Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam
Luật Thuế TNDN hiện hành quy định 2 hình thức ưu đãi thuế là thuế suất ưu đãi có thời hạn và thời gian được miễn thuế, giảm thuế đối với một số lĩnh vực, địa bàn cần khuyến khích đầu tư. Theo đó, mức ưu đãi cao nhất (mức thuế suất 10% trong 15 năm, được miễn thuế tối đa trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo) dành cho các DN thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, DN thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
Đối với dự án cần đặc biệt khuyến khích đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian ưu đãi thuế suất có thể kéo dài thêm (tối đa thêm 15 năm nữa). DN thực hiện hoạt động xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường (lĩnh vực xã hội hóa) được áp dụng thuế suất 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động này. Mức ưu đãi thấp hơn với thuế suất 20% trong 10 năm, miễn thuế TNDN tối đa 2 năm, giảm 50% số thuế tối đa trong 4 năm tiếp theo được áp dụng đối với DN thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất 20%. Cũng theo quy định của Luật hiện hành thì không áp dụng ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng, các DN thành lập mới trong các khu công nghiệp không còn được ưu đãi thuế như trước đây (các DN được cấp ưu đãi trước đó thì được bảo lưu đến hết thời hạn).
Cụ thể chi tiết các quy định về ưu đãi thuế TNDN như sau:
2.1.1. Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Để đảm bảo công bằng và bình đẳng trong việc áp dụng các ưu đãi về thuế TNDN, các doanh nghiệp đủ điều kiện cần thực hiện các chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định và đăng ký, nộp thuế TNDN theo kê khai. Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm mức thuế suất ưu đãi, mức miễn thuế, giảm thuế) và thu nhập từ hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế để kê khai nộp thuế riêng.
Trường hợp trong kỳ tính thuế, doanh nghiệp không tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế và thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thì phần thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế xác định bằng (=) tổng thu nhập tính thuế nhân (x) với tỷ lệ phần trăm (%) doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế so với tổng doanh thu hoặc tổng chi phí được trừ của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.
Trường hợp có khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ không thể hạch toán riêng được thì khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ đó xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hưởng ưu đãi thuế trên tổng doanh thu hoặc chi phí được trừ của doanh nghiệp
Về xác định ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp và điều kiện áp dụng ưu đãi thuế TNDN đã được quy định rất rõ những doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế TNDN khi đáp ứng những điểm như sau:
- Đáp ứng điều kiện về địa bàn Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn do chính phủ ban hành theo quy định của lật đầu tư.
Những vùng đặc biệt khó khăn là những vùng kém phát triển, vùng sâu, vùng xa, những vùng mà có cơ sở hạ tầng còn quá thấp kém. Những vùng ở phía Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Chau, Sơn La, Điện Biên… là những tỉnh được coi là địa bàn đặc biệt khó khăn.
Những vùng khó khăn là những vùng nhìn chung có kinh tế khá hơn so với những vùng đặc biệt khó khăn. Như các tỉnh Hà Nam, Nam Đinh, Ninh Bình, Bình Thuận…
Cụ thể theo các doanh nghiệp sau được hưởng ưu đãi thuế TNDN khi đáp ứng điều kiện về địa bàn:
Doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vận tải: căn cứ theo địa bàn thành lập dự án đầu tư thuộc địa bàn được hưởng ưu đãi thuế và có điểm đi hoặc điểm đến thuộc địa bàn thành lập dự án đầu tư.
Ví dụ : Năm 2015, doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn tỉnh Sơn La (thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ vận tải. Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Trong năm 2015, doanh nghiệp có nhiều tuyến xe chạy cố định (đi từ Sơn La đến thành phố Hà Nội và ngược lại; đi từ Sơn La đến thành phố Hạ Long và ngược lại) và tuyến xe chạy theo các hợp đồng (đi từ Sơn La đến thành phố Đà Nẵng và ngược lại; đi từ thành phố Hà Nội đến thành phố Đà Nẵng và ngược lại; đi từ thành phố Bắc Ninh đến Sơn La).
Việc xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ vận tải của doanh nghiệp căn cứ theo địa bàn thành lập dự án đầu tư (địa bàn tỉnh Sơn La – thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) và có điểm đi hoặc điểm đến thuộc địa bàn thành lập dự án đầu tư (địa bàn tỉnh Sơn La), cụ thể như sau:
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ vận tải đối với các tuyến xe được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do có điểm đi hoặc điểm đến tại địa bàn tỉnh Sơn La: tuyến xe cố định (đi từ Sơn La đến thành phố Hà Nội và ngược lại; đi từ Sơn La đến thành phố Hạ Long và ngược lại) và tuyến xe chạy theo các hợp đồng (đi từ Sơn La đến thành phố Đà Nẵng và ngược lại; đi từ thành phố Bắc Ninh đến Sơn La).
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ vận tải đối với tuyến xe không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do điểm đi hoặc điểm đến không thuộc địa bàn tỉnh Sơn La: tuyến xe đi từ thành phố Hà Nội đến thành phố Đà Nẵng và ngược lại.
Doanh nghiệp có dự án đầu tư có phát sinh thu nhập ngoài địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN:
- Nếu khoản thu nhập này phát sinh tại địa bàn không thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn.
- Nếu khoản thu nhập này phát sinh tại địa bàn thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn căn cứ theo thời gian và mức ưu đãi của doanh nghiệp tại địa bàn thực hiện dự án đầu tư.
Ví dụ: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn (hoạt động trong lĩnh vực sản xuất):
Năm 2015, doanh nghiệp có dự án đầu tư mới để thực hiện dự án sản xuất tại địa bàn tỉnh Hà Giang (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn). Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Trong năm 2015, doanh nghiệp bắt đầu sản xuất sản phẩm tại địa bàn tỉnh Hà Giang và xuất bán sản phẩm tại tỉnh Hà Giang (địa bàn thực hiện dự án – địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) và các tỉnh lân cận (ngoài địa bàn tỉnh Hà Giang) như tỉnh Cao Bằng (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn), thành phố Lào Cai (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn), thành phố Hà Nội (không thuộc địa bàn ưu đãi). Do sản phẩm bán ra đều sản xuất tại tỉnh Hà Giang (địa bàn thực hiện dự án đầu tư) nên thu nhập từ sản phẩm bán ở tỉnh Hà Giang và các tỉnh khác đều được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện sản xuất tại địa bàn tỉnh Hà Giang.
