Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phân chia tài sản của vợ chồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng

3.1.1 Quy định về căn cứ xác định tài sản chung và việc chia tài sản chung của của vợ chồng

  • Về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:

Tài sản chung của vợ chồng nhưng do một bên đứng tên trong giấy tờ về quyền sở hữu:

Tại khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 và khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra… trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng có thoả thuận là tài sản chung”. Tiếp đó, tại khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên hai vợ chồng”.

Như đã phân tích, việc áp dụng quy định trên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, ảnh hưởng tới quyền lợi của người phụ nữ, trong gia đình khó có thể đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng. Nếu cho rằng: tài sản riêng có trước khi kết hôn hoặc tìa sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng do một người đứng tên mặc dù được đưa vào khai thác, sử dụng chung nhưng không có văn bản thoả thuận đưa vào tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng. Theo quan điểm này, người phụ nữ trong gia đình sẽ chịu nhiều thiệt thòi đặc biệt là nó không phản ảnh đúng thực trạng xã hội ở khu vực nông thôn, miền núi. Có quan điểm cho rằng: Tài sản mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng chung (có trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân) mặc dù do một người đứng tên nhưng không có văn bản thoả thuận là tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản chung; tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào khai thác, sử dụng chung là tài sản chung. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi việc cha mẹ tặng cho con đất để cất nhà ở khi người con lập gia đình thường chỉ thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi. Khi xảy ra tranh chấp thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng là rất khó khăn. Hoặc nếu có thể hiện bằng văn bản thì thông thường cha mẹ sẽ tặng cho con trai và vì vậy người phụ nữ cho dù qua bao nhiêu năm chung sống cũng chỉ được xem xét đến công sức đóng góp trong việc tu sử. Theo tinh thần của pháp luật là phải ưu tiên bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, song việc áp dụng trên thực tế đang trở thành ngược lại. Vì vậy, việc áp dụng quy định trên cần có hướng dẫn cụ thể chi tiết, mặc dù hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành nhưng với những quy định mang tính khái quát sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, quan điểm cá nhân của em cho rằng nên có hướng dẫn theo tinh thần sau: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Trường hợp vợ, chồng sau khi kết hôn cất nhà ở trên đất của cha mẹ bên vợ hoặc chồng nhưng không có giấy tờ gì thể hiện là được cho tặng quyền sử dụng đất đó; khi ly hôn, cha mẹ bên vợ hoặc chồng nói là chỉ cho mượn đất nhưng nếu phần đất cất nhà ở riêng biệt với đất cha mẹ đang sinh sống hoặc trên cùng thửa đất nhưng đã có ranh giới, khuôn viên rõ ràng. Vợ chồng cất nhà sinh sống, ổn định, lâu dài xây dựng các công trình trên đất cha mẹ biết nhưng không phải đối… thì Toà án xác định quyền sử dụng đất gắn liền nhà hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và chia theo quy định nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên.

Ngoài tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở, trên thực tế những loại tài sản đặc biệt như giấy tờ có giá, sổ tiết kiệm chỉ ghi tên một người, nhưng tài sản đó có thể là tài sản chung của vợ chồng được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, theo quy định tại khoả 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong giao dịch với người thứ va ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó”. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi quyền lợi người thứ ba, nhưng trên thực tế giao dịch được xác lập giữa người đứng tên trong các giấy tờ này với người thứ ba có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu không chứng minh được giao dịch đó đã có ý kiến đồng ý của chủa sở hữu. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể quy định đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đặc biệt là những tài sản mà trên giấy tờ do một người đứng tên cho phù hợp, ngoài đảm bảo quyền lợi của vợ chồng còn phải đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng theo hướng: Nên có quy định nếu tài sản chung vợ chồng là các giấy tờ có giá, tài sản sản chung mà giấy tờ sở hữu chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng thì coi người đứng tên là người đại diện để tham gia giao dịch với người khác. Nếu bên vợ hoặc chồng có yêu cầu huỷ giao dịch này với lý do không có ý kiến đồng ý của người kia thì không coi đó là vi phạm quyền định đoạt của chủ ở hữu chung.

