Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam, lĩnh vực Logistics là một lĩnh vực tương đối mới mẻ và đang trên đà phát triển, kể cả về hệ thống lý luận và thực tiễn. Các hoạt động Logistics từ sản xuất đến kho chứa, vận tải, phân phối, lưu thông trước kia còn phân tán, mới dừng lại ở dạng lắp ghép cơ học chủ quan và tự phát hình thành hệ thống Logistics của nền kinh tế thì bây giờ đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Các doanh nghiệp chuyên cung ứng dịch vụ Logistics đang dần dần đáp ứng một phần nhu cầu của thị trường nội địa, và có những tiềm năng để vươn ra được thị trường khu vực và thế giới. Các điều kiện về kết cấu hạ tầng cho sự phát triển của dịch vụ này ở Việt Nam đang dần dần đáp ứng nhu cầu.

Trong những năm gần đây, dịch vụ logistic đang phát triển rất mạnh mẽ. Việt Nam đang đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển Logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt 16% đến 20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng đều nhất của Việt Nam trong thời gian qua. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các hiệp định thương mại, hoạt động Logistics tại Việt Nam đã có sự phát triển và thay đổi, thế nhưng vẫn bị trói buộc bởi các quy định cũ không còn phù hợp mà cụ thể là Nghị định 140/2016/NĐCP của Chính Phủ ngày 5 tháng 9 năm 2016 quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stíc (“Nghị định 140/2016”) . Nhiều doanh nghiệp Logistics thành lập gặp khó khăn. Chính vì thế, năm 2025 đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong việc hoàn thiện khung pháp lý và chính sách liên quan đến Logistics. Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025 cho đến việc sửa đổi và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại thương, thủ tục hải quan và kiểm tra chuyên ngành, tại văn bản 2299/VPCP-KTTH ngày 6/4/2015, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương phối hợp cùng các Bộ ngành xây dựng Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics. Được ban hành cùng với Quyết định 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2025. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Hiện nay, dịch vụ kinh doanh Logistics được điều chỉnh tại Luật thương mại 2014; Nghị định 163/2025/NĐCP về kinh doanh dịch vụ Logistics ngày 30 tháng 12 năm 2025(“Nghị định 163/2025”); Quyết định số 169/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1 năm 2023 phê duyệt đề án phát triển dịch vụ Logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Ngoài ra, cùng với sự thay đổi của Hiến pháp 2022, các văn bản quy phạm pháp luật đổi mới ra đời, bao gồm cả các văn bản điều chỉnh Lĩnh vực Logistic như các quy phạm pháp luật về giao thông vận tải như Luật Giao thông đường thủy nội địa 2013 – Luật Giao thông đường thủy nội địa sửa đổi năm 2023; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2015 – Luật sửa đổi Luật Hàng không dân dụng năm 2023; Bộ luật Hàng hải 2015 mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2025; Luật Biển Việt Nam 2022 cảng biển, các văn bản hướng dẫn vận tải đa phương thức như Nghị định 87/2018/NĐ-CP ngày 29/10/2018 về vận tải đa phương thức – Nghị định số 89/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 87/2018/ NĐ-CP vận tải đa phương thức; Luật giao thông đường bộ cùng với Nghị định 86/2023/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Nghị định 68/2024/NĐ-CP ngày 01/07/2024 quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan Luật Đường sắt 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026); Luật Quản lý ngoại thương đã được Quốc hội thông qua năm 2025, chính thức có hiệu lực từ 01/01/2026 cùng với các nghị định và thông tư hướng dẫn các văn bản liệt kê bên trên ra đời. Đặc biệt, các quy hoạch về giao thông vận tải, cảng biển, vận tải biển, vận tải đường bộ, đường thủy…, tại các cảng biển, cảng nội địa, biên giới, khu Logistics đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã ra đời. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Trên thực tế, các hành lang pháp lý nêu trên có tác động tích cực đến phát triển thị trường dịch vụ Logistics, ngành Logistics trong thời gian qua, phù hợp với tiến trình hội nhập sâu rộng của nước ta khi thực hiện đầy đủ các cam kết của Việt Nam về dịch vụ vận trong ASEAN và WTO, tiến tới thực hiện các cam kết trong TPP và các FTA thế hệ mới, qua đó tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch và bình đẳng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển trong nước cũng như nước ngoài tại Việt Nam. Hành lang pháp lý cho hoạt động dịch vụ Logistics từ Luật thương mại 2014 và cụ thể hơn là Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics (thay thế cho Nghị định 140/2016/NĐCP của Chính Phủ ngày 5 tháng 9 năm 2016 quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stíc) mới ban hành đã có sức ảnh hưởng và góp phần tạo lập một thị trường dịch vụ Logistics lành mạnh, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số điểm còn tồn tại. Khóa luận nghiên cứu trên các khía cạnh của quy định mới trong lĩnh vực Logistics theo quy định Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics mới ban hành so với nghị định cũ đã hết hiệu lực dưới cái nhìn của các hiệp định quốc tế mà Việt nam tham gia, đặc biệt là WTO.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, phát triển Logistics trong nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như hoạt động Logistics của các doanh nghiệp nói riêng đang đứng trước những cơ hội cũng như thách thức mới, đòi hỏi phải nhận thức rõ vai trò của hoạt động này cả về lý luận và thực tiễn. Với ý nghĩa nêu trên, tôi chọn đề tài “Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam” đề nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp, qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics.