Ví dụ: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn (hoạt động trong lĩnh vực xây dựng):
Năm 2015, doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn tỉnh Hà Giang (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Trong năm 2015, doanh nghiệp thực hiện hoạt động xây dựng tại địa bàn tỉnh Hà Giang, đồng thời có hoạt động xây dựng tại các tỉnh lân cận như tỉnh Cao Bằng (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn), thành phố Lào Cai (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn), thành phố Hà Nội (không thuộc địa bàn ưu đãi). Do hoạt động xây dựng thực hiện tại địa bàn tỉnh Hà Giang nên thu nhập từ hoạt động xây dựng tại địa bàn tỉnh Hà Giang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo địa bàn tỉnh Hà Giang. Đối với thu nhập từ hoạt động xây dựng tại các tỉnh lân cận thì xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Đối với thu nhập tại địa bàn tỉnh Cao Bằng (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn): được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức và thời gian ưu đãi thuế còn lại của doanh nghiệp.
Đối với thu nhập tại địa bàn thành phố Lào Cai (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn): được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo mức và thời gian ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện tại địa bàn thành phố Lào Cai cho thời gian còn lại của doanh nghiệp.
Đối với thu nhập tại địa bàn thành phố Hà Nội (không thuộc địa bàn ưu đãi): không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do hoạt động xây dựng thực hiện tại địa bàn không thuộc địa bàn ưu đãi.
Ví dụ: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn (hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ):
Năm 2015, doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn tỉnh Hà Giang (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ. Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Trong năm 2015, doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ tại địa bàn tỉnh Hà Giang, đồng thời có hoạt động dịch vụ tại các tỉnh lân cận như tỉnh Cao Bằng (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn), thành phố Lào Cai (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn), thành phố Hà Nội (không thuộc địa bàn ưu đãi). Do hoạt động dịch vụ thực hiện tại địa bàn tỉnh Hà Giang nên thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại địa bàn tỉnh Hà Giang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo địa bàn tỉnh Hà Giang. Đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại các tỉnh lân cận thì xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Đối với thu nhập tại địa bàn tỉnh Cao Bằng (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn): được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức và thời gian ưu đãi thuế còn lại của doanh nghiệp.
Đối với thu nhập tại địa bàn thành phố Lào Cai (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn): được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo mức và thời gian ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện tại địa bàn thành phố Lào Cai cho thời gian còn lại của doanh nghiệp.
Đối với thu nhập tại địa bàn thành phố Hà Nội (không thuộc địa bàn ưu đãi): không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do hoạt động dịch vụ thực hiện tại địa bàn không thuộc địa bàn ưu đãi.
- Dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Quy định tại Khoản 5 Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT – BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 5 Thông tư số 151/2014/TT – BTC) được sửa đổi bổ sung như sau:
Doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trước ngày 01/01/2014 nhưng đang trong quá trình đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh doanh thu thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo dự án đầu tư mới theo quy định tại Luật số 32/2013/QH13; Luật số 71/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trước đó quy định: Dự án đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trước ngày 01/01/2014 nhưng đang trong quá trình đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh doanh thu và được cấp Giấy chứng nhận điều chỉnh Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh từ ngày 01/01/2014 của dựa án đó thì được hưởng ưu đãi theo dự ăn đầu tư mới.
Bổ sung trường hợp dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 15, Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ – CP: Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn
Bổ sung hướng dẫn, cụ thể hơn tại điểm a khoản 5 Điều 18 như sau: Dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Sửa đổi, bổ sung quy định: Đối với doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có sự thay đổi GCNĐKDN hoặc GCNĐT nhưng sự thay đổi đó không làm thay đổi việc đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế của dự án đó theo quy định thì doanh nghiệp tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại hoặc ưu đãi theo diện đầu tư mở rộng nếu đáp ứng điều kiện ưu đãi theo quy định.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xã hội hóa được thành lập do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật đáp ứng tiêu chí về cơ sở xã hội hóa theo Quyết định của TTgCP mà doanh nghiệp trước khi chuyển đổi chưa được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo lĩnh vực ưu đãi thuế thì được hưởng ưu đãi thuế như dự án đầu tư mới kể từ khi chuyển đổi. Trường hợp doanh nghiệp khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí về cơ sở xã hội hóa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đang được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% đối với phần thu nhập từ xã hội hóa thì tiếp tục áp dụng mức thuế suất ưu đãi này.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xã hội hóa được thành lập do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật đáp ứng tiêu chí về cơ sở xã hội hóa theo Quyết định của TTgCP mà doanh nghiệp trước khi chuyển đổi chưa được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo lĩnh vực ưu đãi thuế thì được hưởng ưu đãi thuế như dự án đầu tư mới kể từ khi chuyển đổi.
Trường hợp doanh nghiệp khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí về cơ sở xã hội hóa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đang được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% đối với phần thu nhập từ xã hội hóa thì tiếp tục áp dụng mức thuế suất ưu đãi này.
Trước đó chỉ hướng dẫn đối với các dự án đầu tư mới.
- Đối với dự án có kỳ tính thuế đầu tiên
Trường hợp trong kỳ tính thuế đầu tiên mà dự án đầu tư của doanh nghiệp (bao gồm cả dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao) có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế dưới 12 tháng được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế đối với dự án đầu tư ngay từ kỳ tính thuế đầu tiên đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian bắt đầu được hưởng ưu đãi thuế từ kỳ tính thuế tiếp theo.
Trường hợp doanh nghiệp đăng ký thời gian ưu đãi thuế vào kỳ tính thuế tiếp theo thì phải xác định số thuế phải nộp của kỳ tính thuế đầu tiên để nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định (Bổ sung Khoản 8a Điều 8 Thông tư số 78/TT – BTC quy định về kỳ tính thuế đầu tiên).
