Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam trong quan hệ cho thuê lại lao động dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ thuê lại là đảm bảo các quyền và lợi ích mà pháp luật đã quy định cho NLĐ thuê lại được thực hiện, không bị các chủ thể khác xâm hại. Pháp luật lao động nước ta cũng đã ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ thuê lại trong một số văn bản pháp luật. Theo đó, NLĐ thuê lại được đảm bảo các quyền con người cơ bản trong lao động, được đảm bảo về điều kiện việc làm, ổn định cuộc sống… Thông qua việc bảo vệ này mà NSDLĐ cũng đạt được mục đích chính đáng của mình nhưng không làm phương hại đến NLĐ, các chủ thể khác trong đời sống xã hội và lợi ích chung.

Thực tế đã chứng minh, hoạt động CTLLĐ mang lại lợi ích to lớn không chỉ cho các chủ thể mà còn đem lại lợi ích cho Nhà nước và xã hội. Hoạt động CTLLĐ giúp cung cấp đầy đủ và kịp thời số lao động cần thiết cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc thù hay theo thời vụ, giúp các doanh nghiệp này tiết kiệm thời gian và chi phí tuyển dụng cũng như chi phí đào tạo. Các doanh nghiệp này có thể nhanh chóng cắt giảm số lượng lao động theo hợp đồng khi hết nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, hoạt động CTLLĐ cũng giúp NLĐ thuê lại hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Còn đối với Nhà nước, CTLLĐ tạo nguồn thu cho ngân sách, giúp thị trường lao động linh hoạt hơn, đáp ứng được quan hệ cung cầu một cách nhanh chóng và hiệu quả. Trong khi đó, bảo vệ NLĐ thuê lại luôn là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình xây dựng pháp luật về hoạt động CTLLĐ. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại cũng chính là góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về CTLLĐ thêm toàn diện, và không ngừng phát triển. Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Trong quan hệ CTLLĐ, NLĐ thuê lại cũng có một số lợi thế hơn so với NLĐ trực tiếp của doanh nghiệp thuê lại lao động như: có thêm nhiều cơ hội việc làm, môi trường làm việc thay đổi linh hoạt, tích lũy được nhiều kinh nghiệm… Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội đó thì không ít rủi ro có thể xảy ra đối với NLĐ, điển hình như: việc làm bấp bênh không ổn định, ít cơ hội được làm một công việc dài hạn, thời gian làm việc ngắn nên không có nhiều động lực cố gắng trong công việc, không gắn kết với doanh nghiệp thuê lại; Đồng thời thu nhập của NLĐ thuê lại cũng thường thấp hơn so với lao động chính thức của các doanh nghiệp, không có nhiều cơ hội để tăng lương, thưởng, cũng như không có nhiều cơ hội để được đào tạo nâng cao tay nghề, thăng tiến trong công việc… Chính vì thế dù có sự điều chỉnh của pháp luật nhưng thực tế trong quan hệ cho thuê lại lao động ở nước ta những năm qua vẫn tồn tại tình trạng quyền lợi NLĐ bị xâm phạm. Đây cũng chính là lý do cần thiết phải nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động.

Hơn thế nữa trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia trong quan hệ lao động là một trong những yêu cầu cấp thiết. Khi tham gia vào các Công ước quốc tế, Việt Nam cần phải thực hiện các quy định trong các Công ước đó, bằng cách hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về cho thuê lại lao động nói riêng. Hiện tại liên quan đến vấn đề cho thuê lại lao động/ phái cử lao động, ILO đã có Công ước 181 năm 1997 về cơ quan việc làm tư nhân. Những quy định của pháp luật Việt Nam cần phải phù hợp với những quy định của Công ước. Ngoài ra, bởi pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ cho thuê lại lao động khá muộn so với các nước trên thế giới, nên vẫn còn nhiều điểm tiến bộ trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động của các nước trên thế giới mà Việt Nam có thể học hỏi. Chính vì vậy cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật cho thuê lại lao động, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại.