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật về Logistics

Liên quan tới đề tài Khóa luận đã có các công trình nghiên cứu về lý luận và pháp luật về Logistic như, tiêu biểu là:

Thứ nhất, sách chuyên khảo: “Logistics – Những vấn đề cơ bản”, do Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên, Nhà xuất bản Lao động – xã hội, Hà Nội 2019. Các tác giả tập trung vào giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics, khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của Logistics, phân loại Logistics, kinh nghiệm phát triển Logistics của một số quốc gia trên thế giới, ngành dịch vụ Logistics, các giải pháp về Logistics, các hệ thống thông tin và dịch vụ khách hàng khi cung cấp dịch vụ này.

Thứ hai, các đề tài, dự án trọng điểm: Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” (2019-2020) do Đặng Đình Đào Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ nhiệm với sự tham gia của nhiều nhà khoa học và tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra, phỏng vấn ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Đây là công trình nghiên cứu khoa học quy mô nhất cho đến nay liên quan đến Logistics ở Việt Nam. Chủ yếu tập trung phân tích các dịch vụ logisitcs chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội… Trong khuôn khổ đề tài này, hai cuốn sách chuyên khảo đã được xuất bản, cuốn sách chuyên khảo thứ nhất, sách “Logistics – Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, tập hợp 26 báo cáo khoa học tại hội thảo của đề tài do đông đảo các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những người hoạt động Logistics thực tiễn ở Việt Nam tham luận tại hội thảo. Kết quả nghiên cứu của đề tài được giới thiệu một cách đầy đủ và chi tiết trong cuốn sách tham khảo thứ hai “Dịch vụ Logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” Đặng Đình Đào – Nguyễn Minh Sơn, Nhà xuất bản Chính trị quốc Gia.

Thứ ba, các bài viết khoa học pháp lý và các đề tài luận văn. Bài “ Pháp luật về dịch vụ Logistics ở việt Nam” trong tạp chí Luật học 5/2017 do TS. Bùi Ngọc Cường biên soạn; hay Khóa luận bảo vệ Thạc sĩ Luật học với tiêu đề “Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam và những vấn đề lý luận và thực tiễn” của học viên Vũ Thị Nhung, Hà Nội, 2018. Bài viết “Thực trạng hoạt động và nhu cầu hoàn thiện pháp luật về Logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội” của TS. Lương Tuấn Nghĩa, Phòng quản lý thương mại, Sở Công Thương đưa ra các góp ý thay đổi pháp luật về Logistics để phù hợp với các cam kết quốc tế và thực tiễn.

Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá để Khóa luận kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu về “Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam” trên các bình diện: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và trong thực tiễn thi hành.

3. Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận đặt ra những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:

  • Một là, phân tích, làm rõ các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics
  • Hai là, nghiên cứu, đánh giá thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam
  • Ba là, đưa ra những định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và tạo khung pháp lý để hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam phát triển.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu và làm rõ pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics qua Nghị định 163/2025/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics mà Chính Phủ vừa ban hành, đặc biệt là điều kiện kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài, giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics đồng thời quy định các loại hình kinh doanh dịch vụ Logistics. Qua đó, so sánh với các quy định của hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia. Cùng thực trạng của hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics để đề xuất giải pháp pháp lý tạo điều kiện cho nghành dịch vụ Logistics phát triển ở Việt Nam cũng như đảm bảo hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

3.3. Giới hạn nghiên cứu

Trong khuôn khổ có hạn của một bản Khóa luận cử nhân luật học, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Logistics mà tập trung vào Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics mới ban hành so với nghị định cũ đã hết hiệu lực dưới cái nhìn của các hiệp định quốc tế mà Việt nam tham gia, đặc biệt là WTO và các văn bản pháp luật khác liên quan. Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, mong rằng đề tài nghiên cứu có thể làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics để rút ra những kiến nghị giải pháp để hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghiên cứu này.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Thứ nhất, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình thực hiện Khóa luận sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Một là, phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hai là, phương pháp duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng NN pháp quyền trong nền kinh tế thị trường.

