Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Yêu cầu, định hướng hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ Logistics

Từ những bất cập nêu trên, đòi hỏi phải có những định hướng để hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của kinh doanh dịch vụ Logistics.

Trước sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực logistics, theo đề nghị của Bộ Công Thương, tại văn bản 2299/VPCP-KTTH ngày 6/4/2015, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương phối hợp cùng các Bộ ngành xây dựng Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics.

Được ban hành cùng với Quyết định 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2025, Kế hoạch hành động đặt ra 60 nhiệm vụ thuộc 6 nhóm, bao gồm:

  • Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics.
  • Thứ hai, hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics.
  • Thứ ba, nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ.
  • Thứ tư, phát triển thị trường dịch vụ logistics.
  • Thứ năm, đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Thứ sáu, các nhiệm vụ khác.

Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam là những đơn vị được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ nhất. Các đơn vị này cũng phối hợp với nhiều Bộ ngành, tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ khác. Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành tại Quyết định 200/ QĐ-TTg ngày 14/2/2025. Sau khi Quyết định số 200/QĐ-TTg được ban hành, một số Bộ ngành, địa phương, hiệp hội đã ban hành kế hoạch của riêng nghành, địa phương mình để cụ thể hóa các nhiệm vụ nhằm phát triển dịch vụ logistics trong ngành hoặc tại địa phương, phù hợp với điều kiện và đặc điểm phát triển kinh tế – xã hội của ngành hoặc địa phương đó.

Từ những nhiệm vụ trên, mục tiêu cụ thể mà Việt Nam sẽ đạt được “Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên”. Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước, bao gồm các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics, pháp luật điều chỉnh ngành, bộ máy quản lý tương xứng với trình độ phát triển của dịch vụ logistics của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế để đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực.

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

3.2.1. Kinh nghiệm các nước trên thế giới về pháp luật thị trường Logistics

3.2.1.1.  Chính sách phát triển ngành Logistics của Singapore

Ngành giao nhận và vận chuyển hàng hóa đi quốc tế và Logistics của Singapore đã có định hướng phát triển khá sớm từ những năm 1980 và có tốc độ phát triển rất nhanh. Hiện Singapore được xem là thị trường Logistics số 1 ở ASEAN và thuộc Top đầu thế giới. Điều làm nên thành công của Singapore đến từ những thể chế khuyến khích ngành Logistics, lôi kéo đầu tư và chú trọng đào tạo nhân sự. Ngành Logistics ở Singapore được coi là phát triển bậc cao với những công nghệ hiện đại nhất thông qua hệ thống tự động quản lý với các hạ tầng kỹ thuật và thiết bị công nghệ thông tin vượt bậc. Cụ thể:

Thứ nhất, Chính phủ Singapore từ nhiều năm trước đã chú trọng áp dụng khá nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành Logistics: Chính sách ưu đãi thuế đối với các công ty vận tải và logistics: Singapore chủ động khuyến khích các công ty đa quốc gia và một số các nhà cung ứng dịch vụ logistics quốc tế đặt trụ sở tại Singapore, xây dựng các trung tâm phân phối khu vực và toàn cầu tại Singapore với nhiều ưu đãi như giảm thuế đối với khoản thu lợi nhuận, miễn thuế đối với đầu tư mạo hiểm, miễn thuế thu nhập từ tàu biển trong 10 năm, hưởng tỷ lệ thuế ưu đãi nhỏ hơn 10% trên mức tăng doanh thu trong 5 năm, cho vay ưu đãi với tàu và container. Các chính sách này không dàn trải, mà hướng tới những mục tiêu xác định, tập trung vào những công ty vận tải, kinh doanh tàu biển và logistics với kế hoạch kinh doanh rõ ràng và hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty có quy mô lớn và hiệu quả phát triển. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ hai, khung thể chế và các chính sách hải quan trong ngành giao nhận và vận chuyển hàng hóa của Singapore cũng chú trọng sự đơn giản, hiểu quả và tiện lợi. Chính phủ Singapore luôn đặt mục tiêu “rõ ràng”, “hiệu quả” và “nhanh chóng” để tạo thuận lợi phát huy tối đa sức mạnh từ khối doanh nghiệp trong và ngoài nước. Điển hình là để đơn giản và nhanh chóng hơn trong thủ tục hải quan, Singapore đã sớm ứng dụng quy trình tự động hóa thông qua mạng TradeNet giúp tự động hóa quy trình hải quan thúc đẩy quá trình thương mại, giao nhận và vận chuyển hàng hóa đi quốc tế. Singapore cũng lần lượt áp dụng các hệ thống thông quan điện tử, quy trình TradeXChange, nộp phí và thuế điện tử, khoa ngoại quan ZGT… Hiệu quả của các quy trình này khiến ngành Logistics của Singapore được các chuyên gia từ IMF đánh giá rất cao. [30]

