quy định. Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ. Trong trường hợp đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định và là của người có quyền kháng cáo nhưng nội dung kháng cáo chưa cụ thể, chưa rõ ràng, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho họ để họ thể hiện nội dung kháng cáo cho cụ thể và rõ ràng theo quy định của pháp luật. Trường hợp nội dung đơn kháng cáo đúng quy định nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm lập hồ sơ kháng cáo quá hạn, yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng và gửi đơn kháng cáo cùng các giấy tờ, tài liệu kèm theo chứng minh lý do của việc kháng cáo quá thời hạn (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm để xét lý do kháng cáo quá hạn. Trong trường hợp đơn kháng cáo của người không có quyền kháng cáo hoặc nội dung kháng cáo không thuộc giới hạn của việc kháng cáo thì trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại và ghi chú vào sổ nhận đơn về việc trả lại đơn. Việc trả lại đơn phải được thông báo bằng văn bản trong đó ghi rõ lý do của việc trả lại đơn. Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

  • Đối với việc nhận và xử lý kháng cáo trực tiếp tại Tòa án.

Đây là những điểm mới cơ bản mang lại nhiều lợi ích và quyền lợi cho người kháng cáo được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tại quy định về thủ tục kháng cáo, người kháng cáo ngoài việc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì họ còn có thể trình bày trực tiếp với Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung. Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì Chánh án Tòa án cử một Thẩm phán hoặc một cán bộ Tòa án tiếp và giải quyết. Nếu người kháng cáo biết chữ và viết được thì hướng dẫn để họ tự viết đơn. Nếu họ muốn trình bày trực tiếp thì lập biên bản về việc kháng cáo đó theo đúng quy định của BLTTHS. Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì Tòa án cấp phúc thẩm giải thích cho họ biết là họ chỉ có quyền trình bày trực tiếp về việc kháng cáo với Tòa án cấp sơ thẩm.

Thông qua việc ghi nhận hình thức và thủ tục kháng cáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo đảm bảo quyền kháng cáo được thực hiện trên thực tế giúp Tòa án xét xử đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Đối với bị cáo đang bị tạm giam thì pháp luật cũng quy định Ban giám thị trại tạm giam có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo. Khi có đơn kháng cáo của bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải tiếp nhận đơn kháng cáo, xác nhận ngày, tháng, năm nhận đơn kháng cáo; ký, đóng dấu và gởi ngay cho Tòa án sơ thẩm.

Trong trường hợp đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định và là của người có quyền kháng cáo nhưng nội dung kháng cáo chưa cụ thể, chưa rõ ràng, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho họ để họ thể hiện nội dung kháng cáo cho cụ thể và rõ ràng theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Trong trường hợp đơn kháng cáo là của người có quyền kháng cáo, nội dung kháng cáo thuộc giới hạn kháng cáo, nhưng quá thời hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm lập hồ sơ kháng cáo quá hạn và gửi đơn kháng cáo cùng các giấy tờ, tài liệu kèm theo chứng minh lý do của việc kháng cáo quá thời hạn (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm để xét lý do kháng cáo quá hạn. Nếu trong vụ án chỉ có kháng cáo quá hạn, không có kháng cáo khác, không có kháng nghị thì Tòa án cấp sơ thẩm chưa phải gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Nếu đơn kháng cáo được gởi đến Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các công việc như đã phân tích ở trên.

Khi kháng cáo, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, sẽ xảy ra một số trường hợp sau theo Điều 355 BLTTHS năm 2015 quy định“Tòa án không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm”

2.1.4. Một số quy định khác về quyền kháng cáo.

  • Thông báo về việc kháng cáo

Việc thông báo kháng cáo có ý nghĩa nhất định đối với các chủ thể có liên quan, tạo điều kiện cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác có thời gian chuẩn bị, cung cấp thêm tài liệu, thông tin có liên quan để làm sáng tỏ vụ án; để đảm bảo quyền, lợi ích của mình tại phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo cho họ thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, bị cáo và những người liên quan đến kháng cáo cũng như những cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự phải được thông báo về kháng cáo. Vấn đề này được quy định tại Điều 338 BLTTHS năm 2015 thì thời hạn để thực hiện việc thông báo kháng cáo đối với Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, vì Tòa án cấp sơ thẩm là cơ quan trực tiếp xét xử vụ án, là nơi tiếp nhận và xử lý đơn kháng cáo, nên hoạt động thông báo được thực hiện thuận lợi và đảm bảo tính chính xác hơn.

Vì vậy, tại Khoản 3 Điều 338 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi nhận được thông báo về việc kháng cáo, có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án” Quy định này tạo ra một hành lang pháp lý cho việc gửi ý kiến của người được thông báo và sử dụng những ý kiến của họ từ phía cơ quan có thẩm quyền, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng có thêm thông tin và đánh giá, phân tích hồ sơ một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

  • Hậu quả của việc kháng cáo

Căn cứ theo Điều 339 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này. Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa áp cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị”. Như vậy, khi có kháng cáo, kháng nghị thì toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án chưa được đưa ra thi hành. Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị một phần bản án quyết định thì phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành. Phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành. Tuy nhiên, để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm vẫn được thi hành ngay mặc dù có kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn thời hạn đã tạm giam được quy định tại Điều 363 BLTTHS 2015, cụ thể:“Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa.”

  • Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo

Quy định về việc rút kháng cáo sẽ làm giảm bớt số lượng các vụ án mà cấp phúc thẩm phải xét xử, hạn chế chi phí tố tụng cho Nhà nước và công dân, giúp cho bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nhanh chóng được thi hành và phát huy hiệu quả trên thực tế.

Việc bổ sung, thay đổi kháng cáo được quy định tại Điều 342 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa phải lập văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan đến kháng cáo biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.

Quy định này thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, tránh cho bị cáo bất ngờ trước việc bổ sung, thay đổi kháng cáo làm xấu hơn tình trạng của họ khiến bị cáo không kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Cùng với việc quy định cho người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo thì pháp luật tố tụng hình sự còn ghi nhận cho họ có quyền rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo cũng được quy định tại Khoản 1 Điều 342 BLTTHS năm 2015 quy định việc rút kháng cáo có thể được thực hiện vào thời gian trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Việc rút kháng cáo có thể gồm một phần nội dung hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo tùy vào người kháng cáo. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo đó trong bản án phúc thẩm”

BLTTHS năm 2015 quy định người kháng cáo có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà không bị ràng buộc bởi quy định “làm xấu đi tình trạng của bị cáo”. Ràng buộc này chỉ quy định đối với Viện kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị nhằm mục đích nâng cao tính trách nhiệm của cơ quan này khi ban hành quyết định kháng nghị. Mặt khác Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cũng không quy định số lần được rút kháng cáo, nên người kháng cáo đã rút kháng cáo vẫn có thể kháng cáo lại nếu còn thời hạn kháng cáo, các Tòa án có thẩm quyền đều chấp nhận và kháng cáo sau cùng được xem là kháng cáo hợp pháp nếu trong thời hạn luật định, phiên tòa phúc thẩm phải được mở theo thủ tục chung để xem xét kháng cáo đó.

Mặt khác, quy định về việc rút kháng cáo sẽ làm giảm bớt số lượng các vụ án mà cấp phúc thẩm phải xét xử, hạn chế chi phí tố tụng cho Nhà nước và công dân, giúp cho bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nhanh chóng được thi hành và phát huy hiệu quả trên thực tế. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 đó là người kháng cáo có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà không bị ràng buộc bởi quy định “làm xấu đi tình trạng của bị cáo”. Ràng buộc này chỉ quy định đối với Viện kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị nhằm mục đích nâng cao tính trách nhiệm của cơ quan này khi ban hành quyết định kháng nghị, đồng thời không quy định số lần được rút kháng cáo, nên người kháng cáo đã rút kháng cáo vẫn có thể kháng cáo lại nếu còn thời hạn kháng cáo. Và thực tế, các Tòa án có thẩm quyền đều chấp nhận và kháng cáo sau cùng được xem là kháng cáo hợp pháp nếu trong thời hạn luật định, phiên tòa phúc thẩm phải được mở theo thủ tục chung để xem xét kháng cáo đó.

Tiểu kết chương 1

Kháng cáo trong tố tụng hình sự là phương thức thực hiện quyền của bị cáo trong thời hạn, thủ tục luật định yêu cầu Tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

BLTTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về quyền kháng cáo và các điều kiện bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo là cơ sở pháp lý quan trọng để bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, với những sửa đổi, bổ sung quan trọng về quyền kháng cáo trong BLTTHS năm 2015 về thời hạn kháng cáo, kháng cáo quá hạn, cách thức thực hiện quyền kháng cáo; về đối tượng kháng cáo; thông báo kháng cáo; hậu quả của việc kháng cáo; bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo…, điều này giúp cho quyền kháng cáo của bị cáo được bảo đảm thực hiện trên thực tế.

Nghị quyết 48 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, bộ luật tố tụng hình sự 2015 với những thay đổi quan trọng đang trong quá trình hoàn chỉnh chắc chắn sẽ đảm bảo một cách cao nhất quyền lợi hợp pháp của bị cáo nói chung và quyền kháng cáo nói riêng. Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay và thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, việc nghiên cứu đề tài:“Quyền kháng cáo của bị cáo – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk’’” là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự, đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013.

Thông qua quyền kháng cáo, bị cáo tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình qua việc bày tỏ sự không đồng ý với kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm về hình phạt, tội danh, vấn đề bồi thường hoặc các vấn đề khác có liên quan và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án, xét lại quyết định đó. Việc bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự phải phù hợp với quy định Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bên cạnh đó quyết định của Tòa án được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử và là điều kiện để Tòa án tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình, phát hiện, khắc phục những thiếu sót, sai lầm, xét xử đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật, qua đó tạo niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và pháp luật. Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án

2 thoughts on “Luận văn: Pháp luật Quyền kháng cáo của bị cáo tại tòa án

  1. Pingback: Luận văn: Quyền kháng cáo của bị cáo tại toà án nhân dân huyện

  2. Pingback: Luận văn: Giải pháp quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464