Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trong các bộ máy hành chính nhà nước, cán bộ công chức, viên chức được yêu cầu rất cao về năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc, phẩm chất đạo đức và kĩ năng chuyên môn cần đạt được. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, các quy trình làm việc trong bộ máy nhà nước liên tục được đổi mới để đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước. Để đạt được điều đó, đòi hỏi các cán bộ, công chức, viên chức cũng phải đổi mới theo đặc biệt là về kỹ năng và trình độ chuyên môn phục vụ cho công việc.

Do đó, nhu cầu chính đáng và cấp thiết là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để họ thực hiện các quy trình hiện đại trong giải quyết công việc thủ tục hành chính linh hoạt và chính xác. Qua đó, chất lượng của bộ máy nhà nước cũng ngày một phát triển.

Đặc biệt, cần quan tâm tới công tác nâng cao chất lượng công chức cấp xã vì đây là lực lượng tiếp xúc với nhân dân gần nhất và trực tiếp nghe được những điều mà nhân dân yêu cầu, phản ánh và có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề, thắc mắc về các thủ tục, chế độ, chính sách của người dân. Hoạt động nâng cao chất lượng công chức cấp xã có vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ giúp cho tổ chức được nề nếp, ổn định và hoạt động hiệu quả mà còn góp phần giúp cho đất nước phát triển và ngày càng hội nhập với toàn cầu. Bên cạnh đó, còn giúp cho công chức được thỏa mãn nhu cầu được học tập và phát triển bản thân, khiến cho công chức thêm tin tưởng và trung thành với cơ quan, tổ chức.

Khóa luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài,  Quận Lê chân, Thành phố Hải Phòng” nhằm nghiên cứu về thực trạng chất lượng đội ngũ công chức làm việc tại UBND Phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Qua đó, đánh giá về đội ngũ này và đề xuất các giải pháp phù hợp để hoàn thiện đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tại Việt Nam, hiện đã có các công trình nghiên cứu trình bày về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Điển hình như là: Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Trần Xuân Sầm (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã nêu ra các vấn đề về xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, Đảng viên thích hợp với các giai đoạn khác nhau của đát nước. Bên cạnh đó, nêu ra các quan điểm, đường lối, chính sách trong việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nguyễn Kim Duyện (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính tỉnh Hải Dương, Hải Dương. Tác phẩm đặt ra các vấn đề trong đội ngũ công chức hành chính tại tỉnh Hải Dương và đề xuất các giải pháp khắc phục. Khóa luận kế thừa những giải pháp nâng cao chất lượng phù hợp với đặc điểm của đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Thành phố Hải Phòng.

PGS.TS Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị. Tác giả đề cập các yếu tố công vụ, công chức và các cơ sở khoa học nhằm nâng cao chế độ công vụ ở nước ta, đưa ra các phân tích cụ thể theo hệ thống về chế độ công vụ và quá trình phát triển của chế độ này tại nước ta. Tác giả nêu ra các mô hình công vụ của các nhà nước đặc trưng cho từng thể chế chính trị khác nhau. Đồng thời, giải thích và đưa ra các phương pháp hoàn thiện các mô hình đó trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nguyễn Thị Thảo (2014), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Yên Định, Tỉnh Thanh hóa. Công trình nghiên cứu về trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức cấp xã làm việc tại Yên Định, Thanh Hóa. Tác giả đã phân tích thực trạng đội ngũ qua các số liệu thống kê và đánh giá về ưu điểm, hạn chế của đội ngũ này. Qua đó, tác giả đề  ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyện Yên Định, Tỉnh Thanh Hóa.

Các tác giả đã trình bày đầy đủ, phân tích một cách có hệ thống về các vấn đề liên quan tới chất lượng cán bộ, công chức dưới góc độ lý luận và áp dụng lý luận đó để phân tích tình hình thực tiễn. Việc nghiên cứu trực tiếp về vấn đề nâng cao chất lượng công chức UBND Phường Cát Dài hiện vẫn chưa được đưa vào khai thác và nghiên cứu. Vì vậy, công trình nghiên cứu này có ý nghĩa lập luận và đưa chúng vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND Phường Cát Dài nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung.

3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian nghiên cứu: tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.
  • Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2021 – 2023 và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện đội ngũ công chức trong thời gian tới.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận trình bày ngắn gọn, có hệ thống và đầy đủ về thực trạng đội ngũ công chức làm việc tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng hiện nay, nhằm đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức về nghiệp vụ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp. Khóa luận được đưa vào các cơ sở lý luận và văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ các vấn đề liên quan tới đội ngũ công chức để hỗ trợ cho tính khả thi và thực tế của việc nghiên cứu.

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ như sau:

  • Phân tích cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan tới công chức;
  • Khảo sát thực tế, phân tích thực trạng để làm rõ những ưu điểm và hạn chế của đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng;
  • Chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến sự phù hợp hay chưa phù hợp đó của đội ngũ công chức;
  • Đưa ra những giải pháp, kiến nghị để nhằm hoàn thiện, giải quyết những mặt chưa tốt và duy trì, phát huy những điểm mạnh của đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành được khóa luận này trong quá trình nghiên cứu đã dung các phương pháp như:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Các tài liệu từ nguồn internet được trích dẫn tại danh mục tài liệu tham khảo;
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp các dữ liệu từ tài liệu được cung cấp từ Phường Cát Dài, lập thành các bảng 2.2; 2.3; 2.5;
  • Phương pháp thống kê: Thống kê các dữ liệu và số liệu trong phần cơ sở lý luận, thực trạng và thống kê các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức.

6. Đóng góp của khóa luận

Khóa luận nghiên cứu các vấn đề thực tế đang diễn ra tại UBND Phường Cát Dài, giúp đưa ra góc nhìn khách quan và đánh giá hiệu quả của đội ngũ công chức đang làm việc tại UBND Phường Cát Dài, Thành phố Hải Phòng. Đưa ra các phép so sánh và số liệu cụ thể. Đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng công chức, tăng hiệu quả làm việc của họ, đem lại lợi ích cho nhân dân trong Phường Cát Dài.

7. Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận cấu trúc gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Một số cơ sở lý luận về công chức, công chức cấp xã và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã.
  • Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.
  • Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC, CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ.

1.1. Một số khái niệm.

1.1.1. Khái niệm công chức và khái niệm công chức cấp xã.

  • Khái niệm công chức Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Tại Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính quốc gia. Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã lần đầu tiên cho ra đời định nghĩa về công chức: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, trong hay ngoài nước, đều là công chức, trừ một số trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. [21,1]

Năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và đây được cho là bước tiến quan trọng, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trong Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo các vị trí việc làm thuộc cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân nhưng không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, thuộc biên chế và hưởng lương bằng ngân sách nhà nước”. [8,1]

Năm 2022, Quốc hội ban hành Luật số 52/2022/QH14 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12. Trong đó, khoản 2 Điều 4 được sửa đổi bổ sung như sau:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và trả lương bằng ngân sách nhà nước.”. [12,1]

  • Khái niệm công chức cấp xã

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Công chức cấp xã gồm các chức danh như:

  • + Trưởng công an;
  • + Chỉ huy trưởng quân sự;
  • + Văn phòng – thống kê;
  • + Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường đối với phường, thị trấn, hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường đối với xã.
  • + Tài chính – kế toán;
  • + Tư pháp – hộ tịch;
  • + Văn hoá – xã hội. [12,1]

1.1.2. Khái niệm chất lượng công chức cấp xã và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã.

Khái niệm chất lượng công chức cấp xã: Chất lượng công chức cấp xã là tập hợp các đặc tính phản ánh chất lượng cá nhân mỗi công chức cấp xã qua ba yếu tố chính là thể lực – trí lực – tâm lực với các yếu tố khác nhau như: – Thể lực: Được biểu hiện ở các chỉ tiêu về sức khỏe trên phương diện y tế như: chiều cao, cân nặng huyết áp, nồng độ cholesterol trong máu, chỉ số hormone do tuyến yên tiết ra, chỉ số BMI, trí nhớ tốt, hành động linh hoạt…

  • Trí lực: Trí lực được thể hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ.

Trình độ bao gồm trình độ chuyên môn, trình độ tin học ngoại ngữ và các trình độ khác thể hiện mức độ hiểu biết và khả năng đáp ứng công việc, hoàn thành nhiệm vụ của một công chức cấp xã.

Năng lực gồm có năng lực tư duy và năng lực thực thi, thừa hành. Năng lực tư duy như: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo. Năng lực thực thi, thừa hành theo các yêu cầu, chuẩn mực của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp.

Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là các kỹ năng như: giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, phân chia công việc, hoạt động nhóm, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo công việc… Bên cạnh đó, công chức là người đứng đầu tập thể phải trau rồi thêm năng lực, kỹ năng chỉ đạo, chỉ huy, giám sát, kiểm tra…

Tâm lực: Tâm lực biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong quá trình thực hiện công việc. Cả hai khía cạnh này đều có điểm chung là trạng thái tâm lý của công chức có thể tích cực hoặc không tích cực được thể hiện ra ngoài qua các hành vi, cử chỉ cụ thể. Ngoài ra có các yếu tố tác động, quy định trạng thái tích cực hay không tích cực trong lời nói, việc làm, cử chỉ của công chức. Các yếu tố này chia thành hai nhóm là vật chất như: tiền lương, tiền thưởng, …và tinh thần như: sự công nhận, khích lệ, động viên, … Trong công việc, công chức khi có thái độ tiêu cực vẫn phải hoàn thành công việc được giao, nếu thực hiện sai hoặc không đạt kết quả sẽ phải chịu trách nhiệm. Trong khi pháp luật của Chính phủ điều chỉnh các hành vi của công chức thì tâm lý sẽ điều chỉnh thái độ của công chức. [ 22,1]

Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã: Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã (tập thể công chức cấp xã) là đặc tính của một nhóm công chức dựa vào các yếu tố sau:

  • Về số lượng công chức: Gồm số lượng công chức trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và tổng số công chức thuộc đội ngũ làm việc trong bộ máy nhà nước theo các cấp.
  • Về cơ cấu công chức: Cơ cấu công chức cấp xã bao gồm các cơ cấu về độ tuổi, giới tính, bộ phận làm việc, trình độ đào tạo, thêm niên làm việc…
  • Về chất lượng cá nhân công chức: Chất lượng đội ngũ công chức còn được tập hợp từ chất lượng cá nhân mỗi người cùng mức độ ăn ý khi phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước.

Đánh giá về chất lượng đội ngũ công chức hay rộng hơn là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần xem xét trên cả ba phương diện là số lượng, cơ cấu và chất lượng cá nhân và tập thể công chức. [22,1]

1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

1.2.1. Trình độ của công chức cấp xã

Trình độ là yếu tố quan trọng đầu tiên để đánh giá công chức cấp xã, phản ánh trực tiếp mức độ đáp ứng công việc của họ và là căn cứ để thể hiện chất lượng của công chức cấp xã.

Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn phản ánh các kiến thức chuyên môn đặc thù của một chuyên ngành, một lĩnh vực nhất định. Trình độ chuyên môn được tích lũy thông qua quá trình đào tạo chuyên sâu ở các trường đào tạo thuộc hệ thống đào tạo quốc dân như: dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Trong quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo trang bị cho họ các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên ngàn, được thể hiện qua hệ thống chứng chỉ, bằng cấp chuyên môn.

Trình độ ngoại ngữ, tin học: Ngoại ngữ, tin học là yếu tố quan trọng, phục vụ cho các hoạt động thực thi công vụ của công chức vào thời điểm Việt Nam hội nhập toàn cầu. Việc được học thêm ngoại ngữ và tin học sẽ cung cấp thêm phương tiện để công chức cấp xã khai thác, áp dụng, chuyển tải và thu nhận thông tin một cách hiệu quả, phong phú, góp phần phục vụ đắc lực cho các hoạt động thực thi công vụ, nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Trình độ lý luận chính trị: Là thước đo mức độ nhận thức, tư duy, lý luận về những vấn đề cơ bản liên quan đến lĩnh vực chính trị, những kiến thức như: Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; chế độ xã hội chủ nghĩa. Giúp công chức thấm nhầm quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, trình độ lý luận chính trị giúp công chức có lập trường, tư tưởng vững vàng, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo đúng định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước, mang chính sách của Nhà nước vào thực tế cuộc sống được dễ dàng và hiệu quả. Do đó, để nâng cao chất lượng công chức cấp xã nhất thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị.

