Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện và giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, Tỉnh Đắk Lắk.

2.1.1. Những kết quả đạt được của việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm vụ án hình sự

Huyện Krông Năng là một huyện nằm ở phía Đông bắc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm tỉnh lỵ 50 km theo đường Quốc lộ 14, Quốc lộ 29, được thành lập ngày 09 tháng 11 năm 1987, tách ra từ huyện Krông Búk có diện tích: 621 km². Trung tâm huyện có tuyến đường Quốc lộ 29 và đường tỉnh lộ 3 đi qua (Krông Năng- EaKar). Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao,…sinh sống.

Từ năm 2018 đến tháng 6 năm 2023, TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phải tập trung giải quyết một số lượng rất lớn các vụ án hình sự sơ thẩm. Nhìn chung hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự đã từng bước được nâng lên, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn, không có án quá hạn luật định. Trong số án hình sự đã xét xử sơ thẩm đều được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các bản án, quyết định đã ban hành đều đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính khách quan, dân chủ, thấu tình đạt lý, đúng thời hạn luật định và có tác dụng giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân. Góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước, của cơ quan tổ chức. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về quyền kháng cáo của bị cáo được đảm bảo thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể như sau:

Thực tế xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua cho thấy, đa số các bị cáo đều có trình độ học vấn thấp, trình độ học vấn trung bình là 06/12. Về điều kiện địa lý, bị cáo ở địa bàn vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn nên việc tiếp cận và thông hiểu các quy định của pháp luật là khó khăn đối với các bị cáo. Qua việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo thấy rằng việc bị cáo ý thức được quyền của mình trong việc kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là hết sức cần thiết. Kết quả thực tế trong những năm gần đây các bị cáo trong các vụ án hình sự thực hiện tốt quyền kháng cáo để bảo vệ quyền lợi ích của mình. Hầu hết các kháng cáo của bị cáo đều hợp pháp và được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Số lượng vụ án sơ thẩm mà bị cáo kháng cáo chiếm tỷ lệ tương đối cao so với số lượng án sơ thẩm đã giải quyết.

Bảng 01: Số liệu thống kê tình hình giải quyết các vụ án hình sự từ năm 2018-2022 và 6 tháng đầu năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

STT Năm Thụ lý Giải quyết
Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo
01 2018 70 98 70 98
02 2019 69 83 65 78
03 2020 73 93 72 91
04 2021 68 66 67 64
05 2022 61 69 58 67
06 2023 35 54 30 49
Tổng cộng 376 463 362 447

Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

Tổng kết số liệu án giải quyết 5 năm (từ năm 2018 đến năm 2022) và 06 tháng đầu năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk như sau: Tổng số án hình sự đã giải quyết là 362 vụ án với 447 bị cáo theo thủ tục sơ thẩm. Trong đó, số vụ án mà bị cáo kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là 70 vụ chiếm tỉ lệ 19,3% với 178 bị cáo.

  • Số liệu cụ thể được thể hiện thông qua bảng thống kê sau:

Bảng 02: Thống kê số vụ án và số bị cáo đã xét xử sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Năm Số án giải quyết sơ thẩm Số án bị kháng cáo
Số vụ Bị cáo Số vụ KC Tỉ lệ % Số bị cáo KC Tỉ lệ %
2018 70 98 15 21,4% 27 27,5%
2019 65 78 13 20% 15 21,1%
2020 72 91 11 15,2% 31 34%
2021 67 64 13 19,4% 33 51,5
2022 58 67 12 20,6% 29 43,2%
6 tháng 2023 30 49 06 20% 15 30,6%
Cộng 362 447 70 19,3% 178 32,9%

(Nguồn : Trích số liệu báo cáo tổng kết năm 2018-2019-2020-2021- 2022 và 06 tháng đầu năm 2023 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk).

