Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tìm năng khai thác và nhu cầu thị trường đối với sản phẩm du lịch gắn với tìm hiểu cà phê ở Đăk Lăk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Tiềm năng khai thác cà phê thành sản phẩm du lịch đặc trưng
3.1.1. Tổng quát sự hình thành phát triển và tiềm năng cà phê tại Đăk Lăk
Từ lâu cà phê được xem là loại thức uống phổ biến nhất thế giới và ở Việt Nam cũng thế. Từ “cà phê” trong tiếng Việt có gốc từ chữ “café” trong tiếng Pháp, Theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Ấn – Âu thì cà phê được gọi là “kahveh”. Cách gọi “kahveh” này được bắt nguồn từ chữ “qahwa” cũng có nghĩa là cà phê.
Theo truyền thuyết cà phê có xuất xứ từ vùng Abyssinia nhưng dựa vào những di chỉ khảo cổ tìm được và những ghi chép của con người còn lại đến ngày nay thì cà phê có nguồn gốc từ vùng Kaffa (nước Ethiopia ngày nay), một quốc gia thuộc Đông Phi. Đã có những ghi nhận về sự xuất hiện của cà phê tại nơi đây vào thế kỷ IX, sang thế kỷ XIV theo chân những người buôn nô lệ, cà phê được mang từ Ethiopia qua xứ Ả Rập nhưng mãi đến thế kỷ XV người ta mới biết rang cà phê lên để sử dụng làm đồ uống.
Từ đó, cà phê trở thành một thứ thức uống truyền thống của người Ả Rập. Cũng chính tại nơi đây, cà phê được trồng độc quyền với trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha (Mokka), ngày nay làthành phố Al Mukha của nước Yemen. Người Ả Rập rất tự hào về việc phát minh ra loại thức uống này và họ đã cố gắng giữ bí mật này trong nhiều năm sau đó để bảo tồn độc quyền về một loại sản phẩm. Thế nhưng dù nghiêm ngặt đến mức nào thì cũng có người vượt qua được, những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút mang hạt giống về trồng, chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có trồng và truyền đi mỗi lúc một xa hơn. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Ở Việt Nam, cà phê được du nhập vào năm 1875 bởi người Pháp, khi đó họ mang theo giống cà phê chè (Arabica) từ đảo Bourton sang trồng thử nghiệm tại một số nhà thiên chúa giáo ở phía Bắc nước ta, sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như: Quảng Trị, huyện Bố Trạch – Quảng Bình,…Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Người Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít (C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ – Thanh Hóa (1911), Nghĩa Đàn – Nghệ An (1915), về sau cà phê dần được trồng nhiều hơn ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Năm 1925, cà phê lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên. Sau ngày giải phóng tháng 4/1975, diện tích cà phê của cả nước khoảng 20.000 ha. Riêng ở Đăk Lăk chỉ trong 2 năm 1978 – 1979 diện tích trồng cà phê lên đến 6000 ha. Năm 2000, cả nước có khoảng 520 nghìn ha cà phê. Đến nay sản lượng cà phê Việt Nam chiếm hơn 8% sản lượng nông nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là Đăk Lăk và Gia Lai.
Nhưng xét về quy mô lẫn danh tiếng, cà phê Buôn Mê Thuột – Đăk Lăk vẫn được xem là nổi tiếng trong và ngoài nước. Với lợi thế đất đỏ bazan màu mỡ và ưu thế đặc trưng về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Mê Thuột chính là nơi để cây cà phê sinh trưởng tốt và tạo nên những hạt cà phê thơm ngon, chất lượng cao mang hương vi khác biệt so với những nơi khác. Đây cũng là yếu tố giúp cho cà phê Đăk Lăk có lợi thế cạnh tranh so với những địa phương khác trong cả nước và trên trường quốc tế. Ở Đăk Lăk, loại cà phê vối (Robusta) được trồng và sản xuất nhiều nhất, đây cũng là sản phẩm cà phê xuất khẩu chủ lực đi các nước.
- Trong nước
Trong vòng vài năm lại đây, thị trường cà phê Việt Nam có nhiều thay đổi. Bên cạnh những thương hiệu nổi tiếng như: Gloria Jean’s Coffee, Coffee Bean & Tea, Highlands Coffee, Trung Nguyên,…thì nay xuất hiện thêm những tên tuổi mới. Trong đó, đáng chú ý là “ông lớn” Starbucks, một trong những thương hiệu cà phê lớn nhất tại Mỹ và trên thế giới. Việt Nam với dân số hơn 90 triệu dân, được xem là một trong những thị trường tiêu thụ cà phê đầy tiềm năng.
Theo dữ liệu sản phẩm mới toàn cầu của Mintel, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 4 thị trường có sức tiêu thụ cà phê mạnh ở Châu Á – Thái Bình Dương . Thứ tự về tiêu thụ cà phê tính trên bình quân đầu người ở các nước như sau: Nhật Bản chiếm vị trí số 1 với 2,90kg cà phê/đầu người, xếp thứ 2 là Hàn Quốc với 2,42kg cà phê/đầu người, vị trí thứ 3, thứ 4 lần lượt là Thái Lan với 1,95kg cà phê/đầu người và Việt Nam là 1,15kg cà phê/đầu người.
Ở Việt Nam, văn hóa cà phê đã có từ khá lâu. Đa số người Việt thường thích thưởng thức cà phê phin hơn so với các sản phẩm cà phê hòa tan, và do đó nhu cầu tiêu thụ cà phê dạng này cũng tăng cao, đơn giản vì cà phê phin luôn có mùi vị đậm đà hơn. Tuy nhiên, thị trường cà phê hòa tan trong nước cũng chiếm một tỉ lệ khá cao. Phân khúc này thuộc về thương hiệu Vinacafe với 40% thị phần trong nước. Bên cạnh đó, sản phẩm cà phê rang xay của các thương hiệu như: Trung Nguyên, Đức Lập – Đăkmil, Mê Trang,…luôn được người tiêu dùng lựa chọn vì phù hợp với hương vị đặc trưng truyền thống.
