Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Các biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với các quy định đã được ban hành về KTĐG

Các văn bản đã ban hành quy định về hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS Trung học phổ thông cũng như các quy định khác liên quan là cơ sở pháp lý có tính bắt buộc. Vì vậy, các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS Trung học phổ thông được đề xuất không được trái với các quy định đã được ban hành.

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học

KTĐG cần phải thay đổi với xu hướng chuyển từ việc quan tâm ĐG đầu ra đến quan tâm ĐG quá trình, từ ĐG ngoài sang kết hợp ĐG ngoài và tự ĐG, từ việc giữ kín tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG sang công khai tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG, từ ĐG riêng lẻ sang ĐG các kỹ năng tổng hợp và kỹ năng vận dụng kiến thức, từ ĐG dựa trên ít thông tin sang ĐG dựa trên nhiều thông tin đa dạng. Những biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính khoa học vận dụng sáng tạo những lý luận cơ bản về Kiểm tra đánh giá. Đáp ứng được nguyên tắc này, Kiểm tra đánh giá sẽ đạt được các yêu cầu đặt ra đó là đảm bảo ĐG chính xác, khách quan, công bằng kết quả học tập của HS và giúp HS cải thiện quá trình học tập của mình.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

Hiểu theo nghĩa chung, hệ thống là chỉnh thể các yếu tố có liên quan đến nhau, tác động và quy định lẫn nhau. Cách tiếp cận hệ thống đòi hỏi xem xét đối tượng như một hệ thống toàn vẹn, phát triển, có cấu trúc và tương tác với nhau. Nhờ sự tương tác theo quy luật riêng của các thành tố cấu tạo hệ thống đã sinh ra chất lượng toàn vẹn của hệ thống. Các chức năng được đề xuất và triển khai thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và Kiểm tra đánh giá, do đó cần đảm bảo các biện pháp không mâu thuẫn, không tách rời nhau mà hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng chặt chẽ và tạo thành một hệ thống nhất, hoàn chỉnh nhằm tác động tới nhiều mặt khác nhau của vấn đề đang được quản lý. Do vậy các biện pháp quản lý phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ thì mới đem lại hiệu quả. Đổi mới phương pháp phải tiến hành đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức, Kiểm tra đánh giá… đồng thời tác động đến đội ngũ GV, phụ huynh, HS nên phải tiến hành đồng bộ các biện pháp. Trong đó cần xác định vai trò của từng biện pháp, xác định việc ưu tiên thực hiện từng biện pháp trong từng giai đoạn cho hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, làm thay đổi chất lượng dạy và học một cách toàn diện. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Đổi mới hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS được xem như một trong những khâu căn bản và mang tính đột phá trong công tác đổi mới Giáo dục phổ thông, nó có thể tác động sâu sắc đến quá trình dạy học trong mỗi nhà trường và cả đời sống Xã hội. Bởi vậy mỗi biện pháp đưa ra bao giờ cũng phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đời sống, thực tiễn hiện trạng và tính đến những ảnh hưởng của những biện pháp đó đến thực tiễn nhà trường. Công tác này cũng đòi hỏi sự đầu tư đáng kể các nguồn lực nên cần phải chú trọng đến nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.

3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và khả thi

Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS trong nhà trường Trung học phổ thông hiện nay đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ. Nhưng đây cũng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi có những bước đi thận trọng trên cơ sở đã phân tích sâu sắc những thực trạng và nguyên nhân để đề ra giải pháp cải tiến. Việc đổi mới không có nghĩa là sự từ bỏ tất cả những mục tiêu, biện pháp, phương thức, công cụ… cũ mà là sự chọn lọc, kế thừa những yếu tố tích cực kết hợp với những yếu tố mới nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Khi đề xuất các biện pháp nào đó cần tính đến điều kiện hiện tại của nhà trường để đảm bảo tính khả thi của biện pháp đó. Biện pháp tiếp theo lại bắt đầu từ những điều kiện mới tốt hơn có được từ kết quả thực hiện các biện pháp trước. Như vậy, kế thừa những gì sẵn có và kế thừa những gì tạo ra từ việc triển khai các biện pháp trước đó thì tính khả thi của các biện pháp được đảm bảo. Các biện pháp đưa ra phải được tuân thủ các nguyên tắc, quy trình Kiểm tra đánh giá trên cơ sở đó sẽ góp phần làm cho công tác dạy và học của nhà trường ngày càng đạt kết quả cao như mong muốn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

3.2. Những biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của học sinh ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Qua phân tích thực trạng của chương 2 có rất nhiều hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai. Nhằm khắc phục thực trạng quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS tác giả luận văn đề xuất một số biện pháp cụ thể như sau:

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với Kiểm tra đánh giá HS cho CBQL, GV và HS Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Trước thực trạng còn một số vấn đề về Kiểm tra đánh giá như chưa có sự nhận thức đúng và đồng thuận như đã phân tích ở chương 2. Một số GV, CBQL nhận thức chưa đúng về vai trò quan trọng của Kiểm tra đánh giá đối với quá trình dạy- học nên dẫn đến họ có tư tưởng đối phó trong triển khai công việc; HS ở các trình độ nhận thức chưa đúng, họ luôn cho rằng mình bị Kiểm tra, bị ĐG nên một số tích cực thì chăm chỉ học tập, một bộ phận lười học thì nghĩ ra nhiều cách tiêu cực để cùng đạt được mục đích là vượt qua kỳ Kiểm tra, thi. Tâm lý Xã hội quá đề cao thi cử, sính bằng cấp tạo ra áp lực lớn đối với người học, từ đó sinh ra bệnh thành tích, tiêu cực trong thi cử và Kiểm tra đánh giá… Do đó, nâng cao nhận thức của những đội ngũ liên quan là vấn đề then chốt và cấp thiết để khắc phục những bất cập và tạo tiền đề cho triển khai các biện pháp tiếp theo.

3.2.1.1. Mục đích

Làm cho CBQL, GV và HS hiểu rõ và nhận thức đúng đắn về vai trò của KTĐG, nhằm xác lập nhận thức mới đúng đắn về Kiểm tra đánh giá học tập, đạt được sự đồng thuận cao trong nhà trường. Đồng thời nâng cao năng lực Kiểm tra đánh giá cho CBQL, GV và HS, tạo động cơ phấn đấu tích cực nhằm đảm bảo chất lượng Giáo dục. Tăng cường tập huấn kỹ năng Kiểm tra đánh giá cho CBQL, GV giúp họ hiểu rõ và có trách nhiệm hơn về nhiệm vụ phải làm, tránh sự chủ quan, lúng túng, sai sót.

Biện pháp nâng cao nhận thức là biện pháp mở đường cho các biện pháp khác. Bởi nó là cơ sở để tập hợp các lực lượng, phát huy tính chủ động tích cực, làm cho đối tượng hiểu mà dẫn đến tự nguyện, thống nhất trong hành động thực hiện mục tiêu chung.

3.2.1.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung biện pháp

  • Bằng các hình thức tự học, tự bồi dưỡng hoặc thông qua các cuộc sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề;
  • Tham gia các lớp tập huấn do Sở Giáo dục&ĐT tổ chức hoặc mời các chuyên gia về Kiểm tra đánh giá về tập huấn cho CBQL, GV, từ đó thấy được vị trí, vai trò, chức năng của Kiểm tra đánh giá, tầm quan trọng của Kiểm tra đánh giá trong việc nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường.
  • Xây dựng một cơ chế khen thưởng, kỷ luật để gắn trách nhiệm của cả CB, GV và HS trong việc thực hiện nghiêm túc mọi công việc trong quá trình thực hiện hoạt động Kiểm tra đánh giá.

Cách thức thực hiện các biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm Kiểm tra đánh giá cho CBQL, GV:

  • Biện pháp để nâng cao nhận thức:
  • Phổ biến các văn bản chỉ đạo của cấp trên về quy chế Kiểm tra đánh giá, đồng thời cũng ban hành hệ thống văn bản của nhà trường về công tác Kiểm tra đánh giá.
  • Cử CBQL và GV cốt cán của các bộ môn tham dự các chương trình tập huấn do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức hằng năm về Kiểm tra đánh giá. Sau khi dự các đợt tập huấn trở về, nhà trường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề để phổ biến lại cho toàn thể CB, GV, tổ chức vận dụng thực hành, làm bài tập nhằm mục đích nâng cao nhận thức về Kiểm tra đánh giá cho CBQL và GV.
  • CBQL, GV thường xuyên cập nhật thông tin, trao đổi và học tập các mô hình, kinh nghiệm Kiểm tra đánh giá của các trường trong khu vực và thành phố.
  • Biện pháp để nâng cao năng lực
  • Hướng dẫn và tổ chức cho GV tiến hành xây dựng ma trận đề, viết câu hỏi Kiểm tra, cách thức thành lập các ngân hàng câu hỏi Kiểm tra đáp ứng mục tiêu môn học, bài học và mục tiêu Kiểm tra đánh giá. Kỹ thuật xây dựng câu hỏi Kiểm tra là hạn chế tương đối lớn của GV, họ chủ yếu xây dựng câu hỏi Kiểm tra đánh giá dựa trên nền tảng kinh nghiệm riêng của bản thân nên chưa có sự thống nhất, đồng đều về nội dung và chất lượng câu hỏi.
  • Hiệu trưởng phải quản lý, tổ chức tốt việc xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức Kiểm tra đánh giá sao cho phù hợp với môn học.
  • Biện pháp để nâng cao trách nhiệm
  • Hiệu trưởng thường xuyên theo dõi việc triển khai các văn bản, quy định đã ban hành, đôn đốc nhắc nhở CB, GV của mình có ý thức thực hiện các loại văn bản đó.

Dựa trên kế hoạch Kiểm tra đánh giá, GV và HS cùng triển khai thực hiện nghiêm túc, không tiêu cực để có kết quả công bằng khách quan. Muốn làm được như vậy, về phía GV phải ý thức được tầm quan trọng của công việc mình đang làm, biết kết hợp các hình thức, phương pháp Kiểm tra đánh giá và Kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục có hệ thống, nhất là đối với các bài Kiểm tra thường xuyên, Kiểm tra định kỳ để có thể nhận định một cách chính xác năng lực, trình độ, kết quả đạt được của HS, về phía HS phải có thái độ nghiêm túc, coi Kiểm tra đánh giá là hoạt động học tập bổ ích không thể thiếu, từ đó chủ động thu nhận thông tin phản hồi từ các bài Kiểm tra đánh giá để điều chỉnh hoạt động học của mình cho hiệu quả và đáp ứng mục tiêu. Có chế độ khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác Kiểm tra đánh giá học tập. Đồng thời cũng có những hình phạt nghiêm minh đối với những đối tượng vi phạm quy chế. Chất lượng của công tác Kiểm tra đánh giá gắn liền với chất lượng dạy và học của mỗi nhà trường, gắn liền với quyền lợi của CBQL, GV và HS. Để góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục của cấp học, toàn thê CB, GV cần phải nỗ lực có gắng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về Kiểm tra đánh giá cho HS:

Tổ chức các buổi giới thiệu về công tác Kiểm tra đánh giá học tập, các quy định, quy chế cần thực hiện nghiêm túc trong cả quá trình học tập tại nhà trường. Thông qua đó giúp HS nhìn nhận rõ hơn môi trường học tập của mình và có định hướng tích cực hơn về mục tiêu học tập, góp phần tạo dựng ý thức, động cơ và thái độ học tập đúng đắn của HS nhằm đạt mục tiêu.

Xác định vai trò, chức năng và nguyên tắc của Kiểm tra đánh giá, mục tiêu, tiêu chí, hình thức và nội dung Kiểm tra đánh giá tới từng HS và nêu rõ tầm quan trọng của thông tin phản hồi từ Kiểm tra đánh giá đối với hoạt động học tập để họ nhìn nhận nghiêm túc hơn đối với Kiểm tra đánh giá, coi Kiểm tra đánh giá là hoạt động bổ ích, là phương tiện giúp họ đạt được mục tiêu trong học tập. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Hướng dẫn HS tự học, tự Kiểm tra đánh giá để HS phát triển khả năng tự học theo mục tiêu môn học, tiêu chí ĐG và quan trọng nhất là khả năng tự học suốt đời, đây là quyền lợi sát thực đối với HS và cũng là trách nhiệm gắn liền với các em.

Việc tổ chức, hướng dẫn cho HS tự ĐG về kết quả học tập của mình là một trong những giải pháp đổi mới phương pháp dạy học quan trọng, tác động tích cực đến việc Giáo dục nhân cách và kỹ năng cho HS. Qua việc tự ĐG, HS có thể tự bồi dưỡng rèn luyện cho mình các phẩm chất sau:

  • + Sự tự tin.
  • + Kỹ năng tự nhận thức, tự khám phá.
  • + Kỹ năng tự chủ.
  • + Kỹ năng xác lập mục tiêu và lập kế hoạch hành động.
  • + Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin.

Đặc biệt Kiểm tra đánh giá thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể giúp học sinh sử dụng câu hỏi Kiểm tra như những công cụ để tự học và phát triển tư duy.

Để giúp cho HS thực hành kỹ năng tự ĐG, BGH cung cấp cho HS các biểu mẫu, các tiêu chí và mục tiêu yêu cầu ĐG, phân công GV hướng dẫn HS tự ĐG, hoặc công khai các kế hoạch dạy học.

Khuyến khích và tổ chức cho HS cam kết chống tiêu cực trong thi cử, thực hiện Kiểm tra đánh giá nghiêm túc để có thành tích thật, kết quả thật. Đồng thời nhà trường phải xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế thi bằng các hình thức trừ điểm, đình chỉ thi, hạ hạnh kiểm… và tuyên dương, khen thưởng đối với những HS mạnh dạn tố cáo các hình thức gian lận, tiêu cực trong Kiểm tra đánh giá. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Mở các chủ đề về Kiểm tra đánh giá trên diễn đàn thuộc cổng thông tin trực tuyến nhà trường, qua đó vừa nắm bắt thực trạng, nguyện vọng HS, vừa kết hợp tuyên truyền, đăng những bài tham luận của những nhà khoa học, nhà Quản lý, nhà giáo, hoặc đưa tin về các hoạt động liên quan đến Kiểm tra đánh giá. Thực hiện “ba công khai”:

Công khai hóa và minh bạch hóa thông tin để Xã hội giám sát.

Lồng ghép các hình thức thi đua vào để Kiểm tra nhận thức về Quy chế Giáo dục-ĐT. Trong đó, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu quy chế Kiểm tra đánh giá trong nhà trường.

Thông qua những thông tin phản hồi từ các bài Kiểm tra giúp HS tự ĐG kiến thức, kỹ năng đạt được và chưa đạt được của bản thân để từ đó điều chỉnh hoạt động học tập của mình.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Cần bố trí nguồn kinh phí, thời gian tổ chức tập huấn, biên soạn hoặc phát hành tài liệu…

3.2.2. Biện pháp 2: Tổ chức chuẩn hóa nội dung, xây dựng kế hoạch, quy trình Kiểm tra đánh giá cho các môn học và quản lý các quy trình Kiểm tra đánh giá

3.2.2.1. Mục đích

Giúp GV xây dựng bộ chuẩn kiến thức, kĩ năng, phẩm chất của người học cho từng bộ môn (còn được hiểu là mục tiêu bài học), trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và quy trình Kiểm tra đánh giá cho bộ môn mình. Khi các bộ môn đã xây dựng, thực hiện được quy trình Kiểm tra đánh giá học tập của HS một cách khoa học thì việc quản lý quy trình Kiểm tra đánh giá đó sẽ dễ dàng, chặt chẽ và hiệu quả hơn.

3.2.2.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung biện pháp:

Công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai cần tuân thủ theo một quy trình khoa học. Cụ thể là:

  • Chuẩn hóa nội dung kiến thức.
  • Xây dựng kế hoạch hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS.
  • Xây dựng quy trình Kiểm tra đánh giá cho các bộ môn.
  • Quản lí quy trình Kiểm tra đánh giá học tập của HS.

Cách thức thực hiện biện pháp:

Chuẩn hóa nội dung kiến thức môn học Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Đây là bước quan trọng để làm cơ sở xây dựng ngân hàng câu hỏi cho từng môn, hướng đến sự khách quan, minh bạch hóa trong Kiểm tra đánh giá cũng như có tác dụng định hướng, tạo sự chủ động, tích cực cho học sinh trong quá trình học tập, ôn tập. Thực chất có thể coi đây là bước xây dựng chuẩn đầu ra cho môn học, là những yêu cầu bắt buộc mỗi học sinh phải đạt được về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất sau khi kết thúc một giai đoạn học tập của môn học.

Xây dựng kế hoạch hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS

Giai đoạn chuẩn bị kế hoạch: Ban Giám hiệu, tổ chuyên môn phải thấy được tầm quan trọng của việc thu thập và phân tích các thông tin ở trạng thái xuất phát. Đây là cơ sở để nhà quản lý nêu ra hướng phát triển cơ bản trong một hoạt động.

Giai đoạn kế hoạch hóa: Để giúp cho CBQL điều khiển hoạt động Kiểm tra đánh giá một cách toàn diện, cân đối, có trọng tâm và đạt hiệu quả cao trước tiên phải xây dựng các kế hoạch từ kế hoạch tổng thể đến kế hoạch chi tiết: kế hoạch chuẩn bị câu hỏi Kiểm tra, kế hoạch Kiểm tra, chấm điểm, kế hoạch xử lý kết quả Kiểm tra, kế hoạch Kiểm tra giám sát… Ban Giám hiệu, tổ chuyên môn lên kế hoạch tổng thể quy định quản lý hoạt động Kiểm tra thường xuyên, định kỳ (viết 45’, thực hành, học kỳ…). Phân chia nhiệm vụ cho các nhóm GV, GV và thông tin trao đổi từ phía CB, GV để có điều chỉnh cần thiết, phù hợp. Bản dự thảo kế hoạch sau khi điều chỉnh và trình Ban Giám hiệu ký duyệt sẽ chuyển tới các tổ chuyên môn. Đây là bản kế hoạch chính thức thực hiện trong cả năm học. Các tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn hướng dẫn GV của mình dựa vào kế hoạch của nhà trường lập kế hoạch của tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn và của cá nhân GV trên cơ sở bám sát thực trạng và năng lực của GV để sắp xếp vào các công việc: hướng dẫn ôn tập, chuẩn bị câu hỏi Kiểm tra, coi và chấm… Hướng dẫn cho HS thông qua kế hoạch của nhà trường tự lên kế hoạch cho bản thân trong cả năm học.

Các bước xây dựng kế hoạch Kiểm tra đánh giá bao gồm:

  • b1 – Xác định mục tiêu cần đạt của mỗi môn học với từng đơn vị nội dung dạy học trong một đơn vị thời gian.
  • b2 – Tổng hợp mục tiêu cần đạt cho môn học ứng với các đơn vị thời gian.
  • b3 – Dự kiến kế hoạch Kiểm tra đánh giá các mục tiêu đó vào những thời điểm phù hợp.
  • b4 – Dự kiến Kiểm tra đánh giá các mục tiêu vào thời điểm phù hợp.

Bảng 3.1. Kế hoạch Kiểm tra đánh giá cho các môn học Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Chất lượng là sự tuân theo các chuẩn đề ra và đạt được các mục tiêu đề ra. Đề Kiểm tra đánh giá có chất lượng nhất thiết phải có mục tiêu Kiểm tra đánh giá và chuẩn Kiểm tra đánh giá. Hoạt động Kiểm tra đánh giá phải được tiến hành theo một hệ thống chuẩn và các bước tiến hành chặt chẽ, thống nhất để đạt mục tiêu đề ra. Hệ thống các bước tiến hành và các chuẩn đó chính là quy trình. “Quy trình là các bước phải tuân thủ theo khi tiến hành một công việc nào đó”. Quy trình chính là hệ thống các chuẩn được xây dựng để đạt được mục đích đề ra. Quy trình là hệ thống chặt chẽ bao gồm các bước phải tuân theo và cuối mỗi bước đều có tiêu chí ĐG, khi đạt được tiêu chí của bước đó mới được chuyển sang bước tiếp theo. Do vậy, việc xây dựng quy trình Kiểm tra đánh giá và thực hiện quản lý Kiểm tra đánh giá theo quy trình là yếu tố quyết định chất lượng Kiểm tra đánh giá. Quy trình Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS bao gồm các bước sau :

  • Bước 1: Xác định mục đích ĐG.
  • Bước 2: Xác định hình thức Kiểm tra đánh giá.
  • Bước 3: Xác định nội dung cần ĐG và bậc nhận thức tương ứng với các nội dung đó, tỉ lệ các bậc nhận thức phù hợp, đáp ứng mục đích ĐG
  • Bước 4: Viết soạn câu hỏi Kiểm tra đánh giá ứng với nội dung và bậc nhận thức của nội dung đó.
  • Bước 5: Tổ hợp thành đề Kiểm tra
  • Bước 6: Phân tích câu hỏi Kiểm tra
  • Bước 7: Tổ chức in sao đề Kiểm tra đánh giá.
  • Bước 8: Tổ chức thi, chỉ đạo chấm bài.
  • Bước 9: Ghi điểm vào phiếu chấm, nhập điểm vào máy tính, nhận xét bài làm của từng HS.
  • Bước 10: Trả bài, nhận xét, phân tích kết quả, rút kinh nghiệm và lưu trữ.

Quản lý việc thực hiện quy trình Kiểm tra đánh giá

KTĐG học tập của HS là khâu cuối cùng của quá trình dạy học. Trong Kiểm tra đánh giá các nhà trường chưa có sự thống nhất cao về nội dung cũng như cách thức tiến hành. Điều này khó thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy và Kiểm tra đánh giá các môn học trong trường. Theo tác giả luận văn, các nhà trường cần đổi mới phương pháp Kiểm tra đánh giá phù hợp với yêu cầu thực tế. Cụ thể:

Bước 1: Tổ chức, chỉ đạo xác định mục đích đánh giá

Việc xác định mục đích của các kỳ Kiểm tra đánh giá là hết sức quan trọng, bởi lẽ nó định hướng xây dựng các bài Kiểm tra phải đạt được các mục đích này. Khi tổ chức một kỳ Kiểm tra phải trả lời được câu hỏi: Cho ai? Để làm gì?

Cho HS (và phụ huynh): Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • KTĐG phải đạt được mục đích động viên, khuyến khích, tạo động lực cho HS học tập và tiến bộ.
  • KTĐG phải giúp được HS tự ĐG được sự tiến bộ (hay tụt lùi) của mình.
  • KTĐG để giúp HS rút kinh nghiệm, điều chỉnh quá trình học tập của bản thân.
  • Theo dõi sự tiến bộ của từng HS để có kế hoạch hỗ trợ.
  • Thu thập các thông tin từ các bài Kiểm tra đánh giá để điều chỉnh quá trình dạy học của mình (như phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, tổ chức nội dung dạy học).
  • Rút kinh nghiệm sau mỗi kỳ Kiểm tra đánh giá để tổ chức lần sau tốt hơn.
  • Giám sát quá trình dạy – học của thầy – trò.
  • Từ đó có các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ thầy trò dạy – học tốt hơn.

Bước 2: Chỉ đạo các bộ môn việc lựa chọn phương pháp và hình thức Kiểm tra đánh giá phù hợp.

Hình thức Kiểm tra đánh giá phải phù hợp với hình thức tổ chức dạy học của từng môn và yêu cầu cần đạt được: kiến thức hiểu biết, kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống. Các hình thức Kiểm tra đánh giá cần được sử dụng linh hoạt kể cả việc phối hợp các hình thức Kiểm tra đánh giá với nhau nhằm đạt mục tiêu. Đối với cấp Trung học phổ thông, hình thức Kiểm tra đánh giá đã được quy định tại Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Phân phối chương trình, hướng dẫn giảng dạy các môn của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. Phương pháp Kiểm tra đánh giá phải có tác dụng khuyến khích phương pháp học tập mới đó là tính chủ động, sáng tạo trong học tập, giúp cho HS thể hiện được năng lực của mình. Sau khi lựa chọn và áp dụng phương pháp và hình thức Kiểm tra đánh giá cần kiểm chứng mức độ hiệu quả của nó để rút kinh nghiệm, thay đổi để phù hợp nhằm đạt mục đích cuối cùng là xác định chính xác kết quả học tập của HS. Cấp Trung học phổ thông hiện nay thường sử dụng 2 phương pháp Trắc nghiệm khách quan và Trắc nghiệm tự luận. Ngay từ đầu năm cần thông báo cho HS biết mục tiêu môn học, hình thức, phương pháp Kiểm tra đánh giá, tỷ lệ điểm thành phần, cách tính kết quả học tập để HS có định hướng phấn đấu trong quá trình học tập.

Bước 3: Tổ chức xác định nội dung cần đánh giá và bậc nhận thức tương ứng với các nội dung đó, tỉ lệ các bậc nhận thức phù hợp, đáp ứng mục đích đánh giá

Tổ bộ môn phân công GV thiết lập dàn bài Kiểm tra, ma trận kiến thức trên cơ sở đó xây dựng hoặc lựa chọn câu hỏi Kiểm tra đánh giá theo yêu cầu cụ thể về nội dung kỹ thuật. Việc xây dựng ma trận đề tất nhiên phải dựa vào nội dung đã được chuẩn hóa (chuẩn đầu ra) trong từng chương, bài của môn học trước đó. Dưới đây là một ví dụ thiết lập ma trận đề Kiểm tra học kỳ:

Bậc nhận thức Nội dung Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Bảng 3.2: Mẫu ma trận đề kiểm tra HK
  • Bước 4: Tổ chức chỉ đạo viết câu hỏi Kiểm tra đánh giá ứng với nội dung và bậc nhận thức của nội dung đó

Dựa trên những bậc mục tiêu dạy – học bậc 1, bậc 2, bậc 3 ta sẽ tiến hành xây dựng câu hỏi Kiểm tra đánh giá học tập theo các mục tiêu đó, có thể phân loại thành các câu hỏi bậc 1, bậc 2, bậc 3 như sau:

Đối với câu hỏi Kiểm tra đánh giá bậc 1: Đây là những câu hỏi để Kiểm tra năng lực nhận thức ở mức độ ghi nhớ, có thể tái hiện, mô tả lại những kiến thức của người học. Các câu hỏi Kiểm tra đánh giá bậc 1 sẽ được xây dựng dưới dạng câu hỏi Trắc nghiệm khách quan và tập trung vào việc Kiểm tra độ nhớ lý thuyết của HS.

Đối với câu hỏi Kiểm tra đánh giá bậc 2: Đây là những câu hỏi mà GV dùng để Kiểm tra năng lực nhận thức ở mức độ hiểu bài: có thể trình bày lại được kiến thức theo ngôn ngữ diễn đạt của mình nhưng vẫn đúng nội dung, có thể áp dụng định luật, công thức vào giải quyết các bài tập đơn giản, có thể chỉ ra được các mối liên hệ trong một đơn vị kiến thức, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã được trình bày giống với bài giảng của GV hoặc trong sách giáo khoa. Các câu hỏi Kiểm tra đánh giá bậc 2 sẽ được xây dựng dưới dạng câu hỏi Trắc nghiệm tự luận kết hợp với Trắc nghiệm khách quan. Qua đó vừa có tác dụng Kiểm tra năng lực thông hiểu vấn đề của HS để có câu trả lời đúng, đồng thời cũng Kiểm tra, rèn luyện được kỹ năng viết, sử dụng ngôn ngữ, kiến thức.

Đối với câu hỏi Kiểm tra đánh giá bậc 3: Là những câu hỏi yêu cầu học sinh phải thể hiện được khả năng phân tích, tổng hợp, ĐG khi giải quyết các vấn đề.

Khả năng phân tích đòi hỏi HS phải biết chia thông tin ra thành những phần nhỏ rồi chỉ ra mối liên hệ với tổng thể.

Khả năng tổng hợp là sự kết hợp thông tin khác nhau thành một hệ thống và chỉ ra sự gắn kết các thông tin trong một hệ thống mới.

Khả năng ĐG là dựa trên kết quả phân tích, tổng hợp các thông tin, học sinh có thể đưa ra những nhận định, phán quyết đối với sự vật gắn với những chuẩn mực hay tiêu chí của nó.

Cũng trong dạng câu hỏi bậc 3, đòi hỏi HS phải sử dụng các khái niệm về môn học – chủ đề để giải quyết các vấn đề mới, không giống với những điều đã được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhận thức này. Đây là những vấn đề giống với các tình huống HS sẽ gặp phải ngoài Xã hội. Đây là năng lực đặc biệt, các câu hỏi Kiểm tra năng lực này thường là những câu hỏi khó và để làm được những câu hỏi này đòi hỏi HS phải nắm vững kiến thức đồng thời phải sáng tạo có năng lực ĐG.

Các nhóm chuyên môn tổ chức thảo luận các nội dung Kiểm tra đánh giá và viết các câu hỏi Kiểm tra kèm đáp án từng môn học tương ứng với mục tiêu và nội dung bao trùm nội dung của bài giảng và sách giáo khoa.

Bước 5: Tổ chức tổ hợp thành đề Kiểm tra Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Sau khi xây dựng được câu hỏi Kiểm tra đánh giá học tập theo các bậc mục tiêu, GV sẽ xây dựng được một hệ thống ngân hàng câu hỏi để chuẩn bị cho việc soạn các đề Kiểm tra. Nhóm trưởng chuyên môn tổ hợp câu hỏi thành 3 đến 5 đề theo cấu trúc đề Kiểm tra.

Bước 6: Tổ chức phân tích đề Kiểm tra

Sau khi hoàn chỉnh một đề Kiểm tra, nhóm trưởng cùng phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn phân tích đề Kiểm tra đó, theo các tiêu chí sau:

  • Đảm bảo số câu cho các bậc nhận thức theo ma trận đề.
  • Đảm bảo số câu cho các nội dung Kiểm tra.
  • Đảm bảo các nội dung trong dàn bài.

Đảm bảo việc hoàn chỉnh phù hợp cho đối tượng Kiểm tra. Đây là giai đoạn thẩm định đề theo thang bậc nhận thức, tuyệt đối không được hiểu sai các thang bậc nhận thức, việc hiểu sai sẽ dẫn đến số câu hỏi cho các bậc sẽ sai và hiển nhiên số câu hỏi cho các bậc không còn theo dàn bài nữa, việc đó sẽ dẫn đến GV sẽ thu được kết quả sai trong Kiểm tra và ĐG. Trước khi in ấn, tổ trưởng hoặc nhóm trưởng nhóm chuyên môn cần phân tích đề bằng cách làm bài với tư cách là HS. Trong quá trình làm bài sẽ phát hiện những sai số có thể và độ dài của bài Kiểm tra. Thông thường, GV cần 2/5 đến 1/2 thời gian so với thời lượng làm bài của HS là phù hợp.

Bước 7: Tổ chức in sao đề Kiểm tra và đóng gói đề thi

Photocopy đề Kiểm tra theo số lượng HS từng phòng Kiểm tra (hoặc lớp Kiểm tra) và niêm phong túi đề Kiểm tra. Trong quá trình photocopy, in ấn đề Kiểm tra tránh để xảy ra những sai sót không đáng có như thiếu trang, thiếu chữ, nhầm lẫn trang…

Đặc biệt lưu ý đối với đề Trắc nghiệm khách quan yêu cầu có nhiều mã đề thì cần phải sử dụng công cụ phần mềm để trộn đề, khi in sao cần phải sắp theo một quy luật để tránh trùng lặp và lộn xộn mã đề.

Bước 8: Tổ chức coi thi, chấm thi

Chỉ đạo tổ chức đổi chéo Kiểm tra và phân công GV chấm chéo bài Kiểm tra theo quy chế. Quán triệt tới từng CB coi Kiểm tra tính nghiêm túc của kỳ Kiểm tra phụ thuộc rất lớn vào thái độ và cách xử lý tình huống của các GV coi Kiểm tra. Do vậy, GV coi Kiểm tra cần thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để công tác tổ chức Kiểm tra đạt hiệu quả, mang tính khách quan, công bằng. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

+ Phải có trách nhiệm giám sát HS trong suốt quá trình HS làm bài thi hoặc Kiểm tra.

  • Yêu cầu HS không được mang tài liệu vào phòng thi và sử dụng các dụng cụ không được phép vào phòng thi.
  • Phải thực hiện cách phát đề theo đúng quy định về thi trắc nghiệm nếu có.
  • Lập biên bản và đề nghị xử lý đối với các trường hợp vi phạm quy định về Kiểm tra.
  • Không được ra ngoài bỏ vị trí trong suốt quá trình làm thi, Kiểm tra.
  • Không được nhờ GV khác coi thi hộ nếu như Ban Giám hiệu không đồng ý.
  • Để đảm bảo tính khách quan, trước khi giao bài cho CB chấm Kiểm tra, bài Kiểm tra được Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo đánh phách, dọc phách theo đúng quy định. Hiệu trưởng phân công GV chấm chéo bài Kiểm tra theo từng bộ môn cụ thể.

Việc chấm bài đối với các bài thi Trắc nghiệm khách quan thì chấm theo thực tế, tuy nhiên đối với các bài Trắc nghiệm tự luận, sẽ có thống nhất giữa các GV chấm. Tại đây BGH sẽ quy định thời gian hoàn thành công tác chấm. Để đảm bảo theo đúng quy chế bài làm của HS cũng sẽ được làm tròn theo đúng quy định.

Bước 9: Tổ chức ghi chép điểm và nhận xét cho từng HS trong sổ điểm

Sau khi bài Kiểm tra được trả về cho HS để lấy ý kiến phản hồi từ phía HS, nếu không còn ý kiến thắc mắc Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo GV ghi điểm vào sổ điểm của lớp. Kết quả Kiểm tra (bảng điểm chính thức) của HS sau khi chấm sẽ được lưu ở văn phòng (bảng điểm gốc) và các GV (bảng điểm phô tô) để có sự đối chiếu, theo dõi chéo. Tránh hiện tượng tiêu cực xảy ra như xin điểm, sửa chữa điểm …

Bước 10: Trả bài, nhận xét, lên điểm, phân tích kết quả, rút kinh nghiệm và lưu trữ

Đây là khâu quan trọng của quy trình Kiểm tra đánh giá. Cần cho HS những lời nhận xét chân tình, gợi ý, giúp đỡ để HS không phạm lại những sai lầm, cố gắng học tập để đạt điểm cao hơn trong các bài Kiểm tra sau. Sau khi điểm được nhập vào máy tính, tổ Khảo thí sẽ in thống kê chất lượng bài Kiểm tra hoặc bài thi đó trình lên Ban Giám hiệu theo mẫu sau:

Bảng 3.3. Mẫu thống kê kết quả thi, Kiểm tra

Căn cứ vào bảng thống kê đó, GV sẽ nhận ra được số các HS không đạt cho các nội dung là bao nhiêu. Trên cơ sở GV sẽ có kế hoạch phụ đạo cho HS, đồng thời theo bảng thống kế đó BGH sẽ có căn cứ để ĐG viên và xếp loại GV, đồng thời cũng là nội dung để các nhóm chuyên môn có kế hoạch điều chỉnh và đổi mới phương pháp dạy học. Công tác này sẽ phản ánh chính xác năng lực nhận thức cho HS và năng lực dạy học đối với GV. Đây là giai đoạn mà GV, cũng như BGH rất quan tâm đối với công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Cần quyết tâm cao của BGH cùng đội ngũ giáo viên, ngoài ra có thể thuê các chuyên gia tư vấn giúp nhà trường một số khâu trong quá trình thực hiện biện pháp này…

3.2.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học sinh.

3.2.3.1. Mục đích

Trong những năm gần đây, ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý giáo dục nói chung được xem là một giải pháp hữu hiệu giúp đổi mới công tác quản lý và giảng dạy. Vì vậy cần giúp CBQL, GV có kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin thành thạo vào công tác quản lý và giảng dạy của mình.

3.2.3.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung biện pháp

Xây dựng, khai thác và ứng dụng có hiệu quả các phần mềm tin học để quản lý kết quả đạt được của HS: điểm thi, Kiểm tra, điểm rèn luyện như : phầm mềm quản lý HS trong đó có chức năng quản lý điểm, quản lý các kỳ Kiểm tra; quản lý ngân hàng câu hỏi, đề Kiểm tra kèm đáp án; phần mềm trộn đề Kiểm tra…

  • Khai thác triệt để mạng internet vào việc tra cứu tài liệu, thu thập, trao đổi thông tin cần thiết cho quản lý và giảng dạy, hệ thống thư điện tử…
  • Xây dựng và khai thác có hiệu quả trang thông tin website của nhà trường nhằm quảng bá, giới thiệu về nhà trường cũng như công khai kết quả Kiểm tra, kết quả học tập. Sử dụng Công nghệ thông tin để quản lý, xử lý, thống kê, báo cáo và ĐG chất lượng Giáo dục của nhà trường…
  • Sử dụng Công nghệ thông tin trong quản lý toàn bộ hoạt động dạy và học của nhà trường, đặc biệt là hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS.

Cách thức thực hiện biện pháp

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu, đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp và là con đường ngắn nhất dẫn đến sự thành công. Từ năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy chủ đề năm học là: “Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin và đổi mới công tác quản lý tài chính”. Từ đó đến nay, hằng năm Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đều có những văn bản chỉ đạo việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào nhà trường, 3 năm tổ chức một lần ngày hội Công nghệ thông tin từ cấp cụm đến toàn ngành. Đây là một cơ hội tốt để nhà trường đẩy mạnh việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học, quản lý nhà trường và đặc biệt là Kiểm tra đánh giá học tập của HS. Để làm tốt điều này cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau: Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Về công tác chỉ đạo: Cần thành lập Ban chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng

Xây dựng kế hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng Công nghệ thông tin trong từng giai đoạn, trước mắt là giai đoạn 2015-2020. Ban chỉ đạo có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong nhà trường cho từng năm học cụ thể. Trong đó chú trọng các nhiệm vụ và giải pháp nâng cao trình độ Công nghệ thông tin cho đội ngũ; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị Công nghệ thông tin; tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác Quản lý giáo dục, sử dụng thiết bị Công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học.

Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, Nhân viên về tầm quan trọng, sự cần thiết về nhiệm vụ đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy, tổ chức các hoạt động Giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đổi mới.

Chuẩn bị các điều kiện thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin: + Về đội ngũ: Bồi dưỡng kiến thức tin học cho đội ngũ CBQL, GV, Nhân viên các nhà trường với các nội dung cụ thể, thiết thực như: tin học căn bản, truy cập Internet, thiết kế bài giảng điện tử, kỹ thuật xử lý âm thanh, hình ảnh,… Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng và mời giảng viên dạy ngay tại trường. Vận động CBQL, GV, Nhân viên tự học, tự bồi dưỡng, cử CB, GV tham gia đầy đủ các lớp học bồi dưỡng, nâng cao kiến thức tin học do sở tổ chức. Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ CBQL và GV về nhận thức, kỹ năng việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy đặc biệt chú trọng việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy và Kiểm tra đánh giá học tập của HS nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục.

Tập trung nghiên cứu, làm chủ những ứng dụng của các phần mềm hỗ trợ soạn câu hỏi Kiểm tra, phần mềm quản lý ngân hàng câu hỏi và trộn đề Kiểm tra Trắc nghiệm khách quan, nhất là trộn đề môn Tiếng Anh.

Về cơ sở vật chất, thiết bị ứng dụng Công nghệ thông tin: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật theo hướng: Nâng cấp, phân quyền sử dụng hợp lý và khai thác có hiệu quả cổng thông tin điện tử và hệ thống Website nhà trường nhằm quảng bá các hoạt động của nhà trường cũng như công khai minh bạch hóa kết quả học tập, kết quả các kì Kiểm tra của nhà trường; Nâng cấp hạ tầng mạng Internet cáp quang nhằm tăng tốc độ đường truyền tín hiệu, đáp ứng yêu cầu học tập và Kiểm tra qua mạng của HS; lắp đặt thiết bị phát wifi phủ sóng toàn bộ khuôn viên nhà trường để thuận tiện cho việc kết nối, truy cập internet của cả GV và HS; Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Thiết lập và sử dụng hệ thống e-mail mang tên miền riêng, đảm bảo mỗi CB và GV có ít nhất một địa chỉ e-mail, khuyến khích tạo địa chỉ e-mail cho HS để tiện trao đổi việc giảng dạy và học tập; đầu tư trang bị các thiết bị, phương tiện ứng dụng Công nghệ thông tin hiện đại như bảng điện tử thông minh. Nâng cấp, bổ sung ứng dụng các phần mễm hỗ trợ quản lý và giảng dạy có chất lượng cao. Ưu tiên cho khai thác, sử dụng các phần mềm hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học; phần mềm Quản lý HS, trong đó bao gồm các chức năng: quản lý các kỳ Kiểm tra, các kỳ khảo sát chất lượng cho phép khai báo môn Kiểm tra, đánh số báo danh, chia phòng Kiểm tra, nhập điểm Kiểm tra và tổng hợp báo cáo; quản lý điểm của tất cả các bài Kiểm tra, tính điểm trung bình môn, trung bình các môn và xếp loại học lực cho HS.

Tổ chức các hoạt động ứng dụng Công nghệ thông tin: Tăng cường tổ chức và tham gia các hoạt động đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin như: Tổ chức các Hội thi ứng dụng Công nghệ thông tin giỏi cho CBQL, GV, Nhân viên nhằm phát triển mạnh mẽ phong trào sáng tạo phần mềm phục vụ dạy – học và quản lý, lồng ghép các nội dung thi hiểu biết và thực hành tin học vào các Hội thi GV giỏi … Tiếp tục duy trì và tổ chức tốt Ngày hội Công nghệ thông tin ngành giáo dục hàng năm.

Xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục nhằm tiếp tục đầu tư mua sắm và tu bổ cơ sở vật chất kỹ thuật: phòng vi máy vi tính cho HS, máy tính cho các bộ phận chuyên môn, cho GV, các thiết bị hiện đại sử dụng làm công cụ hỗ trợ việc ứng dụng Công nghệ thông tin.

  • Tổ chức tốt các cuộc thi cho HS như: thi giải toán qua mạng Internet, thi Olympic Tiếng Anh.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Cần đầu tư kinh phí thích đáng cùng các giải pháp, ý tưởng công nghệ, có đội ngũ CB- GV thành thạo Công nghệ thông tin sẵn sàng đón nhận và làm chủ công nghệ.

3.2.4. Biện pháp 4: Xây dựng đội ngũ GV cốt cán, chuyên trách cho các kỳ Kiểm tra đánh giá

3.2.4.1. Mục tiêu biện pháp

Thành lập và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ Kiểm tra đánh giá cho một đội ngũ GV cốt cán, chuyên trách để sẵn sàng hỗ trợ toàn diện, tích cực cho GV trong quá trình Kiểm tra đánh giá về nghiệp vụ, về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị,…; nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến hoạt động Kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá.

3.2.4.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Ra quyết định thành lập Tổ khảo thí bao gồm những CB, GV có đủ điều kiện, phẩm chất làm cốt cán. Chức năng chính là hỗ trợ, tham mưu cho BGH để tổ chức các hoạt động liên quan đến Kiểm tra đánh giá, thực hiện các công việc khi được phân công.

Liên tục bồi dưỡng, trang bị kiến thức và kỹ năng Kiểm tra đánh giá cho đội ngũ cốt cán, làm nòng cốt cho hoạt động Kiểm tra đánh giá. Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng đội ngũ cốt cán này chỉ đảm nhiệm vai trò hỗ trợ bên cạnh vai trò của GV bộ môn, làm cho công việc đó trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả, chính xác và khách quan hơn chứ không phải là làm thay GV bộ môn.

Cách thức thực hiện biện pháp

Mời các chuyên gia Kiểm tra đánh giá về hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng quy trình làm việc và cách thức tổ chức của công tác này.

Cử các thành viên Tổ khảo thí đi học bồi dưỡng chuyên môn, trong các đợt tập huấn của ngành về Kiểm tra đánh giá, tham quan một số trường có mô hình làm tốt công tác Kiểm tra đánh giá.

Việc thành lập Tổ Khảo thí về Kiểm tra đánh giá sẽ làm thay đổi mô hình quản lý Kiểm tra đánh giá học tập của HS trong trường. Nhằm chuyên môn hoá hoạt động Kiểm tra đánh giá, giảm tải công việc cho GV và hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý Kiểm tra đánh giá, các nhiệm vụ chính của Tổ Khảo thí bao gồm:

  • Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động liên quan đến Kiểm tra đánh giá trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường đã được phê duyệt.
  • Phối hợp với các tổ nhóm chuyên môn trong trường xây dựng quy trình và công cụ ĐG thống nhất.
  • Tổ chức xây dựng ngân hàng câu hỏi thi, Kiểm tra làm cơ sở để xây dựng đề
  • Thực hiện các công việc cơ bản của công tác Kiểm tra đánh giá
  • Bảo quản các tài liệu liên quan theo quy định.
  • Phối hợp với các đơn vị trong trường chuẩn bị cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ Kiểm tra đánh giá.
  • Thực hiện tổng hợp và báo cáo định kỳ cho Ban Giám hiệu về hoạt động Kiểm tra đánh giá, kết quả Kiểm tra đánh giá, ĐG chất lượng dạy và học.
  • Thường xuyên đề xuất với BGH những biện pháp cải tiến hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS nhằm nâng cao chất dạy và học.. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Tổ Khảo thí là bộ phận hết sức quan trọng trong công tác đổi mới Kiểm tra đánh giá. Tổ Khảo thí là bộ phận thay mặt lãnh đạo nhà trường Kiểm tra đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV và chất lượng học tập của HS. Do vậy, những CB khảo thí phải là những ngưòi thấm nhuần tư tưởng đổi mới Kiểm tra đánh giá, đồng thời phải luôn luôn công tâm, công bằng, chính xác và khách quan khi ĐG hiệu quả giảng dạy của GV cũng như chất lượng học tập của HS. Chỉ cần một sai lầm nhỏ trong công tác Kiểm tra đánh giá cũng dễ dẫn đến tiêu cực, mất đoàn kết trong GV và trong cả HS.

Lãnh đạo trường phối hợp cùng với Tổ Khảo thí Kiểm tra đánh giá GV và chất lượng học tập của HS, đồng thời cũng tạo điều kiện để Tổ Khảo thí hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Có kế hoạch phát triển đội ngũ, bố trí nguồn lực chi thường xuyên cho hoạt động này.

3.2.5. Biện pháp 5: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá học sinh

3.2.5.1. Mục tiêu biện pháp:

  • Cảnh báo những sai sót, tiêu cực có thể xảy ra giúp bộ phận quản lý và GV có phương án điều chỉnh kịp thời hạn chế tối đa những sai sót, tiêu cực;
  • Phát hiện kịp thời những sai sót, tiêu cực để ngăn chặn và xử lý kịp thời đảm bảo Kiểm tra đánh giá khách quan, công bằng và chính xác. Góp phần làm cho chất lượng ĐT của nhà trường, của hệ thống được đảm bảo, tạo dựng lòng tin trong Xã hội, mặt khác, là công cụ ĐG hiệu quả công tác quản lý của nhà trường trong hoạt động Kiểm tra đánh giá.

3.2.5.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung biện pháp

Thanh tra, Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý nhằm ĐG kết quả hoạt động của hệ thống, kịp thời dự báo và phát hiện các sai sót nảy sinh trong quá trình hoạt động, tìm nguyên nhân và biện pháp sửa chữa. Kế hoạch hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành mục tiêu, còn thanh tra, Kiểm tra xác định tổ chức hoạt động có phù hợp với mục tiêu về kế hoạch không. Công tác Kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều khâu như chuẩn bị về cơ sở vật chất, ra đề, tổ chức coi thi, chấm thi, quản lý điểm thi. Mỗi một khâu trong đó không được thực hiện nghiêm túc sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng ĐG kết quả học tập của HS và tạo ra sự không công bằng đối với HS. Trên thực tế, qua khảo sát cho thấy công tác thanh tra, Kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai thường chỉ tập trung vào khâu coi thi và chấm thi, còn các khâu khác cũng rất quan trọng nhưng cũng rất dễ phát sinh tiêu cực (ra đề, sao in đề, quản lý đề, quản lý điểm, …) thì ít được thanh tra. Hiện tượng lộ đề, làm sai lệch điểm do khách quan hay chủ quan không phải không có. Từ lý luận và thực tiễn đang diễn ra cho thấy tăng cường thanh tra, Kiểm tra là việc làm cần thiết.

Cách thức thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Trước hết, công tác thanh tra phải coi trọng nhiệm vụ cảnh báo để giúp phòng tránh những bất trắc có thể xảy ra, chứ không nên coi thanh tra là phải phát hiện ra những sai sót để trừng phạt hay kỷ luật người vi phạm. Để làm việc này, công tác thanh tra phải được tiến hành sớm trước khi diễn ra kỳ thi, Kiểm tra. Nhiệm vụ của bộ phận thanh tra là xem xét toàn bộ quy trình Kiểm tra đánh giá cũng như kế hoạch và sự chuẩn bị cho việc thực hiện quy trình đó để cảnh báo những sai sót, tiêu cực có thể xảy ra và kiến nghị điều chỉnh. Chẳng hạn, với phương pháp tự luận mà bố trí quá nhiều thí sinh trong một phòng thi hoặc bố trí một giám thị coi thi cho một phòng thi thì khó đảm bảo coi thi nghiêm túc; xem xét điều kiện đảm bảo cho việc quản đề, nhận đề, … Những phát hiện và kiến nghị để cho hoạt động Kiểm tra đánh giá được khách quan, chính xác, nghiêm túc thuộc phần trách nhiệm của công tác thanh tra.

  • Cần tránh thanh tra hình thức, cần xác định những nơi, những việc quan trọng, những công việc dễ sai sót làm ảnh hưởng đến kỳ thi để tập trung thanh tra chứ không nên dàn trải đều khắp sẽ dẫn đến hời hợt, không hiệu quả.
  • Phải xử lý nghiêm theo quy định và khen thưởng thoả đáng với những ai
  • phạm hay thành tích theo những phát hiện, kiến nghị của thanh tra.

Công tác Kiểm tra do lãnh đạo nhà trường, đặc biệt là lãnh đạo bộ phận chuyên trách đảm nhiệm. Kiểm tra được thực hiện thường xuyên liên tục trong tất cả các khâu, tất cả các công việc. Thông qua Kiểm tra, CBQL điều hành nhắc nhở, uốn nắn nhân viên của mình để tránh những sai sót có thể xảy ra, kịp thời điểu chỉnh những việc làm sai và đảm bảo các công việc được hoàn thành đúng tiến độ và quy định. Công tác Kiểm tra cần phải liên tục và sâu sát hơn công tác thanh tra. Đối với một số môn thi, lãnh đạo nhà trường cùng với tổ Khảo thí nhờ những GV giỏi chuyên môn có uy tín cao để Kiểm tra nội dung đề thi và chấm thi. Các GV đó có thể xem xét và xác định đề thi có đáp ứng được các yêu cầu mục tiêu môn học không và chọn xác suất một số bài thi để chấm lại. Ngoài ra, cần có cơ chế Kiểm tra lẫn nhau trong từng bộ phận và giữa các bộ phận đảm bảo mọi công việc được thực hiện chính xác, khách quan. Cũng giống như công tác thanh tra, Kiểm tra tránh hình thức và phải xử lý kỷ luật hay khen thưởng thoả đáng và kịp thời.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Cần nắm vững quy trình Kiểm tra đánh giá, quy chế thi, kiểm tra và nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra.

3.2.6. Biện pháp 6: Sử dụng Kiểm tra đánh giá như một động lực thúc đẩy học tập của học sinh

3.2.6.1. Mục tiêu biện pháp: Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Nhằm góp phần đổi mới cách dạy và cách học trong nhà trường thông qua việc đổi mới cách thức Kiểm tra đánh giá.
  • Là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo sự công khai, minh bạch, công bằng trong Kiểm tra đánh giá cũng như đảm bảo chất lượng đầu ra của học sinh phổ thông.
  • Bộ câu hỏi (ngân hàng câu hỏi) môn học phải được xây dựng trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được chuẩn hóa có ý nghĩa như một chuẩn đầu ra môn học.

3.2.6.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Nội dung biện pháp

Trong quan niệm của nhiều người lâu nay, Kiểm tra đánh giá được xem như một khâu độc lập với quá trình dạy học, là bước đo lường để qua đó xác nhận kết quả học tập là chính. Song quan niệm này ngày nay cần phải thay đổi, vì Kiểm tra đánh giá là một khâu không những không thể tách rời quá trình dạy học mà còn được xem như một động lực thúc đẩy việc học tập của học sinh. Một trong số các chức năng của Kiểm tra đánh giá là chức năng dạy học. Điều đó có nghĩa là có thể sử dụng những yếu tố của Kiểm tra đánh giá như những công cụ trực tiếp để dạy học chứ không chỉ dừng lại ở việc Kiểm tra đánh giá nhằm xác nhận kết quả học tập nữa.

Là sự cụ thể hóa chủ trương đổi mới Kiểm tra đánh giá từ chỉ chú trọng ĐG tổng kết sang ĐG quá trình, từ Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là chính sang Kiểm tra đánh giá vì hoạt động học tập và Kiểm tra đánh giá như hoạt động học tập là chính.

Cách thức thực hiện biện pháp

Tổ chức cho giáo viên xây dựng bộ chuẩn đầu ra cho từng môn học, nó bao gồm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản, tối thiểu mà mỗi người học cần phải đạt được sau khi kết thúc một khóa trình. Điều này lâu nay đã được thực hiện khá phổ biến ở bậc Giáo dục đại học, còn ở bậc phổ thông thì thường chỉ dừng ở việc xây dựng mục tiêu dạy học của từng bài, chương hay môn học.

Sự khác biệt căn bản giữa chuẩn đầu ra với mục tiêu môn học là ở chỗ, nếu như chuẩn đầu ra là sự quy định giới hạn (khuôn, mốc) tối thiểu bắt buộc người học phải vượt qua, thì mục tiêu môn học lại thể hiện những yêu cầu mang tính kỳ vọng đối với người học. Mặt khác mục tiêu môn học là những kế hoạch mà người dạy đề ra, từ đó sử dụng các biện pháp dạy học tác động đến người học nhằm đạt được mục tiêu ấy. Trong khi đó chuẩn đầu ra sau khi xác định sẽ được công khai cho tất cả người học thấy trước, từ đó có kế hoạch chiếm lĩnh, tích lũy kiến thức, rèn luyện năng lực để đáp ứng những yêu cầu của chuẩn (đạt chuẩn). Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Chuẩn đầu ra cần phải bao quát được toàn bộ chương trình môn học, phải bao gồm cả kiến thức, năng lực và thái độ. Xây dựng chuẩn đầu ra không có nghĩa là thay thế cho mục tiêu môn học mà trái lại phải được xây dựng trên cơ sở mục tiêu cụ thể của môn học đó. Đối với kiến thức phải làm rõ môn học trang bị cho người học những kiến thức gì của môn học, trình độ nhận thức của những kiến thức đó theo thang bậc của G. Bloom. Đối với kỹ năng phải làm rõ môn học rèn luyện kỹ năng môn học đến mức độ nào theo thang bậc của RH. Dave (bắt chước, thao tác, chuẩn hóa, phối hợp và thành thạo), về thái độ, giá trị có thể áp dụng theo tiêu chí thang bậc của DR. Krathwohl; B.S Bloom và B.B Masia).

Nội dung chuẩn đầu ra môn học có thể xây dựng theo các mẫu dưới đây:

Bảng 3.4. Mẫu xây dựng chuẩn đầu ra môn học về kiến thức

Bảng 3.5. Mẫu xây dựng chuẩn đầu ra môn học về kỹ năng

Bảng 3.6. Mẫu xây dựng chuẩn đầu ra môn học về thái độ, giá trị

  • Tổ chức cho giáo viên thiết kế ngân hàng câu hỏi.

Trên cơ sở đã xây dựng được bộ chuẩn đầu ra cho từng môn học, nhà trường có thể tổ chức cho giáo viên từng bộ môn tiến hành thiết kế, xây dựng ngân hàng câu hỏi Kiểm tra, bài tập thực hành ứng với nội dung đã xác định trong bộ chuẩn đầu ra đó. Để tránh chồng chéo công việc, đồng thời cũng phát huy tối đa trí tuệ tập thể, tổ trưởng nên giao mỗi giáo viên bộ môn phụ trách chính soạn câu hỏi ở một phần (khối) nhất định, sau đó sẽ đổi chéo cho nhau để rà soát, phản biện, bổ sung và hoàn chỉnh.

Quá trình tiến hành soạn câu hỏi cần lưu ý từ một câu hỏi tự luận hỏi gộp nhiều ý có thể tách ra thành những câu hỏi nhỏ (hỏi từng ý) để tăng độ tin cậy, độ giá trị của câu hỏi. Cũng trên cơ sở những câu hỏi nhỏ này, chúng ta sẽ có câu hỏi Trắc nghiệm khách quan khi thêm vào đó các phương án trả lời.

Ngân hàng câu hỏi Trắc nghiệm tự luận phải được làm trước để bao quát chương trình, trên cơ sở đó công khai cho toàn thể giáo viên và học sinh biết trước nhằm định hướng việc học tập môn học cho các em và quan trọng hơn, giáo viên có thể sử dụng nó như một công cụ để dạy, học sinh coi đó như những nhiệm vụ môn học đề ra cần phải vượt qua.

Các bài trắc nghiệm giao cho học sinh nếu được soạn thảo một cách công phu có thể được xem như một cách diễn đạt các mục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiến thức, kỹ năng nhất định. Nó có tác dụng định hướng hoạt động học tập tích cực chủ động của học sinh.

Việc xem xét thảo luận các câu hỏi trắc nghiệm một cách nghiêm túc, có thể xem như một phương pháp dạy học tích cực giúp người học chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, đồng thời giúp cho người dạy kịp thời bổ sung điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả.

Các câu hỏi hay bài tập cũng phát huy rất tốt tác dụng thúc đẩy học tập, như một con đường để tiếp cận kiến thức, tạo ra bối cảnh để các em bộc lộ, rèn luyện kỹ năng, cảm xúc, thể hiện giá trị khi thông qua các trò chơi trí tuệ.

Điều kiện thực hiện biện pháp: Cần có sự đổi mới về chương trình, SGK hay ít nhất là sự đổi mới về quan điểm thực thi chương trình và SGK hiện hành trong khi chờ đợi Bộ Giáo dục&ĐT ban hành chương trình và SGK mới.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Mỗi biện pháp đều có vai trò hết sức quan trọng nhằm nâng cao, đổi mới Kiểm tra, ĐG học tập của HS. Mỗi biện pháp đều có những ưu điểm nhất định phù hợp với một nhiệm vụ cụ thể của công tác quản lý. Biện pháp này là tiền đề của biện pháp kia và nó cũng chịu ảnh hưởng chi phối của các biện pháp khác. Vì vậy các biện pháp đề xuất trong đề tài này cần được tiến hành đồng bộ. Nếu thực hiện đơn lẻ các biện pháp sẽ không mang lại hiệu quả cao.

Biện pháp 1 là tiền đề đầu tiên của tất cả các biện pháp khác, nó có tác dụng thúc đẩy các biện pháp tiếp theo đạt hiệu quả hơn. Trong quá trình dạy học thì tư tưởng chính trị, ý thức trách nhiệm của người GV cũng như nhận thức của HS chính là một yêu cầu không thể thiếu và phải được đặt lên hàng đầu.

Đối với biện pháp 2 là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong việc đổi mới và hoàn thiện quy trình Kiểm tra đánh giá học tập của HS của CBQL nếu thực hiện không tốt công tác này thì chất lượng HS của nhà trường sẽ không thể đáp ứng với yêu cầu hiện nay.

Biện pháp 3 là một yêu cầu rất quan trọng trong bối cảnh cần phải áp dụng những phương pháp, hình thức ĐG mới và đảm bảo độ chính xác, khách quan, hiệu quả.

Biện pháp 4 sẽ giúp cho việc Kiểm tra đánh giá trở nên chuyên nghiệp, hỗ trợ tích cực cho GV và người quản lý hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất.

Biện pháp 5 là tăng cường công tác thanh tra, Kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá học sinh. Với biện pháp này nếu thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế sẽ giúp cho quá trình thực hiện đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động Kiểm tra đánh giá. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

Biện pháp 6 được xem như một thể nghiệm táo bạo nhằm đưa hoạt động Kiểm tra đánh giá trở thành một động lực trực tiếp thúc đẩy việc học tập của học sinh. Do đó, các biện pháp được đề xuất ở trên phải được kết hợp đồng thời, nhất quán mới đem lại hiệu quả quản lý công tác Kiểm tra, đánh giá HS trong nhà trường.

Các biện pháp trên đây tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau luôn có những tác động chi phối lẫn nhau. Vì vậy có thực hiện đồng bộ các biện pháp thì mới thúc đẩy việc nâng cao ĐG chất lượng HS và sẽ chống được hiện tượng gian lận trong báo cáo, bệnh thành tích của Giáo dục. Thực hiện tốt, có hiệu quả các biện pháp quản lý trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HS, đáp ứng yêu cầu của đổi mới Giáo dục phổ thông mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

3.4. Kết quả khảo cứu về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp

Để ĐG mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất, tác giả đã tiến hành xin ý kiến của các CBQL, GV trong và ngoài nhà trường. Tổng số CBQL, GV được xin ý kiến là 105 người. Kết quả tổng hợp ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi được trình bày ở bảng 3.7

Bảng 3.7: Đánh giá của CBQL, GV về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp

Số liệu bảng trên cho thấy công tác đổi mới công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai trong thời gian tiếp theo là rất cần thiết, với 6 nhóm biện pháp nêu trên được đưa ra khảo sát, kết quả cho thấy phần đa đều cho kết quả rất khả thi, khả thi, rất cần thiết và cần thiết.

Biện pháp thứ nhất: ” Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với Kiểm tra đánh giá HS cho CBQL, GV và HS “. Đây là kim chỉ nam cho việc hành động đúng, biện pháp này có tính cần thiết và tính khả thi cao, bởi lẽ dễ thực hiện và triển khai, chỉ cần nhà trường có kế hoạch là triển khai được. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Mức cần thiết: 86.67% cho là rất cần thiết, 13.33% cho là cần thiết.
  • Tính khả thi: 82.86% cho là rất khả thi, 17.14% cho là khả thi.

Biện pháp thứ hai: “Tổ chức chuẩn hóa nội dung, XD kế hoạch, quy trình Kiểm tra đánh giá cho các môn học và quản lý các quy trình Kiểm tra đánh giá”. Đây là biện pháp có tính khả thi cao, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện ở tất cả các môn và phải thực hiện đúng, thực hiện tốt trong công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS.

  • Mức cần thiết: 73,33% cho là rất cần thiết, 21,90% cho là cần thiết, 4,76% cho là không cần thiết.
  • Tính khả thi: 71,43% cho là rất khả thi, 23,81% cho là khả thi, có 4,76% chp là không khả thi

Biện pháp thứ ba: “Chỉ đạo việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai”. Đây là biện pháp được đại đa số GV trong toàn trường nhận xét là rất cần thiết và có tính khả thi tương đối cao, biện pháp này đã giảm được rất nhiều thời gian đối với GV trong việc tính điểm và thông báo kết quả cho phụ huynh HS. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận CB GV ngại học và sử dụng Công nghệ thông tin nhưng nếu ban giám hiệu các trường có sự động viên khuyến khích họ kịp thời chắc chắn họ sẽ thực hiện được.

Biện pháp thứ tư: “Xây dựng đội ngũ GV cốt cán, chuyên trách cho các kỳ Kiểm tra đánh giá”. Trong bối cảnh thực trạng này còn nhiều khó khăn, lúng túng trong một số khâu thực hiện, nhất là sự thiếu chuyên nghiệp của GV nên nhận được sự tán đồng rất cao của CBQL và GV.

  • Mức cần thiết: 79,52% cho là rất cần thiết, 22.9% cho là cần thiết, 6,67% cho là không cần thiết.
  • Tính khả thi: 84,76% cho là rất khả thi, 14,29% cho là khả thi, 0,95 cho là không khả thi.

Biện pháp thứ năm: “Tăng cường công tác thanh tra, Kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS”. Biện pháp này được GV đánh giá là rất cần thiết và có tính khả thi cao, đây là công việc giúp đảm bảo công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này. Nếu như ban giám hiệu có sự chỉ đạo sát sao thì hiệu quả của biện pháp này còn cao hơn rất nhiều.

  • Mức cần thiết: 86,67% cho là rất cần thiết, 13,33% cho là cần thiết.
  • Tính khả thi: 83,81% cho là rất khả thi, 15,24% cho là khả thi, 0,95% cho là không khả thi.

Biện pháp thứ sáu: “Sử dụng câu hỏi Kiểm tra đánh giá như một công cụ để thúc đẩy việc học tập của học sinh” cũng nhận được sự đồng tình rất cao của GV và học sinh. Qua phỏng vấn trực tiếp các em cũng tỏ ra khá hào hứng và cho rằng sẽ dễ dàng và chủ động hơn rất nhiều nếu “nhà trường” công bố câu hỏi ngay từ đầu để các em còn biết đường mà bố trí thời gian, lựa chọn nội dung ôn tập. Học sinh cũng đề xuất ý kiến với nhà trường tổ chức nhiều cuộc thi kiểu trò chơi trí tuệ để đông đảo các em đều được tham gia. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Mức cần thiết: 71,43% cho là rất cần thiết, 20,00% cho là cần thiết, 8,57% cho là không cần thiết.
  • Tính khả thi: 90,48% cho là rất khả thi, 7,62% cho là khả thi, 1,90% cho là không khả thi.

Tiểu kết chương 3

Qua nghiên cứu lý luận cũng như nắm bắt thực trạng việc quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai với góc độ một CBQL, tác giả đã nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai. Cụ thể:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với Kiểm tra đánh giá HS cho CBQL, GV và HS
  • Biện pháp 2: Tổ chức chuẩn hóa nội dung, xây dựng kế hoạch và quy trình Kiểm tra đánh giá cho các môn học và quản lý các quy trình Kiểm tra đánh giá
  • Biện pháp 3: Chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động KTĐG HS.
  • Biện pháp 4: Xây dựng đội ngũ GV cốt cán, chuyên trách cho các kỳ Kiểm tra đánh giá
  • Biện pháp 5: Tăng cường công tác thanh tra, Kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá HS

Biện pháp 6: Sử dụng Kiểm tra đánh giá như một động lực thúc đẩy học tập của học sinh. Các biện pháp đề xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, làm tiền đề cho nhau và đều ảnh hưởng ở những giác độ khác nhau đến kết quả và hiệu quả của Kiểm tra đánh giá. Qua khảo nghiệm các biện pháp đều được các CBQL, GV đánh giá là cần thiết và khả thi.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

1. Kết luận

1.1. Về lý luận: Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý trường Trung học phổ thông, Kiểm tra đánh giá và các vấn đề liên quan đến đổi mới Kiểm tra đánh giá. Việc nghiên cứu phần lý luận nói trên đã định hướng và xác lập nên cơ sở giúp cho tác giả nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá của HT để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Về thực tiễn: Luận văn đã ĐG một cách khá đầy đủ, khái quát về Giáo dục trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai nói chung và hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS nói riêng. Đồng thời, luận văn đã ĐG thực trạng Quản lý, Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá của trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai trong những năm qua, thấy được những khó khăn, thuận lợi những mặt đạt được cũng như hạn chế và lý giải nguyên nhân của thực trạng đó.

Hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai những năm gần đây nói chung đã có nhiều chuyển biến tích cực. Lãnh đạo nhà trường thường tổ chức những kỳ thi tập trung, đã bước đầu XD được ngân hàng câu hỏi, có sự Kiểm tra, giám sát hoạt động Kiểm tra đánh giá… Tuy nhiên những gì nhà trường đã áp dụng trong những năm qua mới chỉ là những biện pháp riêng lẻ, ứng phó, dựa trên kinh nghiệm thử – sai, phương pháp Kiểm tra đánh giá còn đơn điệu, lạc hậu và chưa thực sự khuyến khích vì sự tiến bộ người học.

Nguyên nhân của thực trạng trên bao gồm cả những yếu tố khách quan và chủ quan, cả do tác động trào lưu Xã hội và yếu tố hạn chế trong công tác quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá trong nhà trường.

1.3. Về việc đề xuất một số biện pháp Quản lý Kiểm tra đánh giá ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay

Kết hợp kết quả nghiên cứu lý luận với kết quả nghiên cứu về thực trạng công tác Quản lý Kiểm tra đánh giá ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai, luận văn đề xuất 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Các biện pháp đó là: Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  1. Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với Kiểm tra đánh giá HS cho CBQL, GV và HS.
  2. Tổ chức chuẩn hóa nội dung, XD kế hoạch và quy trình Kiểm tra đánh giá cho các môn học và quản lý các quy trình Kiểm tra đánh giá.
  3. Chỉ đạo việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá HS.
  4. Xây dựng đội ngũ GV cốt cán, chuyên trách cho các kỳ Kiểm tra đánh giá.
  5. Tăng cường công tác thanh tra, Kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá HS.
  6. Sử dụng Kiểm tra đánh giá như một động lực thúc đẩy học tập của học sinh.

1.4. Về kết quả kiểm định nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay

Kết quả kiểm định nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi cho thấy các biện pháp Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay do luận văn đề xuất được ĐG là có tính cần thiết và khả thi. Sự cần thiết thể hiện ở chỗ nó giúp giải quyết việc khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong công tác Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS, đồng thời đưa hoạt động này đi vào nề nếp, góp phần thay đổi nhận thức, quan niệm, phương pháp Kiểm tra đánh giá của cả đội ngũ CBQL, GV và HS trong bối cảnh công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và đào tạo đang diễn ra mạnh mẽ. Mặt khác, các biện pháp đề ra trong luận văn có tính khả thi cao vì không phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan, không yêu cầu đầu tư lớn về tài lực – vật lực mà chủ yếu dựa vào các yếu tố chủ quan, chỉ cần có sự đầu tư thời gian, công sức hợp lý và quan trọng hơn cả là phải có sự nhiệt huyết, quyết tâm cao của đội ngũ CBQL và GV. Vì vậy khả năng vận dụng vào thực tế công tác Quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá học tập của HS ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay là thuận lợi.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội

Phòng Quản lý thi và kiểm định chất lượng giáo dục (Sở Giáo dục – Đào tạo) cần thường xuyên tổ chức các hội nghị tập huấn cho đội ngũ GV cốt cán các trường những chuyên đề về Đổi mới Kiểm tra đánh giá.

Có kế hoạch, giải pháp tăng cường trang thiết bị dạy học cho các trường Trung học phổ thông, nhất là các trường ngoại thành còn nhiều khó khăn như trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai.

  • Đối với Ban Giám hiệu trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai

BGH nhà trường quan tâm hơn nữa tới công tác Kiểm tra đánh giá học tập của HS, có kế hoạch áp dụng 6 biện pháp như luận văn đề xuất, coi đây là công việc cấp thiết cần làm ngay để đảm bảo tính nghiêm minh, khách quan trong thi cử.

Có kế hoạch bồi dưỡng để phát triển đội ngũ từ các tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, GV và HS trong toàn trường. Có thể mời chuyên gia giỏi trong lĩnh vực Kiểm tra đánh giá về tập huấn cho đội ngũ GV.

Khuyến khích GV có những biện pháp hiệu quả và thiết thực trong công tác Kiểm tra đánh giá với tinh thần tạo động lực cho HS trong học tập và đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng.

Tổ chức thường xuyên các lớp học nâng cao trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học… để đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường và Xã hội.

  • Đối với GV

Các tổ chuyên môn nhà trường cùng với BGH xây dựng kế hoạch Kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ cho tất cả các môn học và đôn đốc GV và HS nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó.

Bản thân mỗi CB, GV cần nghiêm túc thực hiện quy chế, quy định về Kiểm tra đánh giá, đồng thời tự giác, tích cực và sáng tạo trong công việc; luôn có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu áp dụng những kỹ thuật Công nghệ thông tin mới, tiên tiến để công việc đạt hiệu quả cao nhất; chia sẻ kinh nghiệm, hiểu biết của mình với đồng nghiệp và đề xuất triển khai với nhà trường; luôn có tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong Kiểm tra đánh giá.

Ngoài ra, những biện pháp mà tác giả đã đề xuất trong luận văn này là kết quả của sự nghiên cứu lý luận, trải nghiệm thực tiễn công tác quản lý ở đơn vị và đặc biệt là dựa trên kết quả nghiên cứu tình hình thực trạng ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – Thanh Oai, ngoại thành Thành phố Hà Nội trong thời gian những năm 2010 – 2015. Bởi vậy khi nghiên cứu và áp dụng ở một đơn vị khác và trong hoàn cảnh thời gian khác thì cần phải được xem xét cẩn trọng, cụ thể, tránh áp dụng máy móc vì nó không phải khi nào và ở đâu cũng cũng đều phù hợp. Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học tập học sinh

One thought on “Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá học tập học sinh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464