Qua bảng thống kê án hình sự của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Krông Năng thể hiện trong 05 năm gần đây, các chỉ số liên quan đến việc thực hiện quyền kháng cáo không có biến động nhiều. Cụ thể: Năm 2018 có 15 vụ án bị kháng cáo với 27 bị cáo, năm 2019 có 13 vụ án bị kháng cáo với 15 bị cáo, năm 2020 có 11 vụ án bị kháng cáo với 31 bị cáo, năm 2021 có 13 vụ án bị kháng cáo với 33 bị cáo, năm 2022 có 12 vụ kháng cáo với 29 bị cáo; 06 tháng đầu năm 2023 có 06 vụ kháng cáo với 15 bị cáo.

Tỷ lệ số vụ án có kháng cáo trên tổng số vụ án đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm cho thấy tỷ lệ các vụ án hình sự có bị cáo kháng cáo mang tính ổn định. Cụ thể, năm 2018: Tỷ lệ số vụ án có kháng cáo phúc thẩm trên tổng số vụ án sơ thẩm đã giải quyết là 21,4%, năm 2019 là 20%, năm 2020 là 15,2%, năm 2021 là 19,4%, năm 2022 là 20,6% và 06 tháng đầu năm 2023 là 20%, trung bình trong 05 năm từ 2018 đến 2023 và 06 tháng đầu năm 2023, tỉ lệ án hình sự bị cáo kháng cáo trên tổng số giải quyết là 19,3%.

Như vậy, từ việc phân tích số liệu án giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk qua các năm thể hiện tỷ lệ kháng cáo trên số vụ án thụ lý giải quyết hằng năm tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng luôn chiếm tỷ lệ cao 19,3%, điều này cho thấy những quy định của pháp luật về quyền kháng cáo được bị cáo nhận thức một cách đúng đắn và đã áp dụng một cách hiệu quả để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời thực hiện quyền kháng cáo kịp thời tạo điều kiện để Tòa án cấp trên kiểm tra lại tính đúng đắn, tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới, đảm bảo tính nghiêm minh trong hoạt động xét xử.

  • Về chất lượng kháng cáo Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trong những năm gần đây, chất lượng kháng cáo ngày càng tăng, thể hiện thông qua số lượng vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa có xu hướng tăng nhẹ, điều này có thể nhận thấy thông qua bảng thống kê số liệu sau.

Bảng 03: Tình hình kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự kháng cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Năm Số án sơ thẩm đã giải quyết Số án bị cáo KC Kết quả xét xử phúc thẩm
Sửa án sơ thẩm Huỷ án sơ thẩm Đình chỉ XX phúc thẩm Y án sơ thẩm
2018 70 15 3 2 10
2019 65 13 4 2 7
2020 72 11 2 1 8
2021 67 13 4 1 1 7
2022 58 12 5 1 6
06 tháng năm 2023 30 06 1 1 5
Tổng 362 70 19 2 7 43

(Nguồn : Trích số liệu báo cáo tổng kết năm 2018-2019-2020-2021- 2022 và 06 tháng đầu năm 2023 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk).

Qua bảng số liệu thống kê kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thể hiện tỷ lệ kháng cáo được chấp nhận một phần hoặc toàn bộ là tương đối cao, dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa án, hủy án lý do chủ yếu mà án HSST bị hủy, bị cải sửa phần lớn là do Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm tương đối nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc phát sinh tình tiết mới điều này khẳng định rằng bị cáo kháng cáo hợp pháp thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại bản án, quyết định để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo thực hiện việc kháng cáo kịp thời đã giúp việc xem xét, đánh giá chứng cứ chính xác hơn, phán quyết của Tòa án cấp trên sẽ phù hợp với thực thế khách quan cũng như tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trên thực tế, có những vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù cho bị cáo, nhưng thông qua việc kháng cáo và việc xem xét, đánh giá lại chứng cứ, Tòa án cấp phúc thẩm đã chuyển từ tù giam thành tù treo.

Ví dụ : Tại Bản án số 45/2020/HS-ST ngày 15/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử bị cáo Nguyễn Thị Diệp về hành vi “Chứa mại dâm”. Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã xét xử bị cáo Diệp 9 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Cấp phúc thẩm nhận định: “Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và trong quá trình công tác bị cáo đã có nhiều thành tích xuất sắc được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, giấy chứng nhận sáng kiến kinh nghiệm cấp huyện và nhiều giấy khen khác”. Do đó đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệp 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Hoặc cấp sơ thẩm xử giam với mức án nghiêm khắc do chưa nhận định đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo nên cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm giảm mức hình phạt đối với bị cáo.

Ví dụ : Tại Bản án số 17/2022/HS-ST ngày 20/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã xét xử bị cáo Nguyễn Đậu Duy Khang về hành vi “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 và đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Cấp phúc thẩm nhận định, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo Khang có cha, ông, bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương. Do đó, đã chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Đậu Duy Khang 06 tháng tù.

Bên cạnh đó cũng nhận thấy, tỉ lệ án huỷ, sửa có tăng nhẹ trong những năm gần đây nhưng số kháng cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận, y án sơ thẩm cũng tương đối cao (43 vụ/70 vụ, tỉ lệ : 61,4%). Qua đó cho thấy, chất lượng kháng cáo của bị cáo chưa cao.

Một số bị cáo có tâm lý kháng cáo để xin giảm nhẹ hình phạt mặc dù cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội và tuyên mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Ví dụ: Tại bản án số 55/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã xét xử bị cáo Nguyễn Chí Thương về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo 08 năm tù. Về nhân thân của bị cáo như sau: Bị cáo có 02 tiền án về tội cướp tài sản, tại bản án số 566/2007/HSPT ngày 25/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt Nguyễn Chí Thương 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 01/9/2009 được đặc xá trở về địa phương, tại bản án số 30/2013/HSST ngày 28/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt Nguyễn Chí Thương 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 20/9/2019 chấp hành xong hình phạt. Sau đó bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cấp phúc thẩm nhận định bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên giữ nguyên án sơ thẩm đối với bị cáo.

  • Về cơ chế đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thường xuyên giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, trong đó luôn nhấn mạnh quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được giao, được niêm yết. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trong để cho bị cáo chủ động trong thực hiện quyền kháng cáo theo đúng thời hạn để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ công an huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk cũng đã quan tâm và hỗ trợ rất nhiều cho các bị cáo như: cung cấp mẫu đơn, giấy, viết và xác nhận vào đơn kháng cáo, thực hiện thủ tục chuyển ngay cho Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.

Đối với bị cáo tại ngoại, Thư ký, Thẩm phán đều hướng dẫn thủ tục kháng cáo, hướng dẫn mẫu đơn và nội dung đơn và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Chính vì vậy, tất cả các kháng cáo đều được thực hiện đúng thời hạn, đúng thủ tục và kịp thời, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo luôn được xem xét và bảo vệ theo đúng quy định.

Do đó để bảo đảm tính chặt chẽ về thủ tục trong BLTTHS năm 2015 lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã quán triệt các quy định đảm bảo quyền kháng cáo đối với bị cáo như quy định trình tự thực hiện của Tòa án kể từ sau khi nhận được đơn kháng cáo, tính hợp lệ của kháng cáo được xem xét dựa trên những yếu tố: thời hạn kháng cáo, chủ thể thực hiện kháng cáo, nội dung kháng cáo. Việc Tòa án phải vào sổ tiếp nhận đơn kháng cáo ngay sau khi nhận được đơn sẽ giúp cho việc Tòa án không bỏ sót, quên hoặc làm mất mát các đơn kháng cáo, đồng thời cũng xác định được thời hạn kháng cáo có đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật hay không. Bên cạnh việc vào sổ tiếp nhận đơn kháng cáo, Tòa án cần phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo để xác định đơn kháng cáo đó có đáp ứng đủ yêu cầu để giải quyết theo trình tự phúc thẩm hay không.