Nói như thế không có nghĩa các thương hiệu cà phê Việt Nam luôn nắm được thế chủ động ở thị trường trong nước. Điển hình là câu chuyện về sản phẩm cà phê Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) Buôn Mê Thuột, một trong những thương hiệu cà phê Đăk Lăk, thời gian qua gặp khá nhiều rắc rối liên quan đến việc tranh chấp thương hiệu với một doanh nghiệp Trung Quốc, gây không ít tổn thất nghiêm trọng về kinh tế lẫn uy tín. Hiện tại Công ty TNHH MTV XNK 2 – 9 Đăk Lăk đang tiến hành gắn logo Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) cà phê Buôn Mê Thuột lên sản phẩm cà phê bột, với ý tưởng sẽ quảng bá cho người tiêu dùng trong nước sử dụng sản phẩm cà phê bột nguyên chất của Buôn Mê Thuột và từng bước nâng cao giá trị sử dụng thương hiệu.
- Ngoài nước Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Trong những năm qua, nhờ không ngừng chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm trong quy trình sản xuất, chế biến. Hiện nay sản phẩm cà phê Đăk Lăk đã có mặt ở gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với kim ngạch đạt hơn 600 triệu USD/năm, chiếm trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.
Theo Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đăk Lăk, từ đầu năm đến nay số lượng thị trường nhập khẩu cà phê Đăk Lăk đã tăng từ 60 lên 80 thị trường, tăng thêm 20 nước và vùng lãnh thổ. Các thị trường như Đức, Nhật Bản, Mỹ, Thụy Sĩ, Bỉ, Italia, Tây Ban Nha,…là những thị trường lớn nhập khẩu trên 60% sản phẩm cà phê của Đăk Lăk. Trong đó, có 18 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD. Đức và Nhật Bản là hai thị trường nhập khẩu cà phê nhân nhiều nhất giúp tỉnh Đăk Lăk đạt kim ngạch xuất khẩu trên 440 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ.
Theo dự báo, tới đây những thị trường mới như: Trung Đông, Bắc Phi, Tây Á và Trung Âu được đánh giá là tiềm năng trong việc nhập khẩu sản phẩm cà phê Đăk Lăk. Và các chuyên gia dự đoán, trong vòng 10 năm tới sức tiêu thụ cà phê trên phạm vi toàn cầu tiếp tục tăng, bình quân là 2 – 2.5% mỗi năm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.1.2. Mô hình trồng, chăm sóc cà phê
Ở Việt Nam hiện nay trồng 3 loại cà phê chính gồm: Cà phê chè (Arabica); Cà phê vối (Robusta); Cà phê mít (Chari). Trong đó, 2 giống Robusta và Arabica được trồng nhiều và phổ biến nhất. Trên hành trình dọc các tỉnh Bắc Trung Bộ, du khách sẽ không khó để nhận ra các vườn cà phê Arabica rộng lớn trải dài từ: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị cho đến Thừa Thiên Huế. Còn nếu du khách muốn tìm hiểu về cà phê Robusta thì ở các tỉnh Tây Nguyên như: Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, là những nơi thích hợp nhất. Mô hình trồng cà phê phổ biến thường gồm các yếu tố như:
Về đất trồng: cà phê có rễ cọc ăn sâu vào đất nên đất trồng cà phê phải có tầng sâu 70 cm trở lên, thoáng khí, tiêu nước tốt…vì chất lượng đất quyết định chất lượng cà phê. Qua tìm hiểu được biết đất bazan trên các Cao Nguyên nham thạch núi lửa là thích hợp nhất cho cây cà phê. Các hang động ở Tây Nguyên, Đăk Lăk cũng là nơi khám phá rất thú vị.
Về khoảng cách trồng: trên đất tốt bằng phẳng, cây cà phê nên được trồng theo khoảng cách 3×3m. Còn nếu đất xấu có độ dốc cao trên 80 thì nên trồng theo đường đồng mức theo hàng với khoảng cách 3m, giữa hàng trên và hàng dưới cách nhau 2,5m.
Về kỹ thuật chăm sóc: tỉa cành, tạo tán, hoạch định chiều cao, tuyển chọn cành nhánh khỏe mạnh triển vọng,…Ủ gốc, tưới tiêu là cực kỳ quan trọng, nó quyết định năng suất cà phê vì cà phê ra hoa vào cuối mùa nắng nhưng không kịp vào mùa mưa (điều kiện tự nhiên mưa đầu mùa làm rụng hoa, hỏng hoa), nên phải tưới tiêu và giữ ẩm để hoa nở rộ, đồng loạt.Bón phân đúng loại, đúng cách, đúng kì, đúng số lượng cần thiết.Theo dõi diễn tiến khí hậu, sâu bệnh, cỏ dại, sương muối… Vào các mùa khác nhau, ruộng cà phê có các hình thái khác nhau như nở hoa hay ruộm chín…tạo ra những cảnh quan đẹp mắt về sự trù phú, bao la…Các công đoạn chăm sóc tại các mùa khác nhau cũng tạo ra sự hấp dẫn và tò mò trong tìm hiểu, trải nghiệm. Nếu có dịp đến Đăk Lăk vào thời điểm những tháng đầu năm dương lịch, khách du lịch có thể thưởng thức và được tận mắt khám phá những không gian sắc màu của hoa và trái cà phê khi chín vụ. Nhìn từ trên cao có cảm giác cà phê và Buôn Mê Thuột như hòa quyện vào nhau. Thời điểm đầu năm cũng là dịp tổ chức các lễ hội của các dân tộc ở Tây Nguyên. Và sẽ rất thú vị nếu du khách có thể vừa nhâm nhi ly cà phê Ban Mê vừa ngắm nhìn phố phường đông đúc mùa lễ hội.
3.1.3. Quy trình hái lượm, phơi sấy, rang xay cà phê Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Quy trình hái lượm: quả cà phê khi thu hoạch phải được hái bằng tay và chia làm nhiều đợt trong một vụ để kịp thu hái những quả chín trên cây. Không thu hái quả xanh non, không được tuốt cả cành, không làm gãy cành. Phải ngừng thu hái trước và sau khi nở hoa 3 ngày.
Quy trình phơi sấy: cà phê sau thu hoạch phải được chuyên chở kịp thời về cơ sở chế biến, không được để quá 24 giờ. Phương tiện vận chuyển và bao bì đựng cà phê phải sạch sẽ, không nhiễm phân bón, hóa chất…Trường hợp không kịp vận chuyển hay chế biến cà phê thì phải đổ ra phơi trên nền khô ráo, thoáng mát và không được đổ đống dày quá 40 cm. Thông thường có 2 cách sấy: sấy thủ công và sấy cơ giới.
Quy trình rang xay: cà phê cần được rang ở những mức nhiệt độ cần thiết trong những khoảng thời gian cần thiết, sự đồng đều của việc rang sẽ quyết định đến độ đậm đà, hương vị mạnh và giúp giữ được cái chất của cà phê. Việc rang mất khoảng từ 12 đến 20 phút, phụ thuộc vào loại máy và hạt được rang, nhiệt độ từ 180 đến 2500 Những hạt cà phê có màu xanh nhạt khi được đốt nóng sẽ chuyển sang màu nâu đồng thời kích cỡ cũng thay đổi. Càng về sau, các loại tinh dầu bắt đầu tỏa hương thơm.
Máy rang dù được trang bị những ống thoát hơi để người rang biết được mức rang khi nào ngừng hay tiếp tục rang nhưng với các chuyên gia rang điêu luyện, họ chỉ cần kiểm tra để chiết xuất mẫu và công việc này chủ yếu làm bằng tai. Hạt được rang bắt đầu “hát” chúng kêu tanh tách và lốp bốp. Khi nghe âm thanh này, người rang có kinh nghiệm biết đó là lúc phải tắt máy. Sau đó, họ mở một đường trượt và các hạt cà phê nóng bỏng đổ xuống vào một thùng lớn với hệ thống thông gió làm nguội ngay lập tức.
Rang là bước đầu tiên để chiết lọc hương thơm của hạt cà phê. Những người rang giỏi nhất sẽ điều chỉnh nhiệt độ của máy rang để tạo ra nhiều hương vị và màu sắc khác biệt. Cách rang tốt nhất là bắt đầu rang với lửa nhỏ và kết thúc với ngọn lửa lớn. Khi những hạt cà phê bắt đầu kêu xèo xèo, chúng cần được đổ ra một nơi nguội ngay lập tức.
- Quy mô nhà máy: trong chế biến cà phê có 2 phương pháp là: chế biến khô và chế biến ướt:
- Chế biến khô là công nghệ đơn giản, công đoạn chính là làm khô quả cà phê tươi đến một mức độ nhất định rồi dùng máy xát loại bỏ các lớp vỏ thịt bọc ngoài để lấy nhân. Phương pháp này hiện đang được áp dụng rộng rãi ở tất cả các vùng trồng cà phê và trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Chế biến ướt là công nghệ chế biến phức tạp, bao gồm các giai đoạn xát, rửa quả tươi để loại bỏ vỏ, thịt và chất nhờn bên ngoài nhân để có cà phê thóc, sau đó làm khô để có cà phê nhân sống. Phương pháp này cho sản phẩm chất lượng tốt, giảm được đáng kể diện tích sân phơi (so với phương pháp phơi quả thì mặt bằng chế biến giảm 75-80%).
Trừ một số đơn vị quốc doanh và công ty xuất khẩu có trang bị xưởng chế biến quy mô vừa, còn lại trên 80% lượng cà phê làm ra được chế biến trong các hộ gia đình, bằng những công nghệ giản đơn.
Những cơ sở chế biến có công suất trên 3000 tấn/ngày thường là những tổ chức thu gom tái chế và phân loại, phần lớn thuộc các tổ chức thương mại xuất khẩu đóng tại các thành phố, thị trấn hoặc nơi thuận tiện giao thông.
Ngoài hệ thống sơ chế, chế biến quả tươi và khô, tại nhiều nơi đã xây dựng những cơ sở tái chế cà phê nhân sống với các hệ thống sấy bổ sung, làm sạch, phân loại, đánh bóng, loại bỏ hạt lép, hạt đen… nhằm cải thiện chất lượng cà phê nhân xuất khẩu, song số này không nhiều, mới có ở các thành phố lớn trong cả nước, một số vùng nguyên liệu tập trung và cơ sở liên doanh với nước ngoài (hệ thống máy chọn màu, loại hạt đen mới chỉ có ở 3 cơ sở tái chế cà phê nhân ở Đắk Lắk; Hệ thống máy sấy và sàng phân loại hạt mới được trang bị trong các cơ sở sản xuất quy mô lớn và các công ty xuất khẩu trực tiếp cà phê…).
Quy mô hộ gia đình: việc làm sao để nâng cao sản lượng và chất lượng luôn được các hộ nông dân trồng cà phê hết sức quan tâm. Bởi mùa vụ thu hoạch cà phê thường vào mùa mưa trong khi thực trạng phương tiện lưu trữ và chế biến cà phê ở quy mô hộ gia đình hiện nay còn rất yếu kém. Các máy móc hiện đại thì lại quá tốn kém so với thu nhập của hộ nông dân, vì thế năng suất cà phê sau khi sấy không đảm bảo được số lượng và chất lượng. Đa số các hộ vẫn dùng cách sấy thủ công là chính, chỉ có rất ít hộ trang bị được mấy sấy công suất lớn. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Trong các phương tiện chế biến cà phê theo phương pháp khô ở quy mô hộ, sân phơi là phương tiện có vai trò quan trọng nhất, nhưng thực trạng là phần lớn hộ nông dân sản xuất cà phê không đủ điều kiện để có sân phơi bằng xi măng đúng tiêu chuẩn, vì lý do thiếu đất để làm sân hoặc chi phí làm sân phơi khá tốn kém. Do vậy, giải pháp phơi cà phê trên bạt ở hộ sản xuất vẫn là phổ biến.
Như vậy, có thể thấy là quy trình hái lượm, rang, xay có rất nhiều kỹ thuật và thực hiện tại nhiều quy mô. Chính việc tham quan, tìm hiểu cách thức và thời gian thực hiện hái lượm cà phê trên các cánh đồng cà phê trải dài hay tham quan tìm hiểu các nhà máy lớn rang xay cà phê xuất khẩu là những hoạt động hết sức hấp dẫn khách du lịch. Có như vậy, khách mới thực sự hiểu được tại sao nơi đây lại là thủ phủ của cà phê, là nơi sản xuất và xuất khẩu sản lượng lớn cà phê hàng năm ra thế giới. Dọc theo các tuyến đường, chứng kiến nhà nhà phơi cà phê trong sân, cách phơi, cách rang là những điều hấp dẫn khách du lịch để thấy rằng cà phê nằm trong cuộc sống cộng đồng…
3.1.4. Quy trình đóng gói và cách thức pha chế cà phê
- Quy trình đóng gói cà phê
Đối với cà phê hòa tan: bột hòa tan sau khi thu về được mang đi làm nguội, các bước tiến hành gồm: ban đầu là nghiền, ray sau đó đóng gói trong phòng chân không vì bột cà phê hòa tan rất dễ hút ẩm và bị biến chất. Vì vậy, cần cho bột vào lọ thủy tinh màu hay hộp bằng kim loại không gỉ chống ẩm gần như tuyệt đối hoặc túi nhựa ngoài có vỏ kim loại mỏng, v.v…
Việc bao gói là một quá trình quan trọng trong dây chuyền công nghệ sản xuất thực phẩm nói chung. Vì đây là quá trình chuẩn bị bao bì, chuẩn bị cho thực phẩm vào bao bì nên đòi hỏi phải kỹ lưỡng trong vấn đề vệ sinh, cách trình bày, trang trí cho đến công đoạn hoàn thiện sản phẩm. Đóng bao là cách tốt nhất để bảo vệ cà phê cũng như thực phẩm nói chung được an toàn trong quá trình vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.
Đối với cà phê rang xay: vì rất dễ bị mất hương thơm, dễ hấp thụ mùi lạ và dễ bị oxy hóa nên cần phải bao gói thật cẩn thận. Nên sử dụng các loại bao bì như màng BOPP hay MMCP vì loại này đáp ứng được yêu cầu quy định đối với loại bao bì chứa đựng thực phẩm. Còn nếu bảo quản hay vận chuyển thì cũng nên đóng vào thùng carton với trọng lượng tối đa 20 kg/thùng để đảm bảo yêu cầu.
- Cách thức pha chế cà phê Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Với cà phê hòa tan việc pha chế rất đơn giản vì sản phẩm đã được chế biến để có thể dùng ngay. Theo người dân ở Buôn Mê Thuột, nơi được mệnh danh “thủ phủ cà phê” cả nước thì việc rang xay chế biến cà phê theo cách thủ công (pha bằng phin) vẫn có hương vị hấp dẫn hơn cả và việc pha trộn các loại cà phê vào với nhau sẽ đem lại mùi vị hấp dẫn đặc trưng hơn. Đó là bí quyết kinh doanh của các nhà cung cấp, những người bán cà phê.
Lượng cà phê đem vào rang xay thường chủ yếu là cà phê vối (Robusta) nhưng cũng có một phần nhỏ cà phê chè (Arabica), cà phê mít (Chari) và đặc biệt là ngô, một thành phần quan trọng để cà phê khi pha ra có độ sánh của tinh bột. Nếu muốn cho mùi vị đậm đà hơn người pha sẽ cho thêm một tí bơ hoặc mỡ gà ngay trước khi rang xong. Còn nếu muốn tăng thêm sự quyến rũ gây nghiện, ngoài chất caphein sẵn có người pha sẽ cho thêm vào một ít vỏ cau khô.
Do vậy mà khách du lịch khi thưởng thức cà phê tại các quán cà phê ở Đăk Lăk đều nhận thấy sự khác biệt so với những nơi khác.
Cách chọn bột cà phê cũng rất quan trọng và cuối cùng là cách pha cà phê phin cũng là cách để nâng cao khả năng thưởng thức món nước uống tinh tế này. Nhiều quán cà phê hoặc các cơ sở giới thiệu tại Đăk Lăk còn có những loại phin đặc biệt để có được sự khác biệt trong pha chế cà phê.
3.1.5. Phân loại cà phê Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
- Phân theo giống cây gồm có: cà phê vối (Robusta); Cà phê chè (Arabica); Cà phê Mít (Cheri)…
- Phân theo chất lượng gồm: Sản phẩm loại thường; Loại tốt và Loại đặc biệt. – Phân theo dạng sản phẩm gồm 2 loại: cà phê thông thường gồm: Cà phê nhân; Cà phê thóc; Cà phê quả khô và cà phê đặc biệt. Trong chế biến có 2 dạng: cà phê rang xay và cà phê hòa tan.
- Phân theo thức uống gồm: Cà phê pha phin; Cà phê hòa tan; Cà phê túi lọc; Cà phê lon; Cà phê xanh.
- Phân theo mùi vị gồm: Cafe Moka Côlômbia; Cafe Moka (đặc biệt); Cafe Mo – Rhum; Cafe Ro – Rhum; Cafe Mo – Nes; Cafe Ro – Nes; Cafe Mo – Cappu; Cafe Ro – Cappu; Cafe Darkess; Cafe Siêu Cấp.
3.1.6. Quy trình nuôi trồng và sản xuất loại cà phê chồn đặc biệt quý hiếm
- Nguồn gốc lịch sử cà phê chồn
Cà phê chồn được biết đến như truyền thuyết bởi sự quý hiếm và giá trị mà nó mang lại. Với hương vị độc đáo đặc trưng, cà phê chồn hay còn gọi là Kopi Luwak là một loại cà phê rất đặc biệt, được xếp vào hàng “cực phẩm” trong giới cà phê, là loại đồ uống rất hiếm và đắt đỏ nhất thế giới. Cà phê chồn được tìm thấy lần đầu cách đây hàng trăm năm, vào khoảng đầu thế kỷ 18 khi những người Hà Lan mang theo cây cà phê du nhập vào các nước thuộc địa của họ trong đó có đảo Java và Sumatra của nước In-đô-nê-si-a.
Trong tiếng Indo từ “Kopi” nghĩa là cà phê, còn “Luwak” là tên gọi một vùng đất thuộc đảo Java của In-đô-nê-si-a. Nơi đây có một loài cầy tập trung sinh sống vì thế từ “Luwak” cũng là tên loài vật này. Do đó “Kopi Luwak” được hiểu là tên một loại hạt mà loài cầy này ăn quả cà phê rồi thải ra.
Tại Việt Nam, cà phê chồn được tìm thấy tự nhiên vào nửa đầu thế kỷ 20 ở Tây Nguyên, nơi còn thưa thớt dân cư với những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn. Sau ngày thống nhất đất nước, làn sống di cư từ nơi khác đến khai hoang phát triển làm kinh tế làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, kéo theo nạn săn bắn thú rừng trầm trọng khiến cho nhiều loài thú hoang dã trong đó có chồn suy giảm nhiều và dần biến mất theo thời gian. Câu chuyện về cà phê chồn từ đó cũng dần mất đi. Tuy nhiên, những năm gần đây sự tái sinh về cà phê chồn được nhắc đến nhiều. Hiện nay, tại Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng đã có những trang trại cà phê chồn. Đi đầu trong việc khôi phục truyền thuyết cà phê chồn phải kể đến là Trại động vật hoang dã Kiên Cường và trại chồn Quốc Khánh ở Đăk Lăk. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
- Quá trình khôi phục, phát triển cà phê chồn ở nước ta
Giai đoạn (1990 – 2000) là giai đoạn thời kỳ đổi mới, tốc độ phát triển kinh tế nước ta rất nhanh, tình trạng khai thác rừng tăng cao, nạn săn bắt động vật hoang dã trong đó có chồn diễn ra trầm trọng. Trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao các loài động vật hoang dã quý hiếm, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã có kế hoạch hành động kịp thời nhằm tiếp tục duy trì và bảo vệ các loài động vật quý hiếm trong đó có loài chồn.
Qua cuộc trao đổi với chúng tôi, theo ông Hoàng Mạnh Cường, chủ trang trại động vật hoang dã Kiên Cường, người đi đầu trong việc khôi phục, phát triển cà phê chồn ở Đăk Lăk cho biết: “Việc bảo vệ các loài động vật hoang dã trong tự nhiên là việc làm cấp bách, đó không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương mà còn là sự chung tay góp sức của mọi cá nhân, tập thể, các tổ chức trong và ngoài nước”. Cũng theo ông, cái khó trong vấn đề này là việc xin cấp giấy phép chứng nhận chăn nuôi và kinh doanh động vật hoang dã, vì đây là vấn đề nhạy cảm.
Ông Cường chia sẻ: “Cuối năm 1999 đầu năm 2000, ông mua chồn từ những người bán dạo vỉa hè về nuôi. Ý định ban đầu của ông là nuôi giải trí, đồng thời cũng muốn góp phần vào việc duy trì bảo vệ loài vật này trước nạn săn bắt”. Thời điểm đó, lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng cao. Chiếm phần đông là du khách Pháp, đơn giản vì yếu tố lịch sử gắn liền giữa hai nước. Bên cạnh những điểm đến ưa thích như: Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Đà Lạt,…thì Buôn Mê Thuột – Đăk Lăk cũng là điểm đến mà du khách Pháp quan tâm.
Du khách Pháp khi đến Buôn Mê Thuột – Đăk Lăk, họ thường tham quan những địa danh, di tích gắn với yếu tố lịch sử, văn hóa, họ cũng thích khám phá, trải nghiệm thiên nhiên, tham quan vườn thú,…Nắm bắt nhu cầu đó, ông Cường đã xây dựng trại động vật hoang dã nhằm phục vụ nhu cầu tham quan của du khách. Tuy nhiên, ban đầu trại của ông chỉ có: kỳ đà, rắn, khỉ,…mãi đến năm 2004, ông mới chính thức thả nuôi thêm chồn sau khi được chính quyền cho phép. Ông Cường cho biết: “Số lượng chồn ban đầu chỉ có 4 con nhưng sau quá trình dày công chăm sóc đàn chồn đã phát triển lên đến 15 con. Năm 2007, đàn chồn của ông lên đến hơn 40 con, ông cũng chia sẽ cái khó trong khi nuôi là vấn đề đảm bảo được nguồn thức ăn cho chồn vì chúng vốn là loài vật hoang dã nên nguồn thức ăn phải đa dạng”. Trong môi trường tự nhiên, loài chồn hay còn gọi là cầy vòi đốm, có họ hàng với loài cầy mangut, chúng thường sống rải rác ở những khu rừng thưa thiệt đới.
Chồn là loài động vật ăn thịt và ăn tạp, thức ăn chủ yếu của chồn gồm 2 nhóm:
- Nhóm thức ăn có nguồn gốc từ thực vật: gồm các loài hoa quả chín, đặc biệt là chuối.
- Nhóm thức ăn có nguồn gốc từ động vật: gồm côn trùng, thịt, trứng, cá…trong tự nhiên khi leo trèo để tìm kiếm trái cây, chồn thường tìm phá các tổ chim để ăn. Cả hai nhóm thức ăn trên chồn đều ăn thường xuyên, còn cà phê chỉ là thức ăn bổ sung theo mùa vụ. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Nhận định rõ về kinh tế Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng chủ yếu dựa vào sản xuất nông sản là chính, trong khi cà phê lại là nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn có ở địa phương nên ông Cường đã hình thành ý tưởng về sản phẩm cà phê chồn.
Sau quá trình dài phấn đấu từ năm 2004 đến năm 2007, ông Cường đã thu hoạch được những lượng cà phê chồn ban đầu, sau đó ông bán cho các doanh nghiệp thu mua sản xuất chế biến cà phê ở Sài Gòn dưới dạng thô. Năm 2008, ông thành lập doanh nghiệp kinh doanh cà phê chồn và hiện cơ sở của ông nằm ở địa chỉ số 5, Hoàng Hoa Thám, phường Tân Tiến, thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Quá trình biến đổi tạo ra loại cà phê chồn quý hiếm
Tìm hiểu trang trại nuôi chồn có thể thấy trung bình một mùa cà phê thường kéo dài từ 2,5 đến 3 tháng. Đối với một con chồn trưởng thành, một đêm có thể thải ra từ 100 – 150g hạt cà phê thô có vỏ thóc. Bình quân một vụ cà phê có thể thu được từ 5 – 7kg sản phẩm cà phê chồn thô, còn nếu qua chế biến thì thu được khoảng 3kg cà phê chồn dạng bột. Khoảng thời gian mà chồn thường chọn ăn cà phê là vào mùa chín vụ, khi đó thời tiết ở Tây Nguyên thường có chút gió se se lạnh. Và lượng cà phê chồn ăn chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng số lượng cà phê cung cấp. Tuy nhiên, qua tìm hiểu được biết cà phê mà chồn ưa thích là cà phê chè (Arabica), trong khi ở nước ta trồng nhiều và phổ biến nhất là cà phê vối (Robusta).
Đây cũng là yếu tố làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch cà phê chồn.
Thông thường chồn ăn cà phê và thải ra ngoài sau khoảng 3 – 4 tiếng, nhờ sự tác động của các enzym tiêu hóa trong dạ dày nên đã làm thay đổi các phân tử bên trong hạt cà phê, giúp cho hạt cà phê trở nên cứng, giòn và ít protein hơn, làm cho vị đắng của hạt cà phê giảm đi, thay vào đó là hương vị đặc trưng đậm đà, có mùi mốc, mùi thơm của sôcôla, thoang thoảng vị ngọt của sirô, một ít mùi vị khói của thuốc lá, đắng nhưng rất dễ chịu và đấy chính là cà phê chồn.
- Quy trình sản xuất chế biến cà phê chồn Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Cà phê sau khi thu lượm có lẫn phân chồn cần đem rửa sạch, sau đó xử lý theo quy trình. Nếu thời tiết đẹp cần phơi nắng, chọn phơi ở nhiệt độ phù hợp không có nắng gắt. Còn nếu thời tiết không thuận lợi thì sấy khô, có thể dùng bóng đèn hoặc quạt để sấy và đảm bảo ở nhiệt độ phù hợp. Công đoạn kế tiếp là chế biến cà phê cũng rất quan trọng, đòi hỏi sự chính xác và công phu. Cà phê sau khi bảo quản được đem đi sát bỏ vỏ trấu để lấy hạt cà phê, sau khi lấy được hạt bước tiếp theo là rang cà phê. Có thể rang bằng máy hoặc rang thủ công.
Cà phê chồn thường được rang từ màu sáng đến màu đậm trung bình trong nhiệt độ từ 170 – 2300 C với thời gian 15 phút, đảm bảo không làm giảm đi vị ngọt mà vừa tạo nước cho cà phê vừa phân hủy các vi sinh vật. Bên cạnh đó, đối với sản phẩm cà phê chồn Weasel coffee, phiên bản Legendee coffee của Trung Nguyên còn được chế biến theo phương pháp ủ men sinh học độc đáo để tạo ra mùi vị thơm ngon đặc trưng khác lạ.
Hiện nay, có hai loại cà phê chồn đó là chồn Robusta và chồn Arabica. Trong khi cà phê chồn Robusta có mùi vị thanh ngọt, vị chua của trái cây và thơm hơn hẳn thì cà phê chồn Arabica lại đặc trưng hơn ở độ êm mượt và tinh khiết. Ở Đăk Lăk nói riêng và Việt Nam nói chung, phổ biến vẫn là dòng sản phẩm cà phê chồn Robusta với mùi vị đắng dịu, đậm đà.
Nói đến Đăk Lăk là nghĩ đến cà phê, mà nổi bật nhất là sản phẩm cà phê chồn chính là biểu tượng đặc trưng nhất của vùng đất huyền thoại. Du lịch kết hợp tham quan tìm hiểu cà phê sẽ là một hoạt động trải nghiệm hết sức quý giá, đặc biệt là tham quan trang trại nuôi chồn, tìm hiểu quy trình chế biến sản xuất cà phê chồn sẽ là hoạt động du lịch độc đáo mà thiên nhiên và con người nơi đây muốn dành tặng du khách.
3.1.7. Một số sản phẩm, thương hiệu cà phê nổi tiếng
Một số sản phẩm, thương hiệu cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước như:
Trung Nguyên; Vinacafe; Starbucks; Highland Coffee; Kien Cuong – Civet Coffee, Mê Trang, v.v…Trong đó, tập đoàn Trung Nguyên và Kien Cuong – Civet là hai đơn vị sản xuất cà phê lớn hàng đầu ở Đăk Lăk. Tập đoàn Trung Nguyên từ lâu đã là một trong những thương hiệu nổi tiếng hàng đầu tại Việt Nam, sản phẩm của Trung Nguyên đã và đang có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới. Các dòng sản phẩm cà phê Trung Nguyên rất đa dạng, được phân thành nhiều nhóm sản phẩm khác nhau.
Trong đó, gồm 2 loại chính là loại cao cấp và loại phổ thông:
Nhóm sản phẩm cao cấp gồm:
- Cà phê chồn Trung Nguyên: Cà phê chồn hạt cao cấp
- Legendee Trung Nguyên: Cà phê Legendee cao cấp
- Cà phê siêu sạch Sáng tạo 8: Cà phê sáng tạo 8
- Cà phê hạt Trung Nguyên: Cà phê hạt cao cấp Trung Nguyên
Nhóm sản phẩm phổ thông gồm:
- Cà phê hòa tan G7: G7 đen Trung Nguyên; G7 3in1; G7 2in1; Cà phê phái đẹp Passiona; G7 Đen Đường; G7 Cappuccino Mocha; Cappuccino Chocalate
- Cà phê Sáng tạo 1, 2, 3, 4, 5
- Cà phê chế phin 1, 2, 3, 4, 5
- Cà phê Trung Nguyên chữ S
Ngoài ra, Tổng Công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe) cũng là một thương hiệu nổi tiếng ở thị trường trong nước. Các sản phẩm chính của Vinacafe hiện nay gồm có:
- Cà phê xay: Vinacafé Natural và Vinacafé Select
- Cà phê hòa tan: Vinacafé hòa tan đen lọ PET và Vinacafé hòa tan đen hộp PS.
3.2. Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm du lịch tìm hiểu cà phê Đăk Lăk Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến du khách thông qua việc phát phiếu điều tra với đối tượng khách du lịch trong và ngoài nước về sản phẩm du lịch tìm hiểu cà phê. Kết quả điều tra là cơ sở tiền đề đánh giá, phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch cà phê thành một trong những thương hiệu chính của du lịch Đăk Lăk.
Phần lớn các đối tượng khách thích thú khi đến Buôn Đôn và các thác nước như đã nêu tại Biểu đồ 2.4, nhưng bên cạnh đó cũng có khá đông khách quốc tế bày tỏ sự quan tâm và mong muốn được tham quan vườn cà phê cũng như cơ sở sản xuất chế biến cà phê. Nhiều du khách khi được hỏi đều bày tỏ sự ấn tượng trước vẻ đẹp của loài cây nổi tiếng thế giới này và mong muốn được có dịp tham quan, tìm hiểu về cà phê nhiều hơn.
Biểu đồ 3.1. Hoạt động tham gia du lịch tại Đăk Lăk
Trong các hoạt động du lịch tại Đăk Lăk, phần đông du khách lựa chọn thưởng ngọn thiên nhiên, khám phá thiên nhiên. Loại hình du lịch sinh thái cũng được khá nhiều du khách tham gia. Tuy nhiên, trong khi khách nội địa thường thích hưởng ứng các hoạt động mang tính phong trào và thích tham quan cảnh đẹp, tham gia các trò chơi giải trí,…thì đa số khách quốc tế lại chọn hình thức khám phá thiên nhiên, du lịch sinh thái hoặc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm văn hóa mang tính chất cộng đồng,…
Nhiều du khách quốc tế, đặc biệt là du khách Tây Âu tỏ ra rất thích khi được dẫn đi tham quan các vườn cà phê, thăm cơ sở sản xuất chế biến cà phê. Họ bày tỏ mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn về loài cây này cũng như tham gia trải nghiệm các hoạt động liên quan đến cà phê.
Biểu đồ 3.2. Nhu cầu tìm hiểu cà phê tại Đăk Lăk
Mặc dù hiện tại các điểm tham quan và các hoạt động du lịch khách đang thực hiện hầu như chỉ là các hoạt động truyền thống của địa phương, đó là tham quan thác nước, Buôn Đôn,… Nhưng khi tìm hiểu nhu cầu đối với sản phẩm du lịch đặc thù và mới mẻ là sản phẩm du lịch tìm hiểu cà phê thì thấy rõ sự mong muốn tham gia của khách là rất lớn.Có 72% khách nội địa và 82% khách du lịch quốc tế có nhu cầu tham gia các sản phẩm du lịch tìm hiểu về cà phê. Trong đó, khách quốc tế chiếm tỷ lệ cao hơn so với khách nội địa. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Biều đồ 3.3. Nhu cầu tham gia các hoạt động tham quan và tìm hiểu cà phê tại Đăk Lăk
Biểu đồ 3.3 thể hiện các hoạt động liên quan đến cà phê mà du khách tham gia. Trong đó dễ dàng nhận ra sự chênh lệch cũng như mức độ quan tâm của từng đối tượng khách đối với cà phê. Hầu hết các hoạt động liên quan đến cà phê đều có sự tham gia của khách quốc tế, chẳng hạn như: tham quan vườn cà phê và tìm hiểu quy trình cà phê tại cơ sở nuôi chồn thu hút nhiều du khách quốc tế tham gia, trong khi nhu cầu thưởng thức cà phê của khách nội địa lại nhiều hơn với 56% so với 26% của khách quốc tế.
Biểu đồ 3.4. Nhu cầu thưởng thức cà phê
Khảo sát về mức độ thường xuyên sử dụng cà phê của đối tượng khách không có sự chênh lệch lớn. Khách nội địa và quốc tế đều có nhu cầu thưởng thức cà phê thường xuyên với tỷ lệ lần lượt là 56% và 62%. Có 34% khách nội địa và 30% khách quốc tế thỉnh thoảng uống cà phê, chỉ có ít trường hợp hiếm khi dùng và không dùng.
Biểu đồ 3.5. Sự quan tâm của khách du lịch về sản phẩm cà phê chồn
Qua khảo sát ý kiến du khách về sản phẩm cà phê chồn, chúng tôi đã thu được kết quả là: có 74% khách nội địa trả lời từng nghe nói hoặc có biết về cà phê chồn trong khi tỷ lệ này ở khách quốc tề là 62%; Có 26% khách nội địa và 38% khách quốc tế chưa từng nghe nói hoặc biết về cà phê chồn. Điều đó cho thấy, cà phê chồn tuy nổi tiếng nhất thế giới nhưng chính vì sự thiếu thông tin, cũng như sự khan hiếm của nó nên hầu hết du khách chỉ từng được nghe đến hoặc kể lại và hầu như ít có.
Biều đồ 3.6. Đánh giá về cà phê chồn Đăk Lăk
Trong số khách biết đến cà phê chồn, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn chuyên sâu về sản phẩm cà phê chồn Đăk Lăk, qua đó được biết: Có 42% khách nội địa và 32% khách quốc tế đánh giá cà phê chồn có mùi vị thơm ngon; 30% khách nội địa và 36% khách quốc tế đánh giá là loại thức uống quý hiếm; 10% khách nội địa và 28% khách quốc tế đánh giá là cà phê đẳng cấp thế giới; chỉ có 18% khách nội địa và 4% khách quốc tế xem đó là sản phẩm cao cấp, đắt giá.
Như đã nói vì có khá ít thông tin về sản phẩm cà phê chồn, cũng như sự khan hiếm của nó trên thị trường hiện nay nên đa số người dùng và du khách khó có thể đánh giá được một cách đầy đủ về tính năng sản phẩm cà phê này.
Biều đồ 3.7. Sự quan tâm của khách về sản phẩm lưu niệm
Hiện tại, phần đông du khách chọn mua những sản phẩm khác làm quà lưu niệm khi đi Đăk Lăk, những sản phẩm được xem là đặc trưng của Đăk Lăk như: hàng dệt may thổ cẩm, rượu Ama Kông lại ít nhận được sự quan, chỉ có khách quốc tế là thể hiện sự quan tâm khá lớn đối với sản phẩm hàng dệt may và cà phê chồn. Tuy nhiên, sản phẩm cà phê chồn lại quá ít không đủ để cung cấp tiêu thụ, do đó nguồn thu từ việc bán các sản phẩm hàng lưu niệm cũng không đáng kể đối với ngành du lịch địa phương. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy, đa số du khách đều đánh giá cao về tiềm năng khai thác sản phẩm du lịch từ cà phê. Có khá đông khách du lịch nước ngoài, chủ yếu là đến từ các nước như: Nhật, Pháp, Nga, Đức, Mỹ…thể hiện sự quan tâm đến chương trình du lịch cà phê, các hoạt động trải nghiệm cộng đồng cùng người dân bản xứ, du khách cũng tỏ ra khá thích thú khi được tham quan vườn trồng cà phê, thăm cơ sở chăn nuôi chồn để chế biến sản phẩm cà phê chồn, tham quan quy trình phơi sấy, rang xay và chế biến cà phê ở các cơ sở chế biến…
Biểu đồ 3.8. Đánh giá của khách du lịch về tiềm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê
Khi được hỏi một số du khách bày tỏ họ mong muốn ngày càng có nhiều hơn chương trình tour hấp dẫn nhằm mang lại sự mới lạ, độc đáo. Tổ chức nhiều hơn các hoạt động liên quan đến cà phê để có điều kiện tham gia. Đặc biệt là các hoạt động trải nghiệm cùng người dân bản xứ trong vai trò người làm nông nghiệp, trực tiếp tham gia trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch và chế biến các nông sản như: cà phê, ca cao,…
Từ nhu cầu thực tế đó, với nguồn nguyên liệu dồi dào, địa phương có nhiều tiềm năng khai thác cà phê thành sản phẩm du lịch, đặc biệt trong hoàn cảnh các sản phẩm du lịch hiện nay đang ngày càng đơn điệu, kém sức hút. Ngành du lịch Đăk Lăk nên chú trọng đầu tư hơn nữa nhằm xây dựng sản phẩm du lịch cà phê thành một trong những sản phẩm du lịch chính, hấp dẫn, lôi cuốn và có tính cạnh tranh cao, tạo động lực phát triển du lịch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh cần tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách trong đầu tư phát triển sản phẩm du lịch.
Biểu đồ 3.9. Đánh giá của khách du lịch về chương trình tour kết hợp tham quan nhà vườn cà phê
Phần lớn khách nội địa và quốc tế đều có chung nhận xét nên kết hợp tham quan nhà vườn cà phê trong chương trình tour.
Biểu đồ dưới đây sẽ cho thấy nhu cầu tham quan tìm hiểu quy trình hái lượm, phơi sấy, rang xay cà phê của khách quốc tế khá cao, với 70% ý kiến cho là rất đúng, có 38% khách nội địa và 28% khách quốc tế cho rằng đúng, 52% khách nội địa và 2% khách quốc tế đánh giá bình thường và không có ý kiến khác.
Biểu đồ 3.10. Đánh giá của khách du lịch về khả năng khai thác quy trình hái lượm, phơi sấy, rang xay cà phê cho phát triển sản phẩm du lịch Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Biểu đồ 3.11. Đánh giá của khách du lịch về khả năng khai thác chương trình tour tham quan, tìm hiểu quy trình nuôi, chế biến cà phê Chồn
Đa số du khách có chung ý kiến ủng hộ chương trình tour tham quan, tìm hiểu quy trình nuôi, chế biến cà phê Chồn. Có 46% khách nội địa và 42% khách quốc tế cho là rất đúng, 48% khách nội địa và 54% khách quốc tế cho là đúng, 6% khách nội địa và 4% khách quốc tế cho bình thường. Từ đó thấy được nhu cầu tham quan quy trình nuôi, chế biến cà phê chồn của du khách là rất lớn. Các đơn vị làm du lịch nên có sự liên kết trong việc đón và dẫn khách đến các địa điểm này.
Biểu đồ 3.12. Đánh giá của khách du lịch về khả năng khai thác hoạt động tổ chức sự kiện trong phát triển sản phẩm du lịch Đăk Lăk
Qua biểu đồ, đa số du khách có chung nhận xét tích cực về hoạt động tổ chức sự kiện của Đăk Lăk. Có 68% khách nội địa và 78% khách quốc tế cho rằng công tác tổ chức sự kiện của tỉnh nên được tăng cường hơn nữa. Tuy nhiên, cũng cần nỗ lực hơn trong việc nâng cao chất lượng chương trình phục vụ, nội dung hoạt động của các sự kiện cũng như nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác tổ chức, nhất là về nhân lực phục vụ trong du lịch, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ vẫn còn hạn chế.
Biểu đồ 3.13. Đánh giá của khách du lịch về lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột – Đăk Lăk
Kết quả điều tra cho thấy có 80% khách nội địa và 70% khách quốc tế cho rằng cần tạo thêm nhiều nét đặc sắc hơn ở lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột, một sự kiện văn hóa du lịch lớn mang tầm Quốc gia của tỉnh Đăk Lăk.
Biểu đồ 3.14. Đánh giá hoạt động xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk
Biểu đồ cho thấy cả hai đối tượng khách đều muốn hoạt động xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch cà phê của Đăk Lăk cần được tăng cường trong thời gian tới, không có sự chênh lệch lớn giữa các ý kiến nhận xét của hai đối tượng khách. Cuộc khảo sát trên cũng cho thấy các loại hình và sản phẩm du lịch truyền thống mà địa phương khai thác lâu nay, hiện đã trở nên quen thuộc với du khách, chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ cũng ngày càng suy giảm, khá đơn điệu và nghèo nàn… Với kết quả khảo sát của đề tài có thể nhận thấy cần xác định lại chiến lược xây dựng sản phẩm du lịch một cách hợp lý; Có lộ trình hướng đi bền vững nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, có sức hút du khách đến với Đăk Lăk nhiều hơn trong tương lai. Cần xem xét vai trò, nhu cầu của du lịch sinh thái nông nghiệp đang là xu hướng phát triển và cũng là một trong những thế mạnh, tiềm năng mà địa phương chưa khai thác triệt để. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Tỉnh cần chú trọng đầu tư, tăng cường khai thác các giá trị từ cây cà phê gắn với sinh thái nông nghiệp nhằm tạo ra chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng, lấy sản phẩm cà phê làm biểu tượng nổi bật khi nói đến thương hiệu du lịch Buôn Mê Thuột – Đăk Lăk. Sản phẩm cà phê Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) Buôn Mê Thuột hiện nay đã xuất hiện nhiều hơn tại các hội chợ triển lãm trong nước, một số doanh nghiệp cũng đã mang sản phẩm này đi giới thiệu và trưng bày tại Campuchia, Thái Lan.
Tiểu kết chương 3
Cùng với tiềm năng và nhu cầu thị trường ngày càng chú trọng, Đăk Lăk có nhiều thuận lợi trong khai thác phát triển sản phẩm du lịch, nổi trội là cà phê. Dù vậy, địa phương cũng cần phải khắc phục những hạn chế, khó khăn và tận dụng tối đa những lợi thế về tài nguyên, tiềm năng khai thác hơn nữa; Cần có những bước đi chủ động hơn, mang tính định hướng cao trong việc xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch có chất lượng và đặc trưng. Luận văn: Tìm năng khai thác sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk.
Trên cơ sở ấy, cà phê Đăk Lăk từ lâu được xem là một trong những sản vật nông nghiệp nổi tiếng thế giới. Với nguồn nguyên liệu dồi dào, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước không ngừng tăng cao, dưới góc độ kinh tế cà phê đã và đang mang lại giá trị to lớn cho sự phát triển của địa phương. Với thế mạnh rõ nét về du lịch sinh thái nông nghiệp, Đăk Lăk hoàn toàn có thể tạo ra chuỗi giá trị lớn hơn trong việc khai thác cà phê, đặc biệt dưới góc độ du lịch.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Đề xuất xây dựng sản phẩm du lịch cà phê Đăk Lăk

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch ở cà phê Đăk Lăk