Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9 hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9 (TP.HCM) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch ngày càng trở thành một hiện tượng KTXH phổ biến, khi đời sống người dân dần được cải thiện, nhu cầu đi du lịch cũng tăng lên, nó trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển KT-XH của đất nước và ngày càng khẳng định vị trí là ngành kinh tế “mũi nhọn” trong kinh tế quốc dân.
TP.HCM là trung tâm du lịch lớn của cả nước và đang trên con đường phấn đấu trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực. Để đạt được điều này, TP phải thành công trong việc huy động mọi nguồn lực tập trung cho mục tiêu này. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là từng quận – huyện trên địa bàn TP cần xác định, đánh giá đúng tiềm năng thế mạnh trên địa bàn, từ đó có các kế hoạch đồng bộ, sự phối hợp chặt chẽ của các thành phần tham gia phát triển du lịch.
Là vùng đất được ưu đãi nhiều mặt, từ khí hậu đến cảnh quan, từ vị trí địa lí đến lịch sử truyền thống cách mạng giàu tính văn hóa, lịch sử, Quận 9 có lợi thế so sánh để phát triển những sản phẩm du lịch đặc thù, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, dã ngoại, du lịch hội nghị – hội thảo, du lịch gắn với học tập truyền thống, văn hóa, cách mạng với các công trình, di tích, địa danh văn hóa lịch sử, tôn giáo,…
Có thể nói, những đặc điểm tự nhiên do thiên nhiên ban tặng cùng với sự phát triển các dự án CSHT giao thông thuận lợi đã, đang và sẽ xây dựng như các dự án mở rộng xa lộ Hà Nội, đường cao tốc Long Thành – Dầu Giây, các tuyến Metro, các đường vành đai; các dự án Bến xe miền Đông, khu các trường Đại học, các khu dân cư mới, các khu vui chơi giải trí,… sẽ là điều kiện để Quận 9 kêu gọi đầu tư phát triển du lịch xứng tầm, có thương hiệu đóng góp quan trọng vào sự phát triển KT-XH của địa phương và TP. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Để phát triển mạnh mẽ ngành du lịch trong những năm tới và khắc phục những khó khăn còn tồn tại, Quận 9 phải có những định hướng và giải pháp đúng đắn hơn hướng tới phát triển bền vững du lịch trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Là công dân đang sinh sống và làm việc trên mảnh đất này tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu về hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch ở địa phương, đặc biệt là những tiềm năng mà Quận 9 hiện có để khai thác phát triển du lịch trong tương lai, vì vậy tôi chọn đề tài “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9 (TP.HCM)” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch Quận 9 (TP.HCM) giai đoạn 2015 – 2023, đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch địa phương đến năm 2030.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển du lịch.
- Phân tích tiềm năng phát triển du lịch của Quận 9 (TP.HCM).
- Đánh giá hiện trạng của ngành du lịch Quận 9 (TP.HCM) giai đoạn 2015 – 2023.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch Quận 9 (TP.HCM) đến năm 2030.
3. Giới hạn đề tài
Về không gian: Toàn bộ phạm vi hành chính Quận 9 (TP.HCM).
Về thời gian:
Phân tích hiện trạng phát triển du lịch Quận 9 trong giai đoạn 2015 – 2023.
Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch Quận 9 đến năm 2030. – Nội dung: Đề tài tập trung phân tích tiềm năng, hiện trạng du lịch của Quận 9 nói chung, không đi sâu nghiên cứu các loại hình du lịch cụ thể. Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch trên quan điểm Địa lí học. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
4. Lịch sử nghiên cứu
Du lịch thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Tuy nhiên, những nghiên cứu lý luận về du lịch mới chỉ thực sự phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XX đến nay. Ở Việt Nam, nghiên cứu về du lịch chưa thực sự có hệ thống và cũng chỉ phát triển từ 2 thập niên trở lại đây và cùng với nó là sự “bùng nổ” về đào tạo nguồn nhân lực du lịch trên cả nước.
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chỉ xin đề cập đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu phát triển du lịch Quận 9 mà tác giả đã tham khảo và kế thừa.
Trước hết là các công trình nghiên cứu về du lịch TP.HCM, có thể kể đến là: “Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh” của TS. Huỳnh Quốc Thắng (2017); “Đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh qua chương trình tour của các công ty lữ hành” của Ths. Hoàng Trọng Tuân, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; “Khai thác tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Lê Thị Thúy, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM;…
Quận 9 mới được thành lập từ năm 2007, với xuất phát điểm là nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp do đó du lịch địa phương còn ít được chú trọng. Chỉ trong khoảng vài năm trở lại đây với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác thế mạnh địa phương trong đó phát triển thương mại dịch vụ, công nghiệp và xây dựng nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, các loại hình dịch vụ nông nghiệp, đặc biệt là việc gắn nông nghiệp đô thị với dịch vụ du lịch vườn thì du lịch mới bắt đầu được quan tâm. Nhưng các đề tài nghiên cứu, đánh giá về du lịch Quận 9 còn rất hạn chế. Chỉ có một số bài viết, tham luận của một số cơ quan như sau:
Các bài viết về“Định hướng quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn Quận 9” của Phòng quản lí đô thị Quận 9 và “Tiềm năng du lịch trên địa bàn Quận 9” của Phòng kinh tế Quận 9 là những đánh giá chung về tiềm năng du lịch của quận và những định hướng phát triển du lịch địa phương đến năm 2030 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch nói riêng và KT-XH của Quận 9 nói chung, góp phần chuyển dịch kinh tế và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn quận.
Ngoài ra còn có các bài báo như: “Cách tiếp cận và những vấn đề quan tâm để phát triển du lịch sinh thái Quận 9” – tham luận của ông Nguyễn Thanh Tùng – Viện trưởng Viện Quản trị tri thức; “Một số ý kiến về phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn Quận 9 – Thành phố Hồ Chí Minh” – tham luận của Hiệp hội Du lịch TP.HCM; “Phát triển du lịch sinh thái nhà vườn kết hợp với các lễ hội và phát huy thế mạnh đường sông để nối kết các tuyến điểm du lịch” – Báo cáo của Sở VHTTDL TP.HCM trong hội nghị về du lịch TP.HCM. Các tham luận và báo cáo trên chủ yếu được trình bày giản lược và khái quát về tình hình du lịch ở Quận 9 dưới góc độ các nhà kinh tế làm du lịch và chưa có công trình nào nghiên cứu sâu để đánh giá toàn diện tiềm năng, hiện trạng du lịch của Quận 9 dưới góc độ Địa lí học. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Vì vậy, tiếp thu và để đóng góp cho sự phát triển du lịch Quận 9 dưới góc độ của người nghiên cứu địa lý du lịch, đề tài “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9 (TP.HCM)” sẽ tập trung làm rõ tiềm năng phát triển du lịch, phân tích thực trạng du lịch Quận 9 giai đoạn 2015 – 2023, để từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Quận 9 đến năm 2030 nhằm thúc đẩy nhanh hơn sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Tính hệ thống được hiểu là sự phối hợp chặt chẽ, logic giữa các bộ phận của sự vật, hiện tượng. Theo quan điểm này, nghiên cứu một đối tượng cụ thể phải đặt trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như thấp hơn. Quận 9 là một đơn vị hành chính của TP.HCM. Hoạt động du lịch của quận cũng nằm trong hệ thống chung của du lịch TP và là bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của KT-XH Quận 9. Mặt khác, tìm hiểu hoạt động du lịch của Quận 9 để thấy được những tiềm năng của nó đối với sự phát triển kinh tế từ đó khai thác có hiệu quả hoạt động du lịch trong bối cảnh chung của KT-XH Quận 9 và TP.HCM.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Là quan điểm truyền thống của Địa lí học cần được quán triệt khi nghiên cứu các vấn đề địa lí ở một địa phương cụ thể.
Tài nguyên du lịch cũng như những hoạt động của ngành này có sự phân bố không giống nhau theo không gian. Chính sự phân bố đó đã dẫn đến những nơi khác nhau sẽ có những loại hình, những hoạt động không giống nhau. Vì vậy khi nghiên cứu cần phải tìm ra nét đặc trưng của vùng trong đó có sự kết hợp nhất định giữa các loại tài nguyên và các loại hình hoạt động.
Việc vận dụng quan điểm tổng hợp – lãnh thổ cho phép xem xét tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch trên một địa bàn cụ thể như tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người,… Do vậy, việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các tiềm năng du lịch Quận 9 được nhìn nhận trên quan điểm tổng hợp trong mối quan hệ không gian để hình thành nên những điểm, cụm, tuyến du lịch đạt hiệu quả.
- Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Bất kỳ một đối tượng tự nhiên và KT-XH nào cũng có một quá trình phát sinh, phát triển và suy vong. Quá trình hình thành và phát triển của địa chất, địa hình đã tác động đến sự hình thành của thổ nhưỡng, thủy văn. Bên cạnh đó kết hợp với yếu tố khí hậu đã tạo nên những tài nguyên du lịch tự nhiên trên địa bàn Quận 9.
Ngoài ra, các yếu tố về chính trị, xã hội cùng những di tích lịch sử, truyền thống văn hóa địa phương cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch trên địa bàn. Do đó, cần xét đến yếu tố lịch sử để có cái nhìn tổng thể hơn về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch. Hơn nữa, cần có cái nhìn viễn cảnh để đánh giá và tìm hiểu, nghiên cứu về phương hướng phát triển du lịch trong tương lai nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.
- Quan điểm kinh tế – sinh thái Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Bản thân là một ngành kinh tế thì mục tiêu của phát triển du lịch là nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng bên cạnh đó bảo tồn được môi trường sinh thái là một nhiệm vụ quan trọng. Trong định hướng cũng như giải pháp khai thác tài nguyên du lịch của Quận 9 cần có những chính sách bảo vệ môi trường và tài nguyên đúng đắn hướng đến phát triển du lịch hiệu quả và dài lâu.
- Quan điểm phát triển bền vững
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả ba phương diện kinh tế – xã hội – môi trường. Tiến hành nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch cùng những phương hướng để không chỉ góp phần khai thác hợp lí và có hiệu quả các tài nguyên du lịch mang lại lợi ích về kinh tế mà qua đó còn tạo ra nền tảng cho sự bền vững về xã hội, bền vững về môi trường hướng tới phát triển bền vững một cách toàn diện.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu nhằm mục đích kế thừa những nghiên cứu trước đó. Phương pháp này được áp dụng trong quá trình xử lí thông tin, kiến thức, bảng, biểu,… để có thể đưa ra những nhận xét và kết luận mang tính khoa học và phù hợp với thực tiễn.
Các tư liệu thu thập được là từ các công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, báo cáo, các văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định, các số liệu thống kê, một số luận văn, luận án đã nghiên cứu trước đó,…và các tư liệu trên phương tiện thông tin đại chúng (báo, báo điện tử, tạp chí, tivi,…)…
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch như một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định. Một trong các chức năng đó là việc phục hồi, tái sản xuất sức khỏe, khả năng lao động và thể lực, tinh thần lao động của con người. Hệ thống lãnh thổ du lịch được thành tạo từ nhiều phân hệ khác nhau về bản chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm: phân hệ khách du lịch; phân hệ tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử; phân hệ CSVC – KT phục vụ du lịch, phân hệ cán bộ công nhân viên phục vụ và phân hệ điều khiển.
Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch có đặc điểm tổng hợp tính đa dạng và phức tạp của các mối liên hệ, của các chức năng xã hội, điều kiện và các yếu tố phát triển du lịch. Phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch nhằm mục đích nghiên cứu cơ chế hoạt động bên trong của hệ thống trong quá trình tác động qua lại giữa các thành phần (phân hệ), cũng như cả hoạt động bên ngoài và tác động qua lại của nó với môi trường xung quanh để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch trong tương lai một cách phù hợp.
- Phương pháp khảo sát thực địa Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Đây là phương pháp rất quan trọng và không thể thiếu khi nghiên cứu địa lí tự nhiên hay địa lí KT-XH ở địa phương. Trong quá trình thực địa, người thực hiện có thể thu thập trực tiếp số liệu thông tin với độ tin cậy chính xác cao trên địa bàn nghiên cứu. Đồng thời hoàn toàn chủ động quan sát, ghi chép, chụp ảnh,… và đối chiếu những nhận định, phân tích, đánh giá đã thực hiện để khẳng định giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là một phương pháp nghiên cứu truyền thống của Địa lí học – “bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ”. Phương pháp bản đồ được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình nghiên cứu nhằm xác định ranh giới nghiên cứu một cách cụ thể, chính xác, tránh sự nhầm lẫn về không gian. Đồng thời xây dựng các bản đồ tài nguyên du lịch, hiện trạng phát triển du lịch và định hướng phát triển để thể hiện kết quả nghiên cứu một cách trực quan và khoa học.
6. Đóng góp của luận văn
Một số đóng góp chủ yếu của luận văn là:
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về phát triển du lịch ở một lãnh thổ nói chung để vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu phát triển du lịch Quận 9 (TP.HCM).
- Phân tích tổng hợp các điều kiện phát triển du lịch của Quận 9 trên quan điểm địa lí du lịch.
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch Quận 9, từ đó rút ra những thành tựu và hạn chế để góp thêm cơ sở cho việc đề xuất phát triển du lịch trên địa bàn một cách hiệu quả hơn.
- Đề xuất định hướng phát triển du lịch Quận 9 đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch
- Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch Quận 9 (TP.HCM).
- Chương 3: Định hướng phát triển du lịch Quận 9 (TP.HCM) đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện.
Ngoài ra, trong luận văn còn có 8 bảng số liệu, 1 biểu đồ, 2 bản đồ và 4 phụ lục.
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Các khái niệm Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
1.1.1. Du lịch
Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên toàn cầu. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới.
Trên thực tế, hoạt động du lịch đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại Ai Cập và Hy Lạp, rồi tiếp tục phát triển thăng trầm cho đến nay. Tuy nhiên, du lịch thế giới chỉ thực sự phổ biến từ cuối thế kỷ XIX và bùng nổ vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai đem lại những thành quả vô cùng to lớn về KT-XH.
Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều định nghĩa về du lịch dưới các góc độ tiếp cận khác nhau.
Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” [17]. Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du lịch.
Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ cho rằng: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên” [17].
Hai học giả Humziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lí thuyết và cung – cầu du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [17]. So với các quan điểm trên, quan điểm của Humziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch. Tuy nhiên quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch.
Theo I.I Pirojnik (1985) “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thế chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức và văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [17].
Tháng 6/2001, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê du lịch cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [17].
Hội nghị lần thứ 27 (2003) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm” [17].
Trong Luật Du lịch Việt Nam (2015), tại điều 4, chương I, định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Có nhiều quan niệm rất khác nhau về du lịch tuy nhiên theo thời gian các quan niệm này dần hoàn thiện. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2015.
1.1.2. Tài nguyên du lịch Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
The I.I Pirojnik (1985) “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kĩ thuật cho phép”[17].
Ngô Tất Hổ (2010) thì cho rằng “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”[17].
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015) quy định tại điều 4, chương I, thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Tuy quan niệm về tài nguyên du lịch có sự khác nhau nhất định giữa các nhà nghiên cứu nhưng cơ bản đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách.
1.1.3. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng.
Theo Michael M. Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” [17]. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.
Sản phẩm du lịch có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể. Do vậy việc đánh giá, kiểm tra chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn vì thường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kì vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch.
- Sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt của du khách (nhu cầu thưởng thức cái đẹp, nhu cầu tìm hiểu giá trị văn hóa,…). Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có những hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ăn ở, đi lại của con người nhưng mục đích chính của chuyến đi không nhằm vào ăn, ở mà là để giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết,… Vì vậy cần chú trọng vào nhu cầu của du khách để họ thấy hài lòng.
- Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn liền với yếu tố tài nguyên nên không thể dịch chuyển được. Không thể mang sản phẩm du lịch đến nơi của du khách mà du khách phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn các nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng các sản phẩm du lịch.
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra cùng một thời gian và địa điểm với nơi sản xuất ra chúng do đó sản phẩm du lịch không thể cất đi, không thể dự trữ được như mặt hàng khác. Do vậy, việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng.
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ. Đây là hiện tượng lúc thì cung không thể đáp ứng được cầu, lúc thì cầu lại không đáp ứng được cung. Nguyên nhân chính là trong du lịch lượng cung khá ổn định trong thời gian dài còn nhu cầu của khách thì thường xuyên thay đổi dẫn tới sự chênh lệch cung – cầu.
1.1.4. Điểm du lịch Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch. Về mặt lãnh thổ điểm du lịch có quy mô nhỏ và có sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch. Trên bản đồ các vùng du lịch người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt.
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc KT-XH) hoặc một công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Thời gian lưu lại của du khách tại điểm du lịch là tương đối ngắn (1-2 ngày) bởi do hạn chế về đối tượng du lịch chỉ trừ một số trường hợp là điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ,…
Theo điều 4, chương I, khoản 8, Luật Du lịch Việt Nam (2015): “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
Cũng theo luật này, thì điểm du lịch được công nhận là điểm du lịch quốc gia khi có đủ các điều kiện, gồm: có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100 nghìn lượt khách tham quan một năm. Còn các điều kiện để công nhận điểm du lịch địa phương thì thấp hơn, bao gồm: có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 10 nghìn lượt khách tham quan một năm.
Một điểm du lịch tốt cần có môi trường tự nhiên và văn hóa lành mạnh, có các điều kiện đảm bảo dịch vụ tối thiểu cho khách du lịch như khách sạn, thông tin liên lạc, cửa hàng ăn uống, dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm,…
Về mặt không gian, các điểm du lịch được kết nối với nhau bằng tuyến du lịch và được tổ chức thuận tiện, khoa học và mang tính kinh tế cao.
1.1.5. Tuyến du lịch
Theo quy định tại khoản 9, điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam (2015): “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”.
Tại điều 25, mục 1, chương IV, quy định điều kiện để được công nhận là tuyến du lịch như sau:
- Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch quốc gia:
Nối các KDL, điểm du lịch, trong đó có các KDL, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế.
Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.
- Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch địa phương:
Nối các KDL, điểm du lịch trong phạm vi địa phương. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.
Các tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt dựa vào các điểm hút; các cửa khẩu kinh tế quan trọng; hệ thống đường bộ, đường sắt, đường không, đường thuỷ; hệ thống đô thị; các cơ sở lưu trú cũng như giá trị đặc biệt của các điểm du lịch để hình thành nên các chương trình du lịch theo tuyến du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong vùng, trong nước và quốc tế. Do vậy, có thể xem tuyến du lịch là đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch khác nhau trên một lãnh thổ.
Cơ sở tiền đề cho tuyến du lịch là điểm du lịch và hệ thống giao thông bao gồm tuyến đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không.
Về mặt lãnh thổ, trong một quốc gia, tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng hoặc tuyến liên vùng. Trong một tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du lịch ngoại tỉnh.
1.1.6. Tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất.
Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội, tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính chất lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch. Trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch, đáng lưu ý hơn cả là hệ thống lãnh thổ du lịch và vùng du lịch.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức lãnh thổ du lịch là phân vùng du lịch. Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra một hệ thống phân vị 5 cấp phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, gồm: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch, vùng du lịch.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
1.2.1. Tiềm năng phát triển du lịch
1.2.1.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo nên các sản phẩm du lịch. Để hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu của du khách, các sản phẩm du lịch cũng cần phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ. Chính sự phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Số lượng, chất lượng, sự phân bố của các dạng tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm và hoạt động du lịch.
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng tài nguyên và nó quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sức hấp dẫn của vùng phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch với chất lượng càng cao và mức độ kết hợp các loại tài nguyên càng phong phú thì sức thu hút khách du lịch của nó càng mạnh.
- Tài nguyên du lịch có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
Tài nguyên du lịch rất đa dạng, bao gồm cả tài nguyên dưới dạng vật thể lẫn tài nguyên dưới dạng phi vật thể. Nhìn chung, phần lớn tài nguyên ở dưới dạng vật thể (như hang động karst, vườn quốc gia, di tích văn hóa – lịch sử, …) phần còn lại dưới dạng phi vật thể (như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca Trù, Quan họ,…)
Tài nguyên du lịch không bị suy giảm trong quá trình khai thác và nguồn tài nguyên này có thể được sử dụng với số lần không hạn chế. Khác với một số tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt khi sử dụng như khoáng sản, tài nguyên du lịch có lợi thế là không hao mòn nên có thể khai thác lâu dài tùy thuộc vào nhu cầu của du khách.
Tài nguyên du lịch không phải là bất biến. Phạm vi của nó có xu hướng ngày càng mở rộng, phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học và công nghệ và nhu cầu của khách du lịch. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Về nguyên tắc, cần phải nắm vững các đặc điểm của tài nguyên du lịch, bởi vì chúng có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển du lịch của một lãnh thổ (vùng, quốc gia).
Tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, vì thế, có nhiều cách phân loại phụ thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau.
Năm 2007, Tổ chức Du lịch Thế giới đã chia tài nguyên du lịch thành 3 loại, với 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện tại (3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kĩ thuật (3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực).
Theo Ngô Tất Hổ (2010), tài nguyên du lịch được chia thành 3 hệ thống (thiên nhiên, nhân văn, du lịch); 10 loại (cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu vi sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác, di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấp dẫn nhân văn trừu tượng, hấn dẫn nhân văn khác, dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác); 95 kiểu và 3 bậc. Ông cho rằng 3 bậc này phản ánh quy mô của tài nguyên dựa trên mức độ quan trọng và độ lớn của tài nguyên.
- Theo G.Cazes – R.Lanquar – Y.Raynouard, trong du lịch có thể phân loại tài nguyên như sau:
Tài nguyên thiên nhiên như khí hậu (thuận lợi hay khó khăn cho việc phát triển loại hình du lịch này hoặc loại hình du lịch khác), địa hình (tạo phong cảnh núi, phong cảnh hồ hoặc bãi biển), động vật và thực vật,…
Tài nguyên văn hóa – xã hội như các cuộc trình diễn nghệ thuật, liên hoan âm nhạc, hòa nhạc quốc tế, triển lãm, hội thảo văn học, trình diễn thể thao, khoa học và công nghệ, các TP hiện đại, các điểm khảo cổ và lịch sử…
Tài nguyên thuộc nhóm kinh tế như các nhà máy, các trung tâm kĩ thuật, kể cả những điều kiện kinh tế thuận lợi cho việc mua sắm,…
Ở nước ta, từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỉ XX, một số tác giả (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương) trong quá trình đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam đã phân chúng thành 2 loại:
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình (các dạng địa hình đặc biệt), khí hậu, thủy văn (trên đất liền và biển), sinh vật.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có: di tích các loại, lễ hội, làng nghề, văn hóa – văn nghệ dân gian, ẩm thực,…
Trong Luật Du lịch Việt Nam (2015), tài nguyên du lịch cũng được chia làm 2 nhóm cơ bản như trên.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015): “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta. Ở một địa phương nào đó tự nhiên tác động đến người quan sát qua hình dạng bên ngoài của bản thân nó. Cái hình dạng bên ngoài ấy của tự nhiên gọi là phong cảnh. Trong tự nhiên, một số thành phần có thể quan sát được bằng mắt thường như hình dạng bề mặt đất, động – thực vật, nguồn nước. Ngoài ra, đóng vai trò quan trọng đối với nhiều loại hình du lịch là khí hậu, đặc biệt là các tiêu chí có liên quan đến trạng thái tâm lí – thể lực của con người – đó là khí hậu sinh học, thành phần này con người không thể nhìn thấy được, nhưng lại dễ dàng cảm nhận được.
Phong cảnh của một lãnh thổ càng đa dạng, khí hậu càng thuận lợi thì chất lượng của lãnh thổ đó dành cho du lịch càng được nâng cao. Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh nhất đến du lịch là khí hậu, địa hình, nguồn nước và tài nguyên thực – động vật.
Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình
Địa hình có vai trò hết sức quan trọng đối với du lịch. Trước hết, bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình thuộc CSHT và CSVC – KT phục vụ du lịch.
Các dạng địa hình chứa nước (như sông, hồ, phá, đầm…) không chỉ cho phép phát triển loại hình du lịch sông nước, mà còn có khả năng hình thành các tuyến du lịch nếu phạm vi phân bố của chúng nối liền các điểm du lịch. Các yếu tố như chiều rộng, độ sâu và phạm vi phân bố của các dạng địa hình này ảnh hưởng đến khả năng lưu thông của thuyền bè.
Địa hình là thành phần chủ yếu của tự nhiên tạo nên phong cảnh (cùng với địa hình là nước mặt, thảm thực vật, đặc điểm thời tiết và các công trình nhân tạo) để du khách thưởng ngoạn.
Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng. Chúng được phân biệt với nhau bởi độ chênh của địa hình. Khách du lịch thường ưa thích những nơi có phong cảnh đẹp, đa dạng, những vùng có nhiều đồi núi và thường tránh những nơi bằng phẳng.
Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về hình dáng và ít gây những cảm hứng trực tiếp cho tham quan du lịch.
Địa hình vùng đồi núi thường tạo ra một không gian thoáng đãng. Sự chia cắt của địa hình có tác động mạnh đến tâm lí du lịch dã ngoại, thích hợp với loại hình cắm trại, tham quan.
Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Đây là khu vực thuận lợi cho việc tổ chức nghỉ dưỡng, nghỉ hè, du lịch mạo hiểm, leo núi,… Trong số các tài nguyên du lịch tự nhiên thì địa hình, khí hậu và động thực vật ở miền núi tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày.
- Khí hậu Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên có tác động đối với hoạt động du lịch. Điều đó được thể hiện ở khả năng thu hút khách thông qua đặc điểm khí hậu sinh học. Trong các tiêu chí của khí hậu, đáng chú ý là 2 tiêu chí chính: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra, một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa, vi sinh của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt,… cũng thường xuyên tác động đến sức khỏe con người. Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường trách những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch.
Điều kiện thời tiết cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc hoạt động du lịch. Những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, ví dụ như những tai biến thiên nhiên (bão, gió mùa, gió bụi, lũ lụt,…).
Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu. Tác động của khí hậu đối với sức khỏe con người và việc triển khai các hoạt động du lịch diễn ra theo chiều hướng và mức độ khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm gây nên sự khác biệt về hoạt động du lịch theo mùa, mà trước hết là về số lượng khách, thời gian lưu lại, kéo theo những thay đổi về công suất sử dụng giường, buồng, doanh thu,…tạo ra mùa vụ trong năm của hoạt động du lịch.
Sự khác biệt về các yếu tố khí hậu – thời tiết của điểm du lịch so với các địa bàn du lịch chủ yếu hoặc so với địa bàn phân phối khách có thể tạo ra lợi thế hoặc bất lợi cho điểm du lịch.
Một số hiện tượng thời tiết có thể tác động đến sự ổn định và bền vững của các thành phần tự nhiên khác cũng như các công trình nhân tạo. Các kiểu thời tiết đặc biệt như mưa lớn, lũ lụt, bão, lốc hoặc gió tây khô nóng có thể phá hủy các thành phần thiên nhiên khác cũng như các cảnh quan du lịch hoặc các công trình nhân tạo, thậm chí chỉ trong một thời gian rất ngắn. Ngoài ra, một số yếu tố thời tiết còn ảnh hưởng thường xuyên và mạnh mẽ đến sự xuống cấp của các công trình, nhất là các công trình kiến trúc cổ.
- Tài nguyên nước
Tài nguyên nước bao gồm nước trên lục địa và nước biển, đại dương. Nước trên lục địa có nước mặt (sông, hồ các loại) và nước dưới đất (nước ngầm). Có giá trị đối với du lịch là nước trên mặt (cơ sở để hình thành các loại hình sông nước, du lịch hồ) và vùng biển (tiền đề cho các loại hình du lịch biển).
Nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách được đánh giá thông qua các tiêu chí: vị trí, số lượng và chất lượng nước của cả hai nguồn nước mặt và nước ngầm. Vị trí của nguồn nước thể hiện ở khoảng cách từ nguồn nước đến địa bàn hoạt động du lịch, chủ yếu là các điểm lưu trú của du khách. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Về chất lượng, nếu nguồn nước bị ô nhiễm thì thành phần của nó bị biến đổi và không phù hợp để sử dụng hằng ngày. Sự biến đổi này bao gồm cả tính chất lí, hóa và sinh học của nước làm cho nước trở thành độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.
Ngoài phục vụ nhu cầu sinh hoạt, các dạng địa hình chứa nước, chủ yếu là nước mặt còn tạo ra những phong cảnh đẹp. Mặt nước là không gian để có thể xây dựng các công trình dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn nổi, bến thuyền,… Các khách sạn, nhà hàng nổi là các cơ sở dịch vụ thu hút rất đông du khách nhờ vị trí độc đáo, cảnh quan ngoạn mục và khả năng cơ động của chúng.
Tài nguyên nước không chỉ có tác động trực tiếp dến hoạt động du lịch. Ngoài ra, nó còn gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thông qua tác động đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt khí hậu ở quanh các bồn chứa nước lớn.
- Sinh vật
Hiện nay, khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch và giải trí trở thành cấp thiết. Thị hiếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa – của loài người, đã xuất hiện một số hình thức mới, với sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đó là du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng tham quan là các loài động – thực vật.
Thực vật đặc biệt là các khối rừng tự nhiên và cả các khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở các khu vực ngoại ô thành phố với sự phổ biến của loài địa phương kết hợp với các loài khác đã thích nghi với khí hậu thực hiện chức năng nhiều mặt – làm sạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm. Ngoài ra, nó còn có tác dụng giảm tiếng ồn một cách tự nhiên. Cần phải bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, các quần thể thực vật ven sông, hồ ở vùng đồng bằng và thung lũng bởi vì chúng rất có giá trị đối với loại hình du lịch cuối tuần.
Ngoài ra, động thực vật đặc sản còn là nguyên liệu chế biến ra những món ăn độc đáo thỏa mãn nhu cầu ẩm thực của du khách.
Cùng với việc xem xét chi tiết từng thành phần của môi trường tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch, cần phải đánh giá tổng hợp bốn thành phần chủ yếu của nó thông qua hàng loạt tiêu chí. Bốn thành phần bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực – động vật luôn luôn tác động lẫn nhau, mặc dù với mức độ khác nhau và hiệu quả du lịch không như nhau. Nếu như tác động của địa hình đối với mục đích du lịch có thể diễn ra tương đối thường xuyên thì các thành phần còn lại nhất là khí hậu và nguồn nước giao động rất lớn tùy theo mùa và theo ngày đêm.
- Tài nguyên du lịch nhân văn
Các loại tài nguyên du lịch nhân văn chủ yếu bao gồm:
- Di tích lịch sử – văn hóa
Di tích lịch sử – văn hóa là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Di tích lịch sử – văn hóa có khả năng to lớn, góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Các di tích loại này được gọi chung là di tích lịch sử – văn hóa vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình lao động sáng tạo lâu dài. Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần.
Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (2011) thì “Di sản văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học”.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.
- Lễ hội
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
- Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội.
Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các lễ hội, dù lớn hay nhỏ, dù dài hay ngắn với những nghi thức nghiêm trang, trọng thể.
Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội.
Nghi thức lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc.
Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc với yếu tố văn hóa linh thiêng, đầy giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội.
Phần hội diễn ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lí và văn hóa cộng đồng, chứa đựng những quan niệm của một dân tộc về thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên. Trong hội thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát, tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công người xưa. Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn, đem lại niềm vui cho mọi người. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Lễ hội thường xuất hiện vào thời điểm linh thiêng chuyển giao mùa, hoặc đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ lao động và chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới.
- Làng nghề thủ công truyền thống
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, làng nghề là những làng sống bằng nghề hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam.
Làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền được hình thành từ lâu đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay.
Các làng nghề truyền thống chính là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn, bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong đó cả nội dung giá trị vật thể (hàng lưu niệm) và phi vật thể (kỹ năng làm nghề, cảm nhận văn hóa nghệ thuật,…).
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình trên địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc,…
- Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Đó là các viện khoa học và các trường đại học, các thư viện nổi tiếng, các TP diễn ra triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế (World Cup, Olympic), biểu diễn bale, các cuộc thi hoa hậu,…
Tất cả các TP có nhiều đối tượng văn hóa hoặc tổ chức hoạt động văn hóa – thể thao đều được đông đảo khách tới thăm và đã trở thành những trung tâm văn hóa lớn về du lịch văn hóa.
Các cuộc triển lãm, hội chợ kinh tế cũng thu hút nhiều đối tượng khác nhau. Đó là những người tham dự triển lãm đến để trao đổi kinh nghiệm sản xuất hoặc tuyên truyền cho các sản phẩm đem trưng bày. Một số người khác là các thương nhân tìm đến triển lãm để thiết lập mối quan hệ với các hãng và các công ty nước ngoài, để ký hợp đồng mua bán các sản phẩm. Ngoài ra là các khách tham quan, du lịch bình thường với số lượng đông đảo và nhiều mối quan tâm, khác nhau.
1.2.1.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kĩ thuật phục du lịch Cơ sở hạ tầng
CSHT chủ yếu gồm: hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp điện, hệ thống cấp và thoát nước.
CSHT nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch. Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định. Nó phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông.Việc phát triển giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận chuyển (công cộng và cá nhân) cho phép mau chóng khai thác được các nguồn tài nguyên du lịch mới.
Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong CSHT của hoạt động du lịch. Nó là điều kiện cần thiết đảm bảo thông tin cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Nhờ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các phương tiện thông tin liên lạc ngày càng phong phú và hiện đại. Các hệ thống cáp ngầm xuyên biển, vệ tinh thông tin, các hệ thống máy vi tính và điện báo, điện thoại, Internet ngày càng được sử dụng phổ biến và trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống.
Trong CSHT phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các công trình cấp điện, nước mà sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi giải trí của khách. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Như vậy, CSHT là tiền đề và trở thành đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch.
Cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ du lịch
CSVC – KT phục vụ du lịch bao gồm: hệ thống cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí, các cơ sở dịch vụ khác.
CSVC – KT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách.
- Cơ sở lưu trú du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015) thì “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”.
Có nhiều loại hình cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung, các cơ sở lưu trú bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác.
Mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch vụ thương mại: nhằm đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa của khách du lịch (trong nước cũng như quốc tế) bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác.
Do khách du lịch đông, lại từ nhiều nơi đến nên nhu cầu về ăn uống và hàng hóa của họ rất phong phú, đa dạng, tùy theo đặc điểm tiêu dùng như tính truyền thống, tính dân tộc,… Từ đó CSVC – KT đáp ứng nhu cầu trên cũng đa dạng, từ cửa hàng ăn uống (restaurant và bar), cửa hàng thực phẩm, rau quả, cửa hàng bán đồ lưu niệm đến các cửa hàng bán đồ chuyên dùng cho du lịch, bán hàng tiêu dùng (bằng ngoại tệ hay nội tệ). Các cửa hàng có thể bố trí trong khách sạn, tại KDL hoặc ở đầu mối giao thông.
- Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng thể thao hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại (bể bơi, xe đạp nước, cầu trượt nước, cho thuê xe ô tô…).
Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời khỏi CSVC – KT của các trung tâm du lịch. Chúng làm tăng hiệu quả sử dụng của khách sạn, khu nghỉ ngơi và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch.
- Cơ sở y tế chữa bệnh Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Các cơ sở y tế chữa bệnh có mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. CSVC – KT ở đây bao gồm các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng,…), các phòng y tế với các trang thiết bị trong đó (phòng tắm hơi, massage,…).
Các cơ sở y tế thư giãn, chữa bệnh luôn gắn liền với công trình thể thao và có thể được bố trí ngay trong khu vực khách sạn.
- Cơ sở vui chơi giải trí hoạt động thông tin văn hóa
Các cơ sở này nhằm mục đích giúp cho khách vui chơi, giải trí, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội, tạo điều kiện giao tiếp, quảng bá về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân tộc. Chúng bao gồm cơ sở vui chơi giải trí, cũng như các trung tâm văn hóa của các dân tộc, cũng như các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm và có thể được bố trí hoặc trong khách sạn, hoặc hoạt động một cách độc lập tại các trung tâm du lịch.
- Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác
Các cơ sở này là điều kiện bổ sung, giúp cho khách sử dụng hiệu quả hơn thời gian du lịch, tạo thêm sự thuận tiện khi họ lưu trú tại điểm du lịch. Các dịch vụ bổ sung bao gồm trạm xăng dầu, trạm cấp cứu (ở biển hoặc núi), xưởng sửa chữa dụng cụ thể thao, hiệu cắt tóc, giặt là, tiệm thẩm mĩ, cửa hàng dịch vụ về ảnh…
Tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệ thống dịch vụ du lịch. Chính các dịch vụ này trong hệ thống CSVC – KT có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra và thực hiện toàn bộ sản phẩm du lịch. Chúng tồn tại một cách độc lập nhưng đồng thời lại có mối quan hệ khăng khít với nhau, góp phần nâng cao tính đồng bộ, tính hấp dẫn của du lịch.
1.2.1.3. Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội
- Đường lối phát triển du lịch
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch. Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế. Chính sách phát triển du lịch được ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức Du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó. Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp. Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội. Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Số dân càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch càng nhiều. Số lượng người lao động trong sản xuất và dịch vụ ngày càng động gắn liền trực tiếp với kinh tế du lịch. Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch.
Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào nhiều đặc điểm xã hội của dân cư. Cần phải nghiên cứu cơ cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển.
Sự tập trung dân cư vào các TP, tốc độ gia tăng dân số và mật độ dân số, tuổi thọ, quá trình đô thị hóa cũng liên quan đến sự phát triển của du lịch. Sự phát triển của các ngành kinh tế Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đê cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch. Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội làm nảy sinh nhu cầu nghỉ ngơi, phát triển các hoạt động dịch vụ du lịch. Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về du lịch của dân cư ngày càng lớn, chất lượng dịch vụ ngày càng đa dạng.
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan trọng với phát triển du lịch. Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du lịch. Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng. Sự phát triển về số lượng làm cho mạng lưới giao thông thông vươn tới mọi miền trái đất. Chất lượng của phương tiện giao thông ảnh hưởng chuyến du lịch ở các mặt sau: tốc độ, an toàn, tiện nghi, giá cả. Đầu tư du lịch
Đối với một bất cứ ngành kinh tế nào hoạt động đầu tư đều có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đầu tư du lịch là hoạt động mà trong đó con người sử dụng nguồn vốn để tiến hành các hoạt động nhằm xây dựng CSHT, CSVC – KT phục vụ du lịch, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực du lịch,… Hoạt động đầu tư giúp khai thác tốt những lợi thế sẵn có để phục vu du lịch, thu hút du khách, tăng doanh thu và phát triển kinh tế xã hội đồng thời còn là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của người dân.
Hiện nay hoạt động đầu tư du lịch được đông đảo các thành phần kinh tế củng tham gia. Ngoài nguồn ngân sách của Nhà nước và địa phương thì đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch.
1.2.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch đã dần dần xuất hiện, trong đó có 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch, cụm tương hỗ phát triển du lịch và vùng du lịch.
1.2.2.1. Hệ thống lãnh thổ du lịch
Về phương diện cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Có thể coi các điều kiện và nhân tố du lịch trong sự thống nhất của chúng là một hệ thống mở phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại lẫn nhau, còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và với hệ thống khác (tự nhiên, KT-XH). Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗn hợp, nghĩa là có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, KT-XH và chịu sự chi phối của nhiều loại quy luật cơ bản.
Xét trên quan điểm hệ thống thì hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là các phân hệ: khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử – văn hóa, công trình kỹ thuật, cán bộ phục vụ và bộ phận điều khiển. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
- Phân hệ khách du lịch là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu đối với các thành phần khác của hệ thống.
- Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử – văn hóa tham gia hệ thống với tư cách là tài nguyên, là điều kiện để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống.
- Phân hệ công trình kỹ thuật đảm bảo cho cuộc sống bình thường của khách du lịch, nhân viên phục vụ (ăn, ở, đi lại) và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh, tham quan, du lịch…). Toàn bộ công trình kỹ thuật tạo nên CSHT của du lịch.
- Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ hoàn thành chức năng dịch vụ cho khách và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thường.
- Bộ phận điều khiển có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng phân hệ nói riêng hoạt động tối ưu.
1.2.2.2. Cụm tương hỗ phát triển du lịch
Cụm tương hỗ phát triển du lịch (Tourism cluster) là tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và dịch vụ du lịch có mối liên kết với nhau. Tại một khu vực địa lí nhất định có nhiều doanh nghiệp du lịch liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau, kết hợp với nhau nhờ đó làm tăng hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch, CSVC – KT, giảm bớt chi phí đầu vào.
Điều kiện hình thành cụm tương hỗ phát triển du lịch bao gồm:
- Không gian địa lí cần thiết để chứa được một số cơ sở du lịch có quy mô tương đối lớn hoặc rất lớn.
- Có một hoặc một số doanh nghiệp du lịch có năng lực làm hạt nhân để liên kết các doanh nghiệp trong không gian địa lí nói trên.
- Các doanh nghiệp tự nguyện liên kết với nhau để cùng có được lợi ích kinh tế và cùng có được sự cạnh tranh.
- Chính quyền địa phương khuyến khích chủ trương liên kết thành cụm và tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua cơ chế, chính sách, đầu tư CSHT,…
1.2.2.3. Vùng du lịch Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Theo quan niệm của I.I Pirojnik (1985), vùng du lịch là hệ thống lãnh thổ KT-XH, một tập hợp của các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hóa và các điều kiện KT-XH để phát triển du lịch.
Theo cách hiểu này, hệ thống lãnh thổ du lịch không phải là toàn bộ lãnh thổ của vùng, mà chỉ là nơi tập trung nguồn tài nguyên du lịch và các công trình kĩ thuật,… Vùng du lịch có không gian rộng lớn hơn, trong đó bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hóa, vật liệu, năng lượng, có đội ngũ cán bộ, thông tin, kho tàng, các công trình công cộng,…
Vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị. Đó là một kết hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng. Vùng du lịch là một thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn, xã hội,… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường KT-XH xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch.
Các mối liên hệ nội, ngoại vùng đa dạng, dựa trên nguồn tài nguyên, CSHT và CSVC – KT sẵn có của vùng.
Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh. Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch), nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch.
Vùng du lịch là một thực thể khách quan, tồn tại ngoài ý muốn của con người. Con người, thông qua công tác phân vùng du lịch, có thể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vùng du lịch nếu như việc nghiên cứu của họ tôn trọng các quy luật và thực tế khách quan.
Trong hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch Việt Nam, các cấp phân vị dưới vùng du lịch gồm: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch và á vùng du lịch.
1.3. Cơ sở thực tiễn Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
1.3.1. Tình hình phát triển du lịch ở vùng Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng có ngành du lịch phát triển nhanh và quan trọng nhất cả nước với cơ sở vật chất tương đối hiện đại, chất lượng dịch vụ được cải thiện và tài nguyên du lịch tương đối phong phú, đa dạng. Các sản phẩm du lịch chủ yếu của vùng là du lịch hội nghị, hội thảo, du lịch tham quan các di tích văn hóa – lịch sử, du lịch vui chơi giải trí và mua sắm, du lịch nghỉ dưỡng ở núi, biển và du lịch sinh thái. Các hoạt động du lịch tập trung ở TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh.
Tốc độ gia tăng du khách đến Đông Nam Bộ giai đoạn 2016 – 2020 là trên 18% với khách nội địa và 7,5% với khách quốc tế. TP.HCM và Bà Rịa – Vũng Tàu thu hút lượng khách quốc tế đông nhất. Doanh thu từ du lịch của vùng Đông Nam Bộ chiếm khoảng 34% doanh thu cả nước, đạt 46.296,3 tỉ đồng (2020).
Với những sản phẩm du lịch độc đáo trong vùng đã hình thành nên các điểm, tuyến du lịch nổi tiếng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế.
Tại TP.HCM có điểm du lịch Khu rừng Sác Cần Giờ, bến Nhà Rồng, địa đạo Củ Chi,… có ý nghĩa về lịch sử – văn hóa, KDL Văn hóa Suối Tiên, Công viên Đầm Sen có giá trị vui chơi , giải trí.
Tại tỉnh Đồng Nai có Vườn quốc gia Cát Tiên, Hồ Trị An với hệ sinh thái động thực vật quý hiếm. Tại tỉnh Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng, núi Bà Đen, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa thánh Tây Ninh. Bà Rịa – Vũng Tàu nổi tiếng với trung tâm du lịch biển.
1.3.2. Tình hình phát triển du lịch TP.HCM Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
Với vị thế là một trong những trung tâm tiếp nhận, trung chuyển khách lớn nhất nước, có lợi thế về cảng biển, sân bay, đường bộ kết nối thuận lợi với các tỉnh thành trong cả nước, với các nước trong khu vực và toàn cầu, có lợi thế về CSHT, CSVC – KT du lịch, TP.HCM đã và đang khẳng định vai trò là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất cả nước, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của du lịch Việt Nam.
Theo báo cáo tổng kết của Sở VHTTDL TP.HCM, trong giai đoạn 2016 – 2023, lượng khách quốc tế đến thành phố tăng bình quân 15%/năm. Tổng lượng khách quốc tế đến TP trong năm 2023 ước đạt 4.109.000 lượt, tăng 8,1% và chiếm 55% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam (ước đạt 7.400.000 lượt) trong đó khách quốc tế đến TP bằng các đường như sau:
- Đường hàng không: 480.000 lượt, tăng 9,4% so với năm 2022.
- Đường bộ: 000 lượt, tăng 1,2% so với năm 2022. – Đường biển: 61.000 lượt, tăng 3,3% so với năm 2022.
Trong đó thị trường khách hàng đầu (bằng đường hàng không) là Hoa Kì, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Pháp và Canada.
Bên cạnh đó lượng khách nội địa đến TP cũng tăng 20 – 30% hằng năm. Tổng doanh thu du lịch năm 2023 đạt 83.191 tỉ đồng, tăng 17% và chiếm 44% tổng doanh thu du lịch Việt Nam. Doanh thu du lịch đạt mức tăng trưởng cao và khá ổn định gồm doanh thu từ các nhà hàng, khách sạn và từ dịch vụ lữ hành.
Bảng 1.1 Doanh thu du lịch của TP.HCM giai đoạn 2015 – 2023
Đơn vị: tỉ đồng
| Năm | 2015 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
| Tổng | 15.135 | 32.986 | 37.789 | 49.528 | 56.842 | 71.279 | 83.352 |
| Khách sạn – nhà hàng | 12.000 | 27.177 | 32.399 | 40.014 | 46.168 | 56.951 | 65.410 |
| Dịch vụ lữ hành | 3.135 | 5.809 | 6.390 | 9.514 | 10.674 | 14.328 | 17.942 |
Nguồn: Niên giám thống kê TP.HCM, 2023
CSHT của du lịch TP phát triển nhanh theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp. Số khách sạn được xếp hạng sao tăng đều qua các năm. Tổng số cơ sở lưu trú du lịch của TP cũng tăng nhanh, từ 52 cơ sở, với 1.220 phòng – năm 2000, lên 1.461 cơ sở lưu trú, với với 34.091 phòng vào cuối năm 2022. Trong đó có 15 khách sạn được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 14001.
Số doanh nghiệp lữ hành cũng tăng mạnh. Các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn TP luôn chiếm 60 – 70% trong Top 10 doanh nghiệp lữ hành hàng đầu cả nước. Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ở Quận 9.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch Quận 9 TP.HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