Trình độ quản lý nhà nước: Là các kiến thức của công chức liên quan tới pháp luật; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước; về đội ngũ cán bộ, công chức và thực hiện nhiệm vụ; về cải cách nền hành chính và nội dung quản lý nhà nước về các lĩnh vực, các nghiệp vụ cơ bản của công chức. Qua đó, người công chức cấp xã hiểu sâu sắc, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đồng thời, cung cấp thêm những kỹ năng, phương pháp, công cụ quản lý nhà nước cần thiết trong các hoạt động công vụ.

1.2.2. Kỹ năng của công chức cấp xã Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Kỹ năng giao tiếp: Công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc với người dân, trực tiếp giải quyết, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho nhân dân, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng. Vì vậy, kỹ năng giao tiếp trong công vụ rất cần thiết để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Khi giao tiếp trong công việc, công chức cấp xã cần tuân thủ pháp luật, bảo đảm chính xác và khách quan, công khai, dân chủ, trách nhiệm, chuẩn mực đạo đức và hài hòa về lợi ích.Kỹ năng giao tiếp của công chức được thể hiện từ hành vi, thái độ của công chức khi tiếp xúc với người dân, cấp trên, đồng nghiệp.

Kỹ năng tham mưu, đề xuất: Công chức cấp xã là người tham mưu, giúp cơ quan tổ chức thực hiện các hoạt động, lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc. Trong quá trình tham mưu, đề xuất, công chức cấp xã cần phải đảm bảo đúng pháp luật, chế độ, chính sách của Nhà nước. Để có kĩ năng tham mưu, công chức phải học hỏi, cập nhật thường xuyên các quy định của pháp luật có liên quan. Công chức cấp xã cần có kĩ năng phân tích, tổng hợp thông tin, chủ động trong phân tích, khảo sát nhằm đưa ra các phương án hỗ trợ cho cấp trên.

Kỹ năng soạn thảo văn bản: Văn bản là phương tiện chủ yếu, quan trọng để ghi lại, truyển tải các quyết định, thông tin quản lý và cụ thể hóa pháp luật. Kỹ năng soạn thảo văn bản là một trong những yêu cầu quan trọng, bắt buộc công chức phải có vì trong quá trình thực thi công vụ, công chức cấp xã thường xuyên phải soạn thảo nhiều loại văn bản, khi soạn thảo các loại văn bản, họ phải nắm vững và tuân thủ các tiêu chí chung, đảm bảo yêu cầu về nội dung, bố cục và thể thức.

Kỹ năng thu thập thông tin: Thông tin là yếu tố cần thiết, cơ bản đảm bảo cho việc giải quyết nhiệm vụ và thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất của công chức. Một công chức cấp xã trong thời đại bùng nổ thông tin cần phải có các kĩ năng thu thập các thông tin chính xác và đòi hỏi biết xử lý thông tin một cách chuyên nghiệp nhằm nắm bắt đầy đủ các thông tin cần thiết với độ tin cậy cao sao cho công tác thực thi được hiệu quả cao nhất.

1.2.3. Thái độ làm việc của công chức

Thái độ với nhân dân: Đối với nhân dân, công chức cấp xã phải có thái độ tôn trọng, tận lực tận tận tâm bằng thái độ khách quan, công bằng, khiêm tốn. Tư vấn, giải quyết những thắc mắc chính đáng của người dân, lắng nghe ý kiến của họ, tránh những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi gây nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân.

Thái độ với nhiệm vụ được giao: Công chức cần có thái độ nghiêm túc với nhiệm vụ được giao, có ý thức trách nhiệm, tự giác, hết mình với công việc, tuân thủ nguyên tắc, kỷ cương, gương mẫu trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Chấp hành quy định tại đơn vị, cơ quan, tổ chức, chịu trách nhiệm với những việc mình đảm nhiệm. Có tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thái độ với cấp trên, đồng nghiệp: Công chức cấp xã cần tuân theo sự điều hành, phân công, chỉ đạo của cấp trên nhưng vẫn thẳng thắn đóng góp ý kiến của mình. Chủ động ý kiến tham mưu những nội dung liên quan đến nhiệm vụ được phân công. Đối với đồng nghiệp, công chức cấp xã phải có thái độ tích cực, phối hợp trong công việc trên tinh thần lắng nghe, xây dựng và tôn trọng đồng nghiệp. Phải cầu thị, chia sẻ, hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Trong giao tiếp, ứng xử cần có thái độ trung thực, hợp tác, đoàn kết nội bộ trong tổ chức.

1.3. Đặc điểm của công chức Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

1.3.1. Về tính chất nhiệm vụ

Công chức là lực lượng công tác tại các tổ chức nhà nước, tỏ chức chính trị xã hội mang tính chất thường xuyên và chuyên môn nghiệp vụ rõ ràng, điều khiển hệ thống chính trị, có trách nhiệm quản lý và thực thi công vụ thường xuyên theo quy định. Tính thường xuyên được thể hiện ở việc tuyển dụng không bị giới hạn về mặt thời gian. Tính chuyên môn nghiệp vụ được phát hiện bằng việc công chức được xếp theo ngạch.

Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Ngạch công chức bao gồm: chuyên viên cao cấp và tương đương; chuyên viên chính và tương đương; chuyên viên và tương đương; cán sự và tương đương; nhân viên. [2,1]

1.3.2. Về tuyển dụng và bổ nhiệm công chức

Công chức được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh trong biên chế. Công chức được tuyển dụng qua thi tuyển hoặc xét tuyển.