2.1.2. Một số tồn tại hạn chế trong việc thực hiện quyền kháng cáo. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trên cơ sở phân tích lý luận, kết hợp thực tiễn thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trên địa bàn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong những năm gần đây, bên cạnh những kết quả tích cực rất đáng ghi nhận, việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm của bị cáo hiện nay vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc như sau:

  • Thứ nhất, tỷ lệ Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm còn cao.

Như đã thể hiện ở bảng số liệu 1, trong vòng 05 năm trở lại đây, số vụ án bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là 70 vụ. Trong đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm là 43 vụ, chiếm tỉ lệ 61,4%. Thể hiện thông qua bảng số liệu sau:

Bảng 03 : Tỷ lệ kết quả giải quyết phúc thẩm đối với án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng

Năm Số án KC Kết quả giải quyết phúc thẩm
Sửa án Tỉ lệ % Huỷ án Tỉ lệ % Đình chỉ XXPT Tỉ lệ % Y án sơ thẩm Tỉ lệ %
2018 15 3 20% 2 13,3% 10 66,6%
2019 13 4 30% 1 7,69% 2 13,3% 7 53,8%
2020 11 2 1 9% 8 72,2%
2021 13 4 18,1% 1 7 53,8%
2022 12 5 41,6% 1 8,33% 1 8,3% 6 50%
06 tháng 2023 06 1 6,25% 1 14,2% 5 71,4%
Cộng 70 19 27,1% 3 4,2% 7 10% 43 61,4%

(Nguồn : Trích số liệu báo cáo tổng kết năm 2018-2019-2020-2021- 2022 và 06 tháng đầu năm 2023 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân huyện Krông Năng)

Qua số liệu tổng hợp thể hiện, số lượng Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là khá cao 61,4%, điều này cũng cho thấy các bản án sơ thẩm đã xử pháp luật đúng quy định của pháp luật nguyên nhân do thủ tục thực hiện việc kháng cáo bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp, vì thủ tục quá đơn giản cùng với quy định Tòa án cấp phúc thẩm không xử nặng hơn nên bị cáo không có căn cứ. Mặt khác án phí phúc thẩm trong trường hợp kháng cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng mức án phí này không đáng kể, chỉ 200.000 đồng nên không hạn chế được tình trạng kháng cáo tràn lan của các bị cáo. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

  • Thứ hai, bất cập về thời hạn kháng cáo, kháng cáo quá hạn

Pháp luật quy định về thời hạn kháng cáo còn nhiều bất cập như trường hợp kháng cáo quá hạn, cách tính thời hạn kháng cáo, kháng cáo về lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan. Khi bị cáo kháng cáo quá hạn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn cho bị cáo làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo, đối với trường hợp bất khả kháng và trở ngại khách quan pháp luật chưa quy định một cách cụ thể mà phải dẫn chiếu tại Bộ luật dân sự 2015.

  • Thứ ba, bất cập về vấn đề giải thích quyền kháng cáo và tuyên đọc bản án tại phiên tòa sơ thẩm.

Quyền kháng cáo là quyền cơ bản của bị cáo. Tuy nhiên không phải bị cáo nào cũng biết được tất cả các quyền của mình. Vì vậy, việc giải thích quyền kháng cáo và tuyên đọc bản án đầy đủ quyền kháng cáo tại phiên tòa là một yêu cầu cần thiết. Hiện nay, vấn đề này được các Tòa án sơ thẩm thực hiện khá tốt, khi tuyên án, Hội đồng xét xử tuyên rất cụ thể về quyền kháng cáo, về thời hạn kháng cáo. Một số Thẩm phán tuyên đọc không hết bản án đã thông qua tại phòng nghị án, không tuyên quyền kháng cáo hoặc không tuyên thời hạn kháng cáo.

  • Thứ tư, bất cập trong công tác thụ lý, xử lý đơn kháng cáo, thông báo kháng cáo.

Nhiều nguyên nhân dẫn đến kháng cáo không phù hợp nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau: Về vi phạm thời hạn ra thông báo kháng cáo, việc gửi thông báo kháng cáo cho người tham gia tố tụng và viện kiểm sát cùng quá hạn luật định, phát hành bản án cho bị cáo và Viện kiểm sát chậm, gửi hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm không đúng thời gian quy định của pháp luật.

