Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế thế vị và phương hướng hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ Ở NƯỚC TA
Những quy định về pháp luật thừa kế hiện hành đã góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các quan hệ xã hội ngày càng phát triển phong phú và đa dạng, nên các tranh chấp về thừa kế cũng có chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung. Do đó, số vụ việc dân sự (trong đó có các tranh chấp về thừa kế và thừa kế thế vị) mà ngành Tòa án thụ lý và giải quyết ngày càng tăng. Điều này phản ánh đúng thực trạng cuộc sống đang diễn ra rất phức tạp do các tranh chấp về thừa kế thường liên quan đến di sản, mà di sản thừa kế hiện nay không chỉ đơn thuần là các tài sản phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt mà là các tài sản có giá trị lớn như nhà, đất, vốn đầu tư, cổ phần, cổ phiếu… phản ánh các mâu thuẫn thực tế trong đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây, vấn đề cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, trong đó Tòa án được xác định là trung tâm của hệ thống tư pháp, nên công tác xét xử của ngành Tòa án luôn được quan tâm, chú trọng để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án. Tuy nhiên, thực tế trong quá trình giải quyết các vụ án (trong đó có các tranh chấp về thừa kế và thừa kế thế vị) thì các Tòa án vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót này bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.
Nguyên nhân khách quan là do các quy định pháp luật về dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng còn chưa hoàn thiện, nhiều văn bản pháp luật ban hành rất lâu nhưng không có văn bản hướng dẫn hoặc chậm có văn bản hướng dẫn, nhiều văn bản pháp luật được ban hành sau nhưng lại có nội dung không thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản pháp luật được ban hành trước đó… dẫn đến trong cách hiểu và áp dụng quy phạm pháp luật còn không thống nhất, chưa chính xác. Trong khi đó, tính chất của các tranh chấp dân sự ngày càng phức tạp, đa dạng và đòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp của Tòa án phải nhanh chóng, chính xác và đúng đắn, nên không tránh khỏi những khuyết điểm, sai sót trong quá trình giải quyết các vụ án.
Nguyên nhân chủ quan là do trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực của đội ngũ những người làm công tác xét xử có phần còn hạn chế, không đồng đều giữa các vùng miền. Nhiều trường hợp người làm công tác xét nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ của vụ án không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, áp dụng sai các quy định của pháp luật về nội dung và tố tụng, cá biệt là việc hiểu sai tinh thần của điều luật dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về cùng một vụ án… dẫn đến có những phán quyết không chính xác, không đảm bảo quyền lợi của đương sự.
Bộ luật Dân sự năm 2018 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới so với các quy định về thừa kế thế vị trong các văn bản pháp luật trước đó. Bộ luật này đã dành trọn Điều 677 để quy định về thừa kế thế vị và để tránh sự lúng túng trong cách áp dụng luật trên thực tế thì Bộ luật này còn dành Điều 678 và Điều 679 để cụ thể hóa các trường hợp thừa kế thế vị đặc biệt là: Thừa kế thế vị giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng; thừa kế thế vị giữa con nuôi với cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi. Đây là một bước tiến mới khi ghi nhận quyền thừa kế về mặt pháp lý của các đối tượng đặc biệt như: con nuôi, con riêng… Quy định trên là một điều chỉnh hợp lý và cần thiết cho Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 1995. Bởi vì, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự gia tăng của dân số, phương tiện giao thông cũng không ngừng gia tăng… Nhiều tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng của nhiều người và trường hợp nhiều người gặp rủi ro cùng một thời điểm là điều không hiếm gặp. Thực tế có trường hợp con, cháu của người để lại di sản có thể chết cùng một thời điểm với người để lại di sản, nên quy định này đã thực sự có tính thực tiễn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích đáng của công dân nói chung và của cháu, chắt của người để lại di sản nói riêng.
Mặc dù các quy định về thừa kế thế vị của Bộ luật Dân sự năm 2018 là một sự tiến bộ so với các quy định trước đó, nhưng các quy định này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cả về mặt lý luận và thực tiễn, nên trong thực tế áp dụng các quy định này thì các Tòa án vẫn còn nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các quy định này trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến thừa kế thế vị do cách hiểu và áp dụng các quy định này còn chưa thống nhất, dẫn đến tình trạng nhiều vụ án vẫn bị kháng nghị và hủy án để xét xử lại với các lý do như: xác định di sản thừa kế thế vị không đúng; xác định người thừa kế thế vị không đầy đủ hoặc không đúng; xác định quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng không chính xác….
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2018 Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị là trường hợp đặc biệt và ít gặp trong thực tế, nhưng lại là một phần quan trọng của chế định thừa kế. Tuy nhiên, các quy định về thừa kế thế vị hiện nay trong Bộ luật Dân sự năm 2018 vẫn còn những tồn tại và bất cập đáng kể. Điều đó đặt ra yêu cầu về mặt lý luận cần phải hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho ngành Tòa án trong việc giải quyết các vụ án về thừa kế thế vị.
Như đã phân tích ở các chương trước, xung quanh Điều 677, Điều 678, Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi.
Có thể khái quát được những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế thế vị trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến thừa kế thế vị theo từng điều luật như sau:
- Về quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018
Theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị của ông, bà nội, ngoại hoặc của các cụ nội, ngoại với điều kiện:
- Cha hoặc mẹ của cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà nội, ngoại.