Thứ hai, bên cạnh đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn về hoạt động Logistics phù hợp với các quy định của Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics và các văn bản điều chỉnh hoạt động này liên quan, Khóa luận còn sử dụng các phương pháp sau:

Một là, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp số liệu, dữ liệu thu thập được tại Báo cáo về Logistics Việt Nam 2025, từ kế hoạch đến hành động của Nhà xuất bản Bộ Công Thương 2025 và các tài liệu có nguồn gốc tin cậy khác.

Hai là, phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định pháp luật từ Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics so với nghị định 140/2016, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật về kinh doanh Logistics.

Ba là, phương pháp tổng – phân – hợp, quy nạp, diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Khóa luận đã tiếp cập, thu thập kế thừa các thông tin, tài liệu về thực tiễn thi hành của nghị định 140/2016, đưa ra những điểm đổi mới của Nghị định 163/2025/NĐCP của Chính Phủ ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này để đề xuất các giải pháp phù hợp theo mục tiêu đặt ra.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Khóa luận Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Nghiên cứu đề tài này, Khóa luận có những đóng góp về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, Khóa luận đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện và tập trung pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics theo quy định của pháp luật Việt Nam nói chung đặc biệt là Nghị định 163/2025, so sánh với những quy định cũ để thấy được những ưu nhược điểm và nhược điểm, và nhìn nhận dưới góc độ của những quy định pháp luật của Hiệp định mà Việt Nam tham gia.

Thứ hai, tập trung đi vào thực tiễn về hoạt động kinh doanh Logistics trong quá trình Việt Nam đang hội nhập quốc tế sâu và rộng cũng như những ảnh hưởng và ý nghĩa tác động của những quy định pháp luật mới về kinh doanh dịch vụ Logistics.

Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

6. Kết cấu của Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận được bố cục gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam
  • Chương 3: Kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

1. Những vấn đề lý luận chung về pháp luật kinh doanh dịch vụ Logistics

1.1. Khái niệm dịch vụ logistics

Hậu cần có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến.Công việc hậu cần này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này được vận dụng trong các phương pháp quản lý hậu cần.Thuật ngữ này đã có từ lâu đời và lần đầu tiên được sử dụng trong quân đội với ý nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận”. [1]

Thuật ngữ logistics, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhiều thập kỷ qua, logistics được nghiên cứu sâu và áp dụng sang các lĩnh vục khác như sản xuất, kinh doanh. Thuật ngữ “hậu cần kinh doanh” đã phát triển từ những năm 1960, do sự phức tạp ngày càng tăng của việc cung cấp cho các doanh nghiệp vật liệu và vận chuyển các sản phẩm trong một chuỗi cung ứng ngày càng toàn cầu hóa, xuất hiện khái niệm logistics công ty (Logistics corportate) vào những năm 1960, sau đó dần dần phát triển lên thành “supply chain logisticians”- logistics chuỗi cung ứng. Trong kinh doanh, logistics có thể có hậu cần trong nước hoặc hậu cần nước ngoài, bao gồm lưu lượng và lưu kho các nguyên liệu từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Các chức năng chính của chuỗi logistics bao gồm quản lý hàng tồn kho, mua sắm, vận chuyển, lưu kho, tư vấn và tổ chức và lập kế hoạch cho các hoạt động này. Sau đó, vào những năm 1990, các công ty Logistics được phát triển lên một mức độ cao hơn và chuyên nghiêp hơn, dần dần đi đến toàn cầu Logistics. [2] Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Khái niệm về logistics được đưa ra tùy góc độ mà người ta nghiên cứu nó mà mỗi ngành sẽ có những định nghĩa riêng. Bởi Logistics không chỉ được ứng dụng trong quân đội mà còn phát triển hơn trong giai đoạn sau này để phát triển kinh tế. Dưới góc độ pháp lý, thì có những cách để định nghĩa Logistics như sau trên thế giới:

Thứ nhất, theo hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ – 1988: logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên việc liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. [3]

Thứ hai, tài liệu của Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (UNESCAP) có định nghĩa: “logistics là hoạt động quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng”. [4]

Thứ ba, theo Ngân hàng thế giới (WB): logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đàu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho, phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại. [5]

Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể Luật thương mại 2014 và Nghị định 163/2025/NĐ-CP là hai văn bản pháp luật quy định chung nhất và cơ bản nhất về hoạt động logistics hiện nay, thì Điều 233 Luật thương mại 2014 (thay thế cho khái niệm “dịch vụ giao nhận hàng hóa” của Luật thương mại năm 1997) định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lôgstic”.

