Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Gia đình – hai từ thiêng liêng cao quý nhất trong cuộc đời con người. Mỗi chúng ta sinh ra đều có một gia đình lớn là điểm tựa yêu thương, theo năm tháng khi trưởng thành, đủ chín chắn, trách nhiệm như một sự thật hiển nhiên nam, nữ vươn đôi cánh đi tìm hạnh phúc riêng, là người chồng, người vợ hợp pháp cùng tiến tới xây dựng mái ấm gia đình nhỏ. Khi nam, nữ có mong muốn tiến tới hôn nhân và tạo dựng gia đình sẽ được pháp luật quản lý. Trong mỗi giai đoạn phát triển tính chất, kết cấu gia đình có thể khác, tuy nhiên các chức năng cơ bản như chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế được xem là những yếu tố cấu thành nên gia đình. Hoạt động kinh tế đóng vai trò như chiếc chìa khóa đảm bảo sự tồn tại của mỗi gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Cùng với sự phát triển của xã hội vợ, chồng ngày càng có nhu cầu thực hiện các hoạt động kinh tế độc lập, khẳng định quyền tự do định đoạt tài sản riêng. Hơn nữa, những năm gần đây tỷ lệ vợ, chồng ngoại tình ngày càng gia tăng, như một bước lui và sự chủ động trong việc thừa hưởng tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Từ đó, pháp luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự chuyển biến nhu cầu xã hội đã đưa ra quy định cụ thể“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Trong sự ghi nhận này quan hệ tài sản phát sinh, sự điều chỉnh được thực hiện thông qua hai hướng, công nhận sự thỏa thuận nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật HN&GĐ, BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật. Cách thức giải quyết vụ việc thứ hai được thực hiện thông qua Tòa án.
Từ những lý do nêu trên tôi thấy được sự cấp thiết và cần phải nghiên cứu chuyên sâu nên chọn chủ đề khóa luận tốt nghiệp như sau: “Pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân’’.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhắc đến các vấn đề trong hôn nhân ai cũng có thể nghĩ đến việc duy trì và phát triển bền vững, xét đến hai yếu tố cơ bản tác động chính là tài sản và quan hệ nhân thân.
- Nhóm các bài viết trên tạp chí Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Nghiên cứu “Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Phùng Trung Tập trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2012. Bài viết này của tác giả Phùng Trung Tập phân tích các quy định pháp luật có liên quan chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, chỉ ra các bất cập và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực chai tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tại công trình này tài sản được tác giả nhắc đến là động sản như một loại tài sản vợ, chồng phân chia, nhưng còn rất mờ nhạt. Hơn nữa, văn bản pháp luật bài viết áp dụng hiện hành khi đó sử dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên chưa thể cập nhật hết tình hình giai đoạn hiện nay, tuy nhiên những gì mà bài viết nghiên cứu, thực nghiệm đã để lại là những giá trị quý giá.
Bài viết nghiên cứu “Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân”, do tác giả Ngô Thị Vân và Đặng Lê Phương Uyên trên tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2019. Bài viết đi sâu nghiên cứu các nội dung về phạm vi tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, tiếp đó chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vì mục đích đầu tư, kinh doanh; Đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi vợ, chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vì mục đích đầu tư, kinh doanh. Khi nghiên cứu cả hai tác giả đều đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Bài viết phân tích sâu các vấn đề tổng thể, trong đó có đề cập đến tài sản là bất động sản.
- Nhóm bài viết khóa luận, luận văn
Luận văn Thạc sĩ “Chia tài sản chung vợ, chồng là bất động sản trong thời kỳ hôn nhân theo thỏa thuận” do ThS.Lương Trọng Kha. Bài viết của tác giả nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung là bất động sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân theo thỏa thuận, khi thỏa thuận tài sản phải thông qua hình thức công chứng để xác định nội dung văn bản không bị vô hiệu do vi phạm về mặt nội dung phân chia. Ngoài ra, còn đề cập đến hình thức chia thứ hai là Tòa án giải quyết. Qua quá trình nghiên cứu đó tác giả đã thấy những quy định pháp luật về vấn đề này chưa sâu nên đã chỉ ra những hạn chế, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Khoá luận tốt nghiệp “Pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Đặng Lê Phương Uyên năm 2018 tại Trường Đại học Luật TP. HCM. Khóa luận đi phân tích một cách toàn diện các quy định pháp luật liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, và tác giả có sử dụng bất động sản để nghiên cứu các vấn đề liên quan nêu trên; Tác giả cũng làm rõ các bất cập, tồn tại từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện. Tuy nhiên, vì giới hạn của khóa luận nên thực tiễn giải quyết các tranh chấp hay yêu cầu về chia tài sản chung là bất động sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa có điều kiện để phân tích nhiều.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật Hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ từ văn bản HN&GĐ 1986, 2000 đến 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, từ đó đánh giá, đưa ra nhận xét về sự thay đổi, tiến bộ giữa các văn bản pháp luật. Tiếp đó, làm sáng tỏ quy đinh pháp luật HN&GĐ 2014 hiện hành và đi liên hệ các bản án giải quyết vụ việc thực tế của cấp Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm. Cuối cùng, đưa ra các kiến nghị cũng như giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật.
3/2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên vạch ra những nhiệm vụ định hướng đúng các quy định pháp luật Hôn nhân và gia đình, hệ thống chuẩn mực các kiến thức từ lý luận cơ sở đến đánh giá thực trạng.
Một là, khái quát cơ sở lý luận về phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời chỉ ra sự thay đổi của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với những quy định trước.
Hai là, đi sâu phân tích các quy định pháp luật hiện hành như quyền yêu cầu, lý do, các trường hợp, hình thức và nội dung, hiệu lực, vô hiệu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Ba là, giải quyết các kiến nghị đề ra thông qua những giải pháp cụ thể về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định về chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Luật HN&GĐ 2014, Nghị định 126/2014 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân và gia đình.