  • Tuyển dụng công chức

Công tác tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Các cơ quan, tổ chức đủ thẩm quyền tuyển dụng là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội. Các tổ chức trên sẽ tuyển chọn công chức cho các đơn vị thuộc quyền quản lý của họ. Cá nhân được tuyển phải quy tụ đầy đủ mọi điều kiện theo quy định của tổ chức và luật pháp Việt Nam. Công chức được tuyển dụng phải trải qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật khi vượt qua các yêu cầu của tổ chức, cơ quan tuyển dụng.

  • Tuyển dụng công chức bằng thi tuyển Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Thi tuyển là cách thức tuyển dụng công chức mà nội dung và hình thức thi tuyển phải thích hợp, căn cứ vào ngành nghề, đảm bảo tuyển dụng được những công chức với khả năng thực hiện công việc tốt và đáp ứng được yêu cầu của vị trí, chức danh đảm nhiệm.

  • Tuyển dụng công chức qua xét tuyển

Công chức khi đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng và cam kết tình nguyện công tác trên năm năm trở ở khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, nơi có dân tộc thiểu số, nơi có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng vào công chức bằng hình thức xét tuyển. Công chức đã được lựa chọn vào đội ngũ tiếp tục tập sự theo đúng quy định mà Chính phủ ban hành. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị tuyển dụng công chức đó tiến hành nhận xét tư cách, đạo đức và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của công chức mới sau khi kết thúc thời gian tập sự, khi được công nhận đã đủ khả năng để đảm nhiệm vị trí, công chức sẽ được chính thức bổ sung vào tổ chức. [2,1]

  • Bổ nhiệm công chức

Bổ nhiệm là giao cho công chức đảm nhận một chức vụ lãnh đạo hay quản lý, ngoài bổ nhiệm bằng cách hoàn thành quá trình tập sự sau tuyển dụng thì công chức có thể được bổ nhiệm thẳng vào chức danh nếu đủ điều kiện. Qúa trình bổ nhiệm công chức phải căn cứ vào yêu cầu và chức năng của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chí những điều cần đáp ứng của chức vụ được bổ nhiệm. Tiêu chuẩn và các quy trình thủ tục bổ nhiệm công chức với cương vị là người đứng đầu được thực hiện theo  các quy định của Nhà nước và các tổ chức có thẩm quyền. [2,1]

1.3.3. Về thời gian tập sự và nơi làm việc

  •  Về thời gian tập sự

 Thời gian tập sự của công chức là từ 06 tháng đến 12 tháng tùy vào từng trường hợp tuyển dụng.

  • Về nơi làm việc của công chức

Nơi công tác của công chức khá đa dạng, ngoài làm việc trong các cơ quan thuộc Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội tại trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, phường, xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh, công chức còn đảm nhận các vị trí của các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và là người lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập.

1.3.4. Về chế độ lao động và phúc lợi

  • Chế độ hưởng lương  Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Công chức được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo như Luật cán bộ, công chức năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2022 đã quy đinh. Trong trường hợp công chức thuộc các chức vụ lãnh đạo, đứng đầu trong đơn vị sự nghiệp công lập thì sẽ được đảm bảo trả lương từ ngân quỹ của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo pháp luật quy định. [8,1]

  • Chế độ phúc lợi

Chế độ phúc lợi công chức được hưởng thường được đi đôi với chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc. Cả bên sử dụng công chức và người công chức có trách nhiệm thực hiện đúng theo luật về các chế độ bảo hiểm mà công chức được quyền hưởng. Theo pháp luật hiện hành, những chế độ công chức được hưởng gồm:

  • Chế độ trợ cấp ốm đau;
  • Chế độ trợ cấp thai sản;
  • Chế độ trợ cấp khi gặp tai nạn hoặc bệnh do quá trình lao động;
  • Chế độ hưu trí; – Chế độ tử tuất.
  • Chế độ khác tùy vào điều kiện cụ thể của tổ chức, địa phương. [3,20]

Thời gian làm việc 

Sau khi được bổ nhiệm, tuyển dụng vào vị trí, chức danh, công chức đảm nhiệm công tác cho đến khi đủ điều kiện về hưu theo quy định của pháp luật và không hoạt động theo nhiệm kì thì theo Luật sửa đổi bổ sung năm 2022, sẽ chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi công chức nam đủ 60 tuổi, công chức nữ đủ 55 tuổi. [3,20]

1.3.5.  Về hình thức kỉ luật, khen thưởng.

  • Về công tác khen thưởng 

Khen thưởng là cách thể hiện sự công nhận đói với cống hiến của công chức đối trong hoạt động thực thi nhiệm vụ; cho thấy rằng tổ chức ghi nhận đóng góp của họ thông qua trao cho người đó những giá trị tinh thần hoặc vật chất. Hoạt động này sẽ thúc đẩy họ cố gắng và hoạt động của cả đội ngũ sẽ ngày càng đi lên. [3,20]

Bên cạnh đó, trong các cơ quan hành chính, cần phải phát huy về hiệu suất làm việc và kết quả công việc thường xuyên. Tuy nhiên, do công việc tương đối ổn định và được trả lương từ nguồn ngân sách nhà nước nên công chức dễ nảy sinh trì trệ, kém năng động, sáng tạo trong quá trình làm việc. Vì vậy, các hoạt động thi đua, khen thưởng là phương pháp tối ưu để tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức trong cơ quan nhà nước.

Tại Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua khen thưởng số 15/2003/QH11, sửa đổi, bổ sung năm 2013 (dự thảo sửa đổi năm 2025) quy định: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”. Khen thưởng phải dựa trên nguyên tác công bằng, xứng đáng với thành tích mà cá nhân đạt được, tránh thổi phồng, tô vẽ thành tích. Mức khen thưởng đề ra phải khả thi, hiện thực. Tránh quá dễ dãi, quá cứng nhắc, không nghiêm túc hoặc xuề xòa trong công tác này, đưa ra mức khen thưởng quá thấp hay quá cao so với thành tích của công chức. [ 9,1] Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Các hình thức khen thưởng chủ yếu như: Giấy khen; Bằng khen;Danh hiệu vinh dự Nhà nước; Huy chương; Huân chương. Danh hiệu của công chức được ghi nhận sau khi hoàn tất các vấn đề thủ tục theo như Chính phủ đã quy định về quy trình khen thưởng. Cơ quan nên lập ra các mức cụ thể về khen thưởng đối với công chức để chắc chắn rằng hoạt động khen thưởng mang lại nhiều kết quả trong quá trình nâng cao chất lượng tập thể công chức.

