Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định của pháp luật về giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Hôn nhân hợp pháp
Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HNGD có quy định tại Điều 2 như sau:
“Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp Luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
- Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-011987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
- Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp Luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”.
Như vậy, người đã có quan hệ hôn nhân hợp pháp là người thuộc một trong ba trường hợp sau:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HNGĐ 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ 2014). Nam nữ đủ điều kiện kết hôn đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật sẽ được công nhận có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
- Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn
Kế thừa quy định tại điểm c Khoản 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, nếu hai người chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/10987 mà hiện tại vẫn đang chung sống với nhau như vợ chồng thì vẫn coi là người đang có vợ có chồng mặc dù hai người chưa đang ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo hướng dẫn tại điểm c mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP, “Được coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Như vậy để tạo điều kiện cho các trường hợp đã xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/1/1987, ngày Luật HNGĐ năm 1986 có hiệu lực, UBND sẽ căn cứ vào thực tế để xác nhận những trường hợp này có quan hệ hôn nhân hay không.
- Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Ví dụ: Anh A sinh ngày 25-01-1996, chị B sinh ngày 10-01-1995. Ngày 08-01-2015, anh A và chị B đăng ký kết hôn. Như vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh A 19 tuổi còn chị B 18 tuổi, anh A chưa đủ điều kiện kết hôn nên việc kết hôn giữa anh A và chị B là trái pháp luật . Ngày 25-9-2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật . Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A và chị B đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25-012016, ngày anh A đủ tuổi kết hôn theo pháp luật .
Như vậy, pháp luật công nhận một người là đang có vợ có có chồng nếu người đó thỏa mãn cả hai điều kiện sau:
Điều kiện 1: Đã có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Điều kiện 2: Chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp Luật
- Một hôn nhân hợp pháp chỉ có thể chấm dứt trong hai trường hợp:
- Thứ nhất, đã có bản án hoặc quyết định của Tòa án công nhận hai vợ chồng đã ly hôn theo quy định của pháp luật ;
- Thứ hai, một trong hai bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án quyến bố là đã chết.
Vì vậy người có quan hệ hôn nhân hợp pháp mà quan hệ hôn nhân đó chưa chấm dứt theo các quy định của pháp luật được coi là người đang có vợ, có chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2. Các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một nguyên tắc chủ đạo và cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành. Nguyên tắc này bảo vệ quan hệ vợ chồng hợp pháp được pháp luật công nhận và nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến quan hệ này.
Tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014 quy định: Cấm“Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.
Qua quy định trên đây, chúng ta có thể thấy hành vi vi phạm quan hệ hôn nhân một vợ một chồng được tồn tại dưới hai dạng:
- Một là, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại;
- Hai là, người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại.
2.2.1. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại
Người đang có vợ có chồng tức là người này đang trong một mối quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo hộ. Như vậy, trong quan hệ này chỉ tồn tại một người chồng và một người vợ. Nếu một trong hai người đó muốn kết hôn với người khác thì phải chấm dứt quan hệ vợ chồng hiện tại. Bởi vì nếu người đó vẫn đang trong một quan hệ hôn nhân hợp pháp mà kết hôn với người khác thì sẽ rơi vào tình trạng “đa phu” hoặc “đa thê”. Đây là điều mà pháp luật đã đấu tranh để bác bỏ qua rất nhiều thời kì lịch sử của chúng ta. Có thể coi đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
2.2.2. Người đang có vợ có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng (khoản 7 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014). Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận; việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình (Điểm c mục 2).
So với hành vi kết hôn thì hành vi chung sống như vợ chồng khó xác định hơn vì không có cơ sở pháp lý để xác nhận mà phải căn cứ vào tình hình thực tế theo như hướng dẫn tại Thông tư.
Đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và vẫn đang chung sống với nhau mà một trong hai bên chung sống như vợ chồng với người khác. Trong quan hệ đầu tiên, mặc dù hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nhưng pháp luật vẫn ghi nhận đây là một quan hệ hôn nhân thực tế, được pháp luật bảo hộ như các quan hệ hôn nhân hợp pháp khác.
Đối với trường hợp chung sống như vợ chồng từ sau ngày 03/01/1987 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn mà một trong hai bên chung sống như vợ chồng với người khác. Trái với trường hợp trên, trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 03/01/1987 đến nay phải đăng ký kết hôn mới được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Do đó, nếu họ không đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian mà pháp luật quy định mà lại chung sống như vợ chồng với người khác thì bị coi là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Như vậy, người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng chung sống với người mà mình biết rõ là có vợ, có chồng là hành vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quan hệ hôn nhân hợp pháp của người đang có vợ, có chồng. Bên cạnh đó, hành vi “chung sống như vợ chồng” là hành vi bị xã hội lên án, vì nó vi phạm đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục và các quy chuẩn đạo đức của xã hội, gây ảnh hưởng đến gia đình của người khác, phá vỡ hạnh phúc hôn nhân của gia đình.
2.3. Các quy định pháp Luật hiện hành trong việc xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Như phân tích ở trên thì chúng ta có thể thấy những hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đều bị xã hội lên án và có thể bị điều chỉnh theo các quy định cụ thể như:
- Huỷ kết hôn trái pháp Luật theo quy định của Luật HNGĐ.
- Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
- Truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
2.3.1. Các quy định về huỷ kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 – quy định về điều kiện kết hôn thì trường hợp người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người khác hoặc ngược lại thì việc kết hôn này là trái pháp luật. Pháp luật chỉ công nhân một quan hệ hôn nhân hợp pháp, do vậy việc kết hôn sau khi đã có quan hệ hôn nhân hợp pháp là trái pháp luật và cần phải bị huỷ bỏ. Trong trường hợp này, Tòa án có quyền hủy kết hôn trái pháp Luật theo quy định của Luật HNGĐ và BLTTDS.
Theo tố tụng dân sự, về nguyên tắc Tòa án chỉ xét xử khi có đơn khởi kiện của cá nhân, tổ chức hoặc quyết định khỏi tố của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên đối với trường hợp “chung sống như vợ chồng trái pháp luật ” do không có giấy chứng nhận kết hôn nên Tòa án không thể tuyên hủy kết hôn trái pháp luật. Trong Luật HNGĐ năm 2014 không có quy định nào về quyền yêu cầu và xử lý các trường hợp chung sống như vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
2.3.1.1. Nguyên tắc chung khi hủy kết hôn trái pháp luật
Thứ nhất, xử lý kết hôn trái pháp luật nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật. Khoản 3 Điều 5 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật . Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình”. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được coi là hành vi phá vỡ quan hệ gia đình đang được pháp luật bảo vệ và có khả năng xâm phạm đến các chủ thể khác trong xã hội. Việc hủy kết hôn trái pháp luật là hoạt động sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc các chủ thể chấm dứt hôn nhân trái pháp luật. Vì vậy việc hủy kết hôn trái pháp luật phải được thực hiện theo đúng quy định của Luật HNGĐ và BLTTDS. Thẩm quyền, trình tự thủ tục, căn cứ, hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật đều phải áp dụng trên cơ sở các quy định của luật hiện hành. Một quyết định hủy kết hôn trái pháp luật mà vi phạm pháp luật về nội dung hoặc hình thức đều không có hiệu lực thi hành trên thực tế.
Thứ hai, trong quá trình giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em. Bởi đây là những chủ thể gặp nhiều ảnh hưởng nhất sau khi quan hệ hôn nhân gia đình bị chấm dứt. Đây là điều phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, thể hiện tính nhân đạo, sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức điều chỉnh của pháp luật.
Thứ ba, không phải mọi trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đều bị xử hủy mà sẽ tồn tại những ngoại lệ. Ngoại lệ đó là việc công nhận hôn nhân hợp pháp đối với trường hợp: cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ, có chồng ra miền Bắc tập kết và lấy vợ lấy chồng ở miền Bắc. Trong trường hợp này, mặc dù quan hệ hôn nhân sau là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng nhưng do điều kiện, hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giở nên vẫn công nhận quan hệ hôn nhân sau là hợp pháp.
2.3.1.2. Quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp Luật
Khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp Luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp Luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
- Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật ;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật ”.
Việc kết hôn trái pháp luật không những vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính những người kết hôn, mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của người khác như vợ, chồng, con, đồng thời ảnh hưởng tới lợi ích xã hội. Vì vậy để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình và xã hội, pháp luật quy định người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật rất rộng.
Cá nhân có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật bao gồm: vợ, chồng của người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật. Đây đều là những người có quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm hại do việc kết hôn trái pháp luật .
Bên cạnh đó, các chủ thể khác như: cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ cũng có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật cũng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức nói trên yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Quy định này nhằm phát huy vai trò của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện, đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo mọi hành vi trái pháp luật đều bị phát hiện và xử lý nghiêm minh. Bởi thực tế, nhiều trường hợp người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người khác không khởi kiện vì muốn duy trì quan hệ pháp luật hoặc cá nhân họ không biết họ có quyền yêu cầu nên không yêu cầu.
2.3.1.3. Cơ quan có thẩm quyền xử lý huỷ kết hôn trái pháp luật
Căn cứ Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-VKSNDTCTANDTC-BTP đã có quy định rõ về thẩm quyền của cơ quan giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật như sau:
Truờng hợp nam nữ có đăng kí kết hôn với nhau:
- Nếu việc đăng ký kết hôn đúng cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Nếu việc đăng ký kết hôn không đúng cơ quan thẩm quyền (ví dụ: kết hôn thuộc thẩm quyền của cơ quan cấp huyện mà lại thực hiện tại cấp xã) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ, đồng thời hủy giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý.
Truờng hợp nam nữ chung sống như vợ chồng với nhau mà không có đăng kí kết hôn:
Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì tòa án thụ lý giải quyết và tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.
2.3.1.4. Xử lý yêu cầu của việc huỷ kết hôn trái pháp luật Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP quy định rõ về nội dung yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật như sau:
- Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân để quyết định.
- Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:
Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.
Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn (chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân trước đó) thì thực hiện như sau:
Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;
Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954 đã có vợ có chồng ở miền Nam mà lấy vợ lấy chồng ở miền Bắc có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22 tháng 2 năm 1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác. Theo đó, người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp lại kết hôn với người khác nhưng không bị coi là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, lần kết hôn sau không bị coi là kết hôn trái pháp luật. Do đó không nhất thiết phải xử lý việc kết hôn sau mà tùy trường hợp, khi có yêu cầu của các đương sự, Tòa án có thể giải quyết ly hôn nếu đương sự muốn chấm dứt hôn nhân. Trong trường hợp người vợ hoặc người chồng ở miền Nam yêu cầu hủy việc kết hôn của người chồng hoặc người vợ mình ở miền Bắc thì Tòa án cần giải thích rõ cho họ thấy, do điều kiện lịch sử đất nước dẫn đến tình trạng này và khuyên họ nên rút đơn. Pháp luật thừa nhận cả hai quan hệ hôn nhân trong trường hợp này đều là hợp pháp không vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
2.3.1.5. Trình tự, thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật .
Cơ quan có thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật là Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 39 BLTTDS năm 2015. Đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì cơ quan có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật được tiến hành theo thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định tại BLTTDS năm 2015.
Trước hết, chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật phải nộp hồ sơ yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP):
- Đơn yêu cầu
- Giấy chứng nhận kết hôn hoặc các giấy tờ tài liệu khác chứng minh đã đăng ký kết hôn.
- Tài liệu chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
- Trường hợp vợ chồng có đăng ký kết hôn không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn do bị thất lạc thì phải có xác nhận của UBND xã đã cấp giấy chứng nhận kết hôn.
Sau khi nhận được hồ sơ Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu của các đương sự.
- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày.
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì Thẩm phán tiến hành thụ lý giải quyết việc dân sự.
- Tòa án thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí.
Nếu xét thấy đã đầy đủ tài liệu chứng cứ cần thiết, không thuộc trường hợp đình chỉ xét đơn yêu cầu hoặc trả lại đơn yêu cầu thì Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp. Tòa sẽ căn cứ vào các quy định của pháp Luật để giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp Luật của các đương sự.
Sau khi Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Tòa án trên một cấp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Hội đồng phúc thẩm có quyền giữ nguyên hoặc sửa hoặc hủy quyết định của Tòa sơ thẩm, hoặc đình chỉ giải quyết việc dân sự. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp Luật kể từ ngày ra quyết định.
2.3.1.5. Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp Luật Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
- Về quan hệ nhân thân
Theo khoản 1 Điều 12 Luật HNGĐ năm 2014 khi việc kết hôn trái pháp Luật bị hủy, hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. Như vậy, sau khi quyết định hủy kết hôn trái pháp luật của Tòa án có hiệu lực thi hành, quan hệ hôn nhân giữa hai bên buộc phải chấm dứt. Hai bên chấm dứt tất cả các quyền và nghĩa vụ nhân thân: thương yêu, chăm sóc cho nhau, chung thủy với nhau …
- Về quan hệ tài sản:
Khoản 3 Điều 12 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này”. Cụ thể Điều 16 quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ Luật dân sự và các quy định khác của pháp Luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.
Như vậy, Nhà nước không công nhân quan hệ tài sản của hai bên trong thời kỳ hôn nhân trái pháp luật . Tài sản mỗi bên làm ra vẫn là tải sản riêng của người đó, không được tính là tài sản chung hợp nhất và không chia như trong trường hợp ly hôn. Quan hệ tài sản cũng như nghĩa vụ hợp đồng được ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận của các bên. Đây là quy định phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự – tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa sẽ áp dụng quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật để giải quyết quan hệ tài sản.
Về nguyên tắc, tài sản riêng của mỗi bên vẫn thuộc về người đó nếu chứng minh được quyền sở hữu đối với tài sản, nếu không chứng minh được thì tài sản đó được coi là tài sản chung và chia theo quy định của pháp luật. Khi chia tài sản chung Tòa án phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và con; công việc nôi trợ và các công việc khác để duy trì đời sống chung được coi là lao động có thu nhập.
Đây là quy định rất tiến bộ và nhân văn của Luật HNGĐ năm 2014. Trước đây người phụ nữ ở nhà làm các công việc nội trợ và chăm sóc con cái thường rất thiệt thòi, vì họ không trực tiếp tạo ra tài sản trong khoảng thời gian chung sống như vợ chồng và bị coi là không có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng nên thường không được chia tài sản chung. Quy định này đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của Luật HNGĐ năm 2000, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Quy định về giải quyết quan hệ tài sản khi hủy kết hôn trái pháp Luật thể hiện thái độ cứng rắn của Nhà nước. Khi hai bên chung sống như vợ chồng, cùng tạo ra các tài sản và các nghĩa vụ hợp đồng khác nhưng lại không được công nhận là tài sản chung hợp nhất sẽ dẫn đến nhiều trường hợp một trong hai bên chịu thiệt thòi rất lớn khi hủy kết hôn trái pháp luật, mà đa phần là người phụ nữ khi có khoảng thời gian ở nhà sinh đẻ và chăm sóc gia đình. Vì vậy, trước khi bước vào một cuộc hôn nhân, các bên, đặc biệt là người phụ nữ phải tìm hiểu kỹ về điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng mà mình chuẩn bị kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng.
- Về quan hệ cha, mẹ, con
Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ con phát sinh dựa trên sự kiện sinh đẻ (huyết thống) hoặc nuôi con nuôi. Vì vậy, việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa vợ và chồng không làm ảnh hưởng, không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con. Sau khi hủy kết hôn trái pháp luật, hai người tuy không còn là vợ chồng nhưng vẫn là cha mẹ của đứa trẻ, vẫn có những quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, con được thực hiện giống như trong trường hợp ly hôn.
Sau khi hủy kết hôn trái pháp luật, cha mẹ vẫn có các quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (khoản 1 Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014).
Hai bên thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con (khoản 2, 3 Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014).
Mặt khác, người không trực tiếp nuôi con vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con như: nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con phải tạo điều kiện cho bên kia thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con. Nếu cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó (Điều 82 Luật HNGĐ năm 2014).
Luật cũng linh hoạt khi cho phép cha, mẹ có thể thỏa thuận về việc thay đỏi người trực tiếp nuôi con căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh thực tế của hai bên, trên cơ sở đảm bảo tối đa lợi ích của người con. Ngoài cha, mẹ thì người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84 Luật HNGĐ năm 2014).
2.3.2. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hôn nhân một vợ một chồng Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Ngày 15/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã gồm 9 chương, 91 điều. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2020 và thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/5/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ.
Theo đó, tại khoản 1 Điều 48 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng; vi phạm quy định về ly hôn sẽ phải chịu hình phạt là phạt tiền như sau:
“Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”
Đến Điều 59 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thì hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ có mức xử phạt như sau: Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
Phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.
- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Như vậy pháp Luật hành chính đã bổ sung cho pháp Luật hôn nhân gia đình khi quy định xử phạt hành chính đối với các trường hợp người đang có vợ, có chống mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại. Đồng thời, mức phạt mới hiện nay đã cao hơn so với mức phạt trước đây được quy định tại nghị định cũ. Tuy nhiên mức phạt trên tương đối thấp so với điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay. Việc quy định mức phạt thấp khiến cho việc xử phạt không có tính răn đe với đối tượng vi phạm và các chủ thể khác trong xã hội, do đó việc ngăn chặn các hành vi vi phạm hôn nhân một vợ một chồng trên thực tế không đạt được hiệu quả cao.
2.3.3. Xử lý theo pháp Luật hình sự:
Căn cứ theo quy định tại Điều 182 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng, chúng ta có thể xác định được chế tài hình sự được áp dụng khi hành vi đó là nghiêm trọng và đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Theo đó, người có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như đã nêu có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc vào một trong hai trường hợp:
- Việc vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng làm cho một hoặc cả hai bên phải ly hôn.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng mà vẫn tiếp tục vi phạm.
Đối với trường hợp có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng mà thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.
- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp Luật mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Như vậy, theo quy định này, tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả để lại mà cá nhân có thể bị xử lý hình sự về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo các khung hình phạt khác nhau
Kết luận chương 2
Có thể thấy thông qua việc phân tích Luật thực định, tác giả đã làm rõ được các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đồng thời phân tích và chỉ ra các hệ quả pháp lý của việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Đồng thời cũng đã nêu rõ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định pháp Luật hiện hành. Việc xử lý hành vi vi phạm hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của pháp Luật hành chính và pháp Luật hình sự cũng đã được tác giả đưa vào để mang lại một cái nhìn khách quan và tổng thể hơn đối với các quy định hiện nay trong vấn đề xử lý hành vi vi phạm hôn nhân một vợ, một chồng. Khóa luận: Giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
