Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: hực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và một số giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

3.1.1. Những thành tựu đạt được

Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21-2-2005, của Ban Bí thư “Về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đã khẳng định: Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 28-6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam đã khẳng định vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội và sự quan tâm của xã hội đối với gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Biểu 1. Sắp xếp thứ tự ưu tiên trong cuộc sống theo giới tính

Nhìn vào biểu đồ trên chúng ta có thể thấy: Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị.

Khái niệm gia đình ở đây là mô hình gia đình truyền thống được xây dựng trên cơ sở hôn nhân.

Để bảo vệ sự bền vững của gia đình thì các nguyên tắc pháp luật chủ đạo về hôn  nhân gia đình là không thể thiếu. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng kể từ lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật HNGĐ năm 1959 và cho đến thời điểm hiện tại đã đi vào đời sống xã hội được 64 năm. Từ một quy định của pháp luật, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành nguyên tắc của cuộc sống, được mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện. Tập tục “đa thê” đã dần bị loại bỏ khỏi đời sống. Đồng thời những hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị xã hội lên án gay gắt và bài xích mạnh mẽ do trái với các quy chuẩn đạo đức, các truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Bên cạnh đó, các tổ chức cơ quan đoàn thể xã hội như: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tại các địa phương, UBND các cấp, các sở, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em ở địa phương đã góp phần việc tuyên truyền, giáo dục ý thức cho người dân để người dân có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, vai trò của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Công an cùng với chính quyền địa phương thực hiện tốt chức năng quản lý dân số trong địa bàn của mình. Các tổ chức, cơ quan phối hợp nhịp nhàng trong công tác điều tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp Luật .

UBND xã (phường) đang làm tốt nhiệm vụ của mình trong việc đăng ký kết hôn. Những cặp đôi đăng ký kết hôn tại UBND được cán bộ hộ tịch giải thích cặn kẽ, rõ ràng các quy định của pháp luật liên quan, hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ đăng ký kết hôn và các thủ tục đăng ký kết hôn. Để giảm thiểu gánh nặng cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý, Nhà nước đã đề xuất và cho triển khai áp dụng hệ thống thông tin quản lý hộ tịch điện tử trên toàn quốc. Hệ thống không chỉ giúp giảm thiểu thời gian, công sức và tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, mà còn giúp quản lý tốt hơn các dữ liệu về hộ tịch trong đó có các dữ liệu về đăng ký kết hôn, giảm thiểu các trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm hôn nhân một vợ một chồng.

Không chỉ vậy, các văn bản pháp luật liên tục được cập nhập, thay đổi để phù hợp với các bối cảnh kinh tế -xã hội của nước ta trong các thời kỳ. Những văn bản pháp luật hôn nhân gia đình thể hiện chủ trương của Đảng ta trong việc xây dựng chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa. Ngoài việc Nhà nước đã ban hành Luật HNGĐ năm 2014 trên cơ sở kế thừa những giá trị cốt lõi của Luật HNGĐ năm 2000, đồng thời khắc phục được những tồn tại, bất cập trong quá trình thực thi, áp dụng pháp luật. Song song với đó, Nhà nước cũng ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng Luật HNGĐ năm 2014 để hoàn thiện cơ sở pháp lý về hôn nhân gia đình, tạo sự thống nhất trọng áp dụng pháp luật. Bên cạnh chế tài xử lý của Luật HNGĐ với những trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, các thiết chế như xử phạt vi phạm hành chính và các hình phạt của bộ Luật hình sự cũng được đổi mới để phù hợp hơn. Cùng với Luật HNGĐ, các thiết chế này tạo thành một hành lang pháp lý nhằm giải quyết một cách triệt để các vi phạm trên thực tế, xử lý đúng người, đúng tội, có ý nghĩa giáo dục, răn đe đối với các chủ thể trong xã hội.

Công tác tư pháp của Tòa án cũng đạt được một số thành tựu nhất định. Các yêu cầu về hủy kết hôn trái pháp luật đều được Tòa án các cấp giải quyết một cách kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích chính các đáng của các bên. Trong những năm qua, bằng sự nỗ lực của mình, Tòa án đã giảm thiểu tối đa các án vi phạm về thủ tục tố tụng thông qua việc tổ chức tốt các phiên tòa rút kinh nghiệm. Chất lượng đội ngũ thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân các cấp liên tục được trau dổi, nâng cao. Việc tranh tụng tại phiên tòa ngày càng được quan tâm nên chất lượng giải quyết các vụ việc được nâng lên đáng kể.

Hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số các vụ hủy kết hôn trái pháp luật. Trong tổng số các bản án Tòa án đã công bố năm 2020-2021 có 73 bản án, quyết định về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật chỉ có 8 bản án, quyết định về hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng, còn lại phần lớn là hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn. Việc vi phạm hôn nhân một vợ một chồng cũng chỉ tập trung tại một số tỉnh miền núi, nơi cư trú của các dân tộc thiểu số. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2. Những hạn chế còn tồn tại

Bên cạnh những điều tích cực đã nói trên, thực tiễn việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn gặp phải một số khó khăn.

3.1.2.1. Hạn chế về mặt thực tiễn

  1. a) Tình trạng ngoại tình trong hôn nhân

Bảng: Lý do ly hôn của các cặp vợ chồng

 Lý do ly hôn

Lý do của chồng  Lý do của vợ Tổng
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Vợ/chồng có bạn tình 58 13,2 108 24,7 166 37,9
Chi tiêu không thống nhất 12 2,7 77 17,6 89 20,3
Rượu bia, karaoke 6 1,4 70 16,0 76 17,4
Cờ bạc, đánh đề, trộm cắp 6 1,4 64 14,6 70 16,0
Ghen tuông 20 4,6 40 9,1 60 13,7
Đối xử với gia đình hai bên 14 3,2 36 8,2 50 11,4
Đóng góp kinh tế không đầy đủ 7 1,6 43 9,8 50 11,4
Con cái 4 0,9 22 5,0 26 5,9
Đồng nghiệp, công việc 3 0,7 12 2,7 15 3,4
Sống xa cách 3 0,7 10 2,3 13 3,0
Đời sống tình dục 3 0,7 7 1,6 10 2,3
Bệnh tật, sức khỏe 6 1,4 4 0,9 10 2,3
Tổng 438   438   438  

Nhìn qua biểu đồ nói trên, chúng ta có thể thấy lý do ly hôn chiếm tỉ trọng lớn nhất là do Vợ/chồng có bạn tình (chiếm đến gần 38% số lượng ly hôn). Điều này cho thấy chung thủy vốn là một giá trị truyền thống được đề cao trong mối quan hệ hôn nhân ở Việt Nam. Bởi thế, việc ngoại tình dường như là điều khó có thể tha thứ. Một số nghiên cứu cho thấy phần lớn mọi người có ý kiến rằng ly hôn là điều có thể chấp nhận được khi vợ hoặc chồng ngoại tình. Khi có vấn đề ngoại tình xảy ra thì vợ, chồng khó có thể tha thứ cho nhau và rất có nguy cơ dẫn đến ly hôn. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Trong số các giá trị đạo đức và tình cảm của gia đình thì giá trị chung thuỷ được coi trọng rất cao. Theo kết quả khảo sát cho thấy 41,6% coi chung thuỷ là “quan trọng” và 56,7% coi chung thuỷ là “rất quan trọng” trong hôn nhân. Điều này cho thấy chung thuỷ vẫn được coi là thước đo cho sự bền vững của gia đình hiện đại.

Tuy nhiên, hành vi ngoại tình hiện nay vẫn diễn ra rất phổ biến. Ngoại tình là tình trạng những người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp chung sống như vợ chồng với người khác. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, tình trạng ngoài tình ngày càng tăng, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Khảo sát được Viện nghiên cứu phát triển xã hội công bố vào năm 2010 cho thấy, tỷ lệ nam giới có vợ đã hoặc đang quan hệ tình dục ngoài hôn nhân lên đến 43%. Gần 300 nam giới, từ 15 đến 60 tuổi, tại 4 tỉnh, thành là Hà Nội, Hà Tây (cũ), TP HCM và Cần Thơ tham gia nghiên cứu này. Không chỉ nam giới, ngoại tình cũng xảy ra ở cả nữ giới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ngoại tình, nguyên nhân trực tiếp là để thỏa mãn nhu cầu tình dục của con người, nguyên nhân gián tiếp là do tác động tiếu cực của nền kinh tế thị trường, sự du nhập những mặt tối của nền văn hóa nước ngoài. Hành vi ngoại tình có ảnh hưởng xấu tới cuộc sống hôn nhân gia đình và tới xã hội. Ngoại tình không chỉ làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, mà còn phá vỡ những giá trị đạo đức tốt, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tuy nhiên xử lý về vấn đề này thì hiện nay nhiều người lựa chọn nhiều phương thức xử lý khác nhau như: li thân, bôi nhọ danh dự trên các trang mạng xã hội bằng cách viết bài hoặc đăng clip, đánh ghen, thậm chí có nhiều người còn chọn nhiều hành vi cực đoan hơn như: đánh người gây thương tích, giết người, tự tử… Tất cả những việc này đều để lại những hệ luỵ xấu cho bản thân và gia đình, thậm chí ảnh hưởng đến cả con cái của những người này.

  • b) Về quan hệ “đa thê”, “đa phu”

Dù xã hội và pháp luật đều đang lên án chế độ cũ còn để lại là chế độ đa thê và chế độ đa phu tuy nhiên ở một số nơi miền biên giới hoặc vùng núi xa xôi thì tình trạng này vẫn còn đang tồn tại.

Nằm cách trung tâm huyện Ðiện Biên Ðông, tỉnh Ðiện Biên chỉ khoảng 30km, xã vùng cao Xa Dung nổi tiếng khắp vùng vì đàn ông có nhiều vợ. Mục đích của việc nhiều vợ là để có con trai để nối dõi hoặc sinh nhiều con để làm rẫy, làm nương.

Theo trưởng tộc Di – tộc trưởng của một dòng họ ở đây – người đàn ông có 3 vợ và 8 đứa con thì đa thê là phong tục của người Mông từ rất lâu đời. Hiện, ở xã Xa Dung có hàng chục người đàn ông lấy nhiều vợ, tập trung vào những người từ 40 tuổi trở lên. Trước câu hỏi của phóng viên cho rằng đó là những “câu chuyện cũ”, còn bây giờ là thời văn minh, pháp luật đã quy định một vợ, một chồng, ông Di lý sự: “Mình là tộc trưởng nên phải có con trai mà. Vợ cả chỉ có hai đứa con gái thì phải kéo thêm vợ chứ”. Đằng sau những “cái lý của người Mông”, tập tục lạc hậu về hôn nhân đã ăn sâu vào trong tiềm thức của họ “kết hợp” với nhiều yếu tố đặc thù về kinh tế – xã hội trên địa bàn đã khiến cho xã Xa Dung trở thành một “vương quốc đa thê”.

Cán bộ tư pháp xã Xa Dung – Lầu A Xá, ông cho biết: “Ây dà! Người dân vẫn biết lấy hai vợ là vi phạm pháp luật. Xã biết cả, nhưng không làm gì được. Gọi lên ủy ban “góp ý” thì họ bảo từ bao đời nay, người Mông đã có phong tục như vậy. Bây giờ, biết là pháp luật không cho phép nhưng lỡ thương nhau nên vẫn phải lấy thêm về. Phạt tiền thì họ vui vẻ nộp rồi sau đó, vẫn về cưới vợ hai, vợ ba, bất chấp nhiều đứa trẻ ra đời không có giấy khai sinh, bất chấp chính quyền xã tốn nhiều công sức vận động, thuyết phục bãi bỏ…”. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Cũng theo ông Xá, tập tục “đa thê” không những chỉ có ở xã Xa Dung mà còn tồn tại ở nhiều bản làng khác trong huyện Điện Biên Đông. Mặc dù cán bộ tư pháp hàng tháng, hàng quý đều tổ chức đi tuyên truyền, vận động bà con từ bỏ tập tục này, các trưởng thôn đều được phổ biến kiến thức về Luật Hôn nhân và gia đình nhưng thay đổi một tập tục lâu đời không dễ, nhất là khi đồng bào nhận thức còn hạn chế.

Hay như ở xã La Ngâu, La Dạ ở Bình Thuận vẫn tồn tại chế độ đa phu, đa thê. Theo phong tục nơi đây thì đàn ông được phép lấy nhiều vợ, phụ nữ có thể lấy nhiều chồng, họ ăn chung nhà, ngủ chung giường, không ghen tuông… Ai muốn cưới thêm vợ, lấy thêm chồng cứ về thưa với vợ/chồng lớn là được.

Trường hợp đa thê là trường hợp của ông Nguyễn Văn Ngay (63 tuổi) có hai người vợ. Năm 1965, ông Ngay cưới bà Hảo (68 tuổi), dưới bà Hảo có một cô em gái tên là Háo (67 tuổi). Sau khi cưới bà Hảo ông Ngay nhận thấy bà Háo sống một mình buồn nên đã ngỏ lời với bà Háo. Ông Ngay về xin phép vợ mình là bà Hảo và được chấp nhận nên ông lấy tiếp bà Háo làm vợ, Từ đó bà Hảo với bà Háo về sống chung với ông Ngay.

Còn trường hợp đa phu tại đây là trường hợp của bà Phen cũng ở trong làng; bà Phen cuới ông Níp về làm dâu nhà ông Níp. Khi về làm dâu, bà Phen thấy em trai ông Níp đẹp trai lại chưa có vợ nên đã ngỏ lời lấy cả người em của ông Níp. Ông Níp đồng ý và cả nhà giết heo ăn mừng. Bà Phen ăn ở chính với ông Níp nhưng khi nào ông Níp đi vắng thì ăn ở với em trai của ông Níp. Sau đó, bà Phen mang bầu và sinh ra một đứa con gái nhưng không biết đó là con của ai.

Điều ngạc nhiên hơn là tập tục đa thê không chỉ tồn tại ở các bản làng lạc hậu, xa xôi mà còn tồn tại ngay trong thành phố hiện đại. Cách trung tâm TP.Hà Nội gần 30km về hướng đông – nam, xã Vân Côn (huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội) được mệnh danh là “làng đa thê” (làng nhiều vợ). Chả mấy ai trong ngôi làng này lấy một vợ. Phần lớn đôi, ba vợ, cá biệt có người… 10 vợ. Lạ là việc vi phạm pháp luật như thế vẫn ngang nhiên tồn tại giữa thủ đô. Tại đây, việc đàn ông lấy nhiều vợ được coi là “rất bình thường”. Người dân ở quanh đây cho biết những người đàn ông 50-60 tuổi được vợ cả mang lễ đi hỏi vợ hai ở trong làng trên dưới cũng chục người. Những người trẻ thì không thể cưới hỏi đàng hoàng như trước nữa vì pháp Luật không cho phép nhưng chuyện ngoại tình, không báo cho chính quyền cũng không phải hiếm. Như gia đình ông S, cách đây hơn chục năm vợ cả cũng đi hỏi vợ hai cho ông. Lúc xã viết giấy triệu tập ông S lên để hỏi về việc vi phạm chế độ một vợ một chồng, năm lần bảy lượt bà vợ cả đều lên xã thay chồng. Xã bảo: “Ơ hay, tôi gọi ông ấy chứ có gọi bà đâu” thì bà ấy cười: “Các bác cứ phạt cháu, cháu đi cưới vợ cho ông ấy chứ ông ấy có tự cưới đâu”. Thế là xã cũng “bó tay”. Chị H – Phó ban Dân số kế hoạch hóa gia đình xã Vân Côn trả lời nguyên nhân đàn ông ở đây lấy nhiều vợ là do quan niệm cổ hủ về con trai nối dõi tông đường. Kể cả những cán bộ đảng viên còn sinh con thứ ba, thứ tư. Đàn ông lấy nhiều vợ nhưng UBND xã không làm đăng ký kết hôn cho họ, nên không có gì làm chứng cứ. Người dân họ coi đây là lẽ thường tình nên không có chuyện tố giác, nếu bị phạt, họ vui vẻ nộp phạt xong lại vẫn về ở với nhau. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

  • c) Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Như vậy, mặc dù ở những xã trên vẫn liên tục xảy ra các vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng lại ít xảy ra các trường hợp có yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật. Người dân ở đây họ xem việc đàn ông lấy nhiều vợ là chuyện rất bình thường vì nhà nào cũng thế, trong xã có cả chục người vi phạm. Vì là “bình thường” nên họ không tố giác, Tòa không thể xem xét giải quyết nếu không có đơn yêu cầu. Chính quyền địa phương những xã trên thường chỉ xử phạt hành chính các vi phạm, nhưng vì mức phạt Luật quy định còn thấp nên không có giá trị trừng phạt, răn đe người vi phạm. Thêm vào đó việc phạt cũng không giải quyết triệt để được vấn đề, không thể buộc những cặp nam nữ vi phạm hôn nhân một vợ một chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân bất hợp pháp

3.1.2.2. Hạn chế về mặt pháp luật 

Thứ nhất, hiện nay pháp luật quy định về chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật hiện nay khá rộng, bao gồm cả cá nhân và các cơ quan tổ chức. Nhưng có một số chủ thể như: cha, mẹ, con, người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của vợ, chồng người kết hôn trái pháp luật lại không có quyền này. Thực tế những chủ thể vi phạm hôn nhân một vợ một chồng họ không yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật vì quyết định của Tòa sẽ buộc họ phải chấm dứt quan hệ kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng trái pháp Luật, vì bảo vệ cho con cái, cha mẹ mình mà cha, mẹ, con của những người kết hôn trái pháp luật cũng không yêu cầu Tòa án hủy. Mà chỉ những người có quyền và lợi ích bị xâm phạm trực tiếp, vợ hoặc chồng của người kết hôn trái pháp Luật mới thường là người đưa ra yêu cầu hủy, nhưng chỉ quy định những chủ thể này có quyền yêu cầu là không đủ. Vì nhiều nguyên nhân như sợ dư luận, điều tiếng xã hội mà họ không thực hiện quyền yêu cầu của mình, khiến cho các quan hệ hôn nhân trái pháp luật vẫn tiếp tục tồn tại. Do đó, cần bổ sung thêm các chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật .

Thứ hai, công tác hộ tịch tư pháp hiện nay còn gặp nhiều vấn đề.

Vụ án thứ nhất: Tại Bản án 01/2017/HNGĐ-ST ngày 29/08/2017 của Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình về việc huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Đức T (sinh năm 1964) và chị Nguyễn Thu H (sinh năm 1971).

Theo đó, anh Nguyễn Đức T (sinh năm 1964) và chị Nguyễn Thị T có đăng kí kết hôn tại UBND xã A, huyện M, tỉnh Hà Tây vào tháng 9/1985 và đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong thời kì hôn nhân hợp pháp anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị T thì vào ngày 10/7/1996 anh Nguyễn Đức T đã làm thủ tục đăng kí kết hôn với chị Nguyễn Thu H tại UBND xã K. Việc anh T kết hôn với chị H trong khi đang tồn tại hôn nhân hợp pháp là kết hôn trái pháp luật. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Qua quá trình xác minh thì UBND xã K cho biết ông Nguyễn Văn T là Phó chủ tịch UBND là người kí giấy Đăng kí kết hôn cho anh T và chị H. Do có sự quen biết nên anh Nguyễn Văn T đã không xác minh tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Đức T dẫn đến tình trạng đăng kí hôn nhân trái pháp luật.

Sau khi xem xét vụ án thì Toà án đã quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thu H.

Vụ án thứ hai: Bản án 30/2022/HNGĐ-ST ngày 12/07/2022 của Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp nuôi con khi huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Châu Thị Tuyết Tr (sinh năm 1982) và anh Thạch H (sinh năm 1979).

Theo đó, chị Châu Thị Tuyết Tr và anh Thạch H có tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng kí kết hô tại UBND xã L ngày 27/2/2018. Tuy nhiên, vào ngày 10/12/2002 chị Tr có đăng kí kết hôn với người chồng là anh Cao Văn D chưa làm thủ tục ly hôn.

Qua xác minh, ông Huỳnh Anh T – Chủ tịch UBND xã – người đại diện theo pháp luật của UBND xã L, huyện Tr, tỉnh Trà Vinh có ý kiến: Ngày 27/02/2018, chị Châu Thị Tuyết Tr và anh Thạch H có đến UBND xã làm thủ tục đăng kí kết hôn, do đương sự khai không trung thực, không cung cấp đủ giấy tờ thủ tục. UBND xã đã không xác minh tình trạng hôn nhân, không kiểm tra đầy đủ giấy tờ thủ tục theo quy định dẫn đến việc cấp giấy Chứng nhận kết hôn ngày 27/02/2018 trong khi giấy Chứng nhận kết hôn ngày 10/12/2002 vẫn còn tồn tại và chưa được cơ quan có thẩm quyền xử lý cho quyết định ly hôn.

Sau khi xem xét vụ án thì Toà án đã ra quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Châu Thị Tuyết Tr và anh Thạch H, hai bên phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Vụ án thứ ba: Bản án 19/2022/HNGĐ-ST ngày 03/06/2022 của Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên về huỷ kết hôn trái pháp luật, tranh chấp nuôi con chung.

Trong vụ án này thì các Quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa các đương sự đã bị làm giả và đưa cho UBND để UBND cho phép thực hiện việc kết hôn mới.

Quyết định của vụ án này cũng dẫn đến kết quả là huỷ kết hôn trái pháp luật.

Qua một vài vụ việc tiêu biểu có thể thấy rõ nhiều trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là do các bên đương sự có sự che giấu về quan hệ hôn nhân hợp pháp đang có để thực hiện việc kết hôn với người khác. Trong đó cũng có sự tắc trách, lơ là của nhiều cán bộ tư pháp cấp xã trong việc bỏ sót hoặc không xác minh tình trạng hôn nhân kĩ càng của các bên đương sự, dẫn đến việc để cho các bên đương sự đã kết hôn trái pháp luật vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.

Việc xác minh tình trạng hôn nhân những năm trước đây đều được thực hiện chủ yếu qua lời khai của các chủ thể khi đăng ký kết hôn. Cán bộ hộ tịch tại UBND các xã, phường, thị trấn hoặc không làm công tác xác định tình trạng hôn nhân hoặc có xác định nhưng không làm “triệt để” dẫn đến tình trạng quan hệ hôn nhân cũ chưa chấm dứt, quan hệ hôn nhân mới đã được hình thành trái quy định của pháp luật. Bên cạnh đó việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn ở chính quyền địa phương chưa được thực hiện nghiêm chỉnh dẫn đến việc người dân càng dửng dưng, coi nhẹ pháp luật. Nhiều trường hợp khi lấy người vợ đầu có đăng ký cưới hỏi theo đúng quy định pháp luật, nhưng người vợ sau họ chỉ thực hiện lấy chui vì vậy chính quyền địa phương gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Nguyên nhân khác dẫn đến việc đăng ký kết hôn cho người đang có vợ, có chồng là do chưa ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học kỹ thuật trong quản lý đăng ký kết hôn ở nước ta. Mặc dù, việc xác định tình trạng hôn nhân thuộc trách nhiệm của cán bộ hộ tịch tai UBND xã, phường thị trấn khi xử lý việc đăng ký kết hôn. Nhưng thực tế việc xác định tình trạng hôn nhân của các cá nhân không đơn giản. Để lần tránh hành vi kết hôn trái pháp luật, họ thường chuyển sang cư trú tại một nơi khác với nơi đăng ký kết hôn ban đầu, do đó việc xác định tình trạng hôn nhân bằng cách truyền thống thường gặp nhiều khó khăn và tốn thời gian. Vì vậy, để xác định tình trạng hôn nhân của các chủ thể một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả ta cần thúc đẩy việc xây dựng và phát triển một hệ thống cổng thông tin điện tử quản lý chung về hộ tịch trên cả nước. Mặc dù hiện nay đã có một hệ thống đăng ký quản lý hộ tịch, tuy nhiên phần mềm này lại chưa phát huy được tối đa hiệu quả trên thực tế. Vì phần mềm chỉ được sử dụng phổ biến tại một số tỉnh, thành phố lớn, bên cạnh đó vì mới được đưa vào sử dụng (từ đầu năm 2015) nên những số liệu về hộ tịch nói chung và kết hôn nói riêng chưa được cập nhập đầy đủ trên cổng thông tin khiến cho việc xác minh vẫn gặp rất nhiều khó khăn

Thứ ba, chưa có quy định đúng đắn về “chung sống như vợ chồng

Như đã phân tích ở trên thì việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng diễn ra trong tình huống là người đã có chồng, có vợ chung sống như vợ chồng với người khác. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là chung sống như vợ chồng hiện nay còn gặp nhiều khó khăn.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 thì “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn khái niệm chung sống như vợ chồng trong Luật HNGĐ 2014. Tuy nhiên tại mục 3.1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC có quy định về chung sống như vợ chồng là:

 “Việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.

Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc:

  • Có con chung;
  • Được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng;
  • Có tài sản chung;
  • Đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó;
  • …” Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Nếu áp dụng các quy định này thì sẽ rất khó khăn trong việc xác minh hành vi chung sống như vợ chồng. Bởi vì khi có các mối quan hệ trái pháp luật thì đa phần các chủ thể sẽ thực hiện việc che dấu, không công khai vì vậy việc chứng minh việc sống chung là khá khó khăn. Và khi không có đủ căn cứ chứng minh được việc sống chung như vợ chồng trái pháp luật thì việc lập các biên bản xử phạt hay biên bản vụ việc cũng gặp nhiều khó khăn. Bởi chưa có quy định cụ thể cho cán bộ, công chức hay tổ chức cơ quan đoàn thể có thẩm quyền khi tiếp nhận tin báo về việc có hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật thì trình tự, thủ tục và các bước xử lý như thế nào. Một khó khăn nữa là khi hành vi này được diễn ra một nơi không phải là nơi cư trú của hai người (A có hộ khẩu tỉnh M, B có hộ khẩu tỉnh N nhưng lại chung sống như vợ chồng với nhau ở tỉnh H) thì việc chứng minh lại càng thêm khó khăn. Cơ quan công an hoặc tổ dân phố cũng chỉ quản lý về mặt nhân khẩu hộ khẩu chứ chưa có điều kiện để xác minh đó là sống chung như vợ chồng trái pháp luật hay là hành vi “sống thử” – một hành vi rất phổ biến trong xã hội hiện nay.

Thứ tư, về chế tài xử lý hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chưa hiệu quả. Theo quy định của Luật HNGD 2014 thì khi có hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thì hậu quả pháp lý sẽ là huỷ kết hôn trái pháp luật.

Theo số liệu thống kê của Tòa án tối cao, năm 2017, tổng số vụ hôn nhân gia đình mà các TAND đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 262.076 vụ, trong đó số vụ hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết là 1731 vụ chiếm 0.006%;

Năm 2018, tổng số vụ hôn nhân gia đình mà các TAND đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 262.906 vụ, trong đó số vụ hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết là 1547 vụ chiếm 0.005%;

Năm 2019, tổng số vụ hôn nhân gia đình mà các TAND đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 256.793 vụ, trong đó số vụ hủy kết hôn trái pháp Luật được giải quyết là 1584 vụ chiếm 0.006%. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Số liệu trên cho thấy, số lượng án hủy kết hôn trái pháp luật rất ít song trên thực tế vấn đề vi phạm lại rất nhiều, do đó có thể thấy số liệu trên không phản ánh đúng tình hình thực tế. Nguyên nhân xuất phát từ việc các bên không tự giác tố cáo hành vi vi phạm, có tâm lý che giấu. Vì hủy kết hôn trái pháp luật bản chất là giải quyết việc dân sự, nên về nguyên tắc Tòa án chỉ giải quyết khi có yêu cầu của người dân, nếu người dân không yêu cầu thì Tòa không có căn cứ để giải quyết.

Việc giải quyết các hôn nhân bất hợp pháp theo quy định của Luật HNGĐ chưa được triệt để là do tính khả thi của việc thực hiện quyết định hủy kết hôn trái pháp luật. Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật là các bên buộc phải chấm dứt quan hệ hôn nhân bất hợp pháp. Nhưng thực tế các quyết định này chỉ chấm dứt được hôn nhân trên giấy tờ chứ không chấm dứt được tình cảm của các bên. Nhiều trường hợp sau khi có quyết định hủy kết hôn trái pháp luật vẫn dành tình cảm cho nhau, vẫn “qua lại với nhau”, gây ảnh hưởng tới những quan hệ hôn nhân hợp pháp. Pháp luật thi hành án dân sự chưa đặt ra các thiết chế giải quyết trong trường hợp nếu sau khi hủy kết hôn trái pháp luật, nam nữ vẫn tiếp tục chung sống như vợ chồng thì phải làm thế nào. Xây dựng nên các quy định pháp luật để điều chỉnh vấn đề trên rất khó, vì bản chất quan hệ hôn nhân là quan hệ tình cảm, mang tính cá nhân.

Bên cạnh đó, với mức phạt hành chính như hiện nay đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là từ 3 triệu cho đến 5 triệu đồng thì mức phạt này không đủ sức răn đe đối với các chủ thể có hành vi vi phạm. Cho nên vẫn có thể dẫn đến tâm lý vi phạm thì cũng chỉ chịu mức phạt như vậy thôi. Ngoài ra, đối với các hành vi vi phạm về chế độ hôn nhân một vợ một chồng hiện nay thì chỉ có hình thức phạt tiền mà chưa chú trọng đến các hình thức phạt bổ sung khác.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành

Thứ nhất, Pháp luật hiện hành cần mở rộng phạm vi các chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái luật là cha, mẹ, con, người giám hộ, người đại diện theo pháp luật khác của vợ, chồng người kết hôn trái pháp luật.

Thứ hai, nên xây dựng quy định pháp luật về “chung sống như vợ chồng” để có thể áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn dễ dàng hơn và tạo điều kiện cho các ngành luật thủ tục có cơ sở để quy định về trình tự, thủ tục ghi nhận về hành vi chung sống như vợ chồng làm tiền đề cho việc ghi nhận chứng cứ hoặc xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu hình sự về hành vi này.

Thứ ba, theo quan điểm của người viết thì cần nâng cao mức phạt hành chính cao hơn nữa đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng để tạo sức răn đe đối với các chủ thể có hành vi vi phạm. Đồng thời cần đưa ra các hình thức phạt bổ sung hoặc biện pháp xử lý hành chính khác đánh vào tâm lý và tinh thần của người vi phạm để việc xử phạt đạt được hiệu quả tốt hơn.

Thứ tư, trong Luật NHGĐ nói chung và trong các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng hiện nay chưa đề cập đến một vấn đề nhạy cảm trong xã hội đó là vấn đề người đồng tính. Trên thực tế là có những trường hợp sau khi kết hôn có những người bị thay đổi về mặt tâm sinh lý và không còn tình cảm với vợ chồng của mình mà lại có xu hướng thích những người đồng giới khác. Ngoài ra cũng có trường hợp những người là người đồng tính từ trước nhưng do áp lực gia đình và xã hội mà vẫn lấy vợ lấy chồng nhưng sau đó lại có hành vi kết hôn với người đồng giới hoặc chung sống như vợ chồng với người đồng giới khác. Kết quả của hành vi vi phạm là vẫn có sự ngoại tình và dẫn đến ly hôn, nhưng là kết hôn hoặc ngoại tình hoặc chung sống như vợ chồng với người đồng giới thì hiện nay chưa có quy định pháp luật cụ thể về vấn đề này.

Cuối cùng, hiện nay việc người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam là một thực tiễn diễn ra phổ biến trong xã hội. Vậy trong trường hợp này mà người nước ngoài vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam thì quy chế xử lý sẽ như thế nào thì cũng cần phải có quy định cụ thể trong tương lai để vừa phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các Điều ước, quy ước quốc tế về hôn nhân gia đình mà Việt Nam là thành viên.

3.2.2. Các giải pháp khác Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

3.2.2.1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của người dân

Đối với các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, các khu vực còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống: Sự tồn tại hàng trăm năm của phong tục tập quán lạc hậu khiến cho việc thực thi hôn nhân tiến bộ một vợ một chồng ở một số nơi gặp nhiều khó khăn. Tính cộng đồng làng xã ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa tương đối bền vững, sinh hoạt của đại bộ phận dân cư bị chi phối chủ yếu bởi những phong tục tập quán đã tồn tại từ rất lâu đời. Do đó ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp luật thì cần thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đân. Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục pháp luật cần gắn việc tuyên truyền với đời sống của người dân như tuyên truyền thông qua những người có địa vị cao là già làng, trưởng bản. Đồng thời, phát triển kiến thức pháp luật, kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ là người dân tộc bản địa để phổ biến tuyên truyền pháp luật bằng chính ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số. Đổi mới các hình thức tuyên truyền để thu hút sự quan tâm của người dân, có thể tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, tọa đàm để tuyên truyền các kiến thức pháp luật cho người dân.

Khi xã hội ngày một phát triển thì thực trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình sẽ vẫn còn tiếp diễn. Do vậy, đối với các khu vực thành phố, các khu vực phát triển hơn cũng không thể lơ là mà cũng vẫn cần đẩy mạnh và gia tăng tần suất tuyên truyền cũng như đẩy mạnh phổ biến, giao dục pháp luật.

Việc tuyên truyền, giáo dục phải được thực hiện thường xuyên, liên tục chứ không phải chỉ làm theo phong trào hay theo chỉ đạo. Về bản chất thì các chủ thể vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đều biết rằng hành vi của mình là sai trái trước tiên là về mặt đạo đức và sau đó là về mặt pháp luật. Do vậy, cần phải dần dần chuyển tải các thông điệp vào tiềm thức người dân để được nhân dân đồng thuận và cùng chung tay đẩy lùi các hành vi sai trái.

Bên cạnh đó, có thể áp dụng nhiều biện pháp xen kẽ và hỗn hợp trong việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân gia đình nói chung và vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng nói riêng. Ngoài việc tuyên truyền thông qua đài phát thanh, bảng tin tổ dân phố, băng rôn, khẩu hiệu…. thì có thể sử dụng các biện pháp truyền thông, báo chí, mạng xã hội như mời những người nổi tiếng và có uy tín trong xã hội trao đổi pháp luật, hoặc thực hiện tuyên truyền qua các mạng xã hội nổi tiếng như Facebook, làm các clip ngắn tuyên truyền….

3.2.2.2. Nâng cao trình độ của đội ngũ làm công tác hộ tịch và thẩm phán tòa án. 

Các cán bộ tư pháp xã phường là những chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật để đăng ký kết hôn. Các trường hợp đăng lý kết hôn vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chỉ thực sự giảm khi đội ngũ cán bộ tư pháp được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm thưc tế để thực hiện việc kết hôn đúng pháp luật, hạn chế, loại bỏ các trường hợp đăng ký kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Về trình độ chuyên môn hiện nay có nhiều cán bộ tư pháp xã phường có trình độ học vấn, bằng cấp khá tốt nhưng khi giải quyết công việc lại bị lúng túng và trình độ nghiệp vụ không tốt. Vì thế, cần phải quan tâm nhiều hơn đến công tác đào tạo chuyên môn đối với các cán bộ tư pháp xã phường. Bên cạnh đó, cán bộ tư pháp xã  phường phải kiêm nhiệm nhiều chức năng, nhiệm vụ như: quản lý hộ tịch, khai sinh, khai tử…  dẫn đến hậu quả là làm việc quá tải trong khi biên chế nhân viên lại không được tăng thêm.

Đối với các trường hợp xử lý vi phạm tại Toà án thì việc giải quyết các trường hợp kết hôn trái pháp luật đòi hỏi thẩm phán phải là người nắm chắc các quy định của pháp luật, có vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn đồng thời phải am hiểu tâm lý của các đương sự. Ngoài ra, Việt Nam có 54 dân tộc với nhiều lối sống, cách suy nghĩ khác biệt ở các vùng miền khác nhau kèm theo sự phát triển về mặt kinh tế khác nhau nên càng cần phải có kiến thức xã hội để nắm được các phong tục địa phương cũng như tâm lý vùng miền. Từ đó, đưa ra những phán quyết chính xác, hợp tình, hợp lý góp phần giảm thiểu những hậu quả tiêu cực đối với các quan hệ xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự. Vì vậy, đối với các chủ thể áp dụng pháp luật phải liên tục trau dồi các kiến thức, kỹ năng cần thiết phục vụ trong quá trình hành nghề

3.2.2.3. Tăng cường sự tham gia, phối hợp của các cơ quan ban ngành trong việc phát hiện, ngăn chặn các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. 

UBND và Công an là những cơ quan nắm rõ nhất về tình hình trên địa bàn dân cư mà họ quản lý nên cần phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này. Vai trò chủ đạo là của UBND còn cơ quan Công an sẽ phối hợp dưới hình thức hỗ trợ cung cấp thông tin và thực hiện cưỡng chế khi cần thiết. Công an các cấp có nhiệm vụ điều tra, xác minh các trường hợp đăng ký kết hôn trái pháp luật; theo dõi, phát hiện và xử lý các cá nhân chung sống như vợ chồng trái pháp luật trên địa bàn quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có nhiệm vụ đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân, phối hợp với công an các cấp và chính quyền địa phương phát hiện, ngăn chặn và đề nghị các cơ quan chức năng xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.

3.2.2.4. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Hiệ nay đang là thời điểm bùng nổ của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực của đời sống hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việc sử dụng nguồn lực là con người đang bị coi là lỗi thời và không đáp ứng được các nhu cầu của xã hội. Bên cạnh đó, với mật độ dân số ngày càng phát triển và vấn đề di chuyển chỗ ở, công việc ngày càng diễn ra thường xuyên thì nhu cầu quản lý hành chính về mặt con người lại càng cần phải được chú trọng hơn nữa.

Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính là một bước tiến bộ lớn của Bộ Tư pháp trong những năm gần đây. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý vừa giúp giảm thiểu được thời gian, chi phí, đồng thời loại bỏ những sai sót không đáng có so với cách làm thủ công trước đây. Để hệ thống thông tin này có thể thay đổi hoàn toàn cách truyền thống trước đây cần một khoảng thời gian nhất định để sữa chữa, nâng cấp và hoàn thiện. Song song với việc nâng cấp hệ thống, cần đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ để họ làm quen và sử dụng thành thạo hệ thống này.

Bên cạnh đó, chúng ta cần xây dựng môt hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đảm bảo cho việc lưu trữ và cập nhật thông tin của các công dân trong nước dưới dạng lý lịch như: ngày tháng năm sinh, nơi cư trú, thông tin liên hệ, thông tin gia đình, tình trạng học vấn, công việc, tình trạng kết hôn, tiểu sử bệnh án… được theo dõi và cập nhật thường xuyên. Điều này sẽ làm giảm tải quy trình xác nhận tình trạng hôn nhân và tránh được việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật dẫn đến những hậu quả không mong muốn. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đã áp dụng hình thức quản lý này và đạt được nhiều thành tựu trong việc quản lý xã hội.

Đây là nhu cầu rất quan trọng hiện nay vì khi có phát sinh các vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nói chung và các vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nói riêng thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải trải qua nhiều quá trình điều tra, xác minh vụ việc. Nếu chủ thể vi phạm ở nhiều tỉnh thành cách xa nhau thì sẽ bị kéo dài thời gian điều tra xác minh và gây tốn kém về chi phí. Nếu có hệ thống đồng bộ thì ngay khi tiếp nhận thông tin yêu cầu xử lý hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân  một vợ, một chồng thì cơ quan có thẩm quyền sẽ tìm hiểu, tra cứu thông tin về các bên chủ thể trên hệ thống để có hướng giải quyết sự việc. Từ đó, góp phần giảm thiểu thời gian cũng như chi phí xử lý vụ việc.

Kết luận chương 3

Sự phát triển của xã hội sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thực tế ngày càng phức tạp và có nhiều yếu tố thay đổi bất ngờ. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau thì chúng ta có thể thấy việc xử lý các hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và vướng mắc. Trong phạm vi bài viết có hạn, người viết đã chỉ ra các vi phạm cơ bản cũng như những nguyên nhân ban đầu gây ra tình trạng vi pham nêu trên. Đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả thi hành các quy định pháp luật nhằm góp phần mang lại hiệu quả cao hơn trong việc xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.

KẾT LUẬN Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

Thực tiễn đời sống xã hội ngày nay cho thấy nhiều vấn đề mới phát sinh liên quan đến hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Điều này gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định và bền vững của thể chế gia đình – tế bào của xã hội. Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng không chỉ vi phạm đến các chuẩn mực đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật đồng thời còn có thể tạo ra những hậu quả khôn lường cho gia đình và xã hội. Vì thế, giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một vấn đề hết sức cần thiết.

Bên cạnh Luật hành chính và Luật hình sự, Luật HNGĐ hiện hàn đã xây dựng một hệ thống quy định pháp luật về: quy định các nguyên tắc liên quan đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng, căn cứ xác lập hôn nhân một vợ một chồng, cá hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cũng như các chế tài chuyên biệt để xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, mang đặc trưng riêng của quan hệ hôn nhân gia đình, đó chính là hủy kết hôn trái pháp luật.

Thực tiễn chỉ ra rằng mặc dù nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã đi vào cuộc sống được hơn sáu thập kỷ nhưng vẫn còn nhiều trường hợp cố tình vi phạm, việc xử lý các vi phạm chưa đạt được hiệu quả cao do gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Để đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần kết hợp thực hiện động bộ nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả của áp dụng pháp luật , đồng thời nâng cao hiểu biết của người dân về tầm quan trọng của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, để nguyên tắc này thực sự đi vào đời sống và trở thành một truyền thống tốt đẹp của hôn nhân gia đình Việt Nam. Khóa luận: Thực tiễn vi phạm nguyên tắc hôn nhân vợ chồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464