Trước đó, ở Luật thương mại 1997 đã có định nghĩa về dịch vụ giao nhận hàng hóa ở Điều 163 như sau: “Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể nói có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng các khái niệm về dịch vụ Logistics có thể chia làm hai nhóm: Một là, nhóm định nghĩa hẹp, tiêu biểu là định nghĩa của Luật thương mại 2014, coi logistics gần như với hoạt động giao nhận hàng hóa. Theo đó, có thể hiểu bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Logistics ở đây hầu như chỉ bao gồm vận tải và bốc dỡ. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn ”hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức. Hai là, nhóm định nghĩa về dịch vụ logistics có phạm vi rộng. Một nhà cung cấp dịch vụ Logisitcs chuyên nghiệp, sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng qua các hoạt động bốc dỡ hàng hóa, sắp xếp hàng hóa, kê khai hải quan, giao hàng hóa cho người tiêu dùng…

Tóm lại, dưới góc độ luật pháp, định nghĩa dịch vụ Logistics bao gồm các yếu tố sau:

  • Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại; Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.
  • Logistics có thể là một dịch vụ đơn lẻ hoặc là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) tới khách hàng hoặc dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng;
  • Thương nhân kiếm lợi nhuận từ hoạt động thương mại này.

1.2. Đặc điểm của dịch vụ logistics

Thứ nhất, dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ thương mại. Qua hình thức các hợp đồng hoặc thương lượng về nội dung dịch vụ Logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí hợp lý khác từ việc cung ứng dịch vụ. Khách hàng hưởng dịch vụ và chi trả chi phí theo thỏa thuận.

Thứ hai, về chủ thể thực hiện hoạt động logistics. Chủ thể của quan hệ dịch vụ gồm hai bên: Nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng. Người thực hiện dịch vụ Logistics là thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics. Còn khách hàng có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân, có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa, có thể là người vận chuyển hoặc là người làm dịch vụ logistics khác. Khách hàng là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận. Trong đó, nhà cung cấp dịch vụ logistics phải là thương nhân, kinh doanh có điều kiện. Theo Luật Thương mại năm 2014 thì “điều kiện” đó nghĩa là phải đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch vụ logistics. Thủ tục đăng ký kinh doanh được thực hiện theo đạo luật đơn hành phụ thuộc vào hình thức pháp lý của thương nhân và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải ghi rõ ngành nghề là dịch vụ logistics.

Thứ ba, nội dung của dịch vụ logistics bao gồm các công việc như:

Một là, nhận hàng và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container, kho xử lý nguyên liệu, thiết bị, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, chuyển hàng từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe, biên giới, địa chỉ theo thỏa thận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Hai là, làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics.

Ba là, giao hàng hóa cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến, tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng.

Bốn là, hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, hư hỏng và tái phân phối hàng hóa đó.

Thứ tư, đây là một loại dịch vụ mang tính liên tiếp, chuỗi các dịch vụ gắn kết tương đối chặt chẽ với nhau. Các dịch vụ trong chuỗi có thể tách rời độc lập hoặc gắn liền với nhau theo hợp đồng logistics.

1.3 Phân loại dịch vụ logistics Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Nghị định số 163/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 quy định 17 loại kinh doanh dịch vụ logistics.Cụ thể, các loại dịch vụ logistics được cung cấp bao gồm:

  • Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay;
  • Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển;
  • Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải;
  • Dịch vụ chuyển phát;
  • Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa;
  • Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan);
  • Các dịch vụ khác, bao gồm các loại hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải;
  • Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng;
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển;
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa;
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt;
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ;
  • Dịch vụ vận tải hàng không;
  • Dịch vụ vận tải đa phương thức;
  • Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật;
  • Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác;
  • Các dịch vụ khác do thương nhân dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Đối với các thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc 17 loại dịch vụ logistics trên phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó. Đối với thương nhân kinh doanh một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác thì ngoài việc đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể nêu trên, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử. Các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã được đăng ký, cấp phép thực hiện dịch vụ logistics trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được tiếp tục thực hiện hoạt động theo nội dung đăng ký, cấp phép.