Hệ thống văn bản về công tác thi đua, khen thưởng như: Luật thi đua khen thưởng sửa đổi 2013, Nghị định số 91/2020/NĐ-CP của Chính phủ Hướng dẫn thi hành Luật thi đua, khen thưởng, Thông tư số 12/2022/TTBNV của Bộ Nội vụ về quy định chi tiết thi hành một số điều của nghị định số 91/2020/NĐ-CP. Đồng thời, trong thời gian gần đây, công tác thi đua khen thưởng ngày càng hoàn thiện, gỡ bỏ những vướng mắc trong các phong trào thi đua ở các đơn vị, địa phương. Công chức được khen thưởng vì đạt thành tích xuất sắc hoặc đem lại lợi ích cho cơ quan thì sẽ được tăng bậc lương trước thời hạn, được cân nhắc, xem xét để thăng chức lên vị trí cao hơn khi tổ chức có nhu cầu. [3,20]

  • Về công tác kỷ luật

Kỷ luật là quá trình xử lý, trừng phạt một công chức tùy theo tính chất và nội dung công chức đó vi phạm như lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm lãng phí nguồn tài chính công, cùng với việc vận dụng sai, hoặc cố tình làm trái với các quy định thủ tục hành chính khi giải quyết công việc của nhân dân. Khi công chức gây ra sai phạm hoặc không làm tròn nghĩa vụ thì sẽ bi kỉ luật theo quy định. [3,21]

Vào tháng chín năm 2023, Chính phủ đã đưa ra Nghị định số 112/2023/NĐ-CP, Quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức, với mục đích hệ thống hóa lại các điều luật liên quan đến công tác kỷ luật công chức.

Theo Điều 6, Khoản 1 Nghị định này, quy định: “Công chức phải chịu kỉ luật trong trường hợp họ mắc lỗi, phạm phải những sai phạm về nghĩa vụ của công chức, làm những việc không được làm, không theo luật lệ cơ quan, tổ chức, đơn vị ban hành; đạo đức, lối sống suy đồi hoặc vi phạm pháp luật khi thực hiện công vụ thì phải bị xem xét xử lý kỷ luật”. [16,1]

Theo Điều 6, Khoản 2, mức độ vi phạm của công chức được phân loại như sau:

  • Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ thiệt hại không lớn, ảnh hưởng trong phạm vi nội bộ, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà công chức làm việc.
  • Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ thiệt hại lớn, tác động ngoài phạm vi nội bộ, gây dư luận xấu trong công chức và nhân dân, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà công chức làm việc.
  • Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ thiệt hại to lớn, làm ảnh hưởng đến toàn xã hội, gây bức xúc dư luận trong công chức và nhân dân, làm mất sự tín nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà công chức làm việc.
  • Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là khi lỗi gây ra có tính chất, mức độ thiệt hại vô cùng lớn, tác động rất mạnh đến toàn xã hội, khiến dư luận vô cùng bức xúc trong công chức và nhân dân, làm mất uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà công chức đang làm việc. [16,1]

Kỷ luật công chức cần phải làm theo quy định pháp luật, không tuỳ tiện hoặc dựa theo cảm tính, theo đúng nguyên tắc công khai; dân chủ; bình đẳng; đúng người, đúng việc, đúng luật. Kỷ luật phải có tác dụng răn đe, nhắc nhở công chức, áp dụng các biện pháp như: Nhắc nhở, cảnh cáo, hạ bậc lương, xuống chức, cách chức, cho thôi việc. Việc giáng chức và cách chức chỉ sử dụng đối với người vi phạm đang giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý. Cho thôi việc là mức độ xử phạt cao nhất đối với công chức và cần được xem xét cụ thể theo pháp luật yêu cầu. [16,1]

1.4. Phân loại công chức Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Việc phân loại nhân lực tại cơ quan nhà nước nói chung và công chức nói riêng khá đa dạng. Tùy vào mục đích phân loại, có khá nhiều cách để sắp xếp các dạng công chức. Công chức tại Việt Nam sẽ được phân loại dựa trên cơ sở là lĩnh vực ngành, nghề, các yêu cầu về nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng. Sau đây là một số tiêu chí phân loại công chức được áp dụng tại Việt Nam.

1.4.1. Theo bằng cấp, học vấn

Công chức được phân loại dựa trên bằng cấp bao gồm:

  • Tốt nghiệp đại học, trên đại học
  • Tốt nghiệp trung cấp
  • Sơ cấp
  • Nghề [3,13]

1.4.2. Theo tổ chức làm việc

Theo cách phân loại này, có các nhóm sau đây:

  • Công chức công tác tại cơ quan quản lý nhà nước.
  • Công chức công tác trong bộ máy quản lý hành chính.
  • Công chức công tác tại các đơn vị sự nghiệp. [3,13]

1.4.3. Theo thứ bậc của cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước

  • Công chức làm việc ở cơ quan nhà nước trung ương.
  • Công chức làm việc ở cơ quan nhà nước cấp tỉnh, thành phố.
  • Công chức làm việc ở cơ quan nhà nước cấp quận, huyện.
  • Công chức làm việc ở cơ quan nhà nước cấp phường, xã. [3,13]

1.4.4. Theo ngành, ngạch, bậc Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

 Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 34 năm 2022, công chức được phân loại theo ngạch như sau:

  • Loại A gồm những công chức được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
  • Loại B gồm những công chức được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
  • Loại C gồm những công chức được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
  • Loại D gồm những công chức được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên;
  • Ngạch khác theo quy định của Chính phủ. [3,14]

1.4.5. Theo vị trí công tác

Về vị trí công tác, công chức được chia thành các nhóm:

  • Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
  • Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. [3,14]

1.5. Quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của của công chức

1.5.1. Quyền và quyền lợi của công chức

  • Quyền công chức được đảm bảo các điều kiện thi hành nhiệm vụ 

Công chức được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ, được cung cấp các thiết bị cần thiết, đảm bảo về các điều kiện khác theo quy định của pháp luật khi thi hành nhiệm vụ, được tiếp cận các thông tin liên quan đến công việc được giao. Công chức có quyền tham đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và được bảo vệ bởi pháp luật khi tham gia công vụ. [3,17]

  • Quyền của công chức được đảm bảo về tiền lương và các chế độ đãi ngộ tương xứng

Công chức được Nhà nước bảo đảm trả lương xứng đáng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Công chức làm nhiệm vụ tại các vùng như: miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nơi có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm trong những ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm tới tính mạng thì được hưởng thêm phụ cấp và chính sách ưu đãi do Nhà nước quy định, được hưởng thêm các mức như: tiền làm thêm giờ, làm đêm, chi phí cho công tác và các chế độ khác theo quy định của pháp luật. [3,17]

  • Quyền của công chức về ngày nghỉ  Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Công chức được quyền nghỉ hàng năm, nghỉ ngày lễ, nghỉ khi có việc riêng cần xử lý theo luật mà nhà nước quy định về lao động. Trong trường hợp do yêu cầu công việc, công chức không sử dụng đến hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ được cho hàng năm thì sẽ được thanh toán thêm một khoản chi phí bằng với tiền lương chính cho những ngày đó. [3,17]

  • Các quyền khác của công chức

Ngoài các quyền nêu trên, công chức được đáp ứng quyền được học tập, được nghiên cứu khoa học, có mặt trong các hoạt động kinh tế, xã hội, được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi về nhà ở, về phương tiện đi lại và được tham gia chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo pháp luật Nhà nước. Từ điều 11 đến điều 14 trong Luật Cán bộ, công chức 2008, sửa đổi bổ sung năm 2022: “Nếu công chức bị thương hoặc mất mạng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thì được xem xét để hưởng các đãi ngộ như thương binh hoặc được xem xét để được công nhận là liệt sĩ cùng với những quyền khác theo quy định của Chính phủ ban hành”. [3,17]

1.5.2. Nghĩa vụ của công chức

  • Nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

Công chức phải tôn trọng nhân dân, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, phải gắn bó, gần gũi với nhân dân, luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân. Nhân dân có quyền được giám sát công chức.

Luôn chấp hành nghiêm túc các đường lối, chủ trương, chính sách mà Đảng và pháp luật Việt Nam ban hành. Luôn thực hiện chính xác, đầy đủ các nhiệm vụ được giao và phải chịu trách nhiệm trước những hành vi của bản thân, tự giác, ý thức trong tổ chức kỷ luật; tuân thủ theo nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Có trách nhiệm báo cáp lên trên khi phát hiện các biểu hiện vi phạm pháp luật trong cơ quan công tác và phải có trách nhiệm giữ bí mật quốc gia. Chủ động phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị chặt chẽ trong khi thực hiện công vụ. Đoàn kết xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị ngày một lớn mạnh. Bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả, không gây lãng phí tài sản nhà nước giao cho.

Chấp hành quyết định của cấp trên giao phó, khi nhận thấy bằng chứng cho rằng quyết định được đưa ra là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định. Trong trường hợp người cấp trên vẫn không thu hồi quyết định việc thi hành đó thì phải có văn bản báo cáo lên cấp trên của người ra quyết định. Người thi hành phải chấp hành mệnh lệnh sẽ không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của quyết định đó. Người ra quyết định phải chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về những hậu quả của quyết định đó. [3,16]

  • Nghĩa vụ của công chức là người lãnh đạo

Công chức là người lãnh đạo có trách nhiệm chỉ huy, đôn đốc cấp dưới thực hiện nhiệm vụ được giao và phải chịu mọi trách nhiệm về kết quả hoạt động của đội ngũ do họ lãnh đạo. Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thi hành công vụ của các công chức cấp dưới. Xây dựng, thực hiện những phương pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiến hành tiết kiệm, chống lãng phí và phải chịu kỉ luật nếu để xảy ra các tình trạng tiêu cực trên trong tổ chức.

Người lãnh đạo tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về dân chủ cơ sở, văn hóa trong môi trường tổ chức; điều chỉnh kịp thời cấp dưới gây ra sai phạm về kỉ luật, pháp luật, có thái độ làm việc không phù hợp, gây cản trở nhân dân. Công chức là người đứng đầu phải giải quyết lập tức, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền, phải kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc đề nghị của công dân và tập thể. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định Nhà nước. [3,16]

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ công chức.

  • Yếu tố đào tạo, bồi dưỡng Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Là yếu tố chủ chốt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công chức. Bằng việc đào tạo, bồi dưỡng, công chức được bổ sung trí thức, kinh nghiệm, tư duy thực tiễn…Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn giúp trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết khi thực thi nhiệm vụ. Từ đó, đội ngũ công chức dần trở nên chuyên nghiệp, có đủ khả năng nâng cao nền hành chính tân tiến, hiện đại, đạt yêu cầu về phát triển và hội nhập toàn cầu.

Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bối cảnh đó phát sinh những thời cơ, thuận lợi nhưng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Các chỉ thị chính trị ngày càng phức tạp, nhiều nội dung được đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức và toàn Đảng, toàn dân phải tham gia phát triển tập thể công chức có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có trình độ thực hiện công việc cao, góp phần đạt được mục tiêu xây dựng và bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

  • Yếu tố đánh giá công chức

Đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, …công chức của cơ quan, địa phương. Đồng thời, kết quả đó là căn cứ để xác định nhu nguyện vọng, nội dung và phương pháp đào tạo, có các kế hoạch đãi ngộ phù hợp với đội ngũ công chức, để phát triển đội ngũ một cách toàn diện và hiệu quả. Để đánh giá công chức, cần xem xét mức độ hoàn thành các nhiệm vụ được giao, đây là yếu tố quan trọng để đánh giá trình độ của người công chức. Tiếp đến, đánh giá phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị của công chức thông qua các mối quan hệ và tác phong thực hiện nhiệm vụ. [5,1]

  • Yếu tố kiểm tra, giám sát

Đánh giá công chức còn cần chú trọng công tác kiểm tra, giám sát. Thông qua công tác này, sẽ phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu thể hiện trong quá trình hoạt động. Từ đó, kịp thời khen thưởng và phát huy nhân tố tích cực, đẩy lùi hạn chế, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính phủ. Nếu công tác kiểm tra, giám sat được làm tốt, sẽ nắm bắt được thực trạng chất lượng công chức để có các kế hoạch liên quan tới công chức phù hợp.

  • Yếu tố chế độ, chính sách dối với công chức

Chế độ chính sách là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng công chức. Có thể nói, trong tình hình hiện nay, chế độ và chính sách đối với công chức là điều tạo động lực lớn nhất cho họ. Chế độ, chính sách nhằm bảo đảm về lợi ích như: tiền lương, tiền thưởng, các đãi ngộ, các loại bảo hiểm…Những lợi ích đó làm tăng sự mẫn cán và là động lực, bàn đạp giúp họ nỗ lực nâng cao trình độ, kỹ năng và hoàn thành tốt trách nhiệm của mình.

Chế độ, chính sách không thỏa đáng dễ khiến công chức không yên tâm công tác, giảm nhiệt huyết, kích thích sáng tạo trong làm việc.

1.7. Vai trò của việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

  • Nâng cao sự hội nhập của đất nước với toàn cầu: 

Sau hơn ba thập kỉ tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đang tích cực chuyển mình và hội nhập quốc tế. Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách chuẩn bị cho sự chuyển giao phù hợp với tình hình mới. Thực tiễn đòi hỏi, người công chức làm việc trong tình hình mới ngoài đề cao tinh thần dân tộc, yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân thì còn phải có những năng lực mới phù hợp với quy trình đổi mới và hội nhập.

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, nhất là cấp chiến lược với đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với toàn dân là những nhân tố quan trọng mang ý nghĩa cao cả đối với thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển nước nhà và bảo vệ lãnh thổ.

  • Đáp ứng được yêu cầu của cách mạng công nghiệp: 

Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và cả vai trò của cán bộ công chức nói chung, công chức cấp cơ sở nói riêng. Điều này mang lại nhiều cơ hội và cả thách thức đối với mọi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ công chức năng động, linh hoạt, có tri thức sâu rộng, đạt chuẩn về tin học, ngoại ngữ, có khả năng thích ứng với xu hướng công nghệ tiên tiến nhất, biết áp dụng khoa học – kĩ thuật vào thực hiện công việc, chuyển đổi tư duy sang xây dựng, sáng tạo.

 Công chức phải biết vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách hiệu quả, vận dụng thành quả khoa học kĩ thuật công nghệ của nhân loại vào phát triển đất nước. Đồng thời, công chức cần không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin nhanh nhạy, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin. [5,1]

  • Thỏa mãn nhu cầu phát triển của cá nhân

Đã có sự phân biệt rõ hơn về đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị nước ta như: qua bầu cử, công chức hành chính, công chức … Cùng với đó, sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý như các nguyên tắc tuyển dụng, nâng ngạch công chức; đánh giá khen thưởng, kỷ luật song song với các chính sách đãi ngộ, thu hút, chiêu mộ những người xuất sắc. Nâng cao trách nhiệm của người chỉ huy và công chức trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, một số công chức còn bộc lộ những hạn chế nhất định, như: thiếu tri thức, kỹ năng hành chính, mọi công việc được thực hiện theo kinh nghiệm tự tích lũy, tinh thần trách nhiệm thực thi công vụ. Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

Vì những lý do trên, bản thân công chức luôn mong muốn được phát triển bản thân, được nâng cao giá trị của mình để được giữ những vị trí cao hơn và được hưởng những chế độ chính sách quyền lợi tương đương với vị trí. Đào tạo bồi dưỡng chính là thỏa mãn mong muốn đó của công chức.

1.8. Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức 

1.8.1. Hoạt động quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng công chức

Quy hoạch công chức là quá trình thực hiện đồng bộ các phương án nhằm xây dựng đội ngũ công chức, sắp xếp, thay đổi lực lượng công chức đang làm việc  tại các cơ quan hành chính hoặc nguồn dự bị nhằm đảm bảo chủ động nguồn nhân lực cho chất lượng, luân chuyển, thuyên chuyển vị trí trong các cơ quan hành chính hay thay thế đội ngũ đương nhiệm để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian nhất định. Công tác quy hoạch để hoàn thiện đội ngũ công chức là một công việc thường xuyên và vô cùng cần thiết. Vì vậy, công tác này cần phải được thực hiện hàng năm. Quy hoạch hiệu quả, khoa học và phù hợp với thực tế sẽ thúc đẩy sự phát triển, ngược lại sẽ gây lãng phí nguồn lực.

Đào tạo, bồi dưỡng công chức là hoạt động chuẩn bị cho công chức những tri thức cần thiết cho công việc, như là những hiểu biết về nhà nước, pháp luật, về quản lý và quy trình chỉ đạo, điều hành, khả năng xử lý tình huống. Đồng thời, trang bị những kiến thức, kỹ năng để tham gia các chương trình dành về ngạch công chức theo quy định. Theo Nghị định số 101/2020/NĐ-CP, ngày 01 tháng 09 năm 2020, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 89/2024/NĐ-CP năm 2024 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tại Điều 2 đã nêu: “Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng công chức là trang bị kiến thức, kĩ năng, các cách thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của công chức, đóng góp thêm vào công tác phát triển tập thể công chức trở nên toàn diện, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có bản lĩnh chính trị và đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xây dựng phương hướng phát triển của đất nước.”. [17,1]

Đào tạo, bồi dưỡng công chức là hoạt động cần tổ chức thường xuyên, mang ý nghĩa lớn lao, đem lại kết quả tích cực trong việc nâng cao kiến thức nghiệp vụ, các kĩ năng quan trọng, đẩy mạnh hiệu suất và hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức dẫn tới mục tiêu thay đổi mạnh mẽ tư duy, ý tưởng khi thực thi nhiệm vụ chuyên môn.

Đào tạo, bồi dưỡng là chương trình nhằm đạt mục đích định hướng cho đội ngũ công chức có đạo đức cách mạng trong sáng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, tư duy đổi mới, sáng tạo đáp ứng được các yêu cầu của nền hành chính hiện đại, hết lòng vị nhân dân phục vụ, nâng cao trình độ chính trị, thấm nhuần các chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đưa ra, trung thành, hết lòng vì nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu kiện toàn và tăng mức độ hiệu quả của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc vào chủ yếu vào hệ thống cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên; Chế độ chính sách hỗ trợ công chức được đào tạo như tiền ăn ở, đi lại, học phí, thời gian học và đảm bảo công việc sau đào tạo để tránh lãng phí.

1.8.2. Hoạt động tuyển dụng và sử dụng công chức Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

  • Về tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là hoạt động công do các tổ chức và những người có thẩm quyền thực thi và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Nhà nước thuộc lĩnh vực. Tuyển dụng nhằm nhằm bảo đảm số lượng công chức làm được theo yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan giao phó. Khi tuyển dụng công chức phải dựa theo những yêu cầu công việc, bô phận làm việc… Công tác này cũng là một trong những khâu quyết định sự đi lên của đội ngũ công chức trong thời gian dài, là tiền đề của việc xây dựng và củng cố tập thể công chức nhà nước bản lĩnh, kiên định kế thừa và bồi đắp kinh nghiệm về kinh tế xã hội, đủ trách nhiệm gánh vác những nhiệm vụ được giao.

 Để duy trì một đội ngũ công chức ngang tầm nhiệm vụ, công tác tuyển dụng nên được thiết lập theo một quy trình chi tiết, phòng tránh tiêu cực xảy ra trong suốt quá trình thực hiện. Tiêu chuẩn công chức cần đạt phải được xây dựng trên cơ sở yêu cầu tiêu chuẩn thực hiện công việc, theo như định hướng phát triển của tổ chức và những mục tiêu chung của công tác tổ chức cán bộ là phải trẻ hóa lực lượng kế cận, trau dồi tri thức theo hướng phát triển của công cuộc CNH-HĐH đất nước. Trong công tác tuyển dụng cần lưu ý tới việc chiêu mộ những người tài cho đội ngũ công chức, xây dựng các chế độ đãi ngộ hấp dẫn phục vụ cho việc thu hút nhân tài tham gia tuyển dụng. [20,33]

  • Về sử dụng công chức

Hai yếu tố quan trọng trong bố trí và sử dụng là yêu cầu của công vụ và điều kiện nhân lực hiện có của tổ chức. Đồng thời, sử dụng công chức phải dựa vào các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, sử dụng công chức phải có tiền đề và quy hoạch, phải căn cứ vào mục tiêu từ hoạt động quản lý đến sử dụng công chức.

Thứ hai, khách quan, minh bạch và bình đẳng khi thực hiện sử dụng công chức theo quy định Nhà nước, cần có các chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với công chức thuộc đảng, đoàn thể và công chức thuộc cơ quan nhà nước. Có chế độ phụ cấp và các đãi ngộ xứng đáng dành cho công chức công tác ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo có nhiều thiếu thốn và nơi đông các dân tộc thiểu số. Tiến hành thực hiện chính xác và nhanh chóng các chế độ đối với đội ngũ công chức như thu hút, đãi ngộ, khen ngợi, khuyến khích tinh thần học hỏi để phát triển bản thân…

Thứ ba, bổ nhiệm phải trên cơ sở xây dựng cơ cấu nhân lực của tổ chức và chú trọng trong việc lấy phiếu tín nhiệm, mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải là những người biết việc, hiểu người, tránh bè phái và không nhằm mục đích xây dựng. Công chức thuộc diện dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải đưa ra đề án hoặc nội dung hành động của họ, trước thời gian bỏ phiếu tín nhiệm. Tiến hành thử nghiệm việc thi tuyển, tiến cử các hoạt động tập sự đối với công chức là người đứng đầu. [20, 34] Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

1.8.3. Hoạt động kiểm tra, giám sát

Kiểm tra, giám sát công chức là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin diễn biến của quá trình công chức. Nhờ đó, các vấn đề nảy sinh được phát hiện bởi người đúng đầu và kịp thời xử lý những sai phạm của công chức nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro trong thực thi công vụ. Đồng thời, đánh giá được năng lực của từng công chức và định hướng thay đổi vị trí việc làm hoặc xắp xếp, đề bạt công chức hợp lý, huấn luyện thêm cho các công chức có trình độ chưa đáp ứng, kịp thời ngăn chặn các vấn đề làm giảm chất lượng công chức.

Kiểm tra, giám sát để phát huy ưu điểm, tìm ra các vấn đề còn tồn tại của công chức, loại bỏ những phần tử biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống, gây ra nhiều sai phạm nghiêm trọng. Đây là hoạt động mang vai trò điều chỉnh hành vi, khiến cho công chức luôn làm việc theo đường lối định hướng của tổ chức. Tổ chức sẽ áp dụng các chính sách tác động như khen ngợi hoặc khiển trách tùy theo công chức có thành tích hoặc sai phạm sau quá trình kiểm tra nhằm phát huy mặt tốt và đẩy lùi tiêu cực. Tiếp tục đẩy mạnh việc quản lý, theo dõi cũng nhằm mục đích tìm hiểu sâu về chất lượng thực sự và phát hiện sự biến động của họ lập các đối sách điều chỉnh đội ngũ công chức, nêu gương, khen thưởng những thành tích, đóng góp của họ và xử phạt nghiêm minh khi mắc nỗi, củng cố lòng tin của nhân dân đối với chính quyền. [20,39]

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày về cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến công chức, đội ngũ công chức và chất lượng đội ngũ công chức như: các khái niệm, đặc điểm, các dạng công chức, các quyền lợi và nghĩa vụ, các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công chức và vai trò của hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Cùng với đó, nêu ra các công tác thường được sử dụng để phát triển đội ngũ công chức. Các cơ sở lý luận là nền tảng để phân tích các vấn đề thực trạng chất lượng của đội ngũ công chức tại UBND Phường Cát Dài, Thành phố Hải Phòng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ này. Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức tại UBND

One thought on “Khóa luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại UBND

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp chất lượng đội ngũ công chức tại UBND

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464