Thứ ba, Singapore còn rất chú trọng vào đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong ngành vận chuyển và giao nhận – Logistics. Chính phủ Singapore thường xuyên giới thiệu những kỹ thuật logistics mới nhất cho công chúng và các công ty; đề ra các biện pháp hợp tác giữa nhà trường với nhà nước và các tổ chức quốc tế; xây dựng các giáo trình giảng dạy chuyên ngành logistics; xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ logistics và bồi dưỡng các nhân tài quản lý cao cấp chuyên ngành logistics trong các trường đại học, cao đẳng.

Hiện nay, Singapore có 7 khu vực tự do thương mại, trong đó 6 khu giành cho vận tải biển và một khu tự do thương mại hàng không tại Sân bay Changi. Nơi đây logistics hàng không hoạt động rất sầm uất, phục vụ 43 triệu/lượt hành khách di chuyển đến 200 thành phố trên toàn cầu, vận chuyển khoảng 1,81 triệu TEU/năm.

3.2.1.2. Chính sách phát triển ngành Logistics của Malaysia

Với vị trí thứ tư xếp hạng trong Chỉ số Logistics của Agility Emerging Markets Logistics 2024, Malaysia được coi là một địa điểm hấp dẫn cho các nhà khai thác logistics mới. Ngành logistics sẽ đóng góp 4,3% GDP vào năm 2020 so với mức 3,6% hiện tại.Trong số các nước Đông Nam Á, Malaysia tự hào với một cơ sở hạ tầng giao thông phát triển bao gồm 5 cảng chính, các đường cao tốc xây dựng bài bản, năm cảng container, năm sân bay quốc tế và bốn cảng nội địa (tính đến năm 2015).Tanjung Pelepas là cảng biển lớn nhất của Malaysia và là đối thủ cạnh tranh của Cảng Singapore trong nhiều năm gần đây. Năm 2021 chính là năm đánh dấu mức tăng trưởng nhảy vọt lên tới 15,5% và đạt mức sản lượng 6,22 triệu TEU của Cảng Tanjung Pelepas, Malaysia [30]. Với các thành tựu sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ nhất, năm 2022, Chính phủ chính thức đưa Ủy Ban Logistics Malaysia vào hoạt động với nhiệm vụ lập kế hoạch và thúc đẩy sự phát triển của ngành Logistics. Tiếp sau đó đưa ra hàng loạt các giải pháp, chương trình giúp thuận lợi cho hoạt động Logistics như: cải thiện quy trình thủ tục hải quan, thông quan giúp thuận lợi và nhanh chóng hơn; cải cách quy trình thông quan, thực hiện thông qua nhiều hình thức ngay khi hàng hóa vẫn còn ở lục địa, áp dụng công nghệ cao vào các khâu quản lý, điều hành hoạt động giao nhận và vận chuyển hàng hóa; sử dụng các chương trình ưu đãi thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài…

Thứ hai, ngoài ra Malaysia còn đưa ra một số các định hướng phát triển cho ngành Logistics mang tính thức thời như thành lập hệ thống vận chuyển liên thông Thái Lan – Singapore – Indonesia – Malaysia, tận dụng được mối quan hệ kinh tế, văn hóa trong khu vực và đem lại lợi ích kinh tế cho các quốc gia này; không ngừng áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động Logistics, hiện nay Malaysia đã trở thành nước đứng thứ hai khu vực về công nghệ thông tin, giúp nâng tầm vị thế của Malaysia trên trường quốc tế; Malaysia còn rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực Logistics bằng việc liên kết giữa chính phủ Malaysia và viện nghiên cứu Massachuset của Mỹ thành lập Học viện Malaysia về đổi mới chuỗi cung ứng. Malaysia đã chọn con đường phát triển logistics toàn diện ở mọi loại hình vận tải trong chuỗi cung ứng gồm đường bộ, đường sắt, vận tải biển và hàng không. Trong đó, lấy hàng không làm bàn đạp để tạo cú hích cho dịch vụ logistics phát triển là bước đi chiến lược thành công của Malaysia.