Đặc biệt, xét theo phương diện quyền con người thì quyền của con người trong lao động là một bộ phận của hệ thống quyền con người, thuộc về phạm trù các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Quyền của người lao động luôn gắn bó chặt chẽ với các lĩnh vực quyền con người khác trong hệ thống quyền con người, tạo nên một hệ thống quyền con người toàn diện, thống nhất. Các quyền của NLĐ có vai trò, ý nghĩa rất to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với cá nhân con người cũng như tập thể NLĐ. Trên thực tế, ở thời điểm hiện tại, vấn đề bảo vệ quyền con người đang được toàn thế giới quan tâm. Theo luật nhân quyền quốc tế, con người có những quyền về lao động như: quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền được bảo đảm điều kiện lao động hợp lý, quyền được trả thù lao hợp lý, quyền được thành lập công đoàn, quyền được đình công, quyền được nghỉ ngơi… Tại Điều 23 của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền quy định: (1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp; (2) Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; (3) Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội; (4) Mỗi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình. Bổ sung cho Điều 23, tại Điều 24 của Tuyên bố Quốc tế về Nhân quyền đã quy định về quyền nghỉ ngơi và thư giãn, quyền được giới hạn hợp lý số giờ làm việc và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có thưởng. Các quyền con người trong lĩnh vực lao động còn được ghi nhận bởi nhiều văn kiện pháp luật do Tổ chức Lao động quốc tế – ILO thông qua. Các chủ đề được đề cập trong các công ước có liên quan của ILO có phạm vi rất rộng, bao gồm quyền tự do lập hội, sức khỏe của NLĐ, các điều kiện lao động trong lĩnh vực hàng hải, lao động ban đêm, phân biệt đối xử, lao động cưỡng bức…

Nói tóm lại trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng như hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật và áp dụng pháp luật để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động.

3.2 Định hướng bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Để bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ CTLLĐ, pháp luật cần được quy định và thực hiện dựa trên những định hướng rõ ràng cụ thể. Cụ thể:

Thứ nhất, quan hệ cho thuê lại lao động chỉ được thiết lập trên cơ sở tự nguyện của NLĐ thuê lại. Hợp đồng lao động trong quan hệ CTLLĐ chỉ được kí kết khi NLĐ thuê lại hiểu rõ bản chất của hình thức quan hệ lao động này. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi của NLĐ thuê lại, phải đảm bảo rằng doanh nghiệp CTLLĐ sẽ chi trả tiền lương cho NLĐ trong suốt thời gian tồn tại hợp đồng lao động giữa hai bên, kể cả thời gian gián đoạn việc cho NLĐ. Tránh trường hợp, hợp đồng lao động được kí kết giữa doanh nghiệp CTLLĐ và NLĐ thuê lại có thời hạn trong một năm mà thời lượng làm việc thực sự của NLĐ chỉ kéo dài trong vài, ba tháng.

Thứ hai, bảo vệ NLĐ thuê lại cần dung hòa tính linh hoạt của thị trường với tính bền vững trong bảo vệ NLĐ nói chung. Bảo vệ NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động cũng chính là góp phần đảm bảo tính bền vững trong quan hệ cho thuê lại lao động, đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Trong khi thị trường lao động cho thuê lại đòi hỏi tính linh hoạt thì pháp luật bảo vệ NLĐ thuê lại không nên quy định quá chi tiết. Tránh tình trạng lách luật của NSDLD. Đồng thời khi bảo vệ quyền lợi của NLĐ, Nhà nước cũng phải dựa trên cơ sở phù hợp với yêu cầu của thị trường, chú ý đến nhu cầu chính đáng của cả hai bên.

Theo PGS.TS Lê Thị Hoài Thu việc định hướng cho các doanh nghiệp cung ứng dịch CTLLĐ có thể chia làm hai loại: (1) các tổ chức kinh tế xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải chi phí; (2) doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có điều kiện. Khi tách bạch quy định rõ hai loại đối tượng này sẽ giúp hạn chế tồn tại các doanh nghiệp dịch vụ CTLLĐ hoạt động núp dưới hình thức của trung tâm giới thiệu việc làm, làm ảnh hướng xấu tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ. [4, tr.83] Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Thứ ba, bảo vệ NLĐ thuê lại phải đảm bảo tính phù hợp với pháp luật quốc gia và tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ CTLLĐ, ngoài việc đáp ứng những nguyên tắc chung về bảo vệ NLĐ theo pháp luật Việt Nam, các quy định về bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức Lao động quốc tế (ILO) từ năm 1992, vì vậy hệ thống pháp luật Việt Nam cần tiếp cận rộng rãi hơn nữa các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Đặc biệt quan tâm tới các vấn đề: loại bỏ lao động cưỡng bức, việc làm nhân văn, tự do liên kết và thương lượng tập thể, đảm bảo các quyền cơ bản của NLĐ tại nơi làm việc.

Thứ tư, bảo vệ quyền lợi NLĐ thuê lại cần tính đến mối quan hệ ràng buộc giữa trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của ba chủ thể: NLĐ thuê lại, doanh nghiệp cho thuê lại lao động và doanh nghiệp thuê lại lao động. Trong quan hệ lao động, các chủ thể sử dụng lao động thường chỉ quan tâm đến việc giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Còn NLĐ vì nhu cầu cuộc sống chỉ quan tâm đến tiền lương và những lợi ích trước mắt. Dẫn đến các quyền lợi khác dễ dàng bị xâm hại như: không được đóng BHXH, BHYT, BHTN; những chế độ phúc lợi, lương thưởng thấp hơn so với chế độ mà những NLĐ chính thức được hưởng… Vì vậy nên, việc hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động CTLLĐ cần đảm bảo được quyền lợi của NLĐ thuê lại trong sự tương quan với quyền lợi của doanh nghiệp CTLLĐ và doanh nghiệp thuê lại lao động, hạn chế sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ CTLLĐ.

Ngoài ra pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại cần được điều chỉnh theo hướng: quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước và các chế tài, thanh tra giải quyết khi có tranh chấp phát sinh.

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam trong quan hệ cho thuê lại lao động

3.3.1 Về các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

  • Thứ nhất, bổ sung một số nội dung cần thiết về tiền lương, tiền thưởng trong hợp đồng CTLLĐ

Trên thực tế, trong quan hệ CTLLĐ hầu như không có một khoản tiền thưởng nào được trả cho NLĐ thuê lại trong khi NLĐ thuê lại cũng đã cống hiến, làm việc nghiêm túc cho doanh nghiệp thuê lại lao động như những lao động chính thức của doanh nghiệp. Điều này là rất bất công đối với NLĐ thuê lại. Hơn thế nữa một bộ phận NLĐ thuê lại đã không được trả công xứng đáng khi họ tham gia làm thêm giờ ở doanh nghiệp CTLLĐ. Khi NLĐ thuê lại đã thỏa thuận làm thêm giờ thì họ phải được thanh toán mức lương đầy đủ như những NLĐ chính thức của doanh nghiệp thuê lại. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung các quy định về tiền lương làm thêm giờ và tiền thưởng xứng đáng cho NLĐ thuê lại, góp phần bảo vệ quyền lợi NLĐ thuê lại cũng như khuyến khích họ lao động tích cực hơn. Có thể học hỏi kinh nghiệm từ pháp luật của Trung Quốc trong các quy định về nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền làm thêm giờ của doanh nghiệp CTLLĐ đối với NLĐ thuê lại.

  • Thứ hai, bổ sung quyền tham gia Công đoàn của NLĐ thuê lại

Quyền được tham gia Công đoàn có ý nghĩa rất lớn đối với NLĐ trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình. NLĐ phải có quyền thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể, quyền khiếu nại, quyền đình công, quyền được công đoàn đứng ra bảo vệ quyền lợi của mình. Chính vì vậy pháp luật về quan hệ cho thuê lại lao động hiện nay cần bổ sung các quy định liên quan đến vấn đề này. NLĐ thuê lại có thể tham gia vào Công đoàn của doanh nghiệp CTLLĐ hoặc doanh nghiệp thuê lại lao động. Tuy nhiên, thực tế NLĐ chịu sự quản lý, điều hành, chỉ đạo và làm việc trực tiếp với doanh nghiệp thuê lại lao động, chính vì vậy việc tham gia công đoàn tại doanh nghiệp thuê lại lao động sẽ thuận tiện và phù hợp hơn cho NLĐ thuê lại thay vì tham gia công đoàn tại doanh nghiệp CTLLĐ.

  • Thứ ba, tăng chế tài xử phạt trong hoạt động CTLLĐ.

Khi biện pháp xử phạt càng nghiêm khắc thì các hành vi vi phạm sẽ càng được hạn chế. Chính vì vậy ở trong bất kỳ quan hệ pháp luật nào cũng cần có những quy định chặt chẽ, hợp lý về các biện pháp xử phạt. Tuy nhiên theo pháp luật hiện hành, mức xử phạt trong hoạt động CTLLĐ còn được đánh giá là quá nhẹ, chưa đủ tính răn đe đối với các chủ thể. Cụ thể, đối với chủ thể thuê lại lao động, có mức xử phạt thấp nhất là 500.000 đồng, và mức xử phạt cao nhất là 50.000.000 đồng. Đối với doanh nghiệp CTLLĐ: mức xử phạt thấp nhất là 1.000.000 đồng và mức xử phạt cao nhất là 100.000.000 đồng, cùng với hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng Giấy phép CTLLĐ, và một số biện pháp khắc phục hậu quả khác. Với mức xử phạt như thế, vẫn chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm của các chủ thể sử dụng lao động bởi trong nhiều trường hợp nguồn lợi từ việc vi phạm mà các chủ thể này nhận được vẫn có thể cao hơn so với mức phạt mà các chủ thể phải chịu khi thực hiện các hành vi vi phạm. Chính vì vậy cần thiết phải tăng mức xử phạt hành chính. Đồng thời trong một số trường hợp khi các hành vi vi phạm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của một bộ phận lớn NLĐ thuê lại thì pháp luật có thể xem xét bổ sung chế tài hình sự để xử phạt chủ thể sử dụng lao động trong quan hệ CTLLĐ. Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

  • Thứ tư, cần đảm bảo tiền lương cho NLĐ thuê lại trong thời gian tồn tại hợp đồng

Pháp luật cần có quy định về vấn đề đảm bảo tiền lương cho NLĐ thuê lại trong thời gian tồn tại hợp đồng lao động, trách trường hợp NLĐ kí hợp đồng lao động với doanh nghiệp CTLLĐ với thời hạn một năm nhưng lại chỉ được bố trí công việc và trả lương trong vài, ba tháng. Quy định này nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của NLĐ thuê lại, giúp đảm bảo đời sống của NLĐ thuê lại và gia đình.

  • Thứ năm, xem xét mở rộng danh mục các ngành nghề, công việc được phép cho thuê lại lao động

Khi hoạt động CTLLĐ đã đi vào ổn định, pháp luật lao động nước ta có thể xem xét mở rộng thêm một số ngành nghề, công việc được phép CTLLĐ nhằm tăng cơ hội việc làm cho NLĐ cũng như phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Đặc biệt cần thiết bổ sung công việc giúp việc gia đình vào danh mục các công việc được phép hoạt động cho thuê lại lao động. Bởi vì: trong quan hệ giúp việc gia đình, việc liên hệ giữa NSDLĐ và NLĐ là khó khăn hơn so với các công việc khác. Người lao động khó tiếp cận các thông tin tuyển dụng của NSDLĐ, cũng như ít có kênh thông tin chính thức để NSDLĐ đăng tải thông tin tìm kiếm lao động của mình. Thêm vào đó, thời gian làm việc của công việc giúp việc gia đình cũng mang tính linh hoạt và tạm thời, rất phù hợp với mục tiêu của hoạt động CTLLĐ. Đặc biệt, người giúp việc gia đình thường ở trong vị trí cô lập, không có những đồng nghiệp nên họ rất cần được một tổ chức đứng ra bảo vệ quyền lợi cho mình như những NLĐ trong các công việc khác. Đồng thời họ cũng cần phải được đóng bảo hiểm, được đào tạo những kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng ứng xử khi thực hiện công việc của mình. Vì vậy mà việc đưa công việc gia đình vào danh mục những công việc được phép cho thuê lại lao động là hoàn toàn cần thiết, giúp tăng cơ hội việc làm cho NLĐ. Hơn thế nữa, trong trường hợp NLĐ bị ốm đau, hoặc có việc đột xuất mà phải nghỉ làm thì doanh nghiệp CTLLĐ của NLĐ sẽ linh động phái cử NLĐ khác đang nhàn rỗi trong thời gian đó thuộc doanh nghiệp đến làm thay công việc của người giúp việc phải nghỉ đó. Điều này không những đảm bảo được quyền lợi của NLĐ là người giúp việc gia đình mà còn giúp NSDLĐ là các gia đình khắc phục tình trạng thiếu hụt người làm trong những trường hợp đấy. Vì vậy việc bổ sung công việc giúp việc gia đình vào danh mục các ngành nghề, công việc được phép cho thuê lại lao động là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ là người giúp việc gia đình cũng như hoàn thiện pháp luật về quan hệ cho thuê lại lao động. Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

  • Thứ sáu, cần thiết ban hành hợp đồng lao động và hợp đồng cho thuê lại lao động mẫu

Thực tế cho thấy, trong quá trình giao kết hợp đồng, người lao động rất hiếm khi đọc kỹ bản hợp đồng. Dẫn đến tình trạng bị NSDLĐ lợi dụng đưa ra những quy định bất lợi. Việc ban hành các hợp đồng lao động và hợp đồng cho thuê lại lao động mẫu sẽ giúp đảm bảo các hợp đồng có đầy đủ các yêu cầu cơ bản theo pháp luật cũng như sẽ có những quy định linh động được thỏa thuận và điền thêm vào giữa các chủ thể mà không trái với các quy định của pháp luật. Vì vậy cần thiết ban hành hợp đồng lao động và hợp đồng cho thuê lại lao động mẫu để áp dụng chung, thống nhất trong hoạt động CTLLĐ trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên, góp phần đảm bảo quyền lợi của NLĐ thuê lại.

3.3.2 Về thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động

Bên cạnh việc sửa đổi một số điều luật còn vướng mắc trong pháp luật về quan hệ cho thuê lại lao động để bảo vệ NLĐ thuê lại thì một số biện pháp cần thiết để cải thiện thực trạng áp dụng pháp luật cũng cần được thực hiện nhanh chóng và kịp thời để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động:

  • Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho NLĐ, NSDLĐ

Việc hạn chế về hiểu biết pháp luật, đặc biệt là về các quy định về quyền lợi chính đáng của mình khiến quyền lợi thực tế của NLĐ thuê lại dễ dàng bị các chủ thể sử dụng lao động xâm hại. Chính vì vậy, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, và giáo dục pháp luật cho NLĐ. Cụ thể, NLĐ thuê lại cần nắm được bản chất của hoạt động cho thuê lại lao động, những công việc mà mình được phép thực hiện khi tham gia vào quan hệ cho thuê lại lao động, các nghĩa vụ cần phải thực hiện và các quyền lợi chính đáng mà mình được hưởng… Tránh trường hợp người lao động tùy tiện tham gia vào hoạt động CTLLĐ có đối tượng là những công việc không được phép thực hiện CTLLĐ, dẫn đến quyền lợi không được đảm bảo; cũng như việc NLĐ thuê lại chẳng biết tìm đến ai khi có tranh chấp với những NSDLĐ, hay NLĐ không được hưởng những quyền lợi chính đáng mà họ xứng đáng được hưởng.

Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các chủ thể sử dụng lao động để họ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, góp phần bảo vệ quyền lợi cho NLĐ. Cụ thể, các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ các quy định của pháp luật về điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh cho thuê lại lao động, đặc biệt là quy định về các công việc được phép cho thuê lại lao động, các nghĩa vụ đối với NLĐ, hậu quả phải gánh chịu khi vi phạm các quy định của pháp luật…

Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật có thể được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: đài truyền hình, đài phát thanh, sử dụng công cụ báo chí, các trang mạng xã hội…đồng thời tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, cung cấp các văn bản pháp luật tại nơi làm việc cho NLĐ. Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

  • Thứ hai, cần có các cán bộ chuyên trách về hoạt động cho thuê lại lao động trong các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động.

Có thể thấy với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động CTLLĐ ngày càng phát triển, nhu cầu về lao động cho thuê lại cũng ngày càng tăng. Cùng với đó, quan hệ CTLLĐ có những đặc thù riêng khác với các quan hệ lao động thông thường.  Chính vì vậy mà cần thiết phải có những cán bộ chuyên trách về hoạt động cho thuê lại lao động trong các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động. Ở những cấp chính quyền khác nhau các cán bộ chuyên trách này sẽ có những nhiệm vụ khác nhau trong số những nhiệm vụ chính như: tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về CTLLĐ; Theo dõi thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu lao động thuê lại; Tổ chức tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động thuê lại, thống kê, thông tin về lao động thuê lại và thị trường lao động thuê lại, về thu nhập và mức sống của NLĐ thuê lại; Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ cho thuê lại lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; Đặc biệt các cán bộ chuyên trách này sẽ có nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quan hệ CTLLĐ; giải quyết tranh chấp trong quan hệ CTLLĐ theo quy định của pháp luật… Việc có những chủ thể quản lý chuyên trách trong hoạt động CTLLĐ như thế sẽ giúp nâng cao hiệu quả ban hành pháp luật cũng như thực hiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của NLĐ trong quan hệ CTLLĐ.

  • Thứ ba, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Trong những năm qua tình trạng vi phạm pháp luật về hoạt động cho thuê lại lao động vẫn diễn ra phổ biến, cho thấy công tác thanh tra, kiểm tra giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước vẫn chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, để kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm trong quan hệ CTLLĐ, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Việc quy định các cán bộ chuyên trách trong các cơ quan quản lý Nhà nước cũng sẽ góp phần tăng hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm trong hoạt động CTLLĐ. Bên cạnh đó cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động để nâng cao hiệu quả thực hiện.

  • Thứ tư, Nhà nước cần chú trọng đến cơ chế đối thoại ở các cấp một cách hợp lý  Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Không chỉ riêng đối với quan hệ cho thuê lại lao động mà việc đối thoại còn cần được áp dụng cho cả hệ thống các quan hệ lao động nói chung. Mục đích của việc đối thoại là nhằm trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến và thương lượng các nội dung phát sinh trong quan hệ lao động. Khi việc đối thoại được thực hiện, sẽ giúp NLĐ giải bày được những điều còn chưa hài lòng của mình trong quá trình tham gia quan hệ lao động, đồng thời để các bên cùng trao đổi ý kiến, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày một hoàn thiện và tiến bộ hơn, cũng như tạo môi trường làm việc thân thiện, và nâng cao năng suất lao động. Điều này cho thấy, cơ chế đối thoại không những bảo vệ được quyền lợi của NLĐ mà còn giúp doanh nghiệp làm việc hiệu quả hơn, phát triển hơn.

Các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức đối thoại hàng tuần hoặc hàng tháng, đối thoại trước giờ làm việc hoặc sau giờ làm việc, cũng có thể tranh thủ đối thoại trong giờ giải lao… Các cuộc đối thoại có thể diễn ra giữa những người lao động, giữa công đoàn và ban giám đốc, giữa người quản lý sản xuất và công nhân, hay là buổi gặp gỡ giữa công đoàn và công nhân, gặp gỡ trong quá trình thương lượng ký kết lao động tập thể; xây dựng hòm thư góp ý…

Tuy việc đối thoại sẽ không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề nhưng đây thực sự là một cơ hội tuyệt vời để người lao động có thể giãi bày những mâu thuẫn bức xúc trong quá trình làm việc, giúp NLĐ có niềm tin vào NSDLĐ, khuyến khích NLĐ lao động tích cực, làm tăng năng suất cho doanh nghiệp sử dụng lao động… Đặc biệt khi việc đối thoại được tiến hành thành công sẽ hạn chế các cuộc đình công, ngừng việc tập thể để giành lại quyền lợi của NLĐ, giúp thị trường lao động trở nên ổn định hơn. Chính vì vậy, cần thiết phải chú trọng vào cơ chế đối thoại tại nơi làm việc ở các doanh nghiệp.

Kết luận chương 3 Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ thuê lại là đảm bảo các quyền và lợi ích mà pháp luật đã quy định cho NLĐ thuê lại được thực hiện, không bị các chủ thể khác xâm hại. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ thuê lại sẽ giúp NLĐ thuê lại có cuộc sống tốt hơn, giúp hoạt động CTLLĐ được phát triển bền vững hơn. Đồng thời, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại là một việc làm cấp thiết nhằm giúp Việt Nam đảm bảo các điều kiện hội nhập sâu rộng. Đặc biệt bảo vệ quyền của NLĐ thuê lại cũng chính là bảo vệ quyền con người. Vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ CTLLĐ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Để thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi NLĐ thuê lại này, pháp luật nước ta cần đi theo những định hướng đúng đắn. Cần bảo vệ NLĐ thuê lại theo hướng: thiết lập quan hệ CTLLĐ trên cơ sở tự nguyện của NLĐ; cần tính đến mối quan hệ ràng buộc giữa trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ CTLLĐ; đồng thời cần dung hòa tính linh hoạt của thị trường với tính bền vững trong việc bảo vệ NLĐ; Đặc biệt đảm bảo các tiêu chuẩn bảo vệ NLĐ thuê lại ở nước ta phải phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Bên cạnh đó cần nhanh chóng hoàn thiện các quy định còn bất cập trong quan hệ cho thuê lại lao động cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong hoạt động cho thuê lại lao động để quyền lợi NLĐ thuê lại được bảo vệ tối đa kịp thời.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

Cho thuê lại lao động là phương thức sử dụng lao động linh hoạt, góp phần đáp ứng kịp thời sự gia tăng đột ngột về nhân lực của doanh nghiệp, cũng như tạo thêm kênh việc làm mới cho NLĐ. Hoạt động cho thuê lại lao động đã đem lại lợi ích không chỉ cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động, doanh nghiệp thuê lại lao động, và NLĐ thuê lại mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, ổn định xã hội.  Tuy nhiên đồng thời quan hệ này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với NLĐ thuê lại. Chính vì vậy mà hoạt động này được Nhà nước quản lý chặt chẽ.

Ở Việt Nam, quan hệ cho thuê lại lao động đã lần đầu tiên được ghi nhận tại Bộ luật Lao động năm 2012, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này tồn tại và phát triển, góp phần bảo vệ quyền lợi của NLĐ thuê lại. Mặc dù vậy, do vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cho thuê lại lao động cùng với việc cố tình sai phạm của các chủ thể sử dụng lao động nên pháp luật về quan hệ cho thuê lại lao động vẫn còn tồn tại những thiếu sót nhất dẫn đến tình trạng quyền lợi hợp pháp của NLĐ thuê lại chưa thực sự được đảm bảo.

Để làm rõ những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động, cũng như đưa ra các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động, đề tài khóa luận này đã được thực hiện. Nội dung cụ thể của bài khóa luận bao gồm những khái niệm, đặc điểm cơ bản về quan hệ cho thuê lại lao động, bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động và sự điều chỉnh của của pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động; Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về bảo vệ NLĐ thuê lại của các nước Đức và Trung Quốc. Đồng thời phân tích các quy định về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động ở Việt Nam cũng như thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động ở Việt Nam. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị cả về nội dung và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của NLĐ thuê lại

Hy vọng việc nghiên cứu quyền của NLĐ Việt Nam trong quan hệ cho thuê lại lao động và những ý kiến đề xuất được đề cập trong bài viết sẽ góp phần nào đó trong việc hoàn thiện pháp luật về quan hệ cho thuê lại lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người lao động thuê lại ở Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Giải pháp bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464