  • Nguyên tắc suy đoán tài sản chung:

Khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì đó là tài sản chung”. Đây là quy định mang tính chất như một nguyên tắc suy đoán, đến nay Luật HN&GĐ không quy định gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng, quy định này còn rất đơn giản về tài sản chung nên trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận. Để bảo vệ tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản riêng đồng thời làm đơn giả hoá việc tìm các chứng cứ chứng minh trong tranh chấp, pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam có thể tham khoả thêm trong Luật dân sự Pháp khi đưa ra hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:  Nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trong trường hợp không có bản kiểm kê tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thâm phán có thể xem xét mọi giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các loại tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Quy định như vậy sẽ thể hiện rõ các loại bằng chứng chứng minh được liệt kê cụ thể, trong đó Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản  có giá trị pháp lý cao nhất trong thủ tục chứng minh nguồn gốc tài sản.

  • Về chia tài sản chung của vợ chồng:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”. Nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 38 và Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mục đích của việc chia tài sản chung phải phù hợp với các quy định của pháp luật, đây là một giải pháp nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của bên vợ hoặc chồng trong việc sử dụng tài sản, vì có nhiều lý do khách quan, vợ, chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung khi hôn nhân vẫn tồn tại, nhât là nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản của gia đình vào những việc không lành mạnh.

Nếu vợ chồng đã thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau đó có chứng cứ cho rằng việc chia tài sản đó là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc chia tài sản đó không được pháp luật công nhận.

Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuy là điều luật mới, nhưng đây là một điều luật mang tính chất liệt kê trên cơ sở nội dung này đã được quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong thực tế hiện nay, ảnh hưởng của việc tham gia vào các quan hệ kinh tế của mỗi thành viên trong gia đình đã khiến cho các cặp vợ chồng trong nhiều trường hợp sử dụng tài sản của mình phục vụ nhằm mục đích không lành mạnh, vi phạm nghĩa vụ của vợ hoặc chồng, ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia. Hành vi vi phạm này là ý chí chủ quan của vợ, chồng, pháp luạt quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì vô hiệu và liệt kê các nghĩa vụ đó, nhưng vẫn đề là ở chỗ khả năng có được chứng cứ chứng minh để đưa ra kết luận phù hợp và cơ chế xử lý các trường hợp vợ, chồng cố tình vi phạm quy định này. Pháp luật chỉ quy định tài sản đó “không được pháp luật công nhận”, trong khi các hành vi vi phạm quy định này sẽ ngày càng gia tăng là một gánh nặng lớn cho các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để giảm bớt tình trạng vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản nhằm tẩu tán và trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác, bên cạnh việc đưa ra hướng dẫn cụ thể vấn đề này để hiểu rõ hơn tinh thần của điều luật, cần bổ sung quy định nhằm xử lý triệt để hành vi cố tình vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng thông qua việc chia tài sản chung.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2. Quy định về nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Việc nhập một tài sản riêng vào khối tài sản chung rõ ràng chỉ có thể xuất phát từ ý chí của chủ sở hữu. Tuy nhiên, đó không phải là một giao dịch đơn phương. Như đã nói, thực ra không có sự phân biệt giữa việc nhập một tài sản riêng vào khối tài sản chung và việc thoả thuận giữa vợ chồng coi một tài sản nào đó là tài sản chung. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung thực sự là một hợp đồng giữa vợ và chồng. Do luật hiện hành không có quy định gì đặc biệt ta nói rằng hợp đồng này được giao kết theo luật chung nghĩa là chỉ đòi hỏi sự gặp gỡ ý chí của các bên giao kết mà không cần tuân theo một quy định đặc biệt về thủ tục, thể thức. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

  • Theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001:

Việc nhập tài sản riêng là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, việc lập văn bản là điều kiện để hợp đồng nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung có giá trị. Vấn đề là ở chỗ trong trường hợp có tranh cãi về việc lập hay không lập văn bản ghi nhận việc nhập vào khối tài sản chung một tài sản riêng nào đó mà không phải là nhà ở hay quyền sử dụng đất, thì đâu là tiêu chí xác định tài sản liên quan là có giá trị lớn hoặc không lớn. Với nội dung trên em nghĩ cần hướng dẫn thêm : ‘‘Điều kiện lập văn bản chỉ áp dụng đối với việc nhập các tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu’’.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã dành riêng một điều luật mới quy định về nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung (Điều 46). Tuy nhiên nếu xem xét kỹ, nội dung này không cụ thể hơn so với quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001. Vì vậy, theo em ngoài nội dung trên pháp luật cần đưa ra hướng dẫn cụ thể hơn quy định về hiệu lực và tính chất của giao dịch, theo đó:

Về thời điểm có hiệu lực của giao dịch: Trong điều kiện không có quy định cụ thể của luật viết, có thể vận dụng các quy định của luật chung về hiệu lực của một hợp đồng để xác định thời điểm có hiệu lực của giao dịch nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Trên nguyên tắc, việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung có hiệu lực vào thời điểm giao dịch được xác lập. Trong trường hợp tài sản được nhập là nhà ở, quyền sử dụng đất, các tài sản khác thuộc loại đăng ký quyền sở hữu, thì việc nhập tài sản có hiệu lực vào thời điểm đăng ký. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Về tính chất của giao dịch: Việc xác định tính chất của giao dịch nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung càn theo hướng thừa nhận rằng đây là một giao dịch đặc biệt chỉ có trong Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản, có tác dụng biến một tài sản riêng thành một tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của cả vợ và chồng. Tài sản được nhập sẽ đi vào khối tài sản chung và được vợ chồng cùng quản lý theo luật chung về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung được coi như một hình thức đóng góp của chủ sở hữu riêng vào sự phát triển của khối tài sản chung, chủ sở hữu có quyền yêu cầu ghi nhận sự đóng góp này khi tính toán để xác định giá trị phần quyền của mình trong khối tài sản chung sau khi hôn nhân chấm dứt.

Bằng những nội dung cụ thể trên, khi đưa vào hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có lẽ sẽ góp phần đáng kể trong việc giải quyết vấn dề liên quan tới việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung.

3.1.3 Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng khi một bên vợ hoặc chồng tham gia vào giao dịch dân sự

  • Đối với giao dịch dân sự hợp pháp :

Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình được quy định tại Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn tiếp tục kế thừa nội dung trên: ‘‘Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới với giao dịch do một bên thực hiện quy định khoản 1 Điều 30 của Luật này’’. Theo đó, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định:

  1. Vợ, chồng có quyền nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành không đưa ra giải thích thế nào gọi là ‘‘nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình’’, điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã giải quyết vấn đề trên, quy định những nhu cầu nào là nhu cầu thiết yếu của gia đình để làm cơ sở xác định trách nhiệm của vợ chồng đối với giao dịch dân sự với người thứ ba. Theo đó, khoản 20 Điều 3 quy định: ‘‘Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình’’.

  • Đối với giao dịch dân sự bất hợp pháp: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Trong thực tế, có các giao dịch dân sự (hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng vay nợ) đều được một bên vợ hoặc chồng xác lập liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, các giao dịch dân sự đó đều bị Toà án các cấp tuyên bố vô hiệu do vi phạm quy định của pháp luật. Song việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với hợp đồng dân sự do một bên thực hiện và việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu có khác nhau, điều này có nguyên nhân một phần là do pháp luật không có quy định rõ ràng, cụ thể nên đã dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau của Toà án. Vì vậy, để khắc phục tình trạng giao dịch dân sự bất hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện đối với tài sản chung của vợ chồng, em nhất trí với hướng bổ sung quy định của pháp luật để giải quyết loại việc này như sau:

  • Nếu một bên vợ hoặc chồng tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ giao dịch dân sự đó, Toà án phải tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
  • Tuy một bên vợ hoặc chồng không có sự tham gia giao dịch dân sự, làm cho giao dịch dân sự đó trở nên bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu, song thông qua các giao dịch đó vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thì bên vợ hoặc chồng không tham giâ giao dịch dân sự đó vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
  • Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thoả thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự đó có biết và phải biết việc tham gia giao dịch dân sự của phía bên kia, thì sẽ buộc họ phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

3.1.4. Quy định về áp dụng tập quán để phân chia tài sản chung của vợ chồng Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Như đã đề cập, việc áp dụng tập quán ở một số địa phương còn nhiều bất cập, không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng trong quan hệ tài sản. Nguyên nhân cơ bản của vấn đề này là ở chỗ chung ta chưa có văn bản quy định cụ thể, thống nhất về quan niệm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng tập quán dẫn đến tình trạng áp dụng không đúng quy định chung về tập quán trong Luật Hôn nhân và gia đình, lạm dụng hoặc đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng dân cư nơi có tập quán. Vì vậy, để áp dụng tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả cao, hạn chế và bài trừ những thủ tục lạc hậu, không phù hợp, Luật Hôn nhân và gia đình cần xây dựng cụ thể việc áp dụng tập quán theo nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nước ta hiện nay, quan hệ bất bình đẳng giữa vợ chồng vẫn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, quan hệ tài sản của vợ chồng vì thế cũng không đảm bảo sự công bằng. Việc áp dụng tập quán theo nguyên tắc: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng sẽ góp phần đáng kể vào việc giải quyết quan hệ hôn nhân gia đình nói chung, quan hệ tài sản của vợ chồng nói riêng.

Thứ hai,việc áp dụng tập quán không được trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình, không được phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trên thực tế, hầy hết ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào cai…) chỉ cho con trai được hưởng gia tài. Tập quán này cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng.

Thứ ba, chỉ áp dụng tập quán đã thông dụng, được đông đảo mọi người cùng sinh sống trên địa bàn, cùng dân tọc đó, cùng tôn giáo thừa nhận và chỉ áp dụng trên địa bàn đó. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Thứ tư, phát huy vai trò của người đứng đầu cộng đồng, các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng tập quán giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình trong đó có vấn đề tài sản vợ chồng.

Thứ năm, cần quy định cụ thể hơn theo hướng mở, tức là nếu tập quán tốt đẹp, phù hợp với xã hội thì áp dụng tập quán đó.

Để việc áp dụng tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình nói chung, tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng nói riêng đạt hiệu quả cao, trong thời gian tới cần tiến hành giải pháp sau:

Xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh về kế thừa, phát huy truyền thống, tập quán trong gia đình. Bao gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ mang tính tốc người khu vực; các quy phạm pháp luật điều chỉnh danh mục các tập quán lạc hậu về HN&GĐ không được áp dụng và danh mục các tập quán tốt đẹp về HN&GĐ được khuyến khích và phát huy. Như vậy, tập quán sẽ phát huy được vai trò là công cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ HN&GĐ đồng thời cũng là yếu tố góp phần giữ gìn những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt Nam.

3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt nam đã có sự phát triển ngày càng cao, đáp ứng được tốt hơn các yêu cầu khách quan trong sự phát triển của xã hội và gia đình, chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định của Luật Hôn nhân và gia đình phản ánh rõ nét nhất vấn đề này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành còn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, điều này không chỉ do thiếu một số quy định pháp luật, các quy định pháp luật chưa cụ thể mà còn do sự nhận thức của người dân còn hạn chế về pháp luật HN&GĐ đối với các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; sự yếu kém trong công tác tổ chức và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình; thái độ, tinh thần trách nhiệm của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng. Xuất phát từ những lý do đó và để khắc phục hiện tượng nêu trên, theo em cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

3.2.1. Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng

Bên cạnh việc củng cố và kiện toàn hệ thống pháp luật, nâng cao điều kiện vật chất và con người góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng, các cấp, các nghành cần quan tâm tuyên truyền, phổ biến cho người dân biết các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, để họ có thể tự chủ động bảo vệ quyền lợi của mình. Vì rất nhiều trường hợp Toà án chỉ có quyền can thiệp bảo vệ lợi ích của các bên khi có yêu cầu của chính các bên đó.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, từ đó tạo điều kiện cho người dân hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tăng cường tích cực hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể trong việc tổ chức hoà giải cơ sở giúp giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng hạn chế việc ly hôn dẫn đến yêu cầu giải quyết tranh chấp về chế độ tài sản của vợ chồng.

Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật Hôn nhân và gia đình nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phù nhận toàn bộ các giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về Hôn nhân và gia đình, hoặc lạm dụng phong tục, tập quán về HN&GĐ, hoặc lạm dụng phong tục tập quán về HN&GĐ làm giảm tính hiệu lực của các quy phạm pháp luật HN&GĐ.

Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật HN&GĐ trong nhân dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về HN&GĐ. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình.

3.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; bồi dưỡng thẩm phán, cán bộ Toà án; rèn luyện phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng đội ngũ thẩm phán và cán bộ Toà án vững về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp và yêu cầu của nhân dân.

Thứ hai, bổ sung kịp thời số cán bộ, Thẩm phán còn thiếu cho các đơn vị trong toàn ngành, tránh hiện tượng quá tải trong công việc. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị. Đối với các đơn vị có kết quả công tác chưa cao cần làm rõ các nguyên nhân, xác định trách nhiệm các nhân người đứng đầu đơn vị. Tăng cường tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, Thẩm phán trong công tác.

Thứ ba, một trong những khó khăn mà Toà án nhân dân các cấp thường gặp trong xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng do các quy định của pháp luật hoặc thiếu hoặc không cụ thể. Để khắc phục tình trạng này, Toà án cần đa dạng hoá việc áp dụng pháp luật, đặc biệt vận dụng các phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp trong đời xã hội về HN&GĐ. Ngoài ra, cần phải công nhận hình thức án lệ áp dụng cho các quan hệ mới phát sinh khi chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc đã có quy định pháp luật nhưng việc điều chỉnh không còn phù hợp với thực tế. Toà án nhân dân tối cao cần định kỳ ban hành các tập hợp án lệ điển hình để Toà án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử.

Thứ tư, bảo đảm cơ xở vật chất và quan tâm hơn nữa về chế độ, chính sách cho cán bộ làm công tác  tại Toà án.

  • Trước hết, cần đảm bảo trang thiết bị, máy móc phục vụ cho cán bộ, Thẩm phán làm việc kịp thời sửa chữa, thay mới các thiết bị đã hư hỏng hoặc quá lạc hậu. Đẩy nhanh việc đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện làm việc theo hướng hiện đại kể cả việc xây dựng các phòng xử án, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, hoạt động xét xử, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tiếp cận Toà án như nộp đơn khởi kiện qua mạng, lưu trữ Bản án, Quyết định trên đường truyền mạng nội bộ phục vụ nhanh chóng cho người dân khi có nhu cầu khai thác tài liệu.
  • Mặc dù chế độ chính sách tiền lương đối với cán bộ đã được quan tâm chỉnh sửa theo hướng tăng dần cho cán bộ. Tuy nhiên, so với sự phát triển chung của xã hội thì vẫn chưa đáp ứng đủ các nhu cầu trong đời sống. Vì vậy, cần có giải pháp tiếp tục cải cách chế độ tiền lương, phải cải tổ một cách mạnh mẽ để các bộ an tâm công tác.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu đối với tài sản của vợ chồng, có những đặc điểm riêng với ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội. Vợ chồng đều có trách nhiệm không những về mặt xã hội, mà còn là trách nhiệm pháp lý. Sự ràng buộc nhau giữa vợ và chồng không những về quan hệ tình cảm, mà còn là quan hệ tài sản chung hợp nhất thì quan hệ hôn nhân mới thật sự bền vững. Quan hệ tài sản trong gia đình trước hết được điều chỉnh bởi pháp luật HN&GĐ. Các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng ngày càng nhiều và phức tạp. Vì vậy, việc giải quyết các vụ việc liên quan tới tài sản của vợ chồng cũng gặp nhiều khó khăn, rắc rối; đòi hỏi pháp luật phải cụ thể hơn, những người thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình trong giải quyết đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự.

Với đề tài “Nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, luận văn được hoàn thành với những nội dung chủ yếu sau:

  1. Đưa ra khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng. Phân tích các đặc điểm, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội.
  2. Phân tích các loại chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật về HN&GĐ của một số nước trên thế giới và hệ thống pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, so sánh, đối chiếu để thấy được nét tương đồng và đặc thù. Qua đó, khẳng định và lý giải tại sao Luật HN&GĐ của Nhà nước ta không quy định về chế độ tài sản ước định.
  3. Hệ thống hoá sự phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh chế độ tài sản giữa vợ chồng.
  4. Phân tích các quy định của pháp luật HN&GĐ về nội dung chế độ tài sản của vợ chồng.
  5. Phân tích tính kế thừa và phát triển của Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 về chế độ tài sản của vợ chồng. Nêu rõ những điểm mới về chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ hiện hành so với các văn bản pháp luật về HN&GĐ trước đó.
  6. Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng trong hoạt động xét xử của Toà án và hoạt động công chứng tại các Văn phòng công chứng, luận văn chỉ rõ những quy định còn bất cập, chưa hợp lý, không phù hợp thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị đề xuất những hướng hoàn thiện các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hiện hành, cùng với việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật HN&GĐ nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464