Thứ ba, thành lập các cảng nội địa và các khu thương mại tự do là những hướng đi có tính đột phá và rất mới mẻ, giúp gia tăng khả năng trung chuyển hàng hóa trong chuỗi cung ứng, hình thành hệ thống vận chuyển liên thông giữa Thái Lan – Malaysia – Indonesia – Singapore. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ tư, không ngừng đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào logistics. Malaysia đứng thứ hai trong khu vực về phát triển công nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ cao trong logistics đã nâng tầm chất lượng cũng như vị thế của Malaysia trên thị trường logistics quốc tế.

3.2.1.3. Chính sách phát triển ngành Logistics của Thái Lan

Với vị trí trung tâm Đông Nam Á, Thái Lan lại có điều kiện tốt cho phát triển vận tải đường bộ khi các tuyến vận chuyển hàng hóa trong khu vực Châu Á đều chạy qua lãnh thổ Thái Lan. Từ kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia lần thứ 10 (2016 – 2020), Chính phủ Thái Lan đã bắt đầu coi logistics và phát triển hạ tầng logistics là một trong những mục tiêu quan trọng. Chính phủ Thái Lan đang thúc đẩy tăng trưởng cho các hoạt động logistics thông qua việc tích hợp logistics điện tử qua biên giới của Tiểu vùng Mêkông mở rộng và thành lập Trung tâm Dịch vụ Xuất khẩu một cửa để rút ngắn thời gian làm thủ tục xuất khẩu.[27]

Ủy ban Quản lý Bất động sản Công nghiệp Thái Lan (Industrial Estate Authority of Thailand – IEAT) đã mời gọi các nhà đầu tư cá nhân tại tổng cộng 13 khu công nghiệp với diện tích 4800 ha, tổng số vốn đầu tư vào khoảng 300 tỷ Baht để chú trọng phát triển các khu dịch vụ Logistics và Cảng biển. Cho đến thời điểm năm 2023, IEAT đã cấp 48 giấy phép cho khu công nghiệp, trong đó 36 khu công nghiệp đã hoạt động và 12 khu công nghiệp đang trong quá trình xây dựng; 11 khu công nghiệp nằm dưới sự giám sát trực tiếp của IEAT. Chính phủ Thái Lan đang khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào các dịch vụ Logistics tích hợp song song với quản lý có hiệu quả sản xuất và chuỗi cung ứng sản phẩm. Thái Lan có 2 trong tốp 10 cảng biển lớn nhất ASEAN, đó là: Cảng Bangkok và Cảng Laem Chabang. Trong đó đặc biệt khuyến khích đầu tư vào công nghệ thông tin để thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động logistics. Được xem là trung tâm logistics mới của ASEAN, doanh thu logistics của nước này được dự báo sẽ đạt 96,5 tỷ USD vào năm 2019.[11] Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Bảng 4: Các trung tâm Logistics quan trọng nhất tại Thái Lan năm 2022

Trung tâm/Khu dịch vụ Logistics Chức năng

Suvarnabhumi Airport Sân bay quốc tế của trung tâm thủ đô Bangkok Klong Toey-Port

Cảng chính của Bangkok với công suất 1,4 triệu TEU5 /năm
Laem Chabang Port Cảng biển lớn nhất Thái Lan với công suất trung chuyển 6,5 triệu TEU phía Đông nam Bangkok
Chieng Saen Port Cảng chính khu vực miền Bắc Thái Lan tại tỉnh Chiang Rai phục vụ giao dịch thương mại với Trung Quốc
Kantang Port Cảng chính khu vực miền Nam Thái Lan tại tỉnh Trang phục vụ giao dịch thương mại với Malaysia
Ayuthaya Port and ICD Cảng trung chuyển và cảng Container nội địa đối với hàng nông sản tại khu vực trung tâm

Nguồn: Marine Department.

3.2.1.4. Chính sách phát triển Logistics ở Nhật Bản

Nhật Bản được coi như quốc gia có sự phát triển Logistics hàng đầu hiện nay, với các chính sách chú trọng hoạt động kiểm soát vĩ mô và phát triển cơ sở hạ tầng để mang đến những dịch hậu cần với chất lượng số một. Logistics ở Nhật Bản phát triển từ sớm và bài bản, từ năm 1997 tới nay, Nhật Bản định kỳ ban hành các chính sách/chiến lược phát triển Logistics, trong đó thống nhất xuyên suốt quan điểm là cần thiết lập được một hệ thống Logistics hiện đại và hiệu quả toàn diện nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của doạnh nghiệp, đồng thời mang lại lợi ích KT – XH cho quốc gia.

Năm 2014, để nhanh chóng có những giải pháp hiệu quả phù hợp với những xu hướng biến động của thị trường, Nhật Bản đã ban hành chương trình The New Comprehensive Program of Logistics Policies (2014 – 2018). Trong đó hướng đến 2 mục tiêu cơ bản là thiết lập một hệ thống Logistics tiên tiến, hiệu quả, toàn diện nhằm thực hiện một xã hội cạnh tranh quốc tế và thiết lập một hệ thống Logistics giúp giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội, môi trường. Chương trình này đề ra các giải pháp chính là đầu tư nâng cấp và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng Logistics gồm cả đường bộ, đường sắt, đường hàng không và hệ thống cầu cảng, trong đó nâng cao hiệu quả mạng lưới vận tải biển và Logistics hàng không quốc tế; lựa chọn vị trí thuận lợi để xây dựng các Trung tâm Logistics. [29]

Đồng thời, khuyến khích phát triển công nghệ thông tin phục vụ Logistics và thực thi chính sách để tạo dựng môi trường kinh doanh Logistics. Chính sách của Nhà nước Nhật cũng ưu đãi cho vay tiền để phát triển các doanh nghiệp Logistics với các dự án đầu tư có tiềm năng. Nổi tiếng với sự phát triển về kết cấu hạ tầng GTVT của Nhật Bản rất hiện đại, Nhật Bản xây dựng hàng loạt cầu vượt biển nối liền các đảo lớn của đất nước. Đường cao tốc này chạy xuyên từ Nam đến Bắc, thậm chí còn có các chính sách và dự án xây dựng hầm xuyên biển. Gía trị vận chuyển đường hàng không cũng là một trong những nhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng của ngành Logistics của Nhật Bản. Ngoài ra cho đến hiện nay, đất nước này đã hoàn toàn sử dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động Logistics.

3.2.2. Bài học cho Việt Nam Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Từ những kinh nghiệm của các nước có nền Logistics phát triển như trên, có thể rút ra bốn yếu tố của một nền dịch vụ Logistics phát triển bao gồm: (1) có khung pháp lý đầy đủ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phát triển, có các chính sách khuyến khích đầu tư về Logistics và một hệ thống thủ tục hành chính nhanh gọn, hiệu quả; (2) cơ sở hạ bền vững, cơ sở hạ tầng chính là chìa khóa của ngành Logistics, (3) phát triển nhân lực của ngành Logistics, nâng cao năng lực và hiệu quả làm việc của nhân lực ngành; (4) công nghệ thông tin vào quá trình quản lý vận hành để tăng thêm hiệu quả và tự động hóa khi bước vào cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 (Cách mạng công nghệ 4.0) và mở cửa hội nhập sâu rộng.

3.2.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics như sau:

Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics. Nếu cơ sở hạ tầng yếu tố quan trọng của Logistics thì khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này sẽ là yếu tố để hoạt động này phát triển lâu dài. Hiện nay các văn bản pháp luật đã tương đối đầy đủ và dần được hoàn thiện, đáng chú ý là Nghị định 163/2025 về kinh doanh dich vụ Logistics có hiệu lực vào 20 tháng 2 năm 2026, và trong thời gian qua, Quốc hội đã ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự hoặc đang xem xét việc ban hành mới như Luật Quản lý ngoại thương. Đã được áp dụng trên thực tiễn hơn 10 năm, các quy định của Luật Thương mại 2014 đã dần không còn phù hợp với sự thay đổi của thị trường Logistics. Nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị định 163/2025 thay thế nghị định 140/2016. Vậy nên, cần sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề thương mại, để có một hệ thống pháp luật thống nhất. Dự thảo sửa đổi luật thương mại cũng đã nêu lên định hướng sửa đổi quy định về dịch vụ logisitcs theo hướng là một dịch vụ kết nối các hoạt động hỗ trợ việc đưa hàng hóa từ nhà sản xuất, phân phối đến tay người tiêu dùng. Luật Thương mại chỉ quy định điều kiện và giới hạn trách nhiệm trong trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa có quy định hoặc thương nhân không có thỏa thuận. Đồng thời, bổ sung các cơ chế ưu đãi đầu tư đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logisitics để làm rõ bản chất của dịch vụ logistics trên cơ sở xu hướng phát triển của loại hình dịch vụ này trên thế giới, đồng thời giải quyết sự chồng chéo với pháp luật chuyên ngành điều chỉnh từng hoạt động cụ thể.Làm được điều này làm hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động Logistics trở nên thống nhất hơn, đảm bảo tính đồng bộ giữa các Luật, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, qua đó tăng cường tính khả thi của văn bản. Ngoài ra, theo các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cho phía nước ngoài được thiết lập các doanh nghiệp liên doanh, với tỷ lệ góp vốn 49 – 51% trong các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi… Từ ngày 7/1/2023, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài đã tăng lên 100%. Vậy nên, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện và thực hiện đầy đủ các luật và văn bản dưới luật. Nghị định về vận tải đa phương thức cũng cần được xem xét sửa đổi cho phù hợp với điều kiện kinh doanh vận tải hiện nay. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với dịch vụ Logistics, giảm thiểu số lượng thủ tục hành chính liên quan, cải thiện công tác và thủ tục thông quan. Các nước với ngành dịch vụ Logistics phát triển đã đưa công nghệ thông tin hiện đại vào các giai đoạn của logistics để làm tăng hiệu quả và nhanh chóng và làm giảm bớt thủ tục hành chính, tiết kiệm tiền bạc và thời gian cho cả doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động Logistics có thể giúp các công ty giao sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và cung cấp các dịch vụ gia tăng. Ngoài ra còn giúp tiết kiệm được thời gian, đảm bảo thông tin thông suốt không chỉ giữa các hãng tàu mà còn giữa các cơ quan quản lý, giảm thiểu tổn thất trong quá trình lưu kho và thời gian lưu kho nhằm đơn giản hóa trong việc tiến hành các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, thông quan, trung chuyển và giao nhận hàng hóa.

Thứ ba, cần ban hành các chính sách ưu đãi phát triển đầu tư Logistics hơn nữa. Các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này đang chiếm thị phần nhỏ, thị phần chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ lẻ. Cần có những chính sách để ưu đãi nhà đầu tư trong lĩnh vực này vì thị trường vẫn còn có nhiều tiềm năng khai thác với các điều kiện thuận lợi như có bờ biển dài và hệ thống giao thông đã dần phát triển. Khi có các ưu đãi sẽ khuyến khích các nhà đầu tư phải dựa trên kế hoạch đầu tư theo từng giai đoạn nhưng cần đảm bảo khả năng phát triển dài hạn, đặc biệt là khả năng kết nối các kênh hạ tầng trong tương lai. Thu hút các công ty Logistics lớn trên thế giới đặt chi nhánh hoặc trụ sở bằng các chính sách ưu đãi về thuế, về hoạt động vận chuyển hàng hóa làm gia tăng số lượng vốn đầu tư nước ngoài và quan trọng hơn là kinh nghiệm và sự tham gia môi trường quốc tế của các nhà điều hành dịch vụ Logistics. Hoặc, cần khuyến khích các công ty trong nước liên doanh với các hãng nước ngoài nhằm thiết lập hệ thống dịch vụ Logistics toàn cầu. Phát huy những sáng kiến, kinh nghiệm nhằm thu hút các công ty Logistics cũng như các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài đầu tư vào kinh doanh lĩnh vực Logistics tại Việt Nam. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho Logistics cảng như đẩy nhanh tiến trình giảm thuế nhập khẩu, ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực nhằm tăng cường năng lực cung cấp dịch vụ và khả năng cạnh tranh của Logistics Việt Nam so với thế giới. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ tư, có chính sách phát triển về cơ sở hạ tầng dài hạn và chia ra thành các kế hoạch ngắn hạn phù hợp với lộ trình chính sách và mục tiêu phát triển ngành. Là một quốc gia đang phát triển nên tiềm lực đầu tư cho phát triển logistics, đặc biệt là phát triển hạ tầng cơ sở còn rất hạn chế, Việt Nam cần phải cân nhắc lựa chọn phương án đầu tư hợp lý, tập trung trọng điểm như Singapore hay dàn trải như Malaysia, đầu tư một lần cho hạ tầng quy mô lớn và hiện đại như Thái Lan hay đầu tư nâng cấp từng giai đoạn như Malaysia đầu tư vào cảng biển. Vì vậy, cần xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, cần dự báo khả năng phát triển của logistics để có những phương án đón đầu phù hợp. Mô hình kế hoạch phát triển dài hạn hợp lý nhất cho Việt Nam là một kế hoạch tổng thể nhưng trong đó bao gồm nhiều lộ trình ngắn hạn, xây dựng kế hoạch phát triển logistics trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia.

Thứ năm, bởi Logistics là một lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành, từ sản xuất, thương mại đến giao thông nên cần có sự chủ trì thống nhất từ cấp cao nhất và cần có một cơ quan đứng ra để thống nhất quản lý phát triển Logistics. Hiện tại, có sự thiếu rành mạch về chất lượng nhất là giữa Bộ Công thương và Bộ Giao thông vận tải, qua đó đã làm cho việc quản lý và điều hành hoạt động logistics thương mại còn gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều cơ quan tham gia quản lý, nhưng chưa có một cơ quan điều hành chung về logistics thương mại. Kiến nghị thành lập ủy ban phối hợp về logistics quốc gia Việt Nam, có thể gồm đại diện cấp cao của nhiều bộ ngành và Chính phủ. Một số quốc gia đã triển khai các hình thức tổ chức này và đã thành công như Australia, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia.

Thứ sáu, có các chính sách tập trung phát triển nguồn nhân lực. Khi có khung pháp luật hoàn chỉnh, có hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin hoàn thiện thì cần nguồn nhân lực có chất lượng cao để vận hành. Chính phủ Việt Nam cần học tập kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực cho ngành này. Tập trung xây dựng trung tâm, viện nghiên cứu chuyên về lĩnh vực Logistics; đào tạo kỹ năng, kỷ luật và tác phong làm việc của nguồn nhân lực hiện tại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hoạt động Logistics. Hiện tại, nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ có lợi thế về giá rẻ chứ chưa thực sự có lợi thế về trình độ. Logistics là một ngành công nghiệp còn mới ở Việt Nam và nó có những đòi hỏi khá khắt khe đối với nhân lực trong ngành. Những điểm yếu của nguồn nhân lực Việt Nam nếu nhìn nhận theo yêu cầu cho một hệ thống logistics là mặt bằng trình độ chưa cao, tính kỷ luật và tác phong làm việc rất thiếu chuyên nghiệp, tính ổn định không đảm bảo.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Logistics là một lĩnh vực rất có tiềm năng phát triển ở Việt Nam với các điều kiện thuận lợi như bờ biển dài, địa lý thuận lợi để giao thương. Nhưng với xu hướng phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh của các nền kinh tế khác, để trở thành trung tâm phát triển Logistics ở ASEAN như mục tiêu đã đặt ra, Việt Nam cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật và chính sách, tập trung hơn nữa vào nhiệm vụ phát triển Logistics. Hơn nữa, trên thế giới, xu hướng lĩnh vực logistics từ vai trò của một ngành phục vụ, trở thành sự kết nối xuyên suốt và quyết định năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế, đang đặt ra những yêu cầu thay đổi toàn diện về phương pháp và nguồn lực để thúc đẩy sự đổi mới của lĩnh vực logistics ở mỗi quốc gia.

Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với những bứt phá trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tích hợp trí tuệ nhân tạo với mạng lưới kết nối Internet vạn vật và các công cụ hiện đại hóa đang bắt đầu thay đổi toàn bộ viễn cảnh ngành logistics toàn cầu. Lĩnh vực logistics thế giới sẽ chuyển dịch trọng tâm về các thị trường đang phát triển tại châu Á. Đầu tư vào công nghệ và con người là sẽ yếu tố quyết định sự phát triển của lĩnh vực logistics trong tương lai. Đây là những yếu tố mà các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp dịch vụ logistics cũng như doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh của Việt Nam cần phải tính đến trong kế hoạch phát triển logistics thời gian tới. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

6 thoughts on “Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  2. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics says:

    Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  3. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics says:

    Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  4. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics says:

    Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  5. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics says:

    Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  6. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics says:

    Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464