2.1.2. Nguyên tắc thực hiện ưu đãi thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Thứ nhất, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo diện doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư chỉ áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng điều kiện ưu đãi đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có sự thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng sự thay đổi đó không làm thay đổi việc đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế theo quy định thì doanh nghiệp tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại. Doanh nghiệp đang hoạt động có thực hiện bổ sung ngành nghề kinh doanh, bổ sung quy mô hoạt động kinh doanh (đầu tư lắp đặt dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô) thì thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngành nghề bổ sung, quy mô hoạt động bổ sung không thuộc diện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ hai, trường hợp doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo địa bàn ưu đãi đầu tư nếu doanh nghiệp có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn ưu đãi đầu tư và ngoài địa bàn ưu đãi đầu tư thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn ưu đãi đầu tư để được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ ba, trong thời gian được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu trong năm tính thuế mà doanh nghiệp không đáp ứng đủ một trong các điều kiện ưu đãi thuế theo quy định thì doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi trong năm tính thuế đó mà phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 25%. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Thứ tư, doanh nghiệp trong thời gian đang được hưởng ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra kiểm tra phát hiện tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp của thời kỳ miễn thuế, giảm thuế thì doanh nghiệp được hưởng miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Tùy theo lỗi của doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra áp dụng các mức xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định.
Thứ năm, doanh nghiệp đang trong thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế kiểm tra phát hiện số thuế thu nhập doanh nghiệp miễn thuế, giảm thuế theo quy định nhỏ hơn so với đơn vị tự kê khai thì doanh nghiệp chỉ được miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo số thuế thu nhập doanh nghiệp do kiểm tra, thanh tra phát hiện. Tùy theo lỗi của doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra áp dụng các mức xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định.
2.1.3. Thuế suất ưu đãi
Thuế suất ưu đãi là thuế suất áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng ưu đãi. So với thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi thấp hơn và được quy định với các mức khác nhau tùy theo điều kiện đáp ứng.
Hình thức hưởng ưu đãi thuế bao gồm: giảm thuế so với thuế suất thông thường vô thời hạn hoặc có thời hạn, miễn thuế vô thời hạn hoặc có thời hạn.
- Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm (Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT-BTC)
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại: địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP Khu kinh tế, Khu công nghệ cao kể cả khu công nghệ thông tin tập trung được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng – kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học.
Dự án đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga phải phát sinh doanh thu, thu nhập từ quá trình hoạt động của các dự án đầu tư nêu trên thì mới thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp các doanh nghiệp thực hiện thi công, xây dựng các công trình này thì phần thu nhập từ hoạt động thi công, xây dựng không được hưởng ưu đãi thuế theo quy định này.
Dự án đầu tư phát triển được hưởng ưu đãi thuế TNDN phải phát sinh doanh thu, thu nhập từ .quá trình hoạt động của các dự án đầu tư mới thuộc diện được hưởng ưu đãi thu, cụ thể là từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, bao gồm: sản xuất thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường, thiết bị quan trắc và phân tích môi trường; xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường; thu gom, xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn; tái chế, tái sử dụng chất thải Trường hợp các doanh nghiệp thực hiện thi công, xây dựng các công trình này thì phần thu nhập từ hoạt động thi công, xây dựng không được hưởng ưu đãi thuế.
Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao và các khoản thu nhập có liên quan trực tiếp từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao được hưởng ưu đãi về thuế suất kể từ năm được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao và các khoản thu nhập có liên quan trực tiếp từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao do đáp ứng điều kiện về lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại khoản 4 Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 2 Điều 10 Thông tư này).
Trường hợp doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc đã hưởng hết ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp mà được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì mức ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được xác định bằng mức ưu đãi áp dụng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 1 Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP trừ đi thời gian ưu đãi đã hưởng đối với doanh nghiệp mới thành lập, dự án đầu tư mới thành lập (cả về thuế suất và thời gian miễn, giảm nếu có)
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Dự án có quy mô vốn đầu tư đăng ký lần đầu tối thiểu 6 (sáu) nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư lần đầu theo quy định của pháp luật đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt 10 (mười) nghìn tỷ đồng/năm chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu từ dự án đầu tư (chậm nhất năm thứ 4 kể từ năm có doanh thu doanh nghiệp phải đạt tổng doanh thu tối thiểu 10 (mười) nghìn tỷ đồng/năm).
Dự án có quy mô vốn đầu tư đăng ký lần đầu tối thiểu 6 (sáu) nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư lần đầu theo quy định của pháp luật đầu tư và sử dụng thường xuyên trên 3.000 lao động chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu từ dự án đầu tư (chậm nhất năm thứ 4 kể từ năm có doanh thu doanh nghiệp phải đạt điều kiện sử dụng số lao động thường xuyên bình quân năm trên 3.000 lao động).
Số lao động sử dụng thường xuyên bình quân năm được xác định theo hướng dẫn tại Thông tư số 40/2009/TT-BLĐTBXH ngày 03 tháng 12 năm 2009 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Trường hợp dự án đầu tư không đáp ứng các tiêu chí quy định tại điểm này (không kể bị chậm tiến độ do nguyên nhân khách quan trong khâu giải phóng mặt bằng, giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước hoặc do thiên tai, địch họa, hỏa hoạn và được cơ quan cấp phép đầu tư chấp thuận, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) thì doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp phải kê khai, nộp số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp đã kê khai hưởng ưu đãi của các năm trước (nếu có) và nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định, nhưng doanh nghiệp không bị xử phạt về hành vi khai sai theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
f) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và dự án khai thác khoáng sản, có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12 (mười hai) nghìn tỷ đồng, sử dụng công nghệ phải được thẩm định theo quy định của Luật công nghệ cao, Luật khoa học và công nghệ, thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá 5 năm kể từ thời ngày được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau:
- Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;
Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.
Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển ban hành tại Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; khi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế có liên quan”.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các hoạt động kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (kinh doanh casino, trò chơi có thưởng, cá cược..) là những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, không khuyến khích phát triển và cần quản lý chặt chẽ, chỉ sử dụng trong các hoạt động du lịch, nhằm thu hút khách du lịch. Vì vậy, việc để các cơ sở được phép kinh doanh hoạt động này hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cần được xem xét và quy định rõ ràng. Cụ thể cho dù ở địa bàn có điều kiện khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, thì các doanh nghiệp hoặc cơ sở đó cũng không được hưởng ưu đãi thuế TNDN.
- Kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Đối với dự án đầu tư quy định tại điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT-BTC có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư;
Đối với dự án quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT- BTC đáp ứng một trong các tiêu chí theo quy định
Căn cứ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, TTgCP quyết định kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 (mười lăm) năm.
- Thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động
Khoản 3 Điều 19 Thông Tư 78/2014/TT-BTC, khoản 3, khoản 4 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT-BTC: Sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:
“3. Thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động áp dụng đối với:
- Phần thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường, giám định tư pháp (sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hoá).
Danh mục loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các doanh nghiệp thực hiện xã hội hoá được thực hiện theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm e Khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:
- Thu nhập từ sản xuất, khai thác và tinh chế muối trừ hoạt động sản xuất muối của hợp tác xã;
- Thu nhập từ đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm, bao gồm cả đầu tư để trực tiếp bảo quản hoặc đầu tư để cho thuê bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm.
- Phần thu nhập hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường, giám định tư pháp (sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hóa).
- Phần thu nhập của hoạt động xuất bản của Nhà xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản.
- Thu nhập từ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Phần thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp không thuộc địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
- Thuế suất 15%
Đối với thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở địa bàn không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 5 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT-BTC).
- Thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm.
Thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm được áp dụng trong các trường hợp sau theo Khoản 4 Điều 19 Thông Tư 78/2014/TT-BTC:
- Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
- Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới: sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; phát triển ngành nghề truyền thống (bao gồm xây dựng và phát triển các ngành nghề truyền thống về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản thực phẩm, các sản phẩm văn hóa).
Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế quy định tại khoản này kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 áp dụng thuế suất 17%.
- Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi
Theo khoản 6 Điều 19 Thông Tư 78/2014/TT-BTC, thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tính từ năm được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đối với dự án ứng dụng công nghệ cao được tính từ năm được cấp giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao.
2.1.4. Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo đối với trường hợp áp dụng
Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới đã được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm theo Khoản 1 Điêu 11 Thông tư 96/2015/TT – BTC.
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.
- Miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 05 năm tiếp theo
Đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
- Miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với
Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn hoặc lĩnh vực đã được hưởng thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm (Khoản 4 Điều 19 Thông tư 78/2014/TT-BTC).
Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại Khu công nghiệp (trừ Khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện – kinh tế xã hội thuận lợi).
Địa bàn có điều kiện – kinh tế xã hội thuận lợi là các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh (không bao gồm các quận của các đô thị này mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01/01/2009); Trường hợp nằm trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn không thuận lợi thì việc xác định ưu đãi thuế căn cứ vào vị trí thực tế của dự án đầu tư trên thực địa. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Thời gian miễn thuế, giảm thuế
Được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư dự án đầu tư mới phát sinh doanh thu.
2.1.5. Chuyển tiếp ưu đãi
Doanh nghiệp có dự án đầu tư mở rộng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép đầu tư hoặc đã thực hiện đầu tư trong giai đoạn năm 2009 – năm 2013
Doanh nghiệp có dự án đầu tư mở rộng sản xuất đến ngày 31/12/2008 đang đầu tư xây dựng dở dang, trong năm 2009 dự án vẫn tiếp tục quá trình đầu tư xây dựng dở dang và từ năm 2010 trở đi mới hoàn thành đi vào sản xuất, kinh doanh.
- Nghiệp có dự án đầu tư vào khu công nghiệp trong giai đoạn năm 2009 – năm 2013.
- Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn mà trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 chưa thuộc địa bàn ưu đãi thuế hoặc mức ưu đãi thấp hơn.
- Sau ngày 01 tháng 01 năm 2015 địa bàn nơi doanh nghiệp đang có dự án đầu tư được chuyển đổi thành địa bàn ưu đãi thuế thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế khi chuyển đổi.
- Đối với các trường hợp chuyển đổi ưu đãi nêu tại khoản a, b, c đến kỳ tính thuế năm 2015 chưa có doanh thu, thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế.
Nếu đến kỳ tính thuế năm 2015 chưa có thu nhập, thời gian miễn, giảm thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế (nếu không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu, thời gian miễn, giảm thuế được tính từ năm thứ 4) Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
2.1.6. Các trường hợp không áp dụng ưu đãi thuế
Theo Thông tư 96/2015/TT-BTC;
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:
“3. Không áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và không áp dụng thuế suất 20% (bao gồm cả doanh nghiệp thuộc diện áp dụng thuế suất 20% theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 78/2014/TT-BTC) đối với các khoản thu nhập sau:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (trừ thu nhập từ đầu tư kinh doanh nhà ở xã hội quy định tại điểm d Khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC); thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản; thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.
- Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí, tài nguyên quý hiếm khác và thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản.
- Thu nhập từ kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.”
2.1.7. Về việc chuyển lỗ Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Bản chất của chuyển lỗ là hành vi doanh nghiệp bù trừ khoản lỗ trong những năm tài chính trước bằng lợi nhuận phát sinh. Việc bù trừ này làm thay đổi kết quả doanh thu cuối cùng của doanh nghiệp, có ảnh hưởng tới sự phân chia lợi nhuận cho người góp vốn.
- Điều kiện để doanh nghiệp chuyển lỗ
Để nhận được ưu đãi chuyển lỗ Các doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Đối với các khoản lỗ từ hoạt động chuyển nhượng BĐS, chuyển nhượng quyền dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, hoạt động chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản thì các doanh nghiệp cần phải hạch toán riêng cho từng hoạt động khi thực hiện chuyễn lỗ.
- Phương pháp chuyển lỗ
Hiện tại, theo quy định pháp luật Việt Nam thì chuyển lỗ chỉ được cho phép kết chuyển lỗ tịnh tiến về sau chứ không cho kết chuyển về trước như một số nước. Việc kết chuyển lỗ về sau sẽ thuận lợi cho việc quản lý lỗ nếu cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ về trước sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý. Mặc khác, vào năm trước đó các doanh nghiệp đã thực hiện quyết toán thuế rồi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định nếu thực hiện kết chuyển về trước thì phải quyết toán thuế lại gây ra sự xáo trộn trong việc quản lý hồ sơ khai thuế, mất thời gian và tốn kém thêm các khoản chi phí. Trong quá trình sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp có phát sinh lỗ thì sẽ được chuyển số lỗ này sang năm sau, số lỗ này sẽ được trừ vào thu nhập chịu thuế. Doanh nghiệp tạm thời chuyển lỗ vào thu nhập của các quý của năm sau khi doanh nghiệp tiến hành lập từ khai tạm nộp quý và chuyển chính thức vào năm sau khi lập tờ khai quyết toán thuế năm Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc xác định lỗ và chuyển lỗ như sau:
“1. Lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập tính thuế chưa bao gồm các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước chuyển sang. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập (thu nhập chịu thuế đã trừ thu nhập miễn thuế) của những năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
Doanh nghiệp tạm thời chuyển lỗ vào thu nhập của các quý của năm sau khi lập tờ khai tạm nộp quý và chuyển chính thức vào năm sau khi lập tờ khai quyết toán thuế năm.
Ví dụ: Năm 2013 DN B có phát sinh lỗ là 20 tỷ đồng, năm 2014 DN B có phát sinh thu nhập là 15 tỷ đồng thì:
- DN B phải chuyển toàn bộ số lỗ 15 tỷ đồng vào thu nhập năm 2014;
- Số lỗ còn lại 5 tỷ đồng, DN B phải theo dõi và chuyển toàn bộ liên tục theo nguyên tắc chuyển lỗ của năm 2013 nêu trên vào các năm tiếp theo, nhưng tối đa không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
Doanh nghiệp có số lỗ giữa các quý trong cùng một năm tài chính thì được bù trừ số lỗ của quý trước vào các quý tiếp theo của năm tài chính đó. Khi quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định số lỗ của cả năm và chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định nêu trên.
Doanh nghiệp tự xác định số lỗ được trừ vào thu nhập theo nguyên tắc nêu trên. Trường hợp trong thời gian chuyển lỗ có phát sinh tiếp số lỗ thì số lỗ phát sinh này (không bao gồm số lỗ của kỳ trước chuyển sang) sẽ được chuyển lỗ toàn bộ và liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp xác định số lỗ doanh nghiệp được chuyển khác với số lỗ do doanh nghiệp tự xác định thì số lỗ được chuyển xác định theo kết luận của cơ quan kiểm tra, thanh tra nhưng đảm bảo chuyển lỗ toàn bộ và liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định.Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu số lỗ phát sinh chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp sau.
Doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế đến thời điểm có quyết định chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản của cơ quan có thẩm quyền (trừ trường hợp không phải quyết toán thuế theo quy định). Số lỗ của doanh nghiệp phát sinh trước khi chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất phải được theo dõi chi tiết theo năm phát sinh và bù trừ vào thu nhập cùng năm của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất hoặc được tiếp tục chuyển vào thu nhập của các năm tiếp theo của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất để đảm bảo nguyên tắc chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Số lỗ của doanh nghiệp phát sinh trước khi chia, tách thành doanh nghiệp khác và đang còn trong thời gian chuyển lỗ theo quy định thì số lỗ này sẽ được phân bổ cho các doanh nghiệp sau khi chia, tách theo tỷ lệ vốn chủ sở hữu được chia, tách”.
Căn cứ theo các quy định trên thì trước khi xác định thu nhập thuế doanh nghiệp được quyền khấu trừ một phần thu nhập để bù trừ khoản lỗ lũy kế trong vòng 5 năm đến năm chó thu nhập chịu thuế. Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ, nếu có số lỗ phát sinh chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp theo. Tuy nhiên điều này dễ gây hiểu lầm là doanh nghiệp được phép chuyển lỗ trong vòng 5 năm nên doanh nghiệp chỉ được phép lỗ trong vòng 5 năm. Thực tế không có văn bản pháp luật nào quy định doanh nghiệp được phép lỗ trong bao nhiêu năm. Như vậy pháp luật không quy định doanh nghiệp được phép lỗ trong bao nhiêu năm. Tuỳ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, để doanh nghiệp xác định lỗ lãi của mình.
Về vấn đề chuyển lỗ có hai dòng quan điểm trái ngược nhau: Thứ nhất là quan điểm cho rằng cho phép chuyển lỗ là một biện pháp ưu đãi thuế, là công cụ hữu hiệu khuyến khích hoạt động doanh nghiệp và thực tế, nhiều nước đều nghi nhận quy định chuyển lỗ trong luật thuế TNDN, ví dụ như Nhật Bản, Trung Quốc. Thứ hai là quan điểm cho rằng nên bỏ quy định chuyển lỗ vì quy định này có rất nhiều phức tạp đối với việc áp dụng. Cụ thể, chuyển lỗ áp dụng rất dễ đối với công ty độc lập,nhưng đối với các công ty trong nhóm hoặc tập đoàn thì rất dễ xảy ra trường hợp lợi dụng chuyển giá thông qua giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ nhằm che giấu lợi nhuận để gian lận trong việc tính thuế.
- Đối tượng chuyển lỗ
Không phải doanh nghiệp, tổ chức nào cũng điều được hưởng chế độ ưu đãi chuyển lỗ mà doanh nghiệp, tổ chức cần phải đáp ứng điều kiện được quy định tại Luật Thuế TNDN. Trước đây, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh doanh khi phát sinh lỗ phải có kế hoạch chuyển lỗ và đăng ký kế hoạch chuyển lỗ với cơ quan thuế. Trường hợp, doanh nghiệp, tổ chức không đăng ký với cơ quan thuế hoặc chuyển lỗ ngoài kế hoạch chuyển lỗ đã đăng ký với cơ quan thuế thì sẽ không được chuyển lỗ. (Điểm 8, mục III, Thông tư 128/2003/TT-BTC) Hiện tại, quy định này đã không còn tồn tại do nó gây nên tình trạng rườm rà trong quản lý của cơ quan thuế cũng như gây khó khăn cho doanh nghiệp, tổ chức. Thay vào đó doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Hợp tác xã … và quy định của pháp luật nước ngoài. Cũng bên cạnh đó, những tổ chức khác ngoài các doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định chỉ cần phát sinh thu nhập chịu thuế đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của Luật thuế TNDN thì cũng được thực hiện chế độ ưu đãi chuyễn lỗ khi phát sinh lỗ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những hoạt động như kinh doanh BĐS, dự án đầu tư, quyền tham gia dự án đầu tư, quyền thăm dò, khai thác khoáng sản đối với những doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh mang tính chất thường xuyên hay những doanh nghiệp, tổ chức không mang tính thường xuyên khi thực hiện chuyển nhượng các hoạt động kinh doanh này mà phát sinh lỗ thì được thực hiện chuyển lỗ theo quy định, kể từ năm phát sinh lỗ nhưng không quá 05 năm
2.2. Thực tiễn áp dụng Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
2.2.1. Mức hưởng ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư và khu công nghiệp
Một số tỉnh cũng xuất hiện một số hiện tượng “xé rào” trong ưu đãi như tỉnh Bình Định quy định đối với những dự án đầu tư vào khu kinh tế Nhơn Hội: “Thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động kinh doanh, miễn 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo. Đối với dự án có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm nhưng tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không quá 30 năm, do Thủ tướng Chính phủ quyết định.” Đối với Khu công nghiệp Nhơn Hòa: Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Miễn 02 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp. Dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch sẽ được ngân sách hỗ trợ 100% thuế TNDN những năm đầu thực hiện dự án, hỗ trợ 50% thuế TND 3-30 năm, với dự án đầu tư nước ngoài; hỗ trợ 100% tiền thuê đất 3-30 năm.