Theo Nghị định 140/2016/NĐ-CP trước kia, hoạt động logistics có nhiều loại hình dịch vụ khá đa dạng, được phân loại thành: (1) Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu; (2) Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải; (3) Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác, và trong mỗi phân loại như thế điều luật quy định cụ thể các dịch vụ của từng loại. Việc phân loại thành ba nhóm như này ít có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Nếu như Nghị định 140/2016 phân loại dịch vụ logistics thành 3 nhóm trong đó có nhiều dịch vụ thì Nghị định 163/2025 quy định cụ thể 17 loại hình dịch vụ logistics để tiện cho công tác quản lý. Nghị Định 163/2025 phân loại các dịch vụ logistics theo biểu cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các điều kiện đầu tư và giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài được quy định tại Nghị Định 163/2025 nhìn chung thống nhất với Biểu Cam Kết WTO. Vì vậy, có thể dễ dàng so sánh Nghị Định 163/2025 với Biểu Cam Kết WTO. Sự phận loại là rất có ý nghĩa trong việc đưa ra các quy định pháp luật điều chỉnh từng loại hình dịch vụ logistics tương ứng. Đặc biệt, Nghị định 163/2025 có quy định mở so với Nghị định 140/2016 bằng việc đưa ra quy phạm về đối tượng điều chỉnh: “Các dịch vụ khác do thương nhân dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại” như vậy dường như đã mở rộng hơn đối tượng được phân loại để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn các hoạt động cung cấp dịch vụ Logistics đang phát triển rất phong phú.

Ngay từ đầu, về đối tượng áp dụng của Nghị định 163/2025 quy định “Nghị định này áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và các tổ chức, cá nhân có liên quan”, trong khi Nghị định 140/2016 lại quy định cụ thể là “thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác hoạt động liên quan đến dịch vụ lô-gi-stíc”. Đây là điểm mới, mở rộng đối tượng áp dụng, đồng thời thể hiện sự không phân biệt mà tạo ra một khung pháp lý rộng lớn hơn, vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam, buộc họ phải nhanh chóng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển trong bối cảnh có rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư phát triển lĩnh vực này.

1.4. Vai trò của dịch vụ logistics Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Logistics đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, cũng như cung cấp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước môi trường xuất khẩu thuận lợi dẫn đến giảm tổng chi phí xuất khẩu so với những gì họ phải gánh chịu ở các nước khác. Logistics luôn là một xương sống của bất kỳ nền kinh tế nào. Hậu cần là một trong những chi tiêu chính cho kinh doanh, qua đó ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các hoạt động kinh tế khác. Hậu cần hỗ trợ chuyển động của nhiều giao dịch kinh tế; nó là một khía cạnh quan trọng của tạo điều kiện cho việc bán tất cả hàng hóa và dịch vụ. Giao thông vận tải và đặc biệt là logistics có mối quan hệ mật thiết với toàn cầu hóa. Điều này đúng cho doanh nghiệp nhỏ để các tập đoàn đa quốc gia và ngay cả đối với nền kinh tế quốc dân. Về nền kinh tế quốc dân, logistics là một phần không thể thay thế được ở mọi quốc gia. Nó có thể được xem như một người hỗ trợ, một điều phối viên kết nối một số ngành công nghiệp khác nhau và riêng biệt với nhau giống như một chuỗi cung ứng. Các ngành công nghiệp khác biệt và riêng biệt hiện nay được liên kết như một chuỗi, chia sẻ các mục tiêu và mục tiêu giống nhau, do đó giúp quản lý dễ dàng hơn à điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hơn nữa, hậu cần cũng là một công cụ tối ưu; nó tăng cường sự thành thạo của từng giai đoạn của chuỗi bằng cách giảm thời gian chờ và lãng phí chi phí. Cụ thể:

Thứ nhất, vai trò của Logistics theo quan điểm của các doanh nghiệp:

Lợi ích của logistics có thể được nhận ra ở nhiều khía cạnh: có thể giúp nâng cao chất lượng dịch vụ. Chất lượng, ở đây, có nghĩa là thời gian, chi phí vận chuyển hàng hoá, độ tin cậy và tính linh hoạt của các dịch vụ vận tải được cung cấp trên tuyến vận tải đa phương thức. Cụ thể hơn, logistics đảm bảo hàng hoá được chuyển đến đúng nơi, vào đúng thời điểm với đúng số lượng và chất lượng. Từ đó, không cần phải dự trữ nhiều hơn mức cần thiết và do đó giảm chi phí hàng tồn kho. Hiện nay, dịch vụ logistics rất phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong ngành dịch vụ, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động, gia tăng lợi nhuận cho các nhà cung cấp và thúc đẩy các ngành khác phát triển. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thất bại do có các quyết định sai lầm như: chọn nguồn cung cấp tài nguyên sai, chọn sai vị trí, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu của logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất. Logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy. Chính vì vậy ngành logistics cần được quan tâm một cách thích đáng và phải tạo được hành lang pháp lý phù hợp để tạo điều kiện phát triển ngành nghề này, bởi các quy định mở cửa ngành logistics trong lộ trình gia nhập và thực hiện các hiệp định quốc tế như WTO, ASEAN, FTA…

Thứ hai, vai trò của Logistics theo quan điểm của chính phủ và xã hội:

Nói chung, dịch vụ logistics mang đến những ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế: giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Trước hết, logistics cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Chắc chắn, không ai có thể điều hành một công ty ở một quốc gia có chi phí vận chuyển thấp với chi phí thấp chất lượng và dịch vụ không đáng tin cậy. Nói cách khác, một môi trường hậu cần tốt là yếu tố then chốt để duy trì tăng trưởng kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh quốc gia, làm cho nó trở thành một điểm đến hấp dẫn của đầu tư nước ngoài. Đây là bước đi mà Việt Nam cần theo thứ tự mở rộng thị trường ra thị trường quốc tế. Logistics, như đã đề cập ở trên, đi kèm với nhiều dịch vụ hỗ trợ.Ngoài ra, có thể là một nguồn đáng kể thu nhập tài chính thông qua thuế và tiền thuê cho chính phủ. Một kế hoạch phát triển Logistics có thể cải thiện hiệu quả của vận chuyển hàng hóa đô thị giao thông vận tải, giảm ùn tắc giao thông và giảm thiểu tác động môi trường.

2. Pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

2.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Thương nhân, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cũng giống như những thương nhân, doanh nghiệp cung cap các dịch vụ khác đều phải tuân theo những quy định chung tại Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Tại Điều 234 Luật Thương mại năm 2014 quy định về dịch vụ logistics: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”. Từ quy định đó, Điều 4 của Nghị định 163/2025 đã hướng dẫn cụ thể:

Thứ nhất, đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong nước, điều kiện cụ thể:

Một là, thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó.

Hai là, thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định được phân loại tại Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

So với Nghị Định 140/2016, các quy định về điều kiện kinh doanh ở Nghị định 163/2025 đã có phần thay đổi. Cụ thể là, ở Nghị Định 140/2016 chỉ quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics “Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu”. Nghị Định 163/2025 không còn yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện về có đủ trang thiết bị và nhân sự. Điều kiện đã từng được áp dụng đối với một số dịch vụ logistics, theo quy định của Nghị Định 163/2025, nhà cung cấp dịch vụ logistics chỉ phải đáp ứng các điều kiện áp dụng đối với dịch vụ logistics mà họ cung cấp.Tuy nhiên, nghị định 163/2025/NĐ-CP không nêu yêu cầu này mà để các văn bản pháp luật chuyên ngành của từng loại dịch vụ quy định chi tiết. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Thứ hai, đối với những thương nhân nước ngoài.

Nghị định 163/2025 cũng quy định cụ thể các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics như sau:

Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định về nhà đầu tư trong nước nêu trên, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện sau:

Một là, trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):

Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.

Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.

Hai là, trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Ba là, trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.

Bốn là, trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Năm là, trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Sáu là, trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

Bảy là, trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

Tám là, trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

Chín là, trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.

Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.

(ii) Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.

(iii) Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.

Như vậy, Các điều kiện của Nghị định 163/2025 này đều đáp ứng các cam kết quốc tế của Việt Nam. Nghị định cũng để khoảng mở là “Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó”.

Nghị định 163/2025 đã mở rộng và đổi mới hơn so với Nghị định 140/2016 về quy định điều kiện kinh doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nghị định 140/2016 đã làm cho nhiều doanh nghiệp Logistics thành lập gặp khó khăn. Cụ thể hơn, theo cam kết WTO thì từ ngày 1/1/2023, các nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đối với ngành nghề vận tải hàng hóa, tuy nhiên, Nghị định 140/2016 vẫn yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập liên doanh với một công ty Việt Nam. Đối với dịch vụ kho bãi (CPC 742), theo biểu cam kết dịch vụ trong WTO, bảy năm sau khi gia nhập (tức từ năm 2023 trở đi), nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b, khoản 3, điều 5 của Nghị định 140/2016, thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ kho bãi chỉ được thành lập công ty liên doanh. Tương tự, với dịch vụ đại lý vận tải (CPC 748), theo cam kết WTO thì từ năm 2023 trở đi, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhưng theo điểm c, khoản 3, điều 5 Nghị định 140/2016, thương nhân kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải cũng chỉ được thành lập công ty liên doanh. Ngoài ra, so với cam kết WTO, Nghị định 140/2016 chưa quy định đầy đủ nội dung về hạn chế tiếp cận thị trường, như điều kiện về thuyền viên đối với dịch vụ vận tải biển hay về dịch vụ thông quan. Nghị định 163/2025 đã khắc phục được phần nào những hạn chế này.

2.2. Hợp đồng dịch vụ logistics Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Thứ nhất, khái niệm, đặc điểm hợp đồng dịch vụ logistics.

Một là, về khái niệm. Theo Điều 513 Luật dân sự 2015, “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Theo đó, hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận, một bên (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán thù lao dịch vụ.

Hai là, về đặc điểm. Hợp đồng này là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù; chủ thể của hợp đồng: bên làm dịch vụ phải là thương nhân, còn khách hàng có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân; Đối tượng của hợp đồng là dịch vụ gắn liền với hoạt động mua bán, vân chuyển hàng hóa như: tổ chức việc vận chuyển hàng hóa, giao hàng hóa cho người vận chuyển, làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để vận chuyển hàng hóa theo thỏa thuận; Hình thức của hợp đồng: không bắt buộc bằng văn bản.

Thứ hai, Luật thương mại 2014 không quy định cụ thể về các nội dung chủ yếu của hợp đồng dịch vụ logistics nhưng với tính chất của hợp đồng dịch vụ thì theo điều 398 Luật dân sự 2015, hợp đồng dịch vụ logistics có các nội dung chủ yếu sau:

Một là, nội dung công việc mà khách hàng ủy nhiệm cho bên làm dịch vụ giao nhận hàng hóa thực hiện; Các yêu cầu cụ thể đối với dịch vụ, hàng hóa đặc thù;

Hai là, thù lao dịch vụ và các chi phí liên quan đến việc thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa; nghĩa vụ thanh toán thù lao và các chi phí dịch vụ;

Ba là, hời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ;

Bốn là, giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với người làm dịch vụ;

Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể, các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng những nội dung khác. Như vậy, hoạt động này có nội dung rất phong phú và tùy từng trường hợp cụ thể, các bên có thể thoải mái lựa chọn các dịch vụ cung cấp và từng loại hình dịch vụ. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

2.3. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quan hệ dịch vụ logistics

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động dịch vụ Logistics từ mục 4 chương IV từ Điều 235 đến Điều 240.

2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Thứ nhất, quyền của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định như sau trừ trường hợp có thỏa thuận khác:

Một là, được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;

Hai là, cầm giữ số hàng hóa nhất định và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa để đòi nợ đã đến hạn nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thù lao và các khoản chi phí hợp lý khác, người làm dịch vụ logistics có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa. Theo quy định tại Điều 239 Luật thương mại năm 2014 thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa có quyền cầm giữ số hàng hóa để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng. Tuy nhiên quyền cầm giữ chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau:  (1) khách hàng không thanh toán số nợ đến hạn như khoản thù lao dịch vụ và chi phí hợp lý khác.; (2) Thứ hai, chỉ được cầm giữ số lượng hàng hóa có giá trị tương đương với giá trị nợ mà khách hàng chưa thanh toán; (3) Người làm dịch vụ phải thông báo bằng văn bản ngay cho khách hàng về việc cầm giữ hàng hóa. Sau khi cầm giữ hàng hóa ngày kể từ ngày cầm giữ, nếu khách hàng không thanh toán nợ cho người giao nhận hàng hóa thì họ có quyền định đoạt với hàng hóa đó. Nếu hàng hóa có dấu hiệu hư hỏng, quyền định đoạt phát sinh khi có bất cứ khoản nợ nào của khách hàng. Trước khi định đoạt đối với hàng hóa để thu hồi nợ, người cầm giữ phải thông báo cho khách hàng biết bằng văn bản. Các chi phí liên quan đến việc định đoạt hàng hóa do khách hàng chịu. Trường hợp cầm giữ và định đoạt sai trái gây thiệt hại cho khách hàng thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nghĩa vụ của thương nhân thực hiện dịch vụ Logistics là thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã quy định trong hợp đồng.

Một là, khi có lý do chính đáng, vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics có thể thực hiện hợp đồng khác với chỉ dẫn của khách hàng nhưng phải thông báo cho khách hàng biết.

Hai là, trong trường hợp có những sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký kết hợp đồng, có thể dẫn đến việc không thực hiện được (một phần hoặc toàn bộ hợp đồng) thì phải thông báo ngay với khách hàng để được chỉ dẫn thêm.

Ba là, nếu hợp đồng không thỏa thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ thì người giao nhận hàng hóa phải thực hiện các nghĩa vụ trong một thời gian hợp lý. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Bốn là, khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng

Thứ nhất, nếu không có thỏa thuận khác thì khách hàng có quyền sau theo điều 236 của Luật thương mại 2014: Một là, yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người làm dịch vụ Logistics vi phạm hợp đồng; Hai là, Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng.

Thứ hai, khách hàng có nghĩa vụ:

Một là, cung cấp đầy đủ các chỉ dẫn cho thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics; Hai là, thông tin đầy đủ, chi tiết, chính xác và kịp thời về hàng hóa cho người làm dịch vụ Logistics; Ba là, Đóng gói, ký mã hiệu hàng hóa theo hợp đồng mua bán hàng hóa, trừ trường hợp người làm dịch vụ Logistics đảm nhận công việc này. Bốn là, bồi thường thiệt hại, trả các chi phí phát sinh cho thương nhân làm dịch vụ Logistics nếu người đó đã thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng hoặc do lỗi của khách hàng gây ra; Năm là, thanh toán cho thương nhân người làm dịch vụ Logistics mọi khỏan tiền đã đến hạn thanh toán.

2.4. Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Những quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được xuất phát từ tình rủi ro cao của tính chất công việc đối với hàng hóa.

Thứ nhất, theo điều 238 Luật thương mại 2014, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa. Và người làm dịch vụ Logistic không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và nghĩa vụ liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc sự giao hàng chậm trễ là do thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics cố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Thứ hai, nghị định 163/2025/NĐ-CP quy định cụ thể: “Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này”.

  • Như vậy, theo nghị định này, giới hạn trách nhiệm được xác định theo nguyên tắc sau:

Đầu tiên, trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan. Sau đó, trường hợp pháp luật liên quan không quy định giới hạn trách nhiệm thì giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics do các bên thoả thuận.

  • Cụ thể, trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:

Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về trị giá của hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về trị giá của hàng hóa và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm sẽ không vượt quá trị giá của hàng hóa đó.

Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

Như vậy, nguyên tắc xác định trách nhiệm ở Nghị định 163/2025 đã có sự thay đổi so với Nghị định 140/2016, ở nghị định 140/2016, trách nhiệm này được các bên thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận mới tuân theo các quy tắc xác định trách nhiệm như trên. Nghị định 163/2025 đã quy định “trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan” và sau đó mới là nguyên tắc theo thỏa thuận của các bên. Xuất phát từ quy phạm của Luật dân sự về hợp đồng dịch vụ, hợp đồng dịch vụ logistics cũng là một loại hợp đồng dịch vụ, dựa trên từ tự do thỏa thuận giữa các bên. Việc áp dụng quy tắc này liệu rằng có gây khó khăn và hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng dịch vụ logistics hay không thì chắc còn phải chờ quá trình áp dụng văn bản pháp luật này trên thực tế sau tháng 2 năm 2026 khi có hiệu lực.

Thứ ba, về các trường hợp miễn trách nhiệm.

Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics sẽ được miễn trách nhiệm hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều 237, 294 Luật thương mại 2014 đó là các trường hợp:

Một là, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng. Chẳng hạn như, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã làm đúng theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người khách hàng ủy quyền, hàng hóa bị hư hỏng do khách hàng đóng gói và ghi ký hiệu hàng hóa không phù hợp, do khuyết tật của hàng hóa, do lỗi của người vận chuyển khác.

Hai là, các sự việc bất khả kháng xảy ra như thiên tại, hỏa hoạn…

Ba là, xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm được 2 bên thỏa thuận

Bốn là, hành vi của một bên là do quyết định của nhà nước mà hai bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

4 thoughts on “Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp pháp luật về kinh doanh dịch vụ Logistics

  2. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam says:

    Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

  3. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam says:

    Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

  4. Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam says:

    Khóa luận: Pháp Luật về kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464