4.2 Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Về phạm vi không gian: Chủ yếu trong phạm vi các quy định pháp luật về chia TSC trong thời kỳ hôn nhân từ luật HN&GĐ 1986 đến hiện nay. Ngoài ra sử dụng một số bản án thực tế từ năm 2018-2020.
Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam từ giai đoạn 1986-2014.
Về phạm vi nội dung: Đề tài tập trung phân tích khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, ý nghĩa, sơ lược sự hình thành phát triển của Luật HN&GĐ từ năm 1986 đến năm 2014; Tìm hiểu quy định pháp luật HN&GĐ 2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện bằng một số phương pháp cụ thể để làm rõ các nội dung của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Phương pháp nghiên cứu được dùng để giải quyết cho những nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất là:
Sử dụng phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử,… nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung liên quan đến quy định pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để xem xét tìm hiểu các vấn đề giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam quy định quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Thông qua phương pháp nghiên cứu đưa ra một số vụ án giải quyết thực tế về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình.
6. Những điểm mới của khóa luận
Đề tài khóa luận là một nghiên cứu mới khác biệt so với các bài viết trước đó. Bài viết nghiên cứu đầy đủ, chính xác một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đưa ra những cơ sở lý luận chung. Sơ lược sự hình thành, phát triển quy định pháp luật về vấn đề này của các văn bản pháp luật. Tìm hiểu các kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng pháp luật. Giúp người đọc hiểu rõ hơn quyền được yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hình thức và nội dung của việc chia tài sản. Chỉ ra hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung và chấm dứt hiệu lực như thế nào. Đưa những bản án thực tế Tòa án giải quyết để hướng tới việc làm rõ các quy định pháp luật quy định như thế nào. Cuối cùng đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chia TSC của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tóm lại, đây là những điểm mới mà các nghiên cứu trước đó của một số tác giả chưa thực hiện.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 2 Chương cơ bản.
- Chương i: Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Chương ii: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1.1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội. “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[23,tr.88]. Câu nói trên khẳng định tầm vóc lớn lao của gia đình tác động vào sự cân bằng, ổn định của xã hội. Những ưu điểm, giá trị tốt đẹp gia đình mang tại Khoản 2 Điều 36 Hiến Pháp 2013 ghi nhận, quy định “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”[1,tr.24]. Như vậy Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú trọng và lấy hôn nhân và gia đình là trọng tâm để phát triển các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. “Hôn nhân” là cam kết giữa người nam và người nữ sau khi kết hôn, dưới sự điều chỉnh của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Khi có sự cam kết bằng pháp luật nam, nữ trở thành vợ chồng hợp pháp của nhau tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân từ đó hình thành “Thời kỳ hôn nhân” .Sau khi thời kỳ hôn nhân hình thành vợ chồng phát sinh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.
Thời kỳ hôn nhân được tính từ khi nam, nữ kết hôn và có sự công nhận pháp luật, giai đoạn thời kỳ đầu của hôn nhân tài sản chung vợ, chồng có được chủ yếu do tặng cho chung, sau một thời gian vợ, chồng làm ăn, sinh sống số tài sản chung được phát triển nhiều hơn. Những tài sản này do hai vợ, chồng quản lý và đồng sở hữu, nhưng phải chịu sự tác động và điều chỉnh của BLDS 2015 và Luật HN&GĐ 2014. Luật quy định vợ, chồng được thực hiện quyền chiếm hữu, quyền định đoạt, quyền sử dụng tài sản chung theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng. Dựa vào mối liên hệ xã hội quan hệ tài sản gồm hai nhóm cơ bản, nhóm liên quan đến quyền sở hữu và nhóm hình thành trong quá trình lưu chuyển tài sản giữa các chủ thể. Đối với nhóm lưu chuyển thứ hai này sẽ phù hợp với chế định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung gồm những tài sản vợ, chồng tạo ra trong lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác. Theo quy định pháp luật vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, Khoản 2 Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015 quy định. Như vậy, vợ chồng có quyền thỏa thuận, phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Tuy nhiên, để nắm rõ và đi cụ thể từng khái niệm trong một nội hàm lớn về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải tách bạch khái niệm “Thời kỳ hôn nhân” là gì? Và “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”.
Thời kỳ hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên vợ hoặc chồng chết. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn thì thời kỳ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân có hai quan hệ phát sinh song song, quan hệ hôn nhân và quan hệ tài sản. Quá trình này tài sản là công cụ chủ yếu đảm bảo các hoạt động của gia đình và tài sản cũng là yếu tố dễ phát sinh tranh chấp nhất khi hai bên vợ chồng mâu thuẫn.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hiện nay là một khái niệm mới chưa được nhiều nhà làm luật định nghĩa rõ ràng, nhưng căn cứ theo quy định pháp luật tại Điều 38, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vợ, chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Để hiểu rõ thế nào là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đầu tiên phải làm rõ “chia” là như thế nào, chia theo từ điển Tiếng Việt là “Phân ra, san ra từng phần từ một chỉnh thể”. Vậy hiểu một cách cơ bản chia là phân số tài sản chung của vợ chồng thành khối tài sản nhỏ hơn, theo yêu cầu. Và từ đây cũng có một số nhà luật học tiếp cận khái niệm thế nào là “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” được ghi nhận tại các bài khóa luận, luận văn thạc sĩ.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Vân định nghĩa: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ, chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm châm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật”[21].
ThS. Lưu Việt Thắng đưa ra khái niệm như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ, chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng theo quy đinh của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan. Việc chia tài sản chung này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật”[22].
Những nhận định trên của các tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân và Lưu Việt Thắng gần như đã tiếp cận một số góc nhìn về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, dưới góc độ này có thể hiểu pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận, tài sản trước khi chia thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng cân bằng lợi ích các bên. Hơn nữa việc chia tài sản không làm chấm dứt lợi ích các bên. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Từ những gì tìm hiểu các đầu sách chính thống thì đến nay chưa có một định nghĩa chính xác, chuyên sâu về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng qua những tìm hiểu ở trên đã có một số nhà luật học đưa ra khái niệm theo ý kiến khách quan. Vậy nên, cũng nhìn nhận từ một số góc độ tiếp cận tôi xin mạnh dạn đưa ra khái niệm sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng thỏa thuận với nhau phần tài sản cần chia và lập thành văn bản. Văn bản này phải đáp ứng đầy đủ quy định pháp luật. Và khi tài sản vợ chồng yêu cầu chia không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết, để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho vợ chồng”.
Đặt ra quy định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân sau khi vợ, chồng kết hợp tạo ra khối tài sản chung hợp nhất, thì trong sự ghi nhận này lại phân khối tài sản ra thành của riêng nhưng điều đáng lưu ý tại đây quan hệ tài sản có thể thay đổi nhưng quan hệ nhân thân và hôn nhân thực tế vẫn còn tồn tại. Tài sản chia ra như dòng lưu chuyển tuy tách bạch nhưng không chấm dứt nghĩa vụ đối với các bên còn lại.
1.1.2. Đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Thông qua khái niệm, đã có thể hình dung được những quyền và yêu cầu vợ, chồng cần đáp ứng khi thực hiện hành vi dân sự. Nhưng để hiểu và nắm đúng bản chất thì thông qua đặc điểm bên ngoài sẽ giúp bộc lộ rõ hơn.
- Thỏa thuận, phân chia theo quy định pháp luật.
Khi vợ chồng phân chia số tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ số tài sản chung. Ghi nhận sự thỏa thuận thông qua văn bản. Văn bản này phải được công chứng đúng theo quy định Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014. Khi công chứng thì công chứng viên tại văn phòng phải chứng thực tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự.
- Giải quyết khi vợ chồng có nhu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Khi vợ chồng cùng nhau thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thể thỏa thuận được chia tài sản như thế nào thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ căn cứ yêu cầu của vợ chồng để đưa ra quyết định, việc Tòa án đồng ý hay không đồng ý phải được lập dưới hình thức một bản án có hiệu lực pháp luật. Quyết định cuối cùng có hiệu lực pháp luật phải bằng phán quyết của Tòa án ghi lại đã có sự việc xảy ra và đưa ra phương án giải quyết căn cứ vào các quy định của BLDS, BLTTDS, Luật HN&GĐ,…
- Đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ tài sản vợ chồng.
Trong tất cả các tranh chấp dân sự, yếu tố cần không được vi phạm đó là giữ đúng nguyên tắc giải quyết của các bên, ở đây nói đến nguyên tắc vợ, chồng khi chia tài sản chung trong TKHN phải được đáp ứng đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp. Ngoài ra song song với quyền là nghĩa vụ vợ, chồng khi được hưởng tài sản cần thực hiện đúng trách nhiệm với vợ, chồng, con chưa thành niên và đã thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động để nuôi sống chính bản thân, đây là những người có nhân thân quan hệ trực tiếp đối với mối quan hệ tài sản vợ, chồng yêu cầu chia.
1.1.3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Căn cứ tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có thể rút ra được ba nguyên tắc cơ bản.
- Nguyên tắc 1: Sau khi đăng ký kết hôn vợ, chồng có quyền thỏa thuận về việc phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ 2014.
- Nguyên tắc 2: Việc chia tài sản chung của vợ chồng không được xâm phạm lợi ích của gia đình.
- Nguyên tắc 3: Nhằm trốn tránh nghĩa vụ, nuôi dưỡng, cấp dưỡng cha mẹ, con cái; bồi thường thiệt hại, thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản.
1.1.4. Ý nghĩa của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản không tự dưng sinh ra và mất đi, khi đặt tài sản vào trong một mối quan hệ hay tranh chấp phát sinh, lại mang một ý nghĩa khác nhau. Như những gì đã phân tích ở trên thời kỳ hôn nhân vợ, chồng tạo ra được số tài sản nhất định dựa trên công sức đóng góp. Đây là sự phân chia rõ ràng để khẳng định quyền, nghĩa vụ vợ, chồng đối với tài sản tạo ra trong quá trình xây dựng hôn nhân.
Một là, phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm giúp chia số tài sản chung thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ chồng ngay cả khi mối quan hệ vợ chồng chưa chấm dứt.
Hai là, khẳng định quyền tự do được lựa chọn mục đích sử dụng tài sản chung. Tài sản khi chia có thể đem đi đầu tư kinh doanh bất kỳ các loại hình. Quyền tự do là quyền cơ bản của vợ, chồng trong gia đình, việc được chọn lựa theo mong muốn của bản thân về loại hình kinh doanh, đầu tư sẽ giúp vợ, chồng thực hiện hết khả năng, ý tưởng sáng tạo đạt hiệu quả cao hơn trong công việc.
Ba là, mục đích bảo quản tài sản cho gia đình trong một số trường hợp một bên vợ hoặc chồng đang thực hiện phá tán tài sản của gia đình. Tại sao phải bảo quản tài sản? Thực hiện hành vi này với ý nghĩa tài sản chung khi có biến cố xảy đối với vợ, chồng có thể hạn chế mức thiệt hại thấp nhất.
Bốn là, những cặp vợ, chồng trẻ hiện nay có tư tưởng thoáng hơn. Việc phân chia tài sản như vậy sẽ buộc hai bên phải có trách nhiệm hơn với tài sản tạo ra, tránh ỉ lại vào thu nhập một người, giúp nâng cao sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình.
Tóm lại, phân chia tài sản không nhằm mục đích cắt đứt quan hệ hôn nhân, pháp luật sở dĩ đưa ra quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ. Ai cũng có thể nhận ra từ trước đến nay phụ nữ thường là phái yếu thế trong gia đình, người đàn ông thường gắn mác phụ nữ chỉ biết “nội trợ” chuyện kiếm tiền thuộc về đàn ông. Xã hội bắt đầu xoay chuyển, việc ổn định kinh tế, tạo thu nhập trong gia đình ngày càng cân bằng. Vị trí giữa vợ và chồng ngang nhau, chăm sóc con cái, gia đình không chỉ phụ thuộc vào người phụ nữ mà người đàn ông đã nhận ra vấn đề vun vén gia đình thuộc về trách nhiệm giữa vợ và chồng. San sẽ cùng nhau tạo nên sự gắn kết, thấu hiểu được nổi vất vả của người vợ khi đó người chồng sẽ biết cách yêu người phụ nữ đồng hành cùng trên chặng đường hôn nhân. Từ đó, tạo giá trị trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình, đưa tới sự khác biệt.
1.2. Sơ lược sự hình thành, phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển khá sớm, qua các thời kỳ lịch sử quy định pháp luật có sự thay đổi theo nhu cầu thực tế đặt ra và đánh giá đúng bản chất hiện tại. Việt Nam lần đầu tiên quy định Luật HN&GĐ vào năm 1959 ghi nhận việc đưa các chế định hôn nhân vợ, chồng vào trong luật nhằm khẳng định hôn nhân được hình thành từ sự tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tiếp nối ra đời do luật năm 1959 chưa bao quát được các yếu tố cần của hôn nhân và các quan hệ tài sản, nhân thân nên Quốc Hội đã sửa đổi thay thế bằng Luật HN&GĐ 1986, tại đây pháp luật hình thành quy định “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, tiếp nối kế tục là sự ra đời của Luật HN&GĐ 2000. Cho đến hiện nay tại văn bản Luật HN&GĐ 2014 đã xây dựng quy định về chia tài sản chung của vợ, chồng một cách rõ ràng, mạch lạc hơn.
Năm 1986 Luật HN&GĐ đưa việc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân vào luật. Tại Điều 18 có quy định vợ, chồng được thực hiện việc CTS nếu đưa ra được lý do. Xét về “lý do” có thể hiểu như là bên vợ hoặc chồng cho rằng trong quá trình chung sống vợ, chồng có những mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống, tình cảm, hay mong muốn được thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản riêng,…Đây là những lý do chính đáng nhằm mục đích đạt được mong muốn của vợ, chồmg. Tuy nhiên, tiến hành CTS phải đảm bảo các điều kiện tại Điều 42 của Luật HN&GĐ 1986, pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận giữa vợ, chồng trước, nhưng việc này phải thông qua Tòa án công nhận cuối cùng, giá trị của việc công nhận không làm hạn chế đi quyền được hưởng tài sản do vợ, chồng tạo ra mà là để chứng minh sự thỏa thuận được pháp luật thừa nhận, nếu có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra giữa hai bên sau khi chia sẽ có căn cứ đối chất. Ngoài trường hợp trên, nếu vợ, chồng không thể cùng nhau ngồi lại thỏa thuận chia theo nguyện vọng, ý chí tự quyết thì Tòa án sẽ là người đứng giữa trực tiếp phân định, dựa trên nguyên tắc. Những tài sản trước thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng vì vậy khi phân chia số tài sản này vẫn thuộc sở hữu riêng, không được đặt vào cùng khối tài sản chung để phân chia. Thêm một nguyên tắc đặt ra, tài sản vợ, chồng chia đôi cần phải đảm bảo tình hình tài sản như thế nào, hiện nay gia đình có bao nhiêu thành viên, ai phải cần có sự cấp dưỡng, hỗ trợ của vợ, chồng để đảm bảo sinh hoạt ổn định. Có một vấn đề rất quan trọng cần chú trọng khi xét đến việc chia tài sản, cần xác định rõ công sức đóng góp của từng người. Trong quá trình phân chia pháp luật cũng nêu rõ quy định quyền lợi của người vợ và con chưa đủ 18 tuổi trong gia đình được ưu tiên hàng đầu, tiếp theo không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Pháp luật Việt Nam luôn phát triển đi lên sự ra đời của Luật HN&GĐ 2000 là minh chứng Nhà nước ta lấy hôn nhân và gia đình phát triển các mặt của đời sống xã hội. Tại Điều 29 của luật này có ghi nhận trong khi hôn nhân vẫn đang tồn tại, nếu bên vợ, chồng muốn sử dụng tài sản chung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của riêng cá nhân thì có thể đề xuất chia tài sản chung của vợ, chồng trong TKHN. Ngoài ra, với mong muốn thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với tài sản thì cá nhân có thể tác động trực tiếp lên những đối tượng tài sản như là tiền, các bất động sản và động sản, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Pháp luật còn quy định trường hợp yêu cầu nữa là vợ, chồng có thể đưa ra được lý do chính đáng. Nhưng những gì thỏa thuận phải được ghi lại thông qua dạng văn bản. Tại Điều 30 Luật HN&GĐ 2000 đưa ra hậu quả chia tài sản, sau khi tài sản chung đã được chia cho hai vợ, bằng hình thức thỏa thuận hay phán quyết của Tòa án thì tài sản sau khi tách từ khối chung sẽ thành khối tài sản riêng, những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia sẽ do vợ, chồng sở hữu riêng, còn đối với tài sản không muốn chia vẫn nằm trong số tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thông tư 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ 2000 Điều 6 có ghi nhận nội dung trong trường hợp vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi lập văn bản cần đưa ra được lý do chính đáng, ngoài ra những tài sản là bất động sản, động sản (đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, thêm vào đó là các quyền tài sản như quyền sở hữu, quyền định đoạt, quyền sử dụng, trong văn bản cũng cần nêu rõ những tài sản là hiện vật thì phân chia như thế nào, còn đối với tài sản có giá trị là tiền, vàng cần thì vợ, hay chồng sẽ được nhận, tuy nhiên giá trị phân chia dù là tiền hay hiện vật đều phải được chia công bằng. Hai vợ, chồng tiến hành thỏa thuận cần ghi rõ ngày, tháng, năm, cuối văn bản phải có chữ ký. Đã đảm bảo các yếu tố trên hoàn thiện văn bản về mặt hình thức bước cuối cùng xác lập văn bản có giá trị pháp lý cần phải thực hiện công chứng, chứng thực theo yêu cầu.
Đưa ra một so sánh giữa Điều 18 Luật HN&GĐ 1986 và Điều 29 Luật HN&GĐ 2000, do Luật năm 1986 ra đời trước nên điều luật thể hiện nội dung mang tính chung chung, tại đây có nêu Tòa án là cơ quan công nhận sự thỏa thuận của vợ, chồng nhưng không nêu rõ khi vợ, chồng thỏa thuận có cần lập thành văn bản hay không. Tuy nhiên, tại Điều 29 Luật HN&GD 2000 lại đưa ra một quy định bao quát về mặt nội dung cũng như hình thức thể hiện văn bản trong điều này yêu cầu khi thỏa thuận vợ chồng lập thành văn bản. Lập văn bản ở đây như một dạng hợp đồng của giao dịch dân sự và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thời gian bắt đầu giao dịch có hiệu lực ghi nhận tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 đầu tiên phải đáp ứng về chủ thể tham gia, phải có đủ năng lực chịu trách nhiệm dân sự, tiếp theo trong văn bản những nội dung được cam kết, thỏa thuận của hai bên không được trái quy định pháp luật, vi phạm nghiêm trọng đạo đức xã hội và không có sự ép buộc bên vợ hoặc chồng đưa ra ý kiến dựa vào ý chí tác động. Về mặt hình thức thể hiện của giao dịch dân sự bằng nhiều cách khác nhau như lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể. Chỉ qua hơn 10 năm Luật Hôn nhân và gia đình đã xây dựng khá thành công quy định về “Chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân”.
Như vậy, có thể khẳng định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu là chia tài sản chung hợp nhất đây được xem là một GDDS. Để đảm bảo các yếu tố đó cần tuân thủ các quy định về mặt hình thức và nội dung điều này được thể hiện rõ hơn tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 theo đó ngoài việc thỏa thuận Tòa án công nhận chia TSC của vợ, chồng ra thì Tòa án có thể đưa ra phán quyết cuối cùng. Có một vấn đề đặt ra mà cần đi sâu nghiên cứu ở giai đoạn này, pháp luật luôn tôn trọng sự thỏa thuận của vợ, chồng nhưng nếu vợ chồng một bên mất năng lực hành vi dân sự thì được giải quyết như thế nào. Thì cần dựa vào các căn cứ pháp lý và những lập luận về tính chất quan hệ sở hữu chung hợp nhất giữa vợ và chồng. Khoản 2 Điều 24 Luật HN&GĐ 2000 nêu ra bên vợ hoặc chồng có thể đại diện để thực hiện GDDS khi bên còn lại mất năng lực hành vi dân sự nhưng phải đảm bảo các điều kiện thì mới được trở thành người giám hộ. Vợ chồng mắc các bệnh tâm thần thì phải được Tòa án đưa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự và dựa trên kết quả của tổ giám định. Còn nếu vợ, chồng hạn chế năng lực hành vi dân sự như vợ chồng nghiện ma túy, hoặc các chất kích thích đưa đến hành vi phá tán tài sản. Theo những gì quy định nêu trên thì có một hạn chế đối với việc đưa ra thỏa thuận vợ, chồng trong TKHN bên vợ, chồng mất năng lực hoặc hạn chế năng lực sẽ không có quyền thỏa thuận mà trong trường hợp này Tòa án sẽ quyết định.
Hoàn thiện và kế thừa những quy định trên Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tại Điều 38 có đưa ra ba khoản liên quan đến vấn đề “Chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân” quyền được yêu cầu theo thỏa thuận thông qua văn bản làm căn cứ pháp luật, trường hợp không thỏa thuận thì bản án giải quyết Tòa án ra phán quyết cuối cùng. Chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản chung là sự tiến bộ vượt bậc. Sự hoàn thiện của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay đang hướng tới hơn 26 triệu hộ gia đình, mỗi gia đình lại đóng một vai trò và mang các chức năng truyền thống, chức năng sinh đẻ nhằm duy trì nòi giống, chức năng giáo dục phát huy tri thức, chức năng kinh tế tạo ra của cải, vật chất, chức năng tình cảm lưu giữ các giá trị tinh thần. Nếu biết cách lưu giữ, bảo tồn, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp bốn chức năng trên mới thật sự tạo nên một gia đình ổn định. Ngược lại không thực hiện, phát huy đầy đủ các chức năng trên chất lượng gia đình sẽ mất cân đối.
Qua sự so sánh sánh cũng như đánh giá, phân tích các điều luật nêu trên có thể thấy sự khác biệt rõ rệt giữa văn bản Luật HN&GĐ 2014 so với những văn bản trước đó được ghi nhận tại Khoản 3 Điều 38. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
1.3. Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trên thế giới có tổng số 6 Châu lục và những Châu lục này nằm ở các vị trí khác nhau trên trái đất, vì vậy mà chế độ chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội cũng đã có sự không đồng nhất. Sự khác biệt về vị trí địa lý, khí hậu đã tạo ra những ngôn ngữ, chữ viết riêng cho người dân ở các quốc gia. Không chỉ vậy để đảm bảo cuộc sống, giữ gìn trật tự an ninh ở mỗi nước lại xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật riêng. Trong đó, phải kể đến Châu Âu một trong những châu lục phát triển khá sớm và gồm các quốc gia thành viên như Áo, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Ý…, là những nước tiêu biểu đi đầu về hoạt động kinh tế. Bởi do các nước kể trên đã tham gia vào các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai đi xâm chiếm các nước thuộc địa, nên kinh tế cũng như pháp luật được xây dựng rất chắc. Tiêu biểu phải đề cập đến Pháp, nói đến Pháp phải nhớ đến ngay một nhà chính trị kiệt xuất, tài ba Napoleson Bonaoarte-ông là người trực tiếp chỉ đạo cho ra đời BLDS Pháp 1804, trong bộ luật này có quy định các nội dung về tài sản vợ, chồng theo pháp định và tài sản theo ước định. Ngoài BLDS Pháp, tại khu vực Châu Á, Thái Lan được ví như “Thiên đường du lịch” vị trí địa lý đắc địa, nền văn hóa và lịch sử lâu đời đã tạo nên sự phát triển ổn định. Tuy nhiên, để có sự vững mạnh như ngày hôm nay Thái Lan đã liên tiếp kế tục, cho ra đời các Bộ luật quy định tài sản vợ, chồng. Đây cũng là hai quốc gia tiêu biểu mà Việt Nam cần học hỏi về cách phát triển kinh tế cũng như tiếp thu giá trị của điều luật các nước, đặc biệt trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
- a) Pháp luật Dân sự Pháp 1804
Ngay sau cuộc cách mạng tư sản Pháp thành công, vị tướng Napoleon Bonaoarte lên nắm quyền và cho ra đời BLDS Pháp 1804 đầu tiên. Cho đến nay bộ luật này vẫn tồn tại và chưa có một văn bản pháp luật nào thay thể, bởi nội dung được các nhà làm luật tại đất nước nhìn nhận khá xa. Đến năm 2000 thì nước Pháp có sự thay đổi về chế độ Nghị viện-Tổng thống, trước kia chỉ bầu một lần nhưng do chính sách quản lý chưa phù hợp nên đã chuyển sang nhiệm kỳ 5 năm bầu tổng thống một lần. Trong đó ghi nhận quyền lực cao thuộc về Tổng thống, phân cho Thủ tướng đứng đầu Chính Phủ đảm bảo thi hành pháp luật trong nước, quyền Lập pháp do Quốc Hội và Thượng viện nắm giữ. Như vậy, chế độ pháp luật cũng như quản lý các mặt chính trị tại quốc gia Pháp được phân bổ khá là hợp lý gồm Tổng thống và Nghị viện, sau khi có sự thay đổi về chính trị BLDS Pháp cùng năm 2000 đã tách và phân thành ba quyển, tại Thiên V quyển thứ ba quy định cụ thể về chế độ tài sản vợ, chồng trong hôn nhân. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Năm 1804 văn bản có hiệu lực pháp luật cho đến năm 2000, Pháp chia BLDS thành ba quyển, trong đó Thiên V quyển thứ ba quy định về khế ước hôn nhân và các chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân. Căn cứ vào quy định thì chế độ tài sản gồm có “chế độ tài sản pháp định” và “chế độ tài sản ước định”. Pháp luật đưa ra chế độ tài sản cơ bản giúp vợ, chồng có thể tự do lựa chọn chế độ tài sản phù hợp với điều kiện, kinh tế của gia đình. Chế độ tài sản pháp định được hiểu như là một giải pháp hữu hiệu thay thế trong trường hợp vợ, chồng không thể thỏa thuận bằng hôn ước, hoặc vợ, chồng chọn lựa chế độ tài sản áp dụng đúng với mục đích. Điều 1400 BLDS Pháp quy định: “Chế độ tài sản chung được xác lập khi không có khế ước hôn nhân hoặc khi vợ chồng lựa chọn kết hôn theo chế độ tài sản chung” [14]. Tài sản ở đây là khối tài sản có và khối tài sản nợ. Xác lập tài sản chung vợ, chồng gồm: Tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có được từ công việc tự thân kiếm được, được thừa kế tặng cho chung hoặc người khác di tặng có thể là bố, mẹ, ông, bà…, một số tài sản khác không có minh chứng đó là tài sản riêng.
Tại Điều 1401 BLDS Pháp quy định: Tài sản công cộng gồm thu nhập chung vợ, chồng hoặc riêng, nguồn gốc công việc, khoản tiền hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng vợ, chồng tạo ra. Ngoài ra, bộ luật cũng khẳng định những tài sản vợ, chồng không thể chứng minh là chung hay riêng của vợ, chồng thì theo quy định pháp luật tài sản dù là động sản hay bất động sản đều xem là thu nhập chung của vợ, chồng. Những tài sản muốn chấm dứt phải có căn cứ làm chấm dứt theo quy định của BLDS Pháp trong đó nêu như thế nào là việc tách riêng tài sản chung giữa vợ và chồng. Điều 1443 BLDS Pháp quy định tách riêng (chia) tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Nếu xảy ra sự xáo trộn trong công việc làm ăn của vợ, chồng do ý thức và đạo đức quản lý và duy trì tài sản kém vào việc bảo vệ chế độ tài sản chung gây ảnh hưởng đến lợi ích của bên vợ hoặc chồng, thì một trong hai bên bị ảnh hưởng đến lợi ích có thể yêu cầu Tòa án cho tách riêng tài sản. Pháp luật cũng nêu rõ mọi trường hợp yêu cầu tách riêng tài sản bị vô hiệu. Nắm được tình hình, đưa tầm nhìn ra xa hơn dự liệu các rủi ro pháp lý xảy ra các nhà làm luật Pháp đưa ra hai trường: Một là, công việc không điều chỉnh như mong muốn có thể phát triển theo chiều đi lên hoặc chiều lợi ích đi xuống. Hoặc là xét đến trường hợp hai, do vợ chồng thiếu đạo đức, thực hiện hành vi phá tán tài sản, hoặc tự thực hiện giao dịch làm tổn hại tới tài sản chung. Hai trường hợp này không thể thỏa thuận thông qua văn bản, mà phải do Tòa án quyết định. Điều này khác với Luật HN&GĐ Việt Nam, Điều 38 Luật HN&GĐ 2014 đưa ra hai trường hợp giải quyết chia tài sản là tự thỏa thuận và lập văn bản, hoặc do Tòa án quyết định. Như vậy, so ngang với luật dân sự Pháp góc nhìn pháp luật Việt Nam có sự “cởi mở” hơn. Ngoài ra, Điều 1443 BLDS Pháp chỉ ra, chia tài sản chung chỉ có vợ hoặc chồng được đề xuất tách riêng tài sản, người thứ ba không có quyền yêu cầu.
Như vậy, pháp luật dân sự Pháp qua những phân tích nêu trên, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được nhà nước bảo hộ và chủ thể pháp luật hướng tới ở đây là vợ, chồng và thương nhân. Pháp luật ghi nhận những quyền trên nhằm hạn chế thấp nhất nhưng tranh chấp phát sinh trong tương lai. Trước tiên nâng cao ý thức trách nhiệm mỗi bên vợ chồng không phải tồn tại mỗi quyền mà còn có cả nghĩa vụ song hành. Tiếp nữa sự dịch chuyển tài sản của vợ chồng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người thứ ba có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nắm được tình hình người thứ ba thanh toán các khoản nợ, vay…Đây là cơ sở chứng minh rõ nguồn gốc tài sản trong trường hợp có tranh chấp giữa vợ và chồng và người có liên quan. Điều 1448 có nêu ra nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện. Tài sản được tách riêng vợ, chồng phải có trách nhiệm đóng góp các chi phí cho việc nuôi dạy con tùy vào khả năng của hai bên. Nếu hết tài sản sau khi tách riêng tài sản, thì bên còn lại trả hết các chi phí trên, Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Dù việc tách riêng tài sản chung được thực hiện với mục đích gì thì vợ chồng phải có ý thức thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đóng góp chăm lo cho đời sống chung của gia đình như chi phí sinh hoạt, chi phí học tập cho con cái, mua sắm các vật dụng thiết yếu, các nghĩa vụ với người thứ ba…Vợ, chồng sau khi nhận phần tài sản được chia cho dù số tài sản ít hay nhiều vợ, chồng đều phải chăm lo cho sự phát triển của con. Bởi vì, gia đình là điểm tựa tinh thần, vật chất chắp cánh cho những người con nuôi dưỡng ước mơ sau này. Ngoài ra, BLDS Pháp cũng quy định hậu quả pháp lý của việc tách riêng tài sản này. Chế độ tài sản chung của vợ chồng chấm dứt khi quyết định Tòa án có hiệu lực và chuyển sang chế độ tách tài sản riêng, tài sản của người nào sẽ thuộc sở hữu của người đó. Điều 1449 BLDS Pháp quy định: “Tách riêng tài sản do Tòa án quyết định có hiệu lực đặt vợ chồng dưới chế độ của các điều 1536”[14]. Đối với vấn đề tách riêng tài sản, các bên có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho bên thứ ba khi việc tách tài sản thành của riêng của vợ, chồng có hiệu lực pháp lý, khi được Tòa án tuyên bố. Quy định này cũng nhằm bên vợ, chồng không trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba.
- b) Pháp luật Dân sự và Thương mại Thái Lan 1996
Đông Nam Á có 11 nước thành viên, trong số đó có 10 nước trở thành thuộc địa bị các nước tư bản xâm chiếm, chỉ riêng Thái Lan quốc gia duy nhất không phải trải qua chế độ thuộc địa. Để có được sự thống nhất không lệ thuộc đó Thái Lan đã có những hiệp định ký kết với các nước tạo mối quan hệ thương mại song phương. Các hiệp định Thái Lan tham gia ký kết đã tạo sự thuận lợi cho quốc gia giao thương, ngoại giao với các nước phương Tây, nên văn hóa phương Tây là nền văn hóa mở, những nước tư bản này đi đầu về công nghệ, kĩ thuật việc được học hỏi, tiếp thu từ nền kinh tế lẫn pháp luật các nước sẽ giúp đất nước Thái Lan phát triển hơn so với các nước trong khu vực. Ngay từ khi sơ khai, khởi đầu đất nước Thái Lan hình thành phát triển xã hội tư duy pháp lý của đất nước cũng có phần nghiêng theo xu hướng Phương Tây, đặc biệt ảnh hưởng bởi pháp luật Châu Âu lục địa. Thế kỉ XIX, Thái Lan thấy được đất nước lớn mạnh phải xây dựng hệ thống văn bản pháp luật vững chắc nên đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp. Các nhà làm luật Thái tiếp thu triết lý pháp luật, tổ chức tòa án và tố tụng của pháp luật Châu Âu xem pháp luật Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Ý và Nhật Bản là những mô hình xây dựng pháp luật trong nước. Lần lượt các BLDS và Thương mại Thái Lan ra đời, đầu tiên phải kể đến bộ luật năm 1996, hơn một thập kỷ tồn tại những giá trị bộ luật mang lại trong đời sống người Thái hết sức lớn lao. Đặc biệt quy định về HN&GĐ ghi nhận từ Điều 1435 đến Điều 1598 Quyển 5 của Bộ luật là những quy định giúp nhân dân Thái Lan có thể định hình hôn nhân bao quát những vấn đề như thế nào. Do hệ tư tưởng ảnh hưởng một phần pháp luật Châu Âu nên quyền sở hữu ở Thái của vợ, chồng cũng điều chỉnh bằng hai phương thức: Theo hôn ước mà vợ, chồng lập ra trước khi cưới và theo quy định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước đó sẽ vô hiệu. TSC quy định gồm có “Sin Somros” và tài sản riêng “Sin Suan Tua”, tại Điều 1474 BLDS và Thương mại Thái Lan được xác định tài sản bao gồm: Tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, tài sản thông qua di chúc hoặc tặng cho được ghi nhận là tài sản chung, hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng, ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc nhưng vợ, chồng không chứng minh được tài sản đó thuộc về bên nào thì cũng được xem là tài sản chung.
Tại các Điều 1488, Điều 1484, Điều 1491, Điều 1598 BLDS Thương Mại Thái Lan đối với tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia thành bốn mục cụ thể: Thứ nhất, Một bên vợ, chồng phải có nghĩa vụ riêng với bên thứ ba về các nghĩa vụ thanh toán, vay nợ,…tuy nhiên những tài sản riêng trước đó không có hoặc không đủ để hoàn ứng và chi trả thì buộc vợ, chồng phải sử dụng khối tài sản chung. Thứ hai, trách nhiệm khi vợ, chồng được giao quản lý tài sản theo “Sin Somros” khi thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản chung theo hình thức này thì bên vợ, chồng đầu tiên pháp luật quy định bên có hành vi gây thiệt hại hoặc mất mát tài sản mà không đưa ra được lý do chính đáng, tiếp theo khi vợ chồng lâm vào tình trạng khó khăn nhưng không giúp đỡ, tiếp đó vợ, chồng lâm vào tình trạng nợ nần vượt quá giá trị tài sản chung đang có, cuối cùng thực hiện việc cản trở quản lý tài sản đồng nghĩa với việc vi phạm pháp luật. Thứ ba, vợ, chồng do làm ăn kinh doanh thua lỗ dẫn đến phải tuyên bố phá sản. Thứ tư, vợ, chồng bị tuyên mất năng lực hành vi, tuy nhiên xét về các mặt thì bên còn lại vợ, chồng không được trở thành người giám hộ bởi tranh chấp đang diễn giữa hai bên, trong trường hợp này bố, mẹ sẽ trở thành người giám hộ cho bên bị tuyên mất năng lực để cùng thực hiện đồng sở hữu tài sản. Trong trường hợp xảy ra vấn đề này bên vợ, chồng có thể yêu cầu Tòa án đưa ra quyết định tuyên bố phần tài sản chung cần chia. Tại Điều 1492 BLDS và Thương Mại Thái Lan cũng đưa ra được hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung cụ thể như phần tài sản khi đã tiến hành chia sẽ có sự thay đổi, những tài sản đã được chia cho bên vợ thì sẽ thuộc tài sản riêng của vợ và ngược lại tài sản chia cho chồng cũng vậy và những tài sản có được từ tài sản chung sẽ trở thành tài sản riêng của người đó, không ai được xâm phạm vào quyền lợi của hai bên. Và số tài sản được thừa kế, tặng cho chung khi chia cũng mặc nhiên biến thành tài sản riêng, ngoài ra những hoa lợi, lợi tức phát sinh cũng được xác nhận của bên được chia. Khẳng định lại, tài sản chung đã chia trong thời kỳ hôn nhân biến TSC vợ, chồng có được trong hôn nhân thành tài sản riêng của từng người, từ chế độ TSC thay thế bằng chế độ biệt sản. Pháp luật Thái Lan đưa ra Điều 1493 quy định sau khi tài sản được chia vợ, chồng cùng nhau đảm bảo trách nhiệm chi trả các chi tiêu của gia đình theo tỷ lệ tương ứng với số tài sản mà các bên được nhận. Đây là điểm tương đồng lớn của BLDS và Thương Mại Thái Lan với BLDS Pháp, khẳng định nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
So sánh bộ luật giữa hai nước cùng quy định về chế độ chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân một bên đại diện cho khu vực Châu Âu và một bên đại diện cho khu vực Châu Á, cả hai bộ luật đều mang lại những giá trị nhận thức cho luật gia các nước. Nói đến BLDS và Thương mại Thái Lan “Sin Somros” thì khôi phục chế độ tài sản vợ, chồng là điểm mới, Tòa án sẽ có lệnh hủy bỏ chia tài sản sau khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu và giải quyết bằng sự công nhận. Theo “Sin Somros” nếu vợ, chồng phản đối yêu cầu thì Tòa án không được ra quyết định hủy bỏ việc chia, trừ trường hợp “Sin Somros” tự chấm dứt. Với những tính chất, kết cấu của quy định pháp luật nêu trên BLDS và Thương mại Thái Lan có nhiều điểm hợp lý hơn so với Việt Nam, phải kể đến trường hợp chia TSC, hậu quả đối với gia đình và con, tuy nhiên nhìn nhận khách quan thì pháp luật các nước sử dụng dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội, Thái Lan áp dụng chế độ biệt sản sau khi chia TSC thì Việt Nam do không phù hợp nên đưa vào luật sẽ tạo ra phép đối nghịch. Xét đến BLDS Pháp, chế định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được xây dựng từ năm 1804 nhưng các quy định vẫn đáp ứng theo xu hướng của thời đại.
Tiểu kết chương I
Xây dựng một gia đình hạnh phúc không khó, nhưng làm thế nào để vợ, chồng cầm tay nhau lái con thuyền hôn nhân đến bến bờ hạnh phúc đây là cả một sự nổ lực, hi sinh của hai bên. Hôn nhân nhân hình thành vợ chồng bắt đầu phát sinh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân là sự gắn bó, đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình như bố, mẹ, con cái, anh, chị, em, khi có mối quan hệ liên kết giữa các thành viên trong gia đình lúc này để nuôi dưỡng các mối quan hệ phải có kinh tế mới đáp ứng được. Vợ, chồng bắt đầu tiềm kiếm cơ hội, công việc, phát triển hết khả năng tạo ra tài sản là tiền bằng sức lao động chân chính. Khi có tiền vợ, chồng bắt đầu đem đi mua bán một số tài sản khác phục vụ cuộc sống như đất đai, nhà, xe cộ và một số tài sản thiết yếu khác phục vụ đời sống vợ chồng. Khi chung sống và bước vào cuộc hôn nhân hợp pháp những quyết định mua bán, tặng, cho tài sản cho người thân hay bạn bè vợ, chồng đều phải thông qua nhau, không được tự ý đưa ra quyết định bởi số tài sản sau khi kết hôn đã trở thành tài sản chung. Để tạo sự thoải mái và ghi nhận công sức đóng góp vợ, chồng, pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng được quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Hôn nhân hạnh phúc được nhìn nhận dưới sự thoải mái, độc lập, tự do, tự quyết. Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Quy định Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng