Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Vài nét về giáo dục – đào tạo và giáo dục Mầm non ở huyện Lục Ngạn, Bắc Giang

2.1.1. Vài nét về Giáo dục – Đào tạo huyện Lục Ngạn, Bắc Giang

Lục Ngạn là một huyện miền núi của Tỉnh, nằm trên trục đường Quốc lộ 31, có địa giới hành chính như sau:

  • Phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng – Tỉnh Lạng Sơn;
  • Phía Tây và Nam giáp huyện Lục Nam – Tỉnh Bắc Giang;
  • Phía Đông giáp huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang.

Trung tâm huyện lỵ cách trung tâm thành phố Bắc Giang 40km, có tổng diện tích tự nhiên là 101.223,72 ha, với 30 đơn vị hành chính được chia thành 2 vùng rõ rệt : Vùng thấp gồm 17 xã và 1 thị trấn, vùng cao gồm 12 xã.

Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi địa hình chia cắt thành hai vùng rõ rệt là vùng núi và vùng đồi thấp; Lục Ngạn là huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên 101,728km2 với 30 xã, thị trấn, trong đó có 12 xã vùng cao, 18 xã, thị trấn miền núi. Dân số toàn huyện năm 2012 là 215.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 49%, với 08 dân tộc anh em (Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa, Dao, Cao Lan) sinh sống đan xen ở 394 thôn bản, khu phố, tạo nên sự giao thoa văn hoá đặc sắc mà ít nơi nào có được. Những giá trị văn hoá phi vật thể của các dân tộc vẫn còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn như: trang phục, phong tục, các làn điệu dân ca Sloong hao, Sli, lượn, hát đối…. Là vùng đất được hình thành và phát triển từ rất sớm

Từ 2011 đến 2015 tăng lên 14,6% và đến 2020 đạt 15,4%. Tương ứng từng giai đoạn, tốc độ tăng trưởng GTSX nông – lâm – thuỷ sản là 12,5%, 12,0% và còn 11,0% vào năm 2020. Giá trị sản xuất Công nghiệp, xây dựng tăng mạnh trong giai đoạn quy hoạch: giai đoạn 2010-2020 tăng ổn định ở mức 23%. Thương mại – dịch vụ có tốc độ tăng trưởng đều và ổn định từ 15,0% năm 2010 lên 18,0% vào năm 2015 và đạt 19,0% vào năm 2020.

Cơ cấu kinh tế của huyện sẽ thay đổi; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ tăng phù hợp với mục tiêu phát triển của tỉnh Bắc Giang và của cả nước. Cơ cấu GTSX năm 2010: Nông – lâm – thuỷ sản chiếm 60,0%; công nghiệp – xây dựng chiếm 13,4% và dịch vụ – thương mại chiếm 26,6%; năm 2020 nông – lâm – thuỷ sản chiếm 41,0%; công nghiệp – xây dựng chiếm 25,0%, và dịch vụ – thương mại chiếm 34,0%. Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 9 triệu đồng và năm 2020 đạt 36 triệu đồng.

Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng trên các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, phấn đấu vượt mức bình quân của tỉnh trên một số lĩnh vực chủ yếu về văn hoá – xã hội.

  • Tỷ lệ phát triển dân số đạt và ổn định mức 1%/năm trong giai đoạn 2011 – 2020.
  • Chỉ tiêu giảm hộ nghèo cao hơn mức bình quân chung của tỉnh.
  • Số lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề khoảng 20% vào năm 2010 và đạt khoảng 35% vào năm 2020.
  • Đến năm 2015 kiên cố hoá 100% các trường học và đạt chuẩn Quốc gia 100% các trường học vào năm 2020.

Tình hình giáo dục mầm non của huyện Lục Ngạn

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược xây dựng con người của đất nước. Đảng bộ Huyện Lục Ngạn đã đề ra mục tiêu phương hướng phát triển giáo dục đó là: “Thực hiện có hiệu quả các chương trình đề án về giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở, chuẩn bị tốt các điều kiện để triển khai thực hiện phố cập bậc trung học trong phạm vi rộng”. Với mục tiêu chung của ngành giáo dục và đào tạo là:

Tăng cường chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở tất cả các bậc học, cấp học, ngành học, nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông, củng cố mạng lưới trường học, mở rộng quy mô hợp lý, thực hiện phổ cập giáo dục, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.

Xây đựng đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất chính trị và đạo đức, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đào tạo.

Tăng cường cơ sở vật chất nhà trường theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa hiện đại hóa. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập.

Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp, kỷ cương, ngăn chặn khắc phục các hiện tượng tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục.

Thực hiện đường lối đối mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phân đấu vì mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội, tiến hành công cuộc đối mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỷ XXI.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Tình hình giáo dục Mầm non ở huyện Lục Ngạn, Bắc Giang Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Giáo dục mầm non Huyện Lục Ngạn đã và đang tự khẳng định được mình, từng bước đi vào thế ốn định và có những sự phát triển vững chắc cả về quy mô giáo dục, số lượng trẻ đến lớp và chất lượng giáo dục.

Về quy mô mạng lưới trường lớp: Giáo dục mầm non Huyện Lục Ngạn năm học 2014-2015 với quy mô gồm 32 trường (trong đó có 32 trường công lập). Đã thực hiện huy động được 1.832 cháu nhà trẻ đạt 16.3% và 11.460 cháu mẫu giáo đạt 99,6% (tỷ lệ cháu mẫu giáo lớn hơn tỷ lệ huy động năm học 2013- 2014 là 0.3%, tỷ lệ cháu nhà trẻ cao hơn là 0.5%), trong đó tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi ra lớp đạt 100%. Nhìn chung số lượng mẫu giáo trong các trường mầm non của Huyện Lục Ngạn đã phát triển tương đối nhanh so với các năm trước.

Trên cơ sở các chỉ tiêu chung của ngành giáo dục thành phố và báo cáo tổng kết năm học của các đơn vị trường mầm non thì mầm non huyện Lục Ngạn đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu cơ bản và ốn định về mạng lưới trường, lớp và huy động trẻ ra lớp, số trẻ mẫu giáo tăng nhanh.

Về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong các trường lớp mầm non: Trong việc thực hiện chăm sóc giáo dục trẻ mặc dù cơ sở vật chất của một số trường còn thiếu thốn, trình độ giáo viên chưa đồng đều. Song ngành giáo dục mầm non huyện luôn xác định chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non, luôn là hàng đầu cần đặc biệt phải quan tâm. Chính vì vậy trong những năm qua, ngành học mầm non luôn có những biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non như: Giao chỉ tiêu kế hoạch tổ chức bán trú, đưa chỉ tiêu chất lượng vào tiêu chí đánh giá thi đua, kiểm tra liên ngành giáo dục y tế, hướng dẫn tuyên truyền vận động mở các lớp tập huấn.

Giáo dục mầm non tiếp tục thực hiện đạt hiệu quả cao chương trình giáo dục mầm non mới và Đề án phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015. 100% trường mầm non thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non mới. Kết quả khảo sát chất lượng cuối năm tốt khá đạt 90%, đạt yêu cầu 10%. Riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi được theo dõi, đánh giá theo bộ chuẩn 100%; có trên 90% trẻ đạt các chuẩn.

Thực hiện tốt các chuyên đề do sở giáo dục và phòng giáo dục chỉ đạo như chuyên đề: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho trẻ mẫu giáo, tố chức tốt các hoạt động tập thể, các hội thi, trò chơi dân gian… giúp trẻ phát triển về nhận thức và kỹ năng sống.

Cơ sở vật chất của các trường đều có sân chưi và đồ chơi ngoài trời cho trẻ chơi, có đầy đủ đồ dùng dạy học tối thiểu theo thông tư 02/2010/TT – Bộ GDĐT và đồ chơi tự tạo cho trẻ học tập. Các trường mầm non đã đưa nội dung ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giáo dục trẻ và thực hiện một cách khá hiệu quả.

Tóm lại: Qua số liệu về quy mô trường lớp, với sự phát triển gia tăng số trẻ, số lượng giáo viên mầm non, chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ, có thể khẳng định. Ngành học mầm non Huyện Lục Ngạn được xã hội hóa cao, thể hiện sinh động nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, thu hút được ngày càng đông số trẻ trong độ tuổi ra lớp, tao niềm tin trong nhân dân và đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phổ cập giáo dục mầm non Huyện Lục Ngạn có bậc học mầm non có 32 trường. Giáo dục đào tạo Huyện Lục Ngạn đã và đang từng bước khẳng định là trung tâm giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Giang

2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục ở các trường Mầm non, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

2.2.1. Thực trạng nhận thức của CB-GV về tầm quan trọng, trách nhiệm của các lực lượng trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non

2.2.1.1. Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục trẻ mầm non

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân. Tầm quan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Niềm tin và hy vọng của từng gia đình và cả xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước trông chờ ở sự phát triển hàng ngày ở lứa tuổi măng non này.

Hoạt động giáo dục mầm non là hoạt động bao gồm hoạt động giáo dục trẻ và hoạt động chăm sóc sức khỏe, vệ sinh dinh dưỡng trong Chương trình GDMN. Hoạt động giáo dục trẻ nó bao gồm các hoạt động: Hoạt động chơi, hoạt động học, hoạt động lao động và hoạt động ngày hội, ngày lễ. Hoạt động giáo dục được thực hiện tốt, có hiệu quả sẽ đảm bảo chất lượng giáo dục của trẻ mầm non. Qua điều tra khảo sát thực tế 15 CBQL và 185 GV của 5 trường mầm non cho thấy:

Nhìn chung có 200 CB – GV đánh giá hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh là:

Nội dung được dánh giá rất quan trọng là “Đặt nền móng cho sự phát triển về nhận thức cho trẻ ”, có điểm TB = 2.6

Bảng 2.1: Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của HĐ giáo dục trẻ mầm non

Với điểm trung bình > 2,5, có 03 nội dung được CBQL và Gv của các trường đánh giá ở mức độ bình thường là: “Đặt nền móng cho sự phát triển thẩm mỹ cho trẻ em, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đi học lớp một cho trẻ ” ( = 2,4); “đặt nền móng cho sự phát triển tình cảm xã hội cho trẻ ( = 2,45).

Điều này một lần nữa cho chúng tôi thấy, vẫn còn một bộ phận CBQL và GV của các trường mầm non huyện Lục Ngạn – Bắc Giang vẫn nhận thức chưa thực sự đầy đủ, sâu sắc và toàn diện đến tầm quan trọng của công tác GD cho học sinh. Vì thế công tác này huyện Lục Ngạn vẫn chua phát huy được tối đa sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong nhà trường trong công tác GD cho học sinh.

2.2.1.2. Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về trách nhiệm của các lực lượng, cá nhân trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Điều tra nhận thức của CBQL và GV của các trường mầm non trong huyện về trách nhiệm của các lực lượng hoạt động giáo dục trẻ mầm non, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

Bảng 2.2: Nhận thức của CBQL và GV về trách nhiệm của các lực lượng, cá nhân trong giáo dục trẻ mầm non

Số liệu bảng 2.2 điều tra cho thấy 75% CBQL, GV đã xác định đúng trách nhiệm giáo dục trẻ mầm non là của tất cả CB, GV, NV nhà trường; Cha mẹ học sinh và xã hội cũng có đến 25% CBQL,GV chưa xác định đúng trách nhiệm của các lực lượng trong công tác giáo dục trẻ mầm non. Từ kết quả trên cho thấy phần lớn CBQL và GV đã có nhận thức đúng về trách nhiệm của các lực lượng trong công tác giáo dục trẻ mầm non, nhưng cũng còn khá nhiều CBQL và GV chưa xác định đúng điều này. Mặc dù đa số CBQL và GV đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục trẻ mầm non nhưng nhận thức về trách nhiệm của các lực lượng trong công tác này còn chưa đúng dẫn đến hiệu quả công tác này còn thấp.

Kết quả điều tra cho thấy nhận thức của đội ngũ CB, GV, NV các nhà trường về tầm quan trọng của công tác giáo dục trẻ mầm non và trách nhiệm của bản thân đối với công tác này chưa cao. Do vậy, nhận thức này có ảnh hưởng tới quá trình triển khai, tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của các nhà trường mầm non huyện Lục Ngạn.

2.2.2. Thực trạng việc xác định mục tiêu của giáo viên trong công tác giáo dục trẻ mầm non

Khảo sát ý kiến của 15 CBQL, 185GV và về mức độ thực hiện các mục tiêu GD cho trẻ mầm non ở các trường mầm non Huyện Lục Ngạn chúng tôi thu được kết quả ở bảng dưới đây

Bảng 2.3: Mức độ xác định các mục tiêu trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non

Bảng 2.3 Cho thấy mức độ thực hiện các mục tiêu giáo dục trẻ mầm non của CB, GV, NV các trường mầm non huyện Lục Ngạn về cơ bản đều ở mức bình thường. Đa số các mục tiêu đều có điểm trung bình 2,2 < < 2,5. Tuy nhiên cũng có những mục tiêu giáo dục trẻ mầm non thực hiện tốt các trường mầm non huyện Lục Ngạn, đó là “Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ ” với = 2,64, xếp thứ 1; “Nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi” với = 2,62, xếp thứ 2, bên cạnh đó là những mục tiêu rất cơ bản, thiết thực: “nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những yếu tố đầu tiên của nhân cách”; cũng được đánh giá là thực hiện tương đối tốt ở các trường mầm non Huyện Lục Ngạn.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít mục tiêu được cho là thực hiện chưa được tốt, thậm chí ở mức độ trên trung bình. Đó là các mục tiêu cơ bản, nền tảng để trên cơ sở đó hình thành những phẩm chất, năng lực, động lực tinh thần bên trong rất quan trọng cho học sinh tiêu họ: “nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những năng lực và phẩm chất nền tảng”; “khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn của trẻ”; “nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý ”

Kết quả tìm hiểu về mức độ thực hiện các mục tiêu GD trẻ mầm non cũng chính là sự phản ánh nhận thức của CB, GV, NV ở các trường mầm non Huyện Lục Ngạn về các mục tiêu giáo dục trẻ mầm non và tầm quan trọng của nó.

Có thể nói, điểm hạn chế trong việc thực hiện các môi trường giáo dục trẻ mầm non ở các trường mầm non Huyện Lục Ngạn chính là sự quan tâm thực hiện chưa toàn diện, đồng bộ giữa các mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh. Điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến kết quả hình thành nhân cách, trí tuệ và thẩm mỹ cho trẻ trong tương lai.

2.2.3. Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục trẻ mầm non Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Để tìm hiểu việc thực hiện, triển khai các nội dung GD trẻ mầm non huyện Lục Ngạn chúng tôi đã điều tra sự đánh giá của CBQL và GV về những nội dung giáo dục các trường mầm non trong huyện Lục Ngạn quan tâm. Kết quả khảo sát được thống kê ở bảng 2.4

Bảng 2.4: Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục trẻ mầm non của GV

Trong rất nhiều những nội dung giáo dục các nhà trường đã quan tâm giáo dục những nội dung cần thiết. Mặc dù vậy nhưng mức độ quan tâm đối với từng nhóm, từng nội dung lại là rất khác nhau. Điều này dễ dẫn đến sự cân bằng và tính toàn diện trong phát triển tâm hồn của học sinh sẽ khó được đảm bảo.

Về phía đánh giá của các GV: Các nội dung thể hiện sự hình thành các kỹ năng cũng như hình thành và phát triển cho trẻ các phẩm chất đạo đức, hình thành các biểu tượng cơ bản trong hoạt động học có chủ đích, giáo dục trẻ có những khả năng khác nhau trong các lĩnh vực như:“Giáo dục trẻ làm quen với việc đọc, viết” với điểm trung bình = 2,95; “Hình thành kỹ năng thực hiện hoạt động trí óc như biết so sánh, phân tích, tổng hợp,….trong quá

trình hoạt động”, = 2,95. Các nội dung liên quan đến giáo dục và hình thành cho trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, những hiểu biết về các sự vật, khả năng định hướng, những hiểu biết về các sự vật cuả cuộc sống xung quanh trẻ lại chưa được thực hiện một cách thỏa đáng ở các trường mầm non trong huyện như: “GD khả năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp thiên nhiên, cuộc sống,…” = 2,4, xếp thứ 15/15; “Hình thành những hiểu biết nhất định về các sự vật, hiện tượng xung quanh như nắng, mưa, nóng” = 2,53. Xếp thứ 14; “GD khả năng định hướng trong không gian và thời gian cho trẻ “X = 2,65 xếp thứ 12.

Điều đó cho thấy,các trường mầm non trong huyện chủ yếu đến việc giáo dục các họat động học tập để học tập đạt kết quả cao, chưa chú ý đến việc hình thành và phát triển để trẻ có một nhân cách hoàn thiện.

2.2.4. Thực trạng việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục trẻ

Bảng 2.5 cho thấy: mức độ vận dụng các biện pháp GD trẻ mầm non ở các trường mầm non huyện Lục Ngạn trong CBQL, GV đánh giá chủ yếu đạt ở mức độ trung bình khá. Thể hiện ở điểm TB của cả 7 phương pháp là 2,5 và có 3/7 biện pháp có điểm trung bình nhỏ hơn 2,5. Mức độ vận dụng các phương pháp GD trẻ mầm non không đồng đều nhau.

Bảng 2.5: Mức độ sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức các HĐGD

Các phương pháp thường xuyên được sử dụng “Các phương pháp trực quan – minh họa: sử dụng vật thật, đồ chơi, tranh ảnh”(X = 2,85): Phương pháp luyện tập” ( X =2,65); hay “phương pháp Trò chơi ”(X = 2,62). Với X <2,50 cho thấy; trong quá trình GD trẻ mầm non thì các phương pháp GD trẻ mầm non còn ít được quan tâm sử dụng,như phương pháp: “Các PP đánh giá, nêu gương ( X = 2,42); phương pháp: PP hành động thao tác với đồ vật, đồ chơi”( X = 2,38) hay phương pháp “Các PP trò chuyện, kể chuyện, giải thích”( X =2,33). Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non 

Qua khảo sát và trò chuyện với một số CBQL, GV và chúng tôi có một nhận xét khái quát: các phương pháp GD được thường xuyên sử dụng ở các trường mầm non huyện Lục Ngạn. Với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non thì sử dụng Phương pháp trực quan minh họa, sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp đánh giá nêu gương cũng được đánh giá là tốt cho trẻ. Các phương pháp còn lại cũng được đánh giá là tốt và bình thường với trẻ. Tuy nhiên với những phương pháp còn lại thì lại được đánh giá chưa cao chính vì vậy chưa phát huy được hết khả năng, tính tích cực của trẻ, chưa phát huy được hết phương pháp lấy trẻ làm trung tâm.

Số liệu thống kê các ý kiến đánh giá của GV ở bảng 2.5 cho thấy: Các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục là khá phong phú và đa dạng. Theo kiến đánh giá của GV, việc tổ chức các hình thức các hoạt động GD là không thực hiện đồng đều mà chỉ tập trung vào một số hình thức được lồng ghép vào các hoạt động học, ít chú trọng đến các hình thức mang tính chất ngoại khóa, Cụ thể là “Tổ chức các hoạt động trong phòng nhóm” là (X = 2,68); qua các “Tổ chức các hoạt động chơi – tập theo nhóm là (X = 2,61); qua “Tổ chức các hoạt động giao lưu cảm xúc” là (X = 2,55). Tuy cũng là những hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục được lựa chọn tổ chức ở các mầm non huyện Lục Ngạn nhưng “Tổ chức tham quan, dã ngoại” (là X = 2,45) và “Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội: tết thiếu nhi, tết trung thu, tết cổ truyền,… ” (là X = 2,4) cô khẳng định là có ý nghĩa

Qua thực tế khẳng định một điều: Các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục của GV là chưa thực sự phù hợp và có hiệu quả đối với trẻ.

Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục của các trường phần lớn mới chỉ dừng lại ở phạm vi nhà trường chưa có sự phối hợp và chưa có sứ lan rộng, chưa có sự đan xen giữ giáo dục qua sách vở và thực tiễn giáo dục bằng chính khóa và ngoại khóa. Các hình thức giáo dục thông qua tham quan, dã ngoại, kỷ niệm các ngày lễ hội: Tết thiếu nhi, tết trung thu, tết cổ truyền gắn với thực tiễn còn ít được quan tâm tổ chức ở các trường. Do đó khả năng hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động trải nghiệm, khám phá chưa cao.

2.2.5. Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung và phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

2.2.5.1. Mức độ thực hiện các hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ

Kiểm tra, đánh giá khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học. Qua điều tra chúng tôi thấy: bên cạnh những việc đã làm được như đánh giá trẻ được thực hiện thường xuyên theo năm học, theo chủ đề theo các lĩnh vực phát triển và đã chú ý phát huy vai trò tự đánh giá còn một số hạn chế cần được khắc phục đó là: Nội dung, tiêu chuẩn đánh giá còn mang tính hình thứ, chưa cụ thể rõ ràng.

Bảng 2.6: Mức độ thực hiện các nội dung và PP đánh giá sự phát triển của trẻ

Kết quả thống kê ở bảng 2.6 cho ta thấy có rất nhiều nội dung đánh giá trẻ theo ngày và theo từng giai đoạn ở các lĩnh vực khác nhau. Ở đây mức độ đánh giá cần thiết được chọn là “Đánh giá kiến thức và kỹ năng của trẻ hàng ngày” (X = 2,65) ; “Đánh giá thái độ, trạng thái cảm xúc và hành vi của trẻ hàng ngày” (X = 2,6). Tuy cũng là nội dung đánh giá trẻ nhưng theo giai đoạn thì lại: “Đánh giá mức độ phát triển về thể chất của trẻ theo giai đoạn” (X= 2,52); “Đánh giá mức độ phát triển về kỹ năng xã hội và thẩm mỹ của trẻ theo giai đoạn” ( X= 2,48); “Đánh giá mức độ phát triển về kỹ năng xã hội và thẩm mỹ của trẻ theo giai đoạn” (X= 2,45). Qua đó ta nhận thấy rằng ở trường mầm non chỉ đánh giá sự phát triển của trẻ theo chiều sâu và bản chất và những biểu hiện cụ thể, chưa chú ý đến mặt định tính phức tạp và nhạy cảm của lĩnh vức này. Vì thế kết quả đánh giá đôi khi thiếu khách quan và không có sức thuyết phục. Hình thức kiểm tra ít được đổi mới và vận dụng linh hoạt mà thường là kiểm tra đồng loạt theo đợt.

Hạn chế lớn nhất trong công tác kiểm tra đánh giá là các trường chưa xây dựng được hệ thống những căn cứ, tiêu chuẩn đánh giá xếp loại đầy đủ, cụ thể, phù hợp với tình hình của nhà trường, của từng độ tuổi và chưa có kế hoạch khoa học, cụ thể cho công tác này. Việc đánh giá, xử lý những sai sót trong hoạt động giáo dục sau mỗi đợt kiểm tra đánh giá thường lung túng, thiếu rứt điểm.

Nói tóm lại các nhà trường thường thiên về các nội dung kiểm tra đánh giá các hoạt động chuyên môn, chất lượng dạy và học, chưa thực sự quan tâm, đầu tư cũng như có kế hoạch kiểm tra đánh giá cho thỏa đáng, thường xuyên với hoạt động giáo dục trẻ mầm non. Nội dung kiểm tra, tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động này còn chung chung, chưa tạo được tác động mạnh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mầm non.

2.2.5.2. Mức độ sử dụng các phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ

Qua 5 phương pháp được đưa ra để đánh giá sự phát triển của trẻ thì phương pháp: Quan sát vẫn được lựa chọn để đánh giá trẻ được sử dụng với mức độ thường xuyên (X =2,63) sau đó mới là phương pháp: đánh giá trẻ qua bài tập (X = 2,60). Tuy nhiên phương pháp: Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ (X = 2,47) và phương pháp: Trao đổi với phụ huynh (X = 2,51). Các phương pháp này lụa chọn ở mức độ không thường xuyên chứng tỏ các phương pháp mà các nhà trường đưa ra chưa được sử dụng có hiệu quả để thực các nội dung kiểm tra đánh giá trẻ. Từ đó các giáo viên sẽ không đưa ra được kết wuar chính xác các nội dung đánh giá trẻ, chính xác nhất kết quả hoạt động giáo dục trẻ.

2.2.6. Hiệu quả công tác giáo dục trẻ mầm non ở Lục Ngạn, Bắc Giang Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

Khi được hỏi ý kiến đánh giá về hiệu quả công tác giáo dục trẻ mầm non ở các trường mầm non, 5% ý kiến cho rằng tốt, 60% ý kiến đánh giá khá, 31% ý kiến là trung bình; 4% đánh giá yếu sự đánh giá của đội ngũ CBQL GV về hiệu quả chất lượng công tác giáo dục trẻ mầm non ở các trường mầm non huyện Lục Ngạn được thể hiện bằng biểu đồ 2.1

Chất lượng điều tra cho thấy chất lượng công tác giáo dục trẻ mầm non các trường mầm non huyện Lục Ngạn mặc dù không ở mức quá thấp nhưng không phải là không có những tồn tại. Số ý kiến đánh giá là tốt và khá chưa cao trong khi vẫn còn nhiều ý kiến xếp loại trung bình, yếu. Kết quả thăm dò về chất lượng công tác giáo dục trẻ mầm non một lần nữa cho thấy đây là hệ quả tất yếu của những tồn tại mà bảng kết quả trên đây đã chỉ ra.

2.2.7. Yếu tố ảnh hưởng hiệu quả công tác giáo dục trẻ mầm non ở Lục Ngạn, Bắc Giang

Để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng chất lượng công tác giáo dục trẻ mầm non ở Lục Ngạn, Bắc Giang, chúng tôi đã diều tra bằng phiếu hỏi, đồng thời trao đổi, trò chuyện trực tiếp với CBQL và GV của các trường và qua quan sát thực tế.

Qua kết quả thống kê ở bảng 2.7 cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng GD trẻ mầm non ở Lục Ngạn, Bắc Giang chưa cao. Cụ thể: “Ảnh hưởng của áp lực cuộc sống khó khăn của cán bộ giáo viên” được đánh giá là yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến hiệu quả công tác chiếm đến 97,5%, sau đó là “Cơ sở vật chất và phương tiện chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục trẻ mầm non” là 95%. “Công tác quản lý thiếu chặt chẽ “cũng được đánh giá đứng thứ 3 với 93%. “Năng lực hạn chế của giáo viên” Một số bộ phận giáo viên chưa ý thức cao trong công tác, thiếu tinh thần tự giác, chưa nỗ lực cao trong nhiệm vụ được giao, còn thụ động thờ ơ trong công tác, còn xem nhẹ một số hoạt động giáo dục “Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa BGH với các GV trong GD trẻ” “Thiếu sự kết hợp giữa GV và phụ huyng trong GD trẻ” tất cả các yếu tố còn lại cũng được đánh giá là có những ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác giáo dục trẻ mầm non.

Bảng 2.7: Yếu tố ảnh hưởng hiệu quả công tác giáo dục trẻ mầm non

Như vậy để công tác hoạt động giáo dục trẻ mầm non đạt hiệu quả, người quản lý trường mầm non phải biết xây dựng được mối quan hệ khăng khít giữa, nhà trường, gia đình và xã hội để đáp ứng được chế độ chính sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ở các trường mầm non Huyện Lục ngạn hiện nay để được các cấp các ngành, phụ huynh quan tâm.

Nhưng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ngày một đòi hỏi càng nhiều để đáp ứng với việc thực hiện chương trình GDMN cũng như nhu cầu phát triển của xã hội, tạo động lực, niềm tin để có hiệu quả giáo dục ngày càng cao. Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng kế hoạch hóa giáo dục trẻ mầm non

One thought on “Luận văn: Tổng quan hoạt động giáo dục trẻ mần non

  1. Pingback: Luận văn: Hoạt động giáo dục trẻ của các trường mầm non

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464