Việc nhận đơn kháng cáo, thông báo kháng cáo, kháng nghị, gửi hồ sơ đến Tòa án cấp phúc thẩm. Thực tiễn xét xử của TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk thì rất ít trường hợp tiếp nhận kháng cáo bằng lời trình bày trực tiếp của bị cáo mà chủ yếu nhận đơn kháng cáo.

  • Thứ năm, vi phạm hình thức, đối tượng làm đơn kháng cáo

Có một số trường hợp đơn kháng cáo không phù hợp về hình thức như không ghi yêu cầu cụ thể về nội dung kháng cáo là giảm nhẹ hình phạt hay hưởng án treo, không ghi ngày, tháng, năm kháng cáo và đơn kháng cáo không có xác nhận của Trại tạm giam khi bị cáo tạm giam làm đơn kháng cáo khi đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc một số trường hợp người nhà bị cáo như bố, mẹ, vợ, chồng không có quyền kháng cáo nhưng làm đơn kháng cáo thay dẫn đến việc kháng cáo không đúng quy định về đối tượng kháng cáo.

  • Thứ sáu, vi phạm về việc giao bản án

Có không ít trường hợp giao bản án cho bị cáo và người tham gia tố tụng chưa đúng thời gian quy định tại Điều 262 BLTTHS, cá biệt còn có không ít trường hợp không giao bản án sơ thẩm cho bị cáo đang bị tạm giam, không giao bản án cho người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

  • Về nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, BLTTHS hiện hành vẫn còn đó những bất cập, thiếu sót như quy định chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng. Rất nhiều quy định của BLTTHS quy định không rõ nên phải chờ hướng dẫn áp dụng của TANDTC, việc hướng dẫn không được kịp thời.

Sự thiếu hoàn thiện của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về quyền kháng cáo của bị cáo, quy định của BLTTHS liên quan đến quyền kháng cáo còn chưa thật sự đầy đủ, không rõ ràng, nhưng lại chưa có sự hướng dẫn áp dụng thống nhất của cơ quan có thẩm quyền đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền kháng cáo của bị cáo; hoặc là các hướng dẫn, giải đáp chưa cụ thể, chi tiết, chưa có một chuẩn mực để các chủ thể áp dụng pháp luật tuân theo. Trong thực tiễn về cách tính thời hạn bắt đầu kháng cáo, xác định trách nhiệm trong việc gửi bản án cho bị cáo dẫn đến việc không thực hiện được quyền kháng cáo thì pháp luật chưa quy định một cách cụ thể.

Thứ hai, đối với một tỉnh miền núi như Đắk Lắk vấn đề bổ sung nguồn nhân lực chất lượng, đào tạo bồi dưỡng cho Thẩm phán, Hội thẩm luôn gặp nhiều khó khăn bởi điều kiện kinh tế, xã hội còn hạn chế. Trong các báo cáo tổng kết công tác hằng năm, TAND tỉnh đã chỉ ra thực tế còn nhiều hạn chế trong vấn đề này. Số các vụ án mà ngành Tòa án tỉnh phải giải quyết hàng ngày càng tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp, ngoài những nguyên nhân tác động như hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập chưa phù hợp, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc vẫn còn nhiều khó khăn, chế độ lương và chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm vẫn chưa thực tương xứng và phù hợp thì nguyên nhân chủ yếu vẫn là do trình độ chuyên môn của đội ngũ này tại tỉnh vẫn còn chưa cao so với nhiều tỉnh khác. Bởi vậy dẫn đến nhiều án bị hủy, bị sửa lại cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm và vẫn còn tồn tại không ít những tiêu cực phát sinh do Thẩm phán, Hội thẩm chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài.

  • Thứ ba, cơ sở vật chất, trang thiết bị của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk hiện tại còn thiếu, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, HTND chưa đạt yêu cầu. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường cũng là một trong những tác nhân. Là một tỉnh nghèo, khó khăn với các điều kiện kinh tế, xã hội hạn chế. Cơn bão kinh tế thị trường ảnh hưởng tới những nhu cầu vật chất bình thường trong cuộc sống của người Thẩm phán tại tỉnh Đắk Lắk. Thậm chí trong nhiều trường hợp “nỗi lo cơm áo gạo tiền” của Thẩm phán, Hội thẩm cũng sẽ được đặt lên bàn cân với sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi họ xét xử, đấy chính là mặt trái của sự phát triển cơ chế thị trường, tiêu cực, hối lộ có thể diễn ra nhiều hơn làm cho con người ta dễ suy thoái về đạo đức. Mặt khác sự phát triển về kinh tế, xã hội kéo theo sự bùng nổ về thông tin và Đắk Lắk không nằm ngoài guồng quay đó. Trong thời đại công nghệ, truyền thông đang phát triển mạnh như hiện nay, với xu thế dân chủ hoá mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, trong đó có hoạt động tố tụng, vai trò của các cơ quan ngôn luận ngày càng được nâng cao. Nhiều vụ án được thông tin tới nhân dân, thậm chí trước khi Tòa án xét xử. Các loại báo (báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình) không chỉ đưa thông tin mà còn định hướng dư luận. Điều cần lưu ý, ở Đắk Lắk chủ yếu là đồng bào dân tộc Tây Nguyên sinh sống, chính trình độ dân trí không cao so với mặt bằng chung của nhiều tỉnh đồng bằng khiến cho nhận thức và khả năng tiếp nhận thông tin từ dư luận của đồng bào sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều, nên việc đề cao cảnh giác trước mọi luồng thông tin xấu của các phần tử chống phá Nhà nước, có thể gây kích động cho bà con là điều luôn được đề cao. Do đó, khi thụ lý hồ sơ vụ án được phân công, Thẩm phán, Hội thẩm đã bị ảnh hưởng bởi sự chi phối của dư luận từ báo chí, dẫn đến việc ra các phán quyết không khách quan, không phù hợp với những tình tiết, diễn biến của vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, một số bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật nên dẫn đến những khó khăn trong thực hiện quyền kháng cáo.

  • Về nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, năng lực đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm luôn là một vấn đề đáng để bàn bởi nó quyết định tới chất lượng xét xử.

Một bộ phận do năng lực chuyên môn, các chủ thể áp dụng pháp luật không sớm cập nhật, nghiên cứu các văn bản, kiến thức mới để bổ sung, nâng cao năng lực công tác mà tự hài lòng bằng những “kinh nghiệm công tác thâm niên” trong khi các văn bản pháp luật, các hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ được thường xuyên ban hành và cập nhật.

Tòa án nhân dân tối cao đã thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, các buổi giải đáp thắc mắc hàng tháng, hàng quý để giải đáp các vướng mắc trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án. Tuy nhiên, cũng có một bộ phận cán bộ không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ dẫn đến việc không kịp thời nắm bắt hoặc nắm bắt không đầy đủ các giải đáp kịp thời.

Thực tế đã ghi nhận nhiều trường hợp tại Đắk Lắk đối với các vụ án không có nhiều tình tiết phức tạp, Hội thẩm nhân dân không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án mà họ chỉ đọc trước phiên xét xử từ 1 đến 2 buổi, hoặc thậm chí có nhiều trường hợp Hội thẩm chỉ đọc ngay trước phiên xét xử. Chính từ việc nghiên cứu qua loa và không thể khái quát toàn diện như vậy mà trong các vụ án như thế này, Hội thẩm hoàn toàn bị động và phụ thuộc vào Thẩm phán và phụ thuộc vào những chứng cứ, hồ sơ, tại liệu có sẵn. Điều này làm cho chất lượng phiên xét hỏi không đáp ứng được yêu cầu bởi Hội thẩm không nắm được nhiều về vụ án và đa phần chỉ ngồi nhìn Thẩm phán làm việc. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trường hợp Thẩm phán bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật còn tồn tại. Thực tế, vẫn tồn tại sự tiêu cực trong công tác xét xử bởi một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, bị tha hóa đạo đức. Có thể xuất phát từ chế độ tiền lương cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hiện tại còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, trách nhiệm của người cầm cân nảy mực; nhưng cũng có thể, xuất phát từ “lòng tham” của chính những chủ thể áp dụng pháp luật, bị đồng tiền làm lóa mắt, chi phối.

Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ Tòa án, đặc biệt là các chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật có lúc, có nơi chưa kịp thời. Nhiều quy định mới về quyền kháng cáo đã được bổ sung tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong khi đó, các hướng dẫn áp dụng chưa kịp thời ban hành dẫn đến việc các chủ thể áp dụng pháp luật có cách hiểu không thống nhất và dẫn đến việc áp dụng pháp luật, trong đó có việc áp dụng các quy định về thời hạn và phạm vi kháng cáo trong các vụ án cũng chưa thống nhất. Mặc dù như vậy, nhưng công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Tòa án có lúc, có nơi lại không kịp thời với việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, dẫn đến tình trạng nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất.

Ngoài ra, tâm lý của một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị tác động bởi cấp trên, “cấp ủy”, bởi lo lắng sẽ bị ảnh hưởng những nhận xét không tốt về đánh giá xếp loại hàng năm, đánh giá nhận xét để tái bổ nhiệm, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, vv…Đồng thời, trong cuộc sống, không tránh khỏi các quan hệ thân thích, quen biết nên nếu không giữ được các “phẩm chất” mà Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán quy định thì không tránh khỏi những lúc việc áp dụng pháp luật, dẫn đến có những vụ án thiếu khách quan và chính xác dẫn đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội cũng không phù hợp.

Trên thực tế xảy ra ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung đã có không ít cấp ủy Đảng cố tình tác động tới Thẩm phán, Hội thẩm vào mặt chuyên môn, thực tế cũng đã cho thấy có nhiều vụ án mà sự tác động của các cấp ủy Đảng đã dẫn đến việc xét xử không chính xác nếu không muốn nói là sai pháp luật. Đó là sự can thiệp của cá nhân, vì quyền lợi cá nhân, nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức để tác động mà hoàn toàn không theo nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và lợi ích chung của cả quốc gia.

Thứ ba, còn tồn tại “định hướng xét xử” thông qua các cơ chế về việc họp án ba ngành, họp bàn án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước việc xét xử. Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy cơ chế này không hoàn toàn tiêu cực, một mặt nó sẽ giúp cho thủ tục tố tụng được đảm bảo chặt chẽ hơn khi có sự tham gia của cả ba cơ quan tiến hành tố tụng, chứng cứ chứng minh cũng sẽ được củng cố khi các bên tiến hành tố tụng có thời gian và cơ hội ngồi lại với nhau để cùng xem xét, đánh giá một cách khách quan và cụ thể. Tuy nhiên những tác động xấu của nó đó là có thể xảy ra tình trạng “án bỏ túi” khi những cuộc họp liên ngành có khi lại khiến cho các bên xác định luôn đường lối xử lý như mức hình phạt cụ thể, biện pháp chấp hành hình phạt mà không cần xem xét tới kết quả tại phiên tòa sau đó, nó khiến cho các Thẩm phán ở Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung hầu như không quan tâm đến các tình tiết của vụ án, không nắm rõ nội dung vụ án nên dễ thống nhất với quan điểm đề xuất của Thẩm phán giải quyết vụ án, đây chính là nguồn gốc của sự ỷ lại và thiếu nghiêm túc trong nghề nghiệp, có nhiều quan điểm khác nhau trong giải quyết án giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt giữa Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, bên cạnh đó sự phối hợp giữa các cơ quan Công an, Tòa án và Viện kiểm sát chưa chặt chẽ và thường xuyên nên có những hướng giải quyết vụ án có quan điểm trái ngược nhau làm cho hồ sơ vụ án bị kéo dài. Luận văn: Thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464