- Cháu hoặc chắt chỉ được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà hoặc của các cụ phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Về điều kiện thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì điều kiện đầu tiên là phụ thuộc vào sự kiện pháp lý phát sinh một cách khách quan, sự kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà nội ngoại hoặc các cụ nội, ngoại là điều kiện để cháu được thừa kế thế vị. Tuy nhiên, điều luật này còn quy định cháu hoặc chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống. Như vậy, quy định trên nếu hiểu theo câu chữ thì cháu hoặc chắt không được hưởng thừa kế thế vị nếu cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt còn sống cũng không có quyền hưởng thừa kế do bị tước quyền thừa kế theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018, mặc dù đã có điều kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà nội ngoại hoặc các cụ nội, ngoại. Do đó, quy định này có phần không hợp lý, bởi vì:
Nội dung điều luật đã không có sự kế thừa bản chất của các quy định về thừa kế từ trước đến nay là di sản của thế hệ trước được dịch chuyển cho thế hệ sau, trong trường hợp thế hệ trước qua đời. Mục đích thừa kế là nhằm bảo vệ khối di sản của thế hệ trước sau khi chết được để lại cho các con, các cháu có quan hệ huyết thống xuôi.
Các cháu hoặc các chắt được hưởng thừa kế thế vị nhận di sản của ông, bà nội, ngoại hoặc của các cụ nội, ngoại là căn cứ vào sự kiện cha hoặc mẹ của cháu đã chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với ông bà, hoặc các cụ nội, ngoại. Đây là quy định phù hợp với sự kiện pháp lý cho cháu được thừa kế thế vị và cũng đồng thời là điều kiện để chắt được thừa kế thế vị. Như vậy, quy định về việc cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau và phạm sai lầm trong việc phân chia di sản thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt khi còn sống đã bị kết án về một trong các hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu hoặc chắt không được thừa kế thế vị nhận di sản của ông bà nội, ngoại hoặc của các cụ nội, ngoại?
Nếu hiểu Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 như cách trình bày trên là không phù hợp với bản chất pháp luật thừa kế nói chung và những quy định về thừa kế thế vị nói riêng. Bởi vì, theo quy định tại Điều 674 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định” [27]. Như vậy, thừa kế thế vị là trình tự nhận di sản khi có sự kiện con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng chết vào một thời điểm với người để lại di sản thì cháu hoặc chắt nội, ngoại của người đó được thừa kế thế vị kế. Do đó, thừa kế thế vị không thể hiểu là thừa kế theo pháp luật mà phải hiểu là trình tự hưởng di sản do pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo điều kiện, trình tự hàng thừa kế và những người thừa kế trong cùng hàng nếu được hưởng di sản thì mỗi người được hưởng phần di sản ngang nhau, không phân biệt giới tính, độ tuổi, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự, không phân biệt con đẻ với con nuôi, con trong giá thú với con ngoài giá thú, với điều kiện người thừa kế theo hàng phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản và người đó có quyền hưởng di sản, không từ chối quyền hưởng di sản. Thừa kế thế vị không phải là thừa kế theo pháp luật mà là thừa kế do pháp luật quy định và tất cả những người thừa kế thế vị chỉ được hưởng chung nhau phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu khi còn sống được hưởng. Các cháu hoặc các chắt của người để lại di sản hưởng thừa kế thế vị, không thể hiểu là thừa kế theo trình tự hàng vì nếu hiểu như vậy thì cháu hoặc chắt của người để lại di sản đã hưởng ngang hàng với những người được nhận di sản theo pháp luật và mỗi người trong số họ cũng được hưởng phần di sản ngang bằng với những người thừa kế theo hàng được hưởng. Vì những lý do trên, điều kiện của cháu hoặc của chắt được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà hoặc của các cụ trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt đã chết trước hoặc cùng chết vào một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ nội, ngoại. Hơn nữa, thừa kế theo pháp luật là một hình thức thừa kế, còn thừa kế thế vị không phải là hình thức thừa kế mà là một điều kiện để cháu hoặc chắt của người để lại di sản thay thế vị trí của người cha hoặc người mẹ đã chết trước hoặc cùng chết vào một thời điểm với ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại để hưởng di sản của ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về việc tước quyền thừa kế của những người không được quyền hưởng di sản do đã có một trong các hành vi theo quy định này. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì những người này “vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc” [27]. Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm chỉ được áp dụng đối với chính người thừa kế theo pháp luật trong hàng được hưởng di sản mà có những hành vi trái pháp luật này thì người đó không được quyền hưởng di sản. Người nào có hành vi trái pháp luật thì người đó phải gánh chịu trách nhiệm do pháp luật quy định về hành vi đó, nên các cháu hoặc các chắt của người để lại di sản không thể phải gánh chịu trách nhiệm do hành vi của cha, mẹ mình gây ra. Quyền thừa kế thế vị của các cháu hoặc các chắt nội, ngoại không thể bị pháp luật tước bỏ khi mà giữa cha, mẹ và các con trách nhiệm hoàn toàn độc lập nhau về hành vi của mình. Vì những căn cứ trên nên hiểu Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 theo nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế là: Cháu nội, cháu ngoại hoặc chắt nội, chắt ngoại của người để lại di sản được thừa kế thế vị với điều kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại cho dù khi cha, mẹ, của cháu hoặc của chắt khi còn sống đã có một trong các hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018. Có quy định như vậy mới đảm bảo sự nhất thể hóa hệ thống pháp luật của Nhà nước ta nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng. Tránh sự đồng nhất hành vi trái pháp luật của người thừa kế theo trình hàng với những quy định về thừa kế thế vị đối với các cháu hoặc các chắt của người để lại di sản. Hành vi trái pháp luật của người là cha, là mẹ trong quan hệ thừa kế theo trình tự hàng với quy định về thừa kế thế vị của các cháu, các chắt không thể đồng nhất với nhau. Nếu chỉ hiểu một cách máy móc là cha hoặc mẹ của cháu khi còn sống không có quyền hưởng di sản thì cho dù cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt tuy có chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà nội ngoại hoặc các cụ nội, ngoại thì cháu cũng không được thừa kế thế vị là trái với bản chất của pháp luật thừa kế hiện đại và trái với truyền thống, tập quán, quan niệm về thừa kế thế vị trong nhân dân.
Ngoài ra, Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 cũng chỉ quy định chủ thể thừa kế thế vị chỉ là cháu, chắt, nhưng người để lại di sản còn có chút, chít… và trên thực tế xảy ra trường hợp cả con, cháu, chắt của người để lại di sản cùng chết trước hay chết cùng người để lại di sản. Tuy nhiên, do pháp luật không quy định chút, chít… của người để lại di sản sản được hưởng thừa kế thế vị, nên khi xảy ra những trường hợp này thì Tòa án không có căn cứ để bảo vệ quyền lợi cho những người thừa kế của họ.
- Về quy định tại Điều 678 và Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018
Đây là hai điều luật quy định về quyền thừa kế thế vị của con nuôi với cha mẹ nuôi và quyền thừa kế thế vị của con riêng với bố dượng, mẹ kế; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng đặc biệt như: con riêng, con nuôi… Tuy nhiên, quy định của hai điều luật này hiện còn đang rất chung chung và chưa có hướng dẫn hoặc có hướng dẫn nhưng chưa cụ thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng các quy định này còn khác nhau. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Theo Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ Luật này” [27]. Theo quy định này thì con của người con nuôi vẫn được thừa kế thế vị khi người con nuôi đó chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người cha nuôi, mẹ nuôi của người con nuôi đó. Con nuôi của người con nuôi đó cũng được thế vị để hưởng di sản của người nhận nuôi cha nuôi, mẹ nuôi của mình do Điều 676 và Điều 677 Bộ luật Dân sự năm chỉ quy định là “con” mà không xác định rõ là con đẻ hay con nuôi. Tuy nhiên, như đã phân tích ở chương 2 thì giữa con nuôi của người con nuôi và người nhận nuôi cha nuôi, mẹ nuôi của người đó không có bất kỳ mối quan hệ huyết thống hay chăm sóc, nuôi dưỡng nào, nên theo các quy định trên thì con nuôi của người con nuôi đó vẫn được hưởng thừa kế thế vị khi cha nuôi, mẹ nuôi của người con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người nhận nuôi cha nuôi, mẹ nuôi của người đó. Do đó, đây là một quy định bất hợp lý, thiếu cơ sở và còn gây khá nhiều tranh cãi, nhưng do chưa có hướng dẫn cụ thể nên việc hiểu và áp dụng quy định này của các Tòa án vẫn có sự khác nhau, không thống nhất.
Theo Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì “Con riêng, cha dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế của nhau và còn được thừa kế theo Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” [27]. Theo quy định này, cơ sở để cho thừa kế thế vị giữa các đối tượng này là “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”. Vấn đề quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con cái được quy định tại Chương IV Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quy định này chưa xác định rõ như thế nào thì được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con và chỉ quy định về nghĩa vụ, quyền chăm sóc nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con. Hiện tại, cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng bao lâu, mức độ cung cấp tài chính để nuôi dưỡng như thế nào thì được coi là có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau trên thực tế? Việc “nuôi dưỡng” này có đồng nghĩa với việc “cấp dưỡng” theo Luật hôn nhân và gia đình hay không? Trường hợp con có nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ nhưng vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng thì có được thừa kế thế vị hay không… Do những vấn đề này chưa có hướng dẫn nên tại các Tòa án vẫn còn nhiều cách hiểu và cách áp dụng khác nhau.
Như vậy, Điều 678 và Điều 679 của Bộ luật Dân sự năm 2018 cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt là quy định chung chung này đã tạo ra những cách hiểu trái chiều dẫn đến sự không thống nhất trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn. Chính vì vậy mà quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng được đề cập trong các điều luật nói trên đôi khi không được bảo đảm và thiếu sự công bằng, bình đẳng giữa các vụ việc hay ngay trong cùng một vụ việc cụ thể.
Tữ những vấn đề bất cập trong các quy định pháp luật về thừa kế thế vị nêu trên thấy rằng cần thiết phải có sự sửa đổi các quy định tại các Điều 677, 678 và Điều 679 của Bộ luật Dân sự năm 2018 để có cách hiểu và áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế thế vị được thống nhất, đúng đắn, bảo vệ được quyền lợi của công dân. Để hiểu rõ hơn sự cần thiết đó, xin nêu ra một số vụ án cụ thể để chứng minh về sự bất hợp lý trong các quy định này:
- Vụ án thứ 1: Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Vụ án “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là Chị Ngô Thị Cẩm V, bị đơn là ông Ngô Tấn L và bà Phan Thị S.
- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
Vợ chồng cụ Ngô Văn P (chết năm 1975) và cụ Nguyễn Thị T (chết năm 1995) có 04 người con gồm: Ông Ngô Tấn L (bị đơn), bà Ngô Thị N (chết năm 1982, có 03 người con là Lê Thị Mỹ H, Lê Thị Mỹ D và Lê Thị Kim G), ông Ngô Tấn C (chết năm 1983, có 01 người con là chị Ngô Thị Cẩm V – nguyên đơn), bà Ngô Thị M. Sinh thời, cụ P và cụ T tạo lập được một số tài sản gồm 2 thửa đất số 349, diện tích 5.887m2 và thửa đất số 984, diện tích 5.362,5m2, hai thửa đất này do cụ T đứng tên trong sổ mục kê. Cụ P, cụ T chết đều không để lại di chúc. Sau khi cụ T chết thì di sản trên do ông L và vợ là bà Phan Thị S quản lý.
Chị V (con ông C) khởi kiện ông L và bà S yêu cầu được chia di sản thừa kế của cụ P, cụ T theo pháp luật. Ông L không nhất trí yêu cầu chia thừa kế của chị V do thửa đất số 349 cụ T đã giao cho vợ chồng ông sử dụng từ năm 1990, nên đất này không phải là di sản thừa kế của cụ T; còn thửa đất số 984 là của cụ T đăng ký kê khai và đứng tên trong sổ mục kê 299, nhưng cụ T cũng đã giao cho vợ chồng ông sử dụng từ năm 1990, năm 2011, thì bà S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 984.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 279/2022/DSST ngày 16/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
- Chia diện tích đất tại thửa số 349 và 948 cho ông L và chị V mỗi người được 1/2.
- Ghi nhận chị V bồi hoàn giá trị cây trồng và chi phí đầu tư trên đất cho ông L, bà S là 71.372.651 đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông L và bà S có đơn kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã kháng nghị bản án sơ thẩm.
- Tại bản án dân sự phúc thẩm số 190/2023/DSPT ngày 03/4/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định: Giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
- Sau khi xét xử phúc thẩm, ông L có đơn khiếu nại.
- Ngày 25 tháng 12 năm 2025, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã có Quyết định kháng nghị số 532/2025/KN-DS kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
- Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao sau đó đã xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
Nhận xét: Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Hai thửa đất 349, 984 là di sản của cụ P, cụ T. Cụ P chết năm 1975, cụ T chết năm 1995, đến năm 2016 chị V mới có đơn khởi kiện chia di sản do cụ P và cụ T để lại, nhưng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế di sản của cụ P đã hết và phần di sản của cụ P do ông L đang trực tiếp quản lý, sử dụng nên ông L được tiếp tục quản lý, sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định toàn bộ hai thửa đất trên là di sản của mình cụ T là không đúng, phải xác định ½ tài sản này là di sản của cụ T mới đúng.
Ông L, bà M, ông C, bà N là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T. Tuy nhiên, ông C và bà N đã chết trước cụ T nên theo quy định pháp luật thì con ông C là chị V, con bà N là chị H, chị D, chị G là các cháu của cụ T sẽ được hưởng thừa kế thế vị di sản do cụ T để lại tương ứng với phần di sản nếu ông C và bà N còn sống được hưởng.
Bà M và chị H, chị D, chị G là những người thuộc diện thừa kế, phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia theo quy định pháp luật nếu được Tòa án chia thừa kế. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không chia thừa kế cho bà M, và chị H, chị D, chị G mà chỉ chia cho ông L và chị V hưởng thừa kế là không đúng.
Như vậy, trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã xác định di sản thừa kế thừa kế thế vị không đúng, xác định người thừa kế thế vị không đúng, dẫn đến quyết định của bản án không chính xác.
- Vụ án thứ 2:
Vụ án “Tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D, bị đơn là bà Nguyễn Thị T.
- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
Cố Nguyễn Văn B (chết năm 1987), có vợ là cố Nguyễn Thị H (chết năm 1955) có 1 người con là cụ Nguyễn Hữu K (chết năm 1972). Cụ K có vợ là cụ Nguyễn Thị C chết trước cụ K (không rõ năm), sinh được 2 người con gái là bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T. Bà M (chết năm 1985), có con là anh Nguyễn Văn D (nguyên đơn). Còn bà T không lấy chồng, ở cùng với cụ K và cố B. Sinh thời cố B có tạo lập được một ngôi nhà 5 gian trên diện tích đất 300m2 tại Thanh Xuân, Hà Nội. Cố B, cụ K chết đều không để lại di chúc. Nhà đất là di sản do cố B để lại vẫn do bà T quản lý sử dụng.
Anh D khởi kiện bà T xin chia thừa kế di sản là nhà đất do cố B để lại đang do bà T quản lý, sử dụng; anh xin được hưởng phần di sản thừa kế của mẹ anh là bà M. Bà T không nhất trí yêu cầu xin chia thừa kế của anh D do bà đã quản lý, sử dụng nhà đất nhiều năm và đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 201/2023/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân đã nhận định: Bà T là người ở cùng cố B, cụ K tại nhà đất này nhiều năm. Quá trình sử dụng đã sửa chữa nhà, kê khai đóng thuế đất. Từ khi bà M là mẹ anh D còn sống cũng không có tranh chấp gì. Bà T đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất, nên yêu cầu của anh D là không có căn cứ chấp nhận.
Từ đó, quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của anh D.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, anh D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
- Tại bản án dân sự phúc thẩm số 25/2024/DSPT ngày 22 tháng 1 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
- Sau khi xét xử phúc thẩm, anh D có đơn khiếu nại.
- Ngày 20 tháng 2 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Quyết định kháng nghị số 31/2025/KN-DS kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
- Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao sau đó đã xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân xét xử sơ thẩm lại theo quy định pháp luật.
Nhận xét:
Trong vụ án này, các đương sự tranh chấp di sản do cố B để lại là ngôi nhà 5 gian trên diện tích đất 300m2 tại Thanh Xuân, Hà Nội. Cố B có con là cụ K, nhưng cụ K lại chết trước cố B. Do đó, theo quy định pháp luật thì các con của cụ K là bà M, bà T là cháu cố B được hưởng thừa kế thế vị phần di sản của cụ K nếu còn sống được hưởng. Tuy nhiên, bà M chết sau cụ K nhưng lại chết trước cố B, nên theo quy định pháp luật thì anh D là chắt của cố B được hưởng thừa kế thế vị phần của mẹ anh là bà M nếu còn sống được hưởng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của anh D là không đúng quy định pháp luật do không xác định anh D là người thừa kế thế vị của bà M, xác định không đúng di sản thừa kế thế vị. Do đó, trong vụ án này Tòa án phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, chia di sản thừa kế của cố B cho hai người là bà T và anh D, nhưng phải xem xét trích chia công sức bảo quản, duy trì di sản cho bà T.
- Vụ án thứ 3:
Vụ án “tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q và bị đơn là anh Nguyễn Văn T.
- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
Năm 1960, ông A kết hôn với bà B và sinh được chị Q năm 1961. Năm 1965, bà B chết, ông A và bà B không có tài sản gì. Năm 1977, ông A kết hôn với bà K, chị Q vẫn ở cùng ông A và bà K, được bà K chăm sóc, nuôi dưỡng. Năm 1978, bà K sinh được anh T. Năm 1979, Chị Q lấy chồng và sống cùng gia đình chồng từ đó. Quá trình chung sống, ông A và bà K có tạo lập được một căn nhà 2 tầng trên diện tích đất 50m2 tại Cầu Giấy, Hà Nội. Năm 2015, ông A chết có để lại di chúc định đoạt tài sản của mình cho bà K, nên không có tranh chấp gì về tài sản của ông A. Năm 2021, bà K chết không để lại di chúc.
Sau khi bà K chết, chị Q yêu cầu chia di sản thừa kế do bà K để lại do anh T đang quản lý. Anh T không nhất trí chia thừa kế theo yêu cầu của chị Q và cho rằng chỉ có anh mới được hưởng di sản thừa kế, chị Q không được hưởng di sản thừa kế do bà K để do không phải là con đẻ của bà K. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DSST ngày 05 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy đã chấp nhận yêu cầu của chị Q, chia cho chị Q được hưởng 1/2 di sản thừa kế do bà K để lại, do bà K và chị Q có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con theo quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018.
Sau khi xét xử sơ thẩm, anh T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm do Tòa án sơ thẩm xác định chị Q được thừa kế theo quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế là không đúng do chị Q chỉ sống cùng mẹ anh trong thời gian hơn 1 năm và chị Q đã lớn và đi làm công nhân, đã có thu nhập nên mẹ anh là bà K không phải nuôi dưỡng, chăm sóc chị Q.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 275/2024/DSPT ngày 22 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm do bà K và chị Q có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau theo quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018.
- Nhận xét:
Vụ án này sau khi xét xử có nhiều quan điểm đánh giá Tòa án xử đúng, sai khác nhau. Có quan điểm cho rằng chị Q không được hưởng di sản thừa kế của bà K, có quan điểm cho rằng chị Q được hưởng di sản thừa kế của bà K. Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt và quan trọng là xác định giữa bà K và chị Q có quan hệ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con theo quy định tại điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 hay không. Tuy nhiên, do hiện tại pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể như thế nào có quan hệ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con để được hưởng thừa kế thế vị… Do đó, việc xét xử của Tòa án trong trường hợp này đúng hay sai vẫn còn nhiều tranh cãi và còn mang tính chủ quan. Do vậy, cần thiết phải có văn bản hướng dẫn về vấn đề này để việc hiểu và áp dụng quy định này được thống nhất, đúng đắn nhất.
- Vụ án thứ 4:
Vụ án tranh chấp thừa kế giữ nguyên đơn là ông Vũ Văn M, ông Vũ Văn N với bị đơn là bà Ngô Thị D, chị Hoàng Thị H, Nguyễn Thị Y.
- Nội dung vụ việc và quá trình giải quyết: Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Vợ chồng cụ Vũ Văn A và cụ Nguyễn Thị B sinh được 1 người con là ông Vũ Văn C. Cụ B đã chết sau khi sinh ông C, cụ A không lấy ai và nuôi dưỡng ông C, đồng thời tạo lập được một khối tài sản lớn. Ông C lấy vợ là bà D (bị đơn) và sinh con là anh Vũ Văn K. Anh K sau đó lấy chị H (bị đơn) và sinh con là Vũ Văn S. S lấy vợ là Y (Bị đơn) và sinh con là Vũ Văn T. Trong một lần cả gia đình đi du lịch, do ô tô gặp tai nạn nên cụ A, ông C, anh K và S phải vào Bệnh viện cấp cứu. Ông C chết trước đó một ngày, hai ngày sau anh K chết, ngày thứ 4 thì S cũng qua đời và cụ A sau đó cũng mất.
Sau khi cụ A chết thì anh ruột và em ruột của cụ A là ông M, ông N khởi kiện do bà D (vợ ông C), chị H (vợ anh K), Y (vợ S) là những người đang quản lý di sản do cụ A để lại yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ A.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DSST ngày 18 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận Hai bà Trưng đã xác định cụ A chết không để lại di chúc nên di sản của cụ A sẽ được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ A không còn ai và cũng không có người thừa kế thế vị, hàng thừa kế thứ 2 của cụ A chỉ còn ông M và ông N. Từ đó, quyết định chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn, giao di sản của cụ A cho ông M và ông N và trích một phần nhỏ công sức quản lý di sản cho bà D, chị H, Y.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm nên bà D có đơn kháng cáo.
- Tại bản án dân sự phúc thẩm số 167/2023/DSPT ngày 02 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Giữa nguyên bản án sơ thẩm.
Nhận xét:
Trường hợp này theo quy định pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ A chỉ có ông C. Tuy nhiên, ông C đã chết trước cụ A, nên theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì con ông C là anh K (cháu cụ A) sẽ được hưởng thừa kế thế vị của ông C, nhưng anh K cũng đã chết sau khi ông C mất, nên theo quy định pháp luật thì S (là chắt cụ A) sẽ được hưởng thừa kế thế vị thay anh K. Nhưng S cũng đã chết sau khi anh K mất, nhưng con của S là T (là chút của cụ A) không được hưởng thừa kế thế vị di sản của cụ A do pháp luật không quy định chút là chủ thể được hưởng thừa kế thế vị. Do hàng thừa kế thứ nhất của cụ A không còn ai và cũng không có người thừa kế thế vị, nên di sản thừa kế của cụ A sẽ được chia theo pháp luật và chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ 2 của cụ A là cụ M và cụ N, trong khi con dâu, cháu dâu, chắt dâu là bà D, chị H, Y và đặc biệt chút nội của cụ A là T không được hưởng thừa kế di sản của cụ A. Do đó, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã xét xử và phân chia thừa kế đúng pháp luật.
Như vậy, qua ví dụ này cho thấy quy định chỉ cho cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị là quy định không còn phù hợp, nên quy định này cần phải được sửa đổi cho phù hợp thực tế cuộc sống, cho phép thừa kế thế vị đối với cả chút, chít… và thừa kế thế vị đến vô hạn với thế hệ sau, để đảm bảo di sản của người chết được để lại cho người thân thích nhất của họ, đúng với bản chất của quan hệ thừa kế.
- Vụ án thứ 5: Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Vụ án tranh chấp yêu cầu hưởng di sản thừa kế kế vị giữa với nguyên đơn là chị Phạm Ánh N và bị đơn là bà Phạm Thị T.
- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
Vợ chồng cụ Phạm Công M và Nguyễn Thị G có tài sản là căn nhà 6 tầng trên diện tích 53,7m2 tại ngõ 630 đường Trường Chinh, phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Vợ chồng cụ M có hai người con là ông Phạm Công C, thương binh hạng 3/4 (bố đẻ N), bị tâm thần bỏ nhà đi từ năm 1994 (bị tòa án tuyên bố chết năm 2012) và bà Phạm Thị T. Năm 2017, vợ chồng cụ M lập di chúc để lại toàn bộ diện tích đất và căn nhà cho con gái là bà T sau khi hai cụ qua đời, di chúc được lập tại phòng công chứng theo đúng quy định pháp luật, khi đó bà T hứa miệng sẽ cho chị N một khoản tiền để chị N làm vốn làm ăn. Năm 2019, vợ chồng cụ M chết. Sau đó, bà T không thực hiện lời hứa cho chị N tiền và đối xử tệ bạc với chị N.
Chị N đã khởi kiện bà T yêu cầu chia di sản thừa kế do ông bà nội chị là cụ M, cụ G để lại.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 217/2025/DSST ngày 12 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân Quận Đống Đa đã quyết định bác yêu cầu của chị N, công nhận di chúc của cụ M và cụ G có hiệu lực pháp luật, giao toàn bộ di sản của cụ M, cụ G cho bà T.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, chị N đã có đơn kháng cáo không nhất trí án sơ thẩm.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 34/2026/DSPT ngày 12 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định sửa án sơ thẩm, buộc bà T phải chia 1/3 di sản của cụ M và cụ G cho chị N là người thừa kế vị của ông C do ông C là con của cụ M, cụ G nhưng không có khả năng lao động, nên ông C là người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cụ M, cụ G.
- Nhận xét:
Bản di chúc do của cụ M và cụ G lập hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, thời điểm vợ chồng cụ M và cụ G lập di chúc cho bà T được hưởng toàn bộ nhà và đất vào năm 2017 thì ông C (bố chị N) chưa bị Tòa án tuyên bố đã chết, mà đến năm 2021 thì ông C mới bị Tòa án tuyên bố đã chết. Ông C là thương binh thời kháng chiến chống Mỹ, bị chấn thương sọ não dẫn đến bị tâm thần và mất khả năng lao động. Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì dù cụ M và cụ G đã truất quyền hưởng di sản của ông C, không cho ông C hưởng tài sản của mình theo di chúc thì ông C vẫn được hưởng 2/3 kỷ phần của một suất thừa kế theo pháp luật do ông C là con của cụ M và cụ G, tuy đã thành niên nhưng lại mất khả năng lao động. Ông C đã bị Tòa án tuyên bố chết trước khi cụ M và cụ G chết, theo quy định pháp luật thì chị N là người được hưởng thừa kế thế vị của ông C phần di sản của ông C được hưởng nếu còn sống bằng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Người được thừa kế theo pháp luật của cụ M và cụ G chỉ có hai người con là bà T và ông C, nên có hai suất thừa kế theo pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của chị N và không chia thừa kế cho chị N là không đúng do xác định không đúng người được thừa kế thế vị, dẫn đến chia thừa kế không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, buộc bà T phải chia 1/3 giá trị di sản của cụ M và cụ G cho chị N là đúng pháp luật.
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018 Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018 nêu trên cho thấy chế định thừa kế thế vị cần phải được hoàn thiện và khắc phục những bất cập này để việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn đạt hiệu quả, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tốt hơn. Quá trình tìm hiểu về chế định thừa kế thế vị cho thấy những hạn chế đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, sai lầm và vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến thừa kế thế vị, quyền lợi của công dân không được bảo đảm. Do đó, để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng, xin đề xuất một số kiến nghị như sau:
- Về Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018:
Như đã nêu ở các phần trước, Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 trong thực tế áp dụng còn có nhiều bất cập, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng điều luật này còn khác nhau. Cụ thể:
Theo quy định của Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 hiện nay thì chỉ có cháu và chắt của người để lại di sản được thừa kế thế vị. Tuy nhiên, trong dòng trực hệ của người để lại di sản còn có chút, chít… nhưng với quy định pháp luật hiện nay thì chút, chít sẽ không có cơ hội thừa kế thế vị di sản của cụ, kị của mình. Thực tế đã có trường hợp xuất hiện quan hệ thừa kế thế vị của chút, chít để hưởng di sản do cụ, kị để lại như đã nêu tại vụ án thứ 4 ở mục 3.2.1. Tuy nhiên, pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội và dự liệu các quan hệ có thể xảy ra trong xã hội, nên để áp dụng pháp luật được thống nhất và đảm bảo quyền lợi của người thừa kế thì pháp luật cần thiết có quy định cho chút, chít… hưởng thừa kế thế vị khi có đủ điều kiện cần thiết và theo đó thế hệ sau được thừa kế thế vị đến vô hạn.
Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 hiện nay chưa dự liệu khả năng con của người để lại di sản khi còn sống đã từ chối nhận di sản của bố, mẹ hoặc bị bố, mẹ truất quyền thừa kế di sản thì cháu có được hưởng thừa kế thế vị hay không? Trong khi đó Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2018 lại quy định người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế. Thực tế có rất nhiều trường hợp đã từ chối nhận di sản thừa kế của cha, mẹ mình hay bị cha, mẹ mình truất quyền thừa kế. Do vậy, việc quy định thêm trường hợp này là rất cần thiết, nên trong trường hợp này cần quy định con của người đã từ chối nhận di sản hay bị truất quyền thừa kế thì không được thừa kế thế vị để hưởng di sản của người để lại di sản vì khi một người đã từ chối nhận di sản hay đã bị truất quyền hưởng di sản thì tư cách thừa kế của người từ chối nhận di sản hay bị truất quyền hưởng di sản không còn nữa và điều đó xuất phát từ ý chí chủ quan của người thừa kế hoặc người để lại di sản thừa kế.
Trường hợp con của người để lại di sản khi còn sống có hành vi vi phạm Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu vẫn có quyền được thế vị cha, mẹ mình để hưởng di sản của ông, bà. Tương tự như thế thì chắt cũng được hưởng di sản thừa kế thế vị. Sở dĩ cần quy định về trường hợp này vì hiện nay chưa có văn bản pháp lý nào hướng dẫn về vấn đề này. Mặt khác, việc cháu, chắt được thừa kế thế vị trong trường hợp này là quyền và lợi ích chính đáng cần được bảo vệ vì cháu, chắt không có lỗi, không phải chịu trách nhiệm về hành vi của cha, mẹ mình đã thực hiện trước đó.
Do đó, với những bất cập trên thì để quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 được hoàn thiện hơn, rõ ràng hơn và tránh việc hiểu, áp dụng không đúng quy định này, đảm bảo quyền lợi của người thừa kế thế vị, điều luật này cần bỏ cụm từ: “thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống” (đoạn 1) và cũng bỏ cụm từ tương tự tại đoạn 2 đối với chắt. Theo đó, Điều 677 cần được sửa đổi, bổ sung lại như sau:
“1. Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu thay thế vị trí của cha hoặc mẹ hưởng di sản của ông, bà; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt thay thế vị trí của cha hoặc mẹ hưởng di sản của các cụ. Tương tự như vậy, thừa kế thế vị đến vô hạn với thế hệ sau.
- Nếu cha hoặc mẹ của cháu, chắt khi còn sống đã có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này thì cháu, chắt vẫn được thừa kế thế vị trừ khi chính bản thân người cháu, chắt này có hành vi vi phạm quy này.
- Nếu con của người để lại di sản khi còn sống đã từ chối nhận di sản của bố, mẹ hoặc bị bố, mẹ truất quyền hưởng di sản thì cháu, chắt không được hưởng thừa kế thế vị”.
Về Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018 Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018 hiện nay quy định con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được hưởng di sản thừa kế của nhau và còn được thừa kế theo Điều 676 và Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018. Quy định này rất chung chung gây nhiều quan điểm trái chiều khi áp dụng. Thực tế, hiện tại Nghị quyết số 02/1990/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế đã hết hiệu lực pháp luật, nhưng tinh thần hướng dẫn tại điểm b khoản 5 Nghị quyết số 02/1990/HĐTP này vẫn được vận dụng trong cách hiểu và áp dụng điều luật này. Tuy nhiên hướng dẫn này cũng không quy định rõ khái niệm “con của người con nuôi” trong trường hợp này là con nuôi hay con đẻ hay bao gồm cả con nuôi và con đẻ của người con nuôi nên gây nhiều tranh cãi và mâu thuẫn trong quá trình áp dụng Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018. Ở phần 2.2.1 của chương 2 về chủ thể thừa kế thế vị đã phân tích những hạn chế và những quan điểm khác nhau trong cách hiểu và áp dụng điều luật này. Trên cơ sở đó, cần phải có quy định cụ thể về vấn đề thừa kế giữa con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi và Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018 nên được sửa đổi, bổ sung như sau:
- “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được hưởng di sản thừa kế của nhau theo Điều 676 của Bộ luật này.
- Trong trường hợp người con nuôi chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha nuôi và mẹ nuôi thì chỉ con đẻ của người con nuôi đó được thừa kế thế vị để nhận di sản của người để lại di sản”.
Việc sửa đổi điều luật này theo nội dung trên tránh được cách hiểu khác nhau về con nuôi hay con đẻ được hưởng thừa kế thế vị, xác định rõ chủ thể thừa kế thế vị của người con nuôi chỉ là con đẻ của người con nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì con nuôi của người con nuôi đó không được thừa kế thế vị để hưởng di sản thừa kế của người nhận nuôi cha mẹ nuôi mình.
- Về Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về mối quan hệ thừa kế giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng. Đây là điểm tích cực khi ghi nhận về mặt pháp lý để bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của con riêng. Quy định này góp phần củng cố mối quan hệ tình cảm giữa các chủ thể nói trên. Tuy nhiên, hiện nay quy định tại Điều 679 cũng có những tồn tại giống như quy định tại Điều 678 của Bộ Luật này. Đó là việc quy định của điều luật này còn chung chung, không xác định rõ thế nào là “có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”. Mặc dù, Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định về vấn đề nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ chồng nhưng điều luật này cũng không quy định cụ thể về vấn đề này dẫn đến còn nhiều cách hiểu và áp dụng quy định này trong quá trình xét xử các vụ án tại Tòa án hiện nay. Theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì con riêng và bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau, nếu họ không cùng chung sống thì không có nghĩa vụ này. Tuy nhiên thực tế có trường hợp không sống chung nhưng lại cung cấp tài chính để nuôi dưỡng và có trường hợp sống chung nhưng lại không thực hiện đúng nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc. Do đó, cần thiết phải quy định nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng không phụ thuộc vào nơi cư trú của họ. Để xác định trong trường hợp nào thì con riêng được thừa kế thế vị của cha dượng, mẹ kế và được thừa kế thế vị thì phải cần một phía có thực tế chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con hay bắt buộc quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng đó là từ hai phía. Mặt khác, trường hợp khi còn sống thì người con riêng của vợ hoặc của chồng thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha kế, mẹ kế nhưng lại bị kết án do vi phạm một trong các hành vi quy định tại các điểm a, c, d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 đối với cha dượng, mẹ kế thì khi người con riêng đó chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha dượng, mẹ kế thì con của người con riêng đó vẫn được thừa kế thế vị của ông bà là cha dượng, mẹ kế của bố, mẹ mình.
Do đó, Điều 679 Bộ luật Dân sự cần được sửa đổi như sau: “Con riêng và cha dượng, mẹ kế không phụ thuộc vào nơi họ cư trú, nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con từ một phía hoặc từ cả hai phía thì được thừa kế di sản của nhau theo quy định của Điều 676. Con hoặc cháu của người con riêng đó còn được thừa kế tài sản theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này”.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, chế định thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật và bản thân nó cũng phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội. Thừa kế thế vị là một phần quan trọng của pháp luật thừa kế. Thừa kế thế vị trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cháu, chắt của người để lại di sản, tránh được trường hợp di sản thừa kế được chia cho người không thân thích nhất của người để lại di sản.
Ngay từ sau năm 1945, quy định về thừa kế thế vị đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam. Quy định này được hoàn thiện dần qua từng giai đoạn lịch sử và qua từng văn bản pháp luật liên quan đến thừa kế và đến khi Pháp Lệnh thừa kế năm 1990 được ban hành thì thừa kế thế vị đã được quy định thành riêng một điều luật. Sau đó, quy định này tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và hoàn thiện hơn trong Bộ luật Dân sự năm 2018. Không phủ nhận rằng Bộ luật Dân sự năm 2018 đã có những quy định cụ thể, chi tiết, có nhiều điểm tiến bộ hơn so với các quy định về thừa kế thế vị trước đó và nó đã có tác động tích cực trong việc giải quyết các vụ về thừa kế thế vị trong thực tiễn. Tuy nhiên, ngoài mặt tích cực này thì các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018 vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng thực tế như đã phân tích trong phần nội dung luận văn. Do đó, các quy định này cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Qua việc tìm hiểu các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018 cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tác giả đã cố gắng làm rõ thừa kế thế vị dưới góc độ một quan hệ pháp luật, so sánh các quy định về thừa kế thế vị của Bộ luật Dân sự năm 2018 với các quy định về thừa kế thế vị trước đó để thấy được sự kế thừa và phát triển của chế định này. Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế thế vị, từ đó rút ra những bất cập, tồn tại của các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2018 cả về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng. Tác giả cũng tìm ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những bất cập, tồn tại trong các quy định về thừa kế thế vị, từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định thừa kế thế vị trong tương lai. Tuy nhiên, do đây là lần đầu tiên vấn đề thừa kế thế vị được nghiên cứu dưới góc độ một luận văn thạc sĩ luật học, nguồn tài liệu tham khảo không nhiều, nên trong một chừng mực nhất định tác giả mong muốn từ việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề về hiệu lực điều chỉnh cũng như góp phần hoàn thiện hơn các quy phạm pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng ở nước ta. Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thừa kế thế vị theo quy định của bộ luật dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