Tình trạng này không chỉ diễn ra tại Bình Định mà ngày tư năm 2005 Bộ Tài Chính cũng đã ra soát có 33 tỉnh thành vì lợi ích cục bộ vẫn tiếp tục “xé rào” đưa ra hàng loạt các quy định ưu đãi riêng để giành giật các nhà đầu tư. Cụ thể như Tỉnh Bến Tre quy định: “Ngoài việc được hưởng các chính sách theo quy định của Chính phủ, các dự án đầu tư dạng BOT, BTO, BT sẽ được tỉnh miễn thuế TNDN thêm 4 năm và được giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo”. Bình Thuận dùng ngân sách hỗ trợ tái đầu tư 50% thuế TNDN mà DN phải nộp trong 2-10 năm. Tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Nghệ An, Thanh Hóa, Lào Cai, UBND tỉnh đều dùng ngân sách hỗ trợ DN thông quá thuế TNDN. Chưa tính toán được cụ thể, nhưng rõ ràng với những quy định trên đã làm cho nguồn thu của các địa phương bị thất thoát. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Cũng từ những ưu đãi đó mà đã xảy ra tình trạng các doanh nghiệp yêu cầu thực hiện thêm ưu đãi như trường hợp đề nghị ưu đãi thuế của Cty TNHH Samsung Electronics Việt Nam. Theo văn bản gửi lên Bộ Tài chính, Samsung đề nghị các dự án đang thực hiện ở Bắc Ninh và Thái Nguyên được áp dụng những ưu đãi như đã được phê duyệt trước đây.
Cụ thể là hưởng thuế suất ưu đãi thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 10% áp dụng trong 30 năm, riêng dự án đầu tiên của Samsung ở Bắc Ninh được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án; miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra, Samsung kiến nghị cho tiếp tục hưởng thêm 3 năm giảm 50% số thuế TNDN phải nộp.
Tuy nhiên, ngày 5/11/2015 , Bộ Tài chính cho biết, vừa có văn bản từ chối đề nghị của Samsung, Bộ Tài chính cho rằng, theo Luật số 71/2014/QH13, không có quy định ưu đãi thuế 10% trong suốt thời gian thực hiện đối với trường hợp doanh nghiệp có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 tỷ đồng. Đồng thời đề xuất giảm hưởng thêm 3 năm mức giảm 50% số thuế TNDN phải nộp của Samsung là vượt quá khung khổ quy định của luật Thuế TNDN hiện hành. Nếu không ngăn chặn sớm tình trạng này, sẽ dễ dẫn tới tình trạng mất đầu tư của một số vùng miền khi không có những chính sách ưu đãi “vượt rào”.
Phân tích về tình trạng này theo các chuyên gia kinh tế, tình trạng “tiền trảm hậu tấu” kiểu này diễn ra từ những năm 1999, đã được chấn chỉnh, nhưng vài năm trở lại đây lại tái diễn. Từ thực tiễn cho thấy mỗi vùng, mỗi địa phương trong nước ta có những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, do đó nếu cùng áp dụng một nội dung ưu đãi như nhau sẽ gây nhiều khó khăn và thiếu công bằng trong việc thực hiện thu hút đầu Chính vì thế mà một số địa phương đã tự tạo ra hướng đi cho mình nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Xét tới cùng thì có linh hoạt trong ưu đãi thì mới thu hút được đầu tư vào những vùng khó khăn. Khác với những nơi có điều kiện tốt như KCN Quang Minh (Vĩnh Phúc) hoặc trung tâm như Hà Nội thì thu hêm phí, DN vẫn đầu tư nhiều. Cũng từ thực tế đầu tư ở Vĩnh Phúc cho thấy, nếu kéo được DN đầu tư rồi thì ngân sách hỗ trợ sẽ trở nên quá bé, dễ giải quyết, bởi theo ông Ái, nông nghiệp dù được đầu tư, thúc đẩy mãi vẫn khó thu được 50 triệu đồng/ha, trong khi chỉ 10 ha đất cấp cho tập đoàn Honda đã thu về 600 tỷ đồng/năm. Vậy “thu” lớn hơn gấp nhiều lần “chi”, hoàn toàn bù đắp được khoản thâm thủng. Đó là chưa tính đến dự án công nghiệp bao giờ cũng kéo các loại hình dịch vụ khác cùng phát triển, tạo giá trị gia tăng.
Việc các địa phương “xé rào” trong chính sách ưu đãi đã vô hình chung tạo nên một hệ thống pháp luật ưu đãi thuế không thống nhất nhưng cũng đã thể hiện rõ một hiện trạng là thực tiễn đã đi trước luật, chính sách luật hiện tại không đáp ứng được với như cầu cũng như thực tiễn phát trển kinh tế – xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Một trường hợp khác là sự việc khác liên quan đến Công ty cổ phần nhựa Bình Minh gần đây bị Cục thuế Tp.HCM truy thu và phạt hơn 117 tỷ đồng ( Trong đó 74,98 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp đối với BMP. Đồng thời phạt vi phạm hành chính về thuế số tiền hơn 42,13 tỷ đồng, trong đó phạt hành vi chậm nộp tiền thuế là 34,64 tỷ đồng và phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế là 7,49 tỷ đồng). Đây là một ví dụ cho thất sự bất cập trong hướng dẫn về việc hưởng ưu đãi thuế TNDN và niêm yết lần đầu giữa Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh và tổng cụ thuế không thống nhất. Do đó có sự việc Công ty cổ phần nhựa Bình Minh đã gửi đơn khiếu nại lên Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Thuế xin hoãn nộp khoản truy thu thuế cho đến khi sự việc được rõ ràng.
Đánh giá về các quy định hiện hành của quy định về ưu đãi thuế và cơ chế quản lý thuế nhằm ngăn ngừa, hạn chế gian lận thuế, đảm bảo bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, 18 đến 28% ý kiến cho rằng rất có hiệu quả, 16% ý kiến cho rằng hiệu quả chưa cao. Những vấn đề mà DN bức xúc cũng được thể hiện trong kết luận của Thanh tra Chính phủ về việc thu ngân sách tại khu chế xuất và DN chế xuất trên địa bàn Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai mới đây. Theo kết luận này, việc hướng dẫn chính sách thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế còn nhiều bất cập. Điển hình là việc ban hành Công văn 207/2011 hướng dẫn xác định doanh thu, thu nhập chịu thuế, phương pháp chuyển lỗ và thời gian ưu đãi thuế TNDN đối với Công ty Loteco (Đồng Nai) là không đúng quy định; việc ban hành Công văn 2025/TCT-CS, Công văn 4578/TCT-CS, Công văn 2106/TCT-CS thiếu thống nhất và tạo sự bất bình đẳng giữa các DN khi áp dụng ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN.
2.2.2. Về vấn đề chuyển lỗ Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Về phía đối tượng nộp thuế
Trình độ hiểu biết của đối tượng nộp thuế về pháp luật, chính sách thuế, các chế độ hạch toán, kế toán, chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ…còn nhiều hạn chế dẫn đến suy nghĩ sai lệch.
Nhiều doanh nghiệp còn tìm mọi cách gian lận thuế và có nhiều biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán, cố tình bỏ sót các khoản thu, khai tăng các khoản chi phí nhằm khai báo lỗ để không phải nộp thuế TNDN theo quy định.
Chuyển lỗ là một trong những vấn đề nhạy cảm và dễ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp gian lận thông qua việc biến lãi thành lỗ nhằm trốn thuế. Bằng nhiều thủ đoạn và phương pháp như tăng tối đa các khoản trích lập dự phòng cho hàng tồn kho, chứng khoán, đầu tư ngắn hạn, dài hạn… để tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế, miễn thuế. Hoặc phổ biến hơn đó là hình thức chuyển giá của những công ty liên doanh thành lập tại Việt Nam có công ty mẹ hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Trên thực tế Pepsico và Coca là hai ví dụ điển hình cho nghi án lợi dụng chuyển lỗ để trốn thuế.
Cụ thể, đối với Pepsico đến Việt Nam đầu tư từ năm 1991 nhưng phải đến 16 năm sau (năm 2007) doanh nghiệp này mới có lãi với tổng thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là 58 tỷ đồng.Tuy nhiên năm 2008, Pesico lại kêu lỗ 58 triệu đồng. Đến năm 2009 doanh nghiệp này khai lãi 141 tỷ đồng. Bước sang năm 2010, lũy kế tính đến ngày 31/12/2010, Pepsico lỗ 1.206 tỷ đồng. Câu chuyện lỗ lãi của Pesico thay đổi liên tục qua từng năm để rồi theo thống kê từ năm 2009 cho đến 2013 Pepsico chỉ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là 40,2 tỷ đồng. Con số quá nhỏ nếu nhìn vào thị phần của Pepsico trên thị trường đồ uống nước ngọt có ga khi cùng với đối thủ Coca Cola đại gia đồ uống Pepsico đang chiếm 80% thị phần đồ uống nước ngọt có ga tại Việt Nam. Càng bất ngờ hơn khi liên tục kêu lỗ nhưng PepsiCo vẫn liên tục khai trương các nhà máy mới ở Đồng Nai (45 triệu USD), và mới đây nhất là Bắc Ninh (73 triệu USD). Tổng vốn đầu tư của đại gia này tại Việt Nam cũng vào khoảng 500 triệu USD. Trong khi đó, theo 28.000 trang tài liệu mật được Hiệp hội các nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) công bố vào năm 2014, Pepsi cùng nhiều doanh nghiệp khác đang bị nghi chuyển hàng trăm tỷ USD từ nơi phải đóng thuế cao sang Luxembourg, quốc gia có mức thuế thấp hơn hẳn các nước khác để trốn thuế. Sau khi thanh tra quãng thời gian 2006, 2007 và 2008 đối với Pepsico, Cục Thuế Tp. Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định truy thu thuế giá trị gia tăng là 21,293 tỷ đồng; thuế thu nhập doanh nghiệp đối nhà thầu nước ngoài là 44,408 triệu đồng; giảm lỗ là 136,458 tỷ đồng. Tổng số tiền phạt (phạt kê khai sai và phạt chậm nộp) là 19,739 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Hay với Coca với lịch sử 20 năm thua lỗ tại Việt Nam. Theo đại diện Cục Thuế TP HCM, công ty Coca-Cola Việt Nam bị Cục thuế thành phố xếp vào vị trí số 1 trong danh sách doanh nghiệp nghi vấn có dấu hiệu chuyển giá do liên tục kê khai lỗ trong nhiều năm. Đến nay công ty này vẫn chưa phải đóng một đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào. Kinh doanh tại Việt Nam từ năm 1994, đến năm 2012, Coca-Cola xác nhận lỗ lũy kế lên tới 3.768 tỷ đồng, vượt số vốn đầu tư ban đầu là 2.950 tỷ đồng. Mặc dù liên tục thua lỗ nhưng năm 2012, Chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành Coca-Cola tuyên bố sẽ rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới, đưa tổng vốn đầu tư lên nửa tỷ USD trong 5 năm. Năm 2014, Coca-Cola đầu tư thêm 210 triệu USD để mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Qua số liệu công bố của cục thuế Tp.HCM cho thấy doanh thu của tập đoàn đa quốc gia này tại Việt Nam không ngừng tăng tuy nhiên luôn thua lỗ. Nguyên nhân do ông Lê Duy Minh, trưởng phòng Kiểm tra số 1, Tp.HCM lý giải là tỷ lệ nguyên phụ liệu trên giá bán rất cao. Những nguyên vật liệu này do công ty mẹ ở nước ngoài độc quyền cung cấp, giá mà Coca-Cola Việt Nam hạch toán vào giá thành chiếm trên 60% giá bán sản phẩm.
Rõ ràng những dấu hiệu trên đã cho thấy sự không minh bạch cần làm rõ trong những báo cáo của Pesico và Coca. Tuy nhiên khi trả lời trên báo chí, theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), để kết luận một DN chuyển giá là không hề đơn giản. Ngay như cơ quan thuế khi đi kiểm tra các DN FDI cũng chỉ “nhẹ tay” coi là đi kiểm tra DN thua lỗ, hoặc “nâng cấp” lên một chút gọi là “có dấu hiệu chuyển giá”, chứ không dám thẳng thừng coi đó là “DN chuyển giá”.Đơn cử, muốn chứng minh Coca-Cola chuyển giá, lấy đâu ra “giá độc lập” để so sánh, khi nguyên liệu của họ là độc quyền? Hay như PepsiCo, rất khó có số liệu để chứng minh thế nào là lãi không tương xứng. Không chỉ Coca-Cola, PepsiCo, mà cả BigC, Metro Cash&Carry… đều là những đại gia thua lỗ lớn mà vẫn liên tục mở rộng đầu tư. Nhưng tất cả, tới thời điểm này vẫn chỉ là nghi án.
Từ thực trạng trên cho thấy những quy định liên quan đến vấn đề chuyển lỗ, công khai minh bạch tài chính doanh nghiệp, thực hiện ưu đãi thuế TNDN vô cùng khó khăn nếu gặp phải sự gian dối từ phía Doanh nghiệp.
- Xét từ quy định của pháp luật hiện hành Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Thứ nhất, quy định về thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ là quá dài và không hợp lý. Theo đó các doanh nghiệp có thể làm đủ mọi cách để khiến doanh nghiệp mình lỗ và có thể lỗ nặng từ những năm đầu tới những năm sau thu nhập ít hoặc gần như không có thu nhập để khoản lỗ khấu trừ mãi không hết trong tận 5 năm sau. Hết thời gian 5 năm này, doanh nghiệp lại có thể thực hiện chiêu thức tương tự để trốn thuế trong 5 năm tiếp theo.
Thứ hai bất cập tại khoản 4 mục VII, phần C thông tư 130/2008 ( sửa đổi bổ sung bởi thông tư 18/2011). Theo đó, doanh nghiệp là liên doanh của doanh nghiệp khác khi có quyết định giải thể mà bị lỗ thì số lỗ được phân bổ cho từng doanh nghiệp tham gia liên doanh trong thời gian liên tục không quá 5 năm. Dựa vào điểm này, các doanh nghiệp có thể chuyển lãi từ doanh nghiệp của mình sang đầu tư liên doanh vào doanh nghiệp khác với chủ đích cố ý hạch toán lỗ cho doanh nghiệp mà mình góp vốn liên doanh, sau đó giải thể doanh nghiệp đó nhằm chuyển số lỗ của doanh nghiệp được góp vốn sang doanh nghiệp mình trong một khoảng thời gian dài là 5 năm. Hoặc một biện pháp tương đối phổ biến đó là việc chuyển giả giữa các công ty mẹ con. Các công ty này mua bán với nhau để cố tình tạo lỗ và lại được chuyển lỗ trong 5 năm liền. Nhờ đó, trong khoảng thời gian 5 năm, số lỗ này cứ được khấu trừ từ năm này qua năm khác và doanh nghiệp đã được trốn thuế.
Cả hai bất cập trên gây ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp hạch toán đúng và những doanh nghiệp cố tình hạch toán sai, Điều này vi phạm tiêu chí công bằng và đồng thời cũng vi phạm tính hiệu quả của một sắc thuế
2.2.3. Về quy định và thủ tục áp dụng ưu đãi thuế Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Ở khía cạnh này, Action Aid và Hội Tư vấn thuế Việt Nam đã thực hiện các cuộc
“Khảo sát về chính sách thuế hiện hành tại Việt Nam”, được tổ chức tại 69 doanh nghiệp, trong đó Tp.HCM là 22 doanh nghiệp, Hà Nội 15 doanh nghiệp, Đồng Nai 23 doanh nghiệp và Bắc Ninh 9 doanh nghiệp.Trong đó, có 17 doanh nghiệp tư nhân (24,64%), 31 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (44,93%), 11 doanh nghiệp là công ty TNHH/công ty cổ phần có vốn nhà nước (15,94%), 1 doanh nghiệp nhà nước và 10 doanh nghiệp thuộc loại hình khác (14,45%)
Theo khảo sát cho thấy các vấn đề mà doanh nghiệp cho rằng khó khăn nhất về chính sách, thủ tục hành chính thuế thường gặp là việc luật thuế thay đổi thường xuyên nên chưa cập nhật kịp; nội dung văn bản chưa thống nhất về từ ngữ dễ gây hiểu nhầm. Một số chính sách giữa các văn bản còn chưa đồng nhất và văn bản sửa đổi bổ sung nhiều. Trong đó các quy định về ưu đãi thuế và xác định đối tượng được hưởng ưu đãi, các doanh nghiệp cho rằng hiện có nhiều hồ sơ thủ tục hành chính thuế nên việc giám sát khó khăn; cán bộ thuế gặp rủi ro nghề nghiệp khi giải quyết hoàn thuế liên quan đến hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, trong khi các vấn đề khác như các quy định về kê khai và nộp thay thuế nhà thầu khó thực hiện và khai thuế qua mạng thường bị nghẽn vào thời điểm khai thuế cũng là mối quan tâm của các doanh nghiệp.
Biểu đồ: Nhận xét về tính minh bạch, dễ hiểu, rõ ràng, dễ thực hiện của các văn bản pháp luật thuế hiện.
Đáng chú ý là khi được yêu cầu chỉ ra các văn bản pháp luật thuế cụ thể gây khó khăn trong việc thực hiện, cán bộ thuế và doanh nghiệp đều đưa ra các ví dụ trong đó bao gồm nội dung chính là các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong khi đó, nhận xét về khả năng tiếp cận thông tin về chính sách pháp luật thuế, 1% số cán bộ thuế và 16% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng có khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về các văn bản pháp luật chính sách và quản lý thuế.
Các doanh nghiệp đều cho rằng cơ quan thuế cập nhật chính sách thuế mới cho doanh nghiệp còn chậm; người kê khai thuế chưa được trang bị kiến thức đầy đủ và kịp thời và việc tuyên truyền hỗ trợ của cơ quan thuế còn hạn chế nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong thực thi. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN