Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công giáo là một tôn giáo có hệ thống tổ chức giáo hội thống nhất, chặt chẽ từ hoàn vũ (toàn cầu-Tòa Thánh Vatican) đến giáo hội địa phương (giáo phận) và giáo hội cơ sở (giáo xứ) trên phạm vi toàn cầu. Công giáo truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, đến nay đã trở thành một trong những tôn giáo lớn ở nước ta với số lượng tín đồ trên 6,5 triệu người, chiếm khoảng 7% dân số (đứng thứ hai, sau Phật giáo).
Người tín đồ Công giáo trong cuộc đời theo đạo của mình được thể hiện ra ở nhiều cấp độ: Theo đạo, giữ đạo và sống đạo. Sống đạo bây giờ cũng đòi hỏi những mức độ khác nhau: Sống đạo theo lề luật và sống đạo theo môi trường văn hóa , xã hội.
Người Công giáo ở khu vực châu Á được kêu gọi “Sống đạo theo cung cách Á châu” (Ecclesia in Asia, số 10), còn người Công giáo Việt Nam được mời gọi: “Sống đạo theo cung cách Việt Nam” (Thư chung 2003, số 9). Chính sự sống đạo này làm thay đổi diện mạo đạo Công giáo và cũng ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa xã hội của nhiều quốc gia. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu sự ảnh hưởng của giáo lý Công giáo đến vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.
Bình Phước là một tỉnh trung du miền núi, biên giới thuộc vùng kinh tế trọng điểm của miền Đông Nam bộ, là nơi có nhiều tôn giáo, trong đó Công giáo có số lượng tín đồ đông nhất, với 98.477 giáo dân, chiếm trên 44% đồng bào theo đạo trên địa bàn và chiếm 10,35% dân số trong toàn tỉnh. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Chống Mỹ cứu nước, đại đa số quần chúng giáo dân Công giáo có tinh thần yêu nước đi theo cách mạng, đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau giải phóng và trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, quần chúng giáo dân, chức sắc Công giáo vẫn là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Thời gian gần đây, Công giáo ở Bình Phước phát triển mạnh mẽ, giáo hội tăng cường hoạt động củng cố đức tin, truyền giáo phát triển đạo; tăng cường tổ chức các cuộc sinh hoạt tôn giáo với quy mô lớn; tích cực sửa chữa, xây mới, mở rộng khuôn viên cơ sở thờ tự; các dòng tu, hội đoàn phát triển mạnh, hoạt động sôi động, tăng công tác từ thiện và tham gia các hoạt động xã hội, chú trọng các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao nhằm thu hút giới tr … Nhìn chung, về cơ bản việc sinh hoạt tôn giáo của Công giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, tuân thủ pháp luật, sự quản lý của chính quyền. Tuy nhiên, việc tổ chức sinh hoạt của Công giáo cũng có những biểu hiện diễn biến phức tạp, nhất là dòng tu, hội đoàn, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Trong những năm qua, quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã có những chuyển biến và đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập, còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý nhìn nhận, đánh giá chưa thật sự khách quan đối với Công giáo, còn có định kiến về các vấn đề do lịch sử để lại hoặc có thái độ thiếu tế nhị, có khi thô bạo trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến Công giáo làm cho một bộ phận quần chúng tín đồ, chức sắc tâm tư, thậm chí bất hợp tác với chính quyền. Mặt khác, cũng có một bộ phận cán bộ hữu khuynh, buông lỏng quản lý, không kịp thời phát hiện những vấn đề sinh hoạt tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật, thiếu cương quyết khi xử lý và đùn đẩy trách nhiệm. Điều đó đã tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng để kích động làm mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước hiện nay.
Với lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước” cho luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý công của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam nói chung, ở Bình Phước nói riêng. Đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Đầu: “Công giáo ở Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1993; Bùi Thị Kim Quỳ với bài “Về Công giáo và chính sách tôn giáo ở Nam Bộ”, Tạp chí Triết học số 3 năm 1991. Đỗ Quang Hưng với tác phẩm “Một số vấn đề về lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam”, Tủ sách Đại học Tổng hợp, Hà Nội 1990; Nguyễn Văn Kiệm với tác phẩm: “Sự du nhập của Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX”, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam – Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam 2001; Phạm Thế Hưng với tác phẩm: “Hiểu biết về đạo Công giáo ở Việt Nam”, Nxb Tôn giáo 2005; Nguyễn Quang Hưng với tác phẩm: “Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 – 1883)” Nxb Tôn giáo 2007; Nguyễn Hồng Dương với các phẩm: “Công giáo Việt Nam-Tri thức cơ bản”, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2012 và “Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2012; Phạm Huy Thông với tác phẩm “Ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa Công giáo với văn hóa Việt Nam”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2012; Hoàng Minh Đô-Đỗ Lan Hiền với tác phẩm: “Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo và Công giáo-Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2015.
Các công trình nêu trên đã đề cập tới nhiều vấn đề của Công giáo ở Việt Nam như quá trình hình thành, phát triển, vấn đề xây dựng tổ chức giáo hội, hội đoàn, dòng tu, cơ sở thờ tự, sinh hoạt tôn giáo, hội nhập văn hóa, vấn đề Công giáo với chính trị, tôn giáo với dân tộc dưới nhãn quan khoa học. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học còn ít đề cập đến vấn đề Công giáo ở Bình Phước. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Về quan điểm, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước có các tác phẩm như Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam Lý luận và thực tiễn Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 của Đỗ Quang Hưng là một tập đại hành tổng kết kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của các nước Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Pháp cũng như học thuyết xã hội Công giáo, đặc biệt tổng kết chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ đầu thế kỷ XX đến nay, trong đó tác giả đã dành một thời lượng đáng kể (từ trang 418-452), bàn về kinh nghiệm giải quyết vấn đề Công giáo của Đảng và Nhà nước ta; Nguyễn Đức Lữ với tác phẩm: Tôn giáo-quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội 2010; Nguyễn Hồng Dương với tác phẩm: Quan đểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012; “Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay-Những vấn đề lý luận cơ bản”, Nxb Văn hóa-Thông tin và qtác phẩm: “Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2015; Đỗ Quang Hưng với các tác phẩm: “Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 2014; “Nhà nước, tôn giáo, luật pháp”, Nxb Chính trị quốc gia”, trong đó đã giới thiệu về kinh nghiệm giải quyết vấn đề Công giáo ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta đối với Công giáo.
Về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, có các công trình như: Nguyễn Hữu Khiển: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay”, Nxb Công an nhân dân, 2001; Hoàng Quốc Bảo: Quản lý xã hội về tôn giáo, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội, 2010; Ngô Hữu Thảo: Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác-Lênin đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội 2012; Ban Tôn giáo Chính phủ: Tôn giáo và công tác quản lý đối với hoạt động tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2008 và Tập bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2005; Bùi Đức Luận (2005), Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2005; Trần Minh Thư (2005), Tìm hiểu pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005 v.v… Các công trình trên đã bàn về những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Cho đến nay ở tỉnh Bình Phước đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu liên quan đến Công giáo và công tác quản lý nhà nước đối với Công giáo, như Đề tài khoa học cấp Bộ: Công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước, Công An Bình Phước, 2010; Đề tài khoa học cấp tỉnh, Công tác xây dựng Đảng ở những xã, phường, thị trấn vùng tập trung đồng bào có đạo, Tỉnh ủy Bình Phước – Học viện Xây dựng Đảng, năm 2000; Một số kinh nghiệm xử lý điểm nóng liên quan đến tôn giáo ở Bình Phước. Đây là những đề tài khoa học – thực tiễn liên quan trực tiếp đến các mặt công tác quản lý nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước dưới nhiều khía cạnh khác nhau, khá phong phú và toàn diện.
Nhìn chung, những công trình đó đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau, nêu lên nhiều kinh nghiệm quý báu khi giải quyết những vấn đề tôn giáo và quản lý nhà nước đối với Công giáo. Đó là những tài liệu quý mà tác giả kế thừa, tiếp thu để hoàn thiện luận văn của mình.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về quản lý nhà nước đối với việc tổ chức sinh hoạt tôn giáo của Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Do đó, luận văn này hy vọng sẽ là một công trình hệ thống khá đầy đủ về quản lý nhà nước đối với Công giáo ở địa phương, nhằm bổ khuyết cho những thiếu vắng nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ về thực trạng công giáo, công tác quản lý nhà nước đối với công giáo trên địa bàn tỉnh và những vấn đề đặt ra hiện nay của Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước, luận văn đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hơn công tác quản lý nhà nước đối với công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với công giáo
- Phân tích thực trạng hoạt động của Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Đề ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối vớii công giáo ở tỉnh Bình Phước trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước theo quy định của pháp luật hiện hành.
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về không gian: tỉnh Bình Phước
- Về thời gian: nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước đối với Công giáo tại tỉnh Bình Phước từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay (2018).
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước đối với Công giáo theo quy định của pháp luật.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác quản lý hành chính Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo thời kỳ mở của hội nhập. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- + Phương pháp sưu tầm tài liệu, số liệu;
- + Phương pháp phân tích;
- + Phương pháp tổng hợp;
- + Phương pháp lôgic;
- + Phương pháp so sách;
- + Phương pháp chuyên gia;
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Về lý luận
Luận văn tổng quan cơ sở khoa học quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn tỉnh cấp tỉnh; vận dụng vào nghiên cứu quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Qua đó kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn của Tỉnh.
6.2 Về thực tiễn
- Luận văn nghiên cứu thực trạng của Công giáo ở tỉnh Bình Phước
- Phân tích đánh giá thực trạng Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước trong thời gian qua.
- Phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở Bình phước trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với công giáo
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO
1.1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến luận văn
1.1. 1. Quản lý và quản lý Nhà nước Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
- Quản lý: Là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước.
- Quản lý Nhà nước: Quản lý nhà nước, theo nghĩa rộng, là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội.
Còn theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp). nguồn Giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước” của Học viện Hành chính quốc gia nêu rõ: “Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước; là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người” [48, tr.20].
1.1.2. Tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo
Tôn giáo: là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Sinh hoạt tôn giáo: là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo (còn gọi là hành đạo, truyền đạo, quản đạo) và một số hoạt động khác do tổ chức, cá nhân tôn giáo thực hiện nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.
1.1.3. Tín đồ và chức sắc tôn giáo
Tín đồ tôn giáo là người có niềm tin theo một tôn giáo nhất định và được tổ chức tôn giáo thừ nhận; đối với Công giáo gồm giáo dân, linh mục…. Tín đồ các tôn giáo có sự thống nhất 2 mặt: công dân và tín đồ. Về mặt công dân đều bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân khác. Về mặt tín đồ là người có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở những mức độ khác nhau, họ có quyền và nghĩa vụ do giáo hội quy định được thể hiện trong giáo lý, giáo luật. Mặt công dân và tín đồ thống nhất trong người dân-tín đồ, nhưng không đồng nhất; mặt công dân phải được đặt lên trên hết.
Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. Chức sắc của đạo Công giáo gồm: Giám mục và Linh mục. Đây là đội ngũ được Giáo hội đào tạo, tấn phong và bổ nhiệm để giữ các chức vụ trong Giáo hội. Chức sắc đạo Công giáo có thống nhất giữa 3 mặt: vừa là đại diện cho Thiên Chúa, đại diện cho Giáo hội, vừa là một tín đồ và vừa có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân trong xã hội. Ngoài ra các chức sắc Công giáo còn có đặc điểm đặc biệt hơn tín đồ, theo giáo lý, giáo luật, họ là lực lượng đại diện cho Thiên Chúa, thay mặt Thiên Chúa trên trần gian để thực hiện các thiên chức (chức Thánh) đối với Giáo hội quan hệ đối nội, đối ngoại giữa đạo với đời và thực hiện các nghi thức tôn giáo, chăn dắt Hội thánh, thực hành các nghi thức trong đời sống tôn giáo của tín đồ. Vì vậy, chức sắc Công giáo có quyền uy to lớn, quan trọng trong lối sống đạo.
Nhà tu hành (tu sỹ) cũng là tín đồ tự nguyện thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của đạo Công giáo và hiến chương, quy định của Dòng tu mình tin theo. Nhà tu hành trong Công giáo có cả nam, lẫn nữ theo đặc điểm của từng dòng tu.
Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức. Đối với đạo Công giáo, chức việc là chức sắc (Giám mục, Linh mục) và tín đồ được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử để giữ các chức vụ trong giáo hội như Giám mục cai quản các Giáo phận, Linh mục Quản xứ các giáo xứ và các ban, ngành trong các các Giáo xứ như: Hội đồng giáo xứ, Ban hành giáo.
1.1.4. Cơ sở tôn giáo và tổ chức tôn giáo Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Cơ sở tôn giáo gồm Chùa, Nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các sinh hoạt tôn giáo.
1.1.5. Quản lý nhà nước đối với Công giáo
Chủ trương, chính sách của Đảng ta về công tác tôn giáo đã được thể hiện rõ tại văn kiện, Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo. Cụ thể hóa quan điểm đó, ngày 18 tháng 6 năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 01 tháng 03 năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo; ngày 04 tháng 02 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01 về một số công tác đối với đạo Tin lành; Ngày 31 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 1940/2008/CT-TTg về nhà, đất liên quan đến tôn giáo; ngày 08 tháng 11 năm 2012 Chính phủ ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Hiện nay đã ban hành Luật Tín Ngưỡng, tôn giáo; Nghị định 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã thể hiện chính sách tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, những quy định pháp luật về sinh hoạt tôn giáo theo hướng mở hơn, thông thoáng hơn.
Các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, được Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND), UBND tỉnh Bình Phước cụ thể hóa bằng các Chỉ thị, Nghị quyết về công tác tôn giáo phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Căn cứ vào các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như các Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ tỉnh xây dựng kế hoạch, một số đề án nghiệp vụ chuyên môn, các chuyên đề, lâu dài, hàng năm, 3 tháng, 6 tháng để triển khai thực hiện công tác tôn giáo, đồng thời hướng dẫn cho các phòng, ban chuyên môn thuộc các huyện, thị xã, thành phố đã tham mưu, đề xuất những kế hoạch triển khai thực hiện công tác tôn giáo trên địa bàn.
Tuy nhiên, đối với công giáo biểu hiện tính tôn giáo và tính dân tộc, ý thức hệ tư tưởng, tôn giáo khác rất phức tạp và phủ nhận lẫn nhau, do đó cần tiếp tục thực hiện quản lý Nhà nước đối với Công giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, muốn thực hiện tốt công tác này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, các ban, ngành, đoàn thể các cấp, quản lý hoạt động của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tổ chức giáo hội, đào tạo chức sắc, nhà tu hành, các hoạt động lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo, lễ hội; sản xuất, lưu thông, đồ dùng việc đạo, đất đai, cơ sở thờ tự..vv
Như vậy, Quản lý nhà nước đối với công giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
1.2. Sự cần thiết và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với công giáo Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
1.2.1. Sự cần thiết quản lý Nhà nước đối với Công giáo
1.2.1.1. Thực hiện chức năng của Nhà nước
Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo là việc thực hiện các quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Quản lý Nhà nước về tôn giáo là một lĩnh vực, nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước, đồng thời là của công tác tôn giáo. Điều này được thể hiện từ trong Nghị quyết số 25/TQ-TW ngày 12/3/2003 của Bộ Chính trị khóa X về công tác Tôn giáo, xác định :tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo.
Về đặc điểm tình hình thực tế tại Việt Nam: Nước ta là nước có nhiều tôn giáo, đa dạng về tổ chức, số lượng, có nguồn gốc phát sinh, du nhập và hình thành khác nhau do đó có ảnh hưởng khác nhau lên mọi mặt của đời sống xã hội.
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và nhà nước ta luôn xác định công tác quản lý nhà nước về tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. Các nghành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những sinh hoạt lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để sinh hoạt chống phá Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, tình hình sinh hoạt tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định. Một số người chưa tuân thủ pháp luật, còn tổ chức truyền đạo trái phép; còn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan. Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai và cơ sở vật chất của tôn giáo ở một số nơi tăng lên, có nơi gay gắt, phức tạp. Ở một số nơi, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những sinh hoạt tuyên truyền chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị.
Thống nhất quan điểm nhất quán trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về tôn giáo, đảng ta đã cụ thể trong văn kiện Đại hội XI (năm 2011) và triển khai thành các văn bản luật cụ thể để thực hiện, hiện nay đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và các văn bản có liên quan. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Sự phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam gắn liền và ít nhiều có sự liên đới với cuộc xâm lược, đô hộ của chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam trong suốt gần một thế kỷ. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, có một bộ phận chức sắc, tín đồ Công giáo đã quay lưng với cách mạng, với dân tộc, gây ra những hệ lụy, tổn thất rất lớn đối với cách mạng Việt Nam và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.
Trong tiến trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, các tôn giáo được bình đẳng trước pháp luật. Cũng như các tôn giáo đang hoạt động tại Việt Nam, Công giáo là khách thể của công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, nhằm đảm bảo, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân gắn với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng tự do, tín ngưỡng tôn giáo thực hiện âm mưu, diễn biến hòa bình chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hệ thống Xã hội chủ nghĩa nói chung do đó, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tôn giáo nói chung trong đó có Công giáo sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt tuân thủ đúng quy định, đúng đường hướng hành đạo. Vừa bảo vệ được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa bảo vệ được quyền và lợi ích của nhân dân, của dân tộc nói chung.
1.2.1.2. Phát huy vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội
Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ.
Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; đấu tranh làm thất bại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch bên ngoài đối với tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta.
Phát huy tinh thần đạo đức gia đình và xã hội như trong 10 điều răn của giáo lý quy định, Hảo kính cha mẹ, Chớ giết người, Chớ làm sự dâm dục, Chớ lấy của người, Chớ làm chứng dối, Chớ muốn vợ chồng người, Chớ tham của người…
Như Điều răn dạy phải tôn kính, yêu mến, biết ơn cha mẹ, Ông bà, Tổ tiên; học trò với thầy; công nhân với chủ nhân; cấp dưới với cấp trên; công dân với chính quyền, với quê hương, và ngược lại (2199).
- Gia đình Công giáo phải tôn trọng vấn đề : sinh sản, giáo dục con cái, cầu nguyện, đọc Lời Chúa hằng ngày củng cố đức ái trong gia đình, loan báo Tin mừng của Chúa.
- Con cái phải yêu mến, tôn kính, biết ơn, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ khi các ngài còn sống, và cầu nguyện khi đã qua đời. (2218).
- Anh chị em trong gia đình, hãy chịu đựng lẫn nhau (2219).
- Các Ki tô hữu phải biết ơn những ai đã đưa mình vào Giáo hội (bà con, ông bà, đỡ đầu, chủ chăn, Giáo lý viên, thầy dạy, bạn bè).
- Gia đình công Giáo với xã hội: Gia đình phải biết chăm sóc các em nhỏ, người lớn, người đau yếu, tật nguyền, nghèo khó (2208). Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
- Bổn phận cha mẹ (người Giám hộ): Sinh, dưỡng, Giáo dục luân lý, đào tạo tinh thần. Tôn trọng con cái như những “con người” và “con Chúa”, làm gương sáng cho con (2221-23). Cha mẹ chọn trường cho con học, hướng dẫn con chọn nghề nghiệp và bậc sống (2229-30).
- Bổn phận các nhà cầm quyền: Phải dùng quyền bính để phục vụ, không được truyền dạy những điều trái phẩm giá con người và trái luật tự nhiên (2235). Thượng cấp phải xử sự công bằng phân phối đồng đều, khôn ngoan nhắm lợi ích công cộng (2236).
1.2.1.3. Đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của công dân
- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
- Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
- Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.
- Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của Nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
- Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, người theo tín ngưỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và Nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Công giáo
1.2.2.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta đối với công tác tôn giáo
Đảng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác tôn giáo nên đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, có tính chất định hướng, chỉ đạo cho các cơ quan nhà nước và toàn xã hội trong hoạt động tôn giáo. Các văn bản pháp luật được ban hành cũng không nằm ngoài chủ trương, định hướng này của Đảng ta.
Ngày 12/03/2003 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW, trong đó khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[2]. Đảng ta coi công tác tôn giáo là “nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng” [2].
Trong mỗi giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể, Đảng ta đã bổ sung, điều chỉnh chủ trương đường lối về hoạt động tôn giáo đảm bảo phù hợp với thực tiễn cách mạng. Đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đời sống nhân dân ngày một cải thiện hơn, Đảng ta đã linh hoạt trong công tác chỉ đạo, định hướng về hoạt động tôn giáo, tạo điều kiện cho tôn giáo có điều kiện duy trì và phát triển trong thời đại mới.
1.2.2.2. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về tôn giáo Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Hệ thống pháp luật được coi là một trong những yếu tố của kiến trúc thượng tầng, có tác động quan trọng đối với hoạt động Quản lý nhà nước trên thực tế. Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở nước ta, pháp luật nhà nước trong công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo cũng có sự điều chỉnh, cập nhật và bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận, trước những diễn biến phức tạp của hoạt động tôn giáo ở cả trong và ngoài nước, sự chống phá, kích động của các thế lực thù địch, công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta đã gặp những sự lúng túng, bị động nhất định ở một vài thời điểm, một vài địa bàn. Nguyên nhân này cũng một phần do những hạn chế, bất cập của những văn bản pháp luật, những cách vận dụng, cách hiểu khác nhau của các cơ quan Quản lý nhà nước.
Những thiếu sót trên là bài học quan trọng và cần thiết cho công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo, nó cũng cho thấy hệ thống pháp luật có vai trò quan trọng như thế nào. Trong tương lai, việc hoàn thiện chính sách pháp luật về tôn giáo là một trong những yếu tố cần phải được xem trọng, đề cao trong công tác nghiên cứu, ban hành các văn bản quản lý. Việc nghiên cứu và ban hành cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống, bám sát tình hình thực tế của Việt Nam và thế giới.
1.2.2.3. Mức độ hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo
Bộ máy cơ quan Quản lý nhà nước về tôn giáo cũng như chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác tôn giáo có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của hoạt động Quản lý nhà nước về lĩnh vực này.
QLNN đối với hoạt động tôn giáo chỉ có thể đạt được hiệu lực, hiệu quả cao khi cán bộ, công chức làm công tác này có kiến thức sâu rộng về pháp luật, tôn giáo cũng như có kiến thức chuyên môn về Quản lý nhà nước, bên cạnh đó phải phát huy hết tinh thần trách nhiệm của mình cũng như thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức làm công tác Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Vì họ là đại diện của chủ thể quản lý, được trao quyền nhất định và được sử dụng công cụ quản lý pháp luật để tác động, điều chỉnh các tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với qui định của pháp luật.
1.2.2.4. Nhận thức của các ngành, các cấp về tầm quan trọng của công tác Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo
Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm, có cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống xã hội và liên quan đến rất nhiều vấn đề của cuộc sống. Các cấp, các ngành cần nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là nền tảng vững chắc góp phần thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta; hướng các hoạt động của tôn giáo vào khuôn khổ quy định của pháp luật; ngày càng tăng cường tốt hơn khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Hiện nay, nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở về tôn giáo và công tác tôn giáo còn hạn chế dẫn đến chưa có biện pháp tích cực, phù hợp trong quản lý, điều hành và xử lý các vấn đề tôn giáo do đó đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước về tôn giáo ở một số địa phương.
Do đó nhiệm vụ đặt ra là phải nâng cao nhận thức về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, công chức được phân công trực tiếp làm công tác tôn giáo.
1.2.2.5. Sự phát triển của kinh tế – xã hội, vấn đề hội nhập và xu thế vận động của tôn giáo
Hiện nay đất nước ta đang ở trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế thị trường nên một bộ phận người dân chưa nhận thức được đầy đủ, rõ ràng về công tác tôn giáo. Mặt khác, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự xúi giục của bọn phản động sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Đây là một vấn đề cần đặc biệt lưu ý và cần đặt ra cho chúng ta trong việc Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
Trong những năm gần đây, tình hình xung đột sắc tộc, vấn đề tôn giáo và những đạo lạ xuất hiện lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ổn định ở một số khu vực trên thế giới và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến Việt Nam. Việc nắm bắt tình hình thế giới để có những cập nhật kịp thời trong công tác quản lý hoạt động về tôn giáo cũng là một trong những yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay và sắp tới đây.
1.3. Chủ thể và nội dung quản lý Nhà nước đối với công giáo
1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
1.3.1.1 Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm:
Chính phủ: theo Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
UBND các cấp: Theo Hiến pháp năm 2013, UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Ngoài ra, các chủ thể tham gia công tác Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo còn có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Văn hóa thể thao và du lịch, Ban Tôn giáo Chính phủ.
Theo Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức Chính quyền địa phương 2015 hiện nay quy định thì chủ thể tham gia quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay gồm:
Bảng 1.1. Chủ thể quản lý nhà nước và các cơ quan tham mưu giúp việc về hoạt động tôn giáo
Hiện nay, ở cấp huyện, UBND quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh (gọi chung là UBND huyện) là chủ thể quản lý trực tiếp hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện. UBND huyện giao cho Phòng Nội vụ, Phòng Dân tộc – Tôn giáo là cơ quan tham mưu, giúp việc trực tiếp cho Chủ tịch UBND huyện trong việc Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
1.3.1.2. Đối tượng quản lý
Đối tượng của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bao gồm:
Tổ chức tôn giáo: ở nước ta hiện nay, tổ chức tôn giáo được coi là tổ chức xã hội, chính vì vậy việc thành lập, chia tách, giải thể,… đều phải tuân theo các quy định của pháp luật.
Tín đồ, chức sắc, nhà tu hành: Là công dân của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam, các tín đồ, chức sắc, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt Nam nhưng cũng mang những đặc trưng riêng của người có đạo. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Ngoài ra, đối tượng Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo còn bao gồm các cơ sở phục vụ các hoạt động sinh hoạt tôn giáo như: nhà thờ, đền, chùa, miếu mạo, các công trình có liên quan phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng giáo dân,… Đây là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, là nơi đồng bào có đạo thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, thờ tự của mình, chính vì vậy các cơ sở ngoài việc hoạt động theo nội quy, giáo điều của các tổ chức tôn giáo còn phải chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam.
1.3.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với tín ngưỡng tôn giáo
Theo quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 [40]:
1.3.2.1. Tổ chức thực hiện thể chế, chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo
Hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước Việt Nam có nhiều bậc thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện ở bậc cao nhất, hiến định rất rõ ràng trong đạo luật gốc – đó là Hiến pháp. Qua các bản Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân đều được ghi nhận và khẳng định.
Hiến pháp 2013, tiếp tục khẵng định quyền con người là quyền tự nhiên, Nhà nước phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền con người đúng như những công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong khi đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được trình bày mở rộng hơn, với các chế định toàn diện và sâu sắc theo hướng ngày càng hoàn thiện, dân chủ, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hoạt động một cách lành mạnh và công bằng nhất.
Tại Điều 24, Chương II quy định:
- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [39].
So với các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 2013 là một bước tiến quan trọng, một sự kế thừa và phát triển trong thời kỳ đất nước ta “Đổi mới và hội nhập sâu” với thế giới. Theo đó, Hiến pháp 2013 cho thấy thái độ cũng như chính sách dân chủ của Nhà nước ta đối với quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để họ thực hiện tốt nhất quyền đó.
Ngày 18/11/2016, Quốc hội khóa 14 đã ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Với việc ra đời của Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Luật tín ngưỡng, tôn giáo gồm có gồm có 09 chương với 68 điều. Luật có nhiều điểm mới, tiến bộ, thể hiện tính công khai, dân chủ, minh bạch, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Các quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo cũng đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật đất đai, Luật xây dựng, Luật di sản văn hóa,… tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để đảm bảo hơn nữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
1.3.2.2. Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Chính phủ thống nhất quản lý về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước. Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương mà ở đây trực tiếp là Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Ban Tôn giáo Chính phủ – Cơ quan của Bộ Nội vụ có nhiệm vụ trực tiếp tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về tôn giáo. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Các Bộ, cơ quan ngang bộ (Bộ Công an, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch,…) và Ủy ban nhân dân các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện đồng thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật.
Đối với các đơn vị hành chính cấp tỉnh, Sở Nội vụ là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh, Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ có chức năng tham mưu cho Sở Nội vụ và UBND tỉnh về công tác quản lý hoạt động tôn giáo. Đối với các huyện, thị, Phòng Nội vụ là cơ quan tham mưu cho UBND các huyện, thị xã. Ở các xã, phường có cán bộ chuyên trách về công tác tôn giáo.
1.3.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tôn giáo
Đối với bất kì lĩnh vực quản lý nào, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn là một trong những yếu tố cực kì quan trọng quyết định đến hiệu quả của công tác quản lý, hơn nữa với một vấn đề nhạy cảm như tôn giáo thì chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác này càng phải được coi trọng hơn.
Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc hòng can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước, công tác tôn giáo vốn đã nhạy cảm, khó khăn, nay lại càng nhạy cảm và khó khăn hơn. Thực tế này đòi hỏi cán bộ làm công tác tôn giáo phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực, khả năng tập hợp, vận động quần chúng và có trình độ am hiểu về tôn giáo, nắm vũng các quy định của pháp luật tốt. Muốn có một đội ngũ như vậy chúng ta cần chú trọng đến công tác tổ chức bộ máy cán bộ, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tôn giáo phải thường xuyên và đặc biệt chú trọng cán bộ cơ sở, vì đây là đội ngũ trực tiếp nhất, thường xuyên có hoạt động giao tiếp, nắm tình hình tôn giáo tại địa phương. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần được được thực hiện bằng nhiều hình thức như cung cấp tài liệu, tập huấn, tham gia các lớp học ngắn hạn, dài hạn về quản lý nhà nước nói chung và quản lý hoạt động tôn giáo nói riêng và cả những đợt đi thực tế để tạo kiến thức chuyên sâu, vững vàng.
1.3.2.4. Phổ biến, giáo dục pháp luật về tôn giáo Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Phổ biến, giáo dục pháp luật có một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là công việc không thể tách rời với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, là phương tiện để truyển tải đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới toàn thể nhân dân, góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của người dân, ảnh hưởng lớn đến hành vi pháp lý và lối sống làm việc theo pháp luật của con người trong đời sống xã hội. Công tác này càng quan trọng khi nó được áp dụng cho đồng bào các tín đồ tôn giáo – một bộ phận không nhỏ của dân tộc Việt Nam (với số lượng hơn 20 triệu người), bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau nhưng chủ yếu là nông dân với điều kiện sống, trình độ dân trí thấp, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình, chống phá cách mạng.
Cùng với việc in ấn, biên soạn tài liệu tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, việc thường xuyên tổ chức các hội nghị phổ biến pháp luật nhà nước về công tác tôn giáo cũng cần được quan tâm, thực hiện. Bên cạnh đó, các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về tôn giáo cũng cần được cụ thể hóa thành các Đề án cụ thể nhằm tăng thêm tính hiệu quả, khả thi cũng như phổ biến rộng rãi đến các đối tượng quần chúng có Đạo.
1.3.2.5. Thực hiện quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo
Hiện nay, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, sự giao lưu quốc tế đã và đang diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó việc giao lưu về tín ngưỡng, tôn giáo cũng không nằm ngoài xu thế này. Thực tế cho thấy, hầu hết các tôn giáo ở Việt Nam như: Công giáo, Phật giáo, Tin lành,… đều du nhập từ nước ngoài vào. Việc quan hệ, giao lưu giữa các tổ chức tôn giáo trong và ngoài nước và giữa các cơ quan quản lý trong và ngoài nước với nhau cũng là một hoạt động quan trọng. Ngoài ra nước ta có hàng triệu kiều bào đang sinh sống và học tập ở nước ngoài với các hoạt động đi lại, quan hệ thường xuyên cũng tác động ít nhiều đến hoạt động quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo.
Thời gian qua, hoạt động quan hệ quốc tế tôn giáo có đóng góp tích cực trong việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế theo tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Lực lượng tham gia hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo không ngừng được mở rộng và phát huy hiệu quả trong thực tiễn với địa bàn hoạt động ngày càng đa dạng, đối tác quan hệ trên kênh đối ngoại tôn giáo ngày càng phong phú, góp phần quan trọng đưa hình ảnh Việt Nam ra với thế giới.
1.3.2.6. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo
Mặc dù về bản chất hoạt động tôn giáo chỉ đáp ứng các nhu cầu tinh thần của các tín đồ tôn giáo, tuy nhiên rõ ràng hoạt động này liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nên tôn giáo không thể hoạt động ngoài các hoạt động của xã hội. Mọi hoạt động của bất kì các cơ quan, tổ chức chính trị – xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Điều này lí giải nguyên nhân tại sao tôn giáo và các hoạt động tôn giáo ở mọi quốc gia và vũng lãnh thổ nào cũng không thể đứng ngoài hệ thống pháp luật.
Đại hội Đại biều toàn quốc lần thứ XII của Đảng ta đã khẳng định việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, chủ trương động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo đúng hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật. Chủ động và tích cực phòng ngừa, đấu tranh với hành vi lợi dụng tôn giáo, để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Để thực hiện tốt chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội khóa XII, trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị cần huy động các nguồn lực để thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp cụ thể, trong đó có công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm có liên quan đến hoạt động tôn giáo. Qua thanh tra, kiểm tra, giúp các cơ quan chức năng phát hiện và kịp thời xử lý những sai phạm trong hoạt động tôn giáo cũng như trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo qua đó từng bước nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta.
1.4. Kinh nghiệm Quản lý nhà nước đối với công giáo tại một số địa phương
1.4.1. Tỉnh Bình Dương
Tỉnh Bình Dương hiện có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo… Trong những năm qua, khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới, công tác vận động chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ các tôn giáo ngày càng được quan tâm bằng các cơ chế, chính sách và giải pháp cụ thể hơn.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội, Bình Dương còn là tỉnh thu hút nhiều lao động nhập cư (cả lao động nước ngoài) đến sinh sống và làm việc. Nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo có xu hướng ngày càng phát triển. Bình Dương luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôn giáo hoạt động ổn định theo đúng với nguyên tắc, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là tỉnh luôn bám sát, thực hiện đúng phương châm “Nghe tôn giáo nói và nói cho tôn giáo hiểu”, sẵn sàng lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết, đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, tạo thuận lợi tối đa cho các cơ sở tôn giáo hoạt động theo đúng giáo lý, giáo luật, hiến chương và quy định của pháp luật. Những vấn đề liên quan đến lĩnh vực cấp phép xây dựng cơ sở tôn giáo, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng diện tích xây dựng, xin thành lập các điểm nhóm sinh hoạt tập trung, đều được các sở, ngành, địa phương quan tâm, giải quyết kịp thời, nhanh chóng, theo đúng trình tự thủ tục đã gây dựng niềm tin cho các tôn giáo.
Các tôn giáo trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. Các cấp chính quyền đã quan tâm tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo truyền thống dân tộc và nghi thức tôn giáo. Nhờ đó, sự huy động tiềm năng và lực lượng của đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao hơn. Sự đóng góp đó không chỉ về vật chất mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Phần lớn các vị chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ tôn giáo đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách. Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực trong lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân và tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, và phong trào thi đua yêu nước. Nổi bật là đồng bào Phật giáo tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, các phong trào từ thiện xã hội, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khuyến học, khuyến tài, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo.
Ngoài ra, với phương châm sống tốt đời, đẹp đạo, nhiều vị chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ còn tham gia vào hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Ban chấp hành các đoàn thể, các tổ chức từ thiện xã hội, tự nguyện, nhiệt tình đóng góp thiết thực và hiệu quả cho các hoạt động.
1.4.2. Tỉnh Đak Nông Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Cấp uỷ, chính quyền từ cấp tỉnh đến cơ sở thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ về công tác tín ngưỡng, tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo tổ chức các nghi lễ theo đúng quy định của Pháp luật; tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo, khắc phục một số tồn tại từ những năm trước. Công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực tôn giáo được tăng cường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công.
Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo; vận động đoàn viên, hội viên nêu cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo tuyên truyền chống phá cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; vận động tín đồ tôn giáo thực hiện phương châm sống “tốt đời đẹp đạo”.
Về công tác phối hợp, các ngành liên quan đã xử lý, giải quyết thực hiện các vụ việc liên quan đến chức sắc, tu sỹ, các tôn giáo khi được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm hoặc thuyên chuyển trong và ngoài tỉnh. Các tổ chức, cơ quan ban ngành đã tổ chức thăm hỏi, chúc mừng chức sắc, tu sỹ nhân các sự kiện trọng đại như đại hội, bầu cử, các dịp Lễ trọng đại của tôn giáo Phật đản, Giáng sinh, Khai đạo..vv Đặc biệt tỉnh đã ban hành Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Qua đó đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã tăng cường công tác vận động quần chúng tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo thực hiện chiến lược “ Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, đấu tranh kiên quyết để xóa bỏ cái gọi là “Tin lành đê ga”, các loại tà đạo, đạo lạ. Đồng thời đấu tranh với các hoạt động tôn giáo trái pháp luật và các phần tử đội lốt tôn giáo lôi kéo, dụ dỗ quần chúng vào các hoạt động trái pháp luật, vì vậy tình hình an ninh trật tự ở vùng đồng bào có đạo cơ bản ổn định.
Thường xuyên tổ chức tập huấn cho đội ngũ làm công tác tôn giáo cấp tỉnh và cơ sở nhằm nâng cao kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ.
Định kỳ hàng quý chính quyền tỉnh phối hợp với các ngành thường xuyên tổ chức gặp mặt chức sắc, chức việc các tôn giáo nhằm thông tin về tình hình trong nước và thế giới để các tôn giáo biết và nắm rõ nhằm tuyên truyền vận động tín đồ thực hiện tốt chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước không nghe theo những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu.
Với đặc thù là một tỉnh có nhiều thành phần dân tộc thiểu số; tỉnh ĐăK Nông đã Tập trung tăng cường phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, các chương trình mục tiêu quốc gia phát triển về kinh tế – xã hội trong vùng đồng bào DTTS nhằm nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của nhân dân và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bình Phước
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bình Phước có thể kế thừa những thành công trong công tác quản lý ở các địa phương nói trên để vận dụng linh hoạt, đồng thời thấy được những hạn chế để tránh những khuyết điểm tương tự. bài học kinh nghiệm có thể đúc kết được đó là: Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Một là, Về công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức
Thực hiện Kế hoạch triển khai thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh và Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020; các ngành, các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hội nghị, lớp bồi dưỡng nhằm tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về tôn giáo cho cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị; chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo và nhân dân trên địa bàn tỉnh. Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước cho cán bộ, công chức và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong hoạt động tôn giáo cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo.
Hai là, Kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo từ tỉnh đến cơ sở, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
Tỉnh Bình phước đã kiện toàn Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo của tỉnh, do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng ban. Tại các huyện đều thành lập Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo, do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy làm Trưởng ban.
Công tác vận động quần chúng luôn được các cấp, các ngành đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, từng đối tượng; việc xây dựng quy chế dân chủ, hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được quan tâm, chú trọng… Do đó đã góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh.
Về bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo: tỉnh ban hành Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 20172020. Qua đó tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Công tác giải quyết nhu cầu tôn giáo các cấp chính quyền đã giải quyết nhu cầu tôn giáo như thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; Giao đất, cấp GCNQSD; Cấp phép xây dựng cơ sở tôn giáo; Chấp thuận bổ nhiệm chức việc; đồng thời xem xét, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tổ chức các cuộc lễ trọng như lễ Phục sinh, lễ Noel, lễ Phật đản, lễ Vu lan và các cuôc lễ không thường xuyên như lễ đặt đá, lễ khánh thành cơ sở tôn giáo, lễ bổ nhiệm trụ trì…kịp thời, đúng pháp luật, tạo được sự đồng thuận của các chức sắc, tín đồ tôn giáo.
Ba là, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo
Các ngành, các cấp rà soát các văn bản pháp luật liên quan đến công tác tôn giáo để kịp thời tham mưu bãi bỏ hoặc bổ sung những văn bản có những nội dung quản lý không còn phù hợp; đồng thời tham mưu UBND tỉnh ban hành 02 văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo tính thống nhất với Luật tín ngưỡng, tôn giáo và tình hình thực tiễn của địa phương, cụ thể: các quyết định quy định về hạn mức giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tôn giáo, quy định phân cấp quản lý, quy định về các thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về tôn giáo…
Bốn là, Công tác tranh thủ chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tôn giáo; tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Các ngành các cấp có liên quan đã phối hợp chặt chẽ với Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban MTTQVN tỉnh, các tổ chức chính trị-xã hội trên địa bàn tỉnh quan tâm triển khai thực hiện thông qua các hoạt động như: gặp mặt, đi thăm tặng quà động viên nhân các ngày lễ, tết của dân tộc và các ngày lễ lớn của các tôn giáo như lễ Phục sinh, lễ Phật đản. Qua đó đã kịp thời động viên chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo gương mẫu chấp hành và vận động tín đồ chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, củng cố lòng tin của chức sắc, tín đồ vào Đảng, Nhà nước, góp phần đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chia rẽ nội bộ tôn giáo và chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo tổ chức các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo theo đúng quy định của pháp luật; tổ chức đoàn khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho người nghèo; mở các cơ sở giáo dục mầm non; tích cực hưởng ứng các phong trào như “Tết vì người nghèo” “đền ơn đáp nghĩa”…vv
Năm là, Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh
Việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với tổ quốc, dân tộc và nhân dân; việc tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc và đồng bào có đạo được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng; quan tâm, tạo điều kiện cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số tổ chức các hoạt động tín ngưỡng dân gian như lễ hội đâm trâu, lễ hội mừng lúa mới… góp phần giữ gìn, phát huy giá trị nhân văn tốt đẹp của dân tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn, tạo được sự đồng thuận cao trong đồng bào tôn giáo, làm cơ sở đấu tranh với tà đạo và hoạt động mê tín dị đoan làm phương hại đến lợi ích của dân tộc và nhân dân.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Kế hoạch về Bảo tồn và phát huy các loại hình văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; Sưu tầm, xác lập dữ liệu ngân hàng tên danh nhân, địa danh lịch sử, ngày truyền thống, danh lam thắng cảnh…
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, báo Bình phước đã sản xuất và phát sóng hơn 200 tin, bài tuyên truyền, phản ánh công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, các hoạt động từ thiện, nhân đạo của chức sắc, tín đồ tôn giáo; công tác giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số; các chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng sâu, xùng sa, vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bình phước trong các chương trình thời sự hàng ngày. Thông qua đó, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh hiểu rõ hơn về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, từ đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, tạo được sự đoàn kết, gắn bó tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống.
Sáu là. Thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm chú trọng đến việc triển khai, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án để phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của quần chúng nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo. Qua đó giúp cho đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng nhân dân nói chung và đồng bào có đạo nói riêng đã từng bước được nâng lên; đồng bào có đạo ngày càng tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, yên tâm sinh hoạt đạo; tích cực hưởng ứng, tham gia các phong trào yêu nước, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Qua nghiên cứu ban đầu học viên đã phân tích và làm rõ một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bước đầu học viên đã phân tích và làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến tôn giáo: các khái niệm về tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng, mê tín dị đoan, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, tín đồ và chức sắc tôn giáo, cơ sở tôn giáo và tổ chức tôn giáo, Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo là những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, là cơ sở khoa học quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài.
Học viên đã chỉ ra sự cần thiết phải thực hiện Quản lý nhà nước về tôn giáo đó là nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước, phát huy vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội cũng như đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của công dân. Tiếp theo, học viên cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với công giáo đó là: sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác tôn giáo; sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật; tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo; nhận thức của các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo và cuối cùng là sự phát triển kinh tế – xã hội, các vấn đề về hội nhập và xu thế vận động của các tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng.
Trong chương này học viên đã phân tích và chỉ rõ chủ thể, đối tượng và các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với công giáo: xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách quản lý; xây dựng và tổ chức bộ máy Quản lý nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tôn giáo; phổ biến, giáo dục pháp luật về tôn giáo; thực hiện quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo và cuối cùng là thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với công giáo. Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước.
Học viên đã nghiên cứu kinh nghiệm ở một số địa phương có những nét tương đồng về điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội với tỉnh Bình Phước như tỉnh Bình Dương, tỉnh Đắk Nông trong Quản lý nhà nước đối với công giáo, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bình Phước trong Quản lý nhà nước đối với công giáo trên địa bàn tỉnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Nâng cao chất lượng công tác thi đua khen thưởng
Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước