Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Nhu cầu, định hướng nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam.
Xây dựng khung khổ pháp lý tốt về quản trị doanh nghiệp là một yêu cầu quan trọng; đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng mà đòi hỏi phải có tính chuyên môn và tính kỹ thuật cao. Quy định pháp lý về quản trị doanh nghiệp không có tác động ngay tức thì như quy định về thành lập doanh nghiệp hay nghĩa vụ thuế, tuy nhiên, có tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế mà trước tiên là củng cố niềm tin của nhà đầu tư. Bảo vệ nhà đầu tư là một trong các yếu tố quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, bởi vì nhà đầu tư sẽ không bỏ vốn kinh doanh nếu như quyền và lợi ích chính đáng của họ không được pháp luật bảo vệ và đảm bảo, nhất là trong điều kiện của một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Luật doanh nghiệp 2014 có những bước tiến bộ và thành công hơn so với Luật doanh nghiệp 2004, Luật công ty 1990 và Luật doanh nghiệp 1999, thể hiện qua số lượng và quy mô của các doanh nghiệp được thành lập tăng lên nhanh chóng và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển của nền kinh tế. Theo Báo cáo số 444/BC-UBTVQH11 ngày 19/11/2005, Quốc hội luôn khẳng định trong những lần thay xây dựng và hoàn thiện dự thảo pháp Luật doanh nghiệp đều cho rằng một trong những tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng Luật doanh nghiệp là tăng cường bảo vệ cổ đông, đặc biệt là Cổ đông thiểu số.
Trong thời gian tới, việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số cần những nguyên tắc định hướng hướng đến và bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, Pháp luật phải bảo vệ cổ đông phải trên nguyên tắc bình đẳng mà không có sự phân biệt cổ đông lớn hay Cổ đông thiểu số; cổ đông định chế hay cổ đông cá nhân; cổ đông nhà nước hay tư nhân; cổ đông trong nước hay nước ngoài. Đối xử bình đẳng giữa các cổ đông chính là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty được quy định trong Bộ nguyên tắc quản trị công ty do OECD phát hành năm 2019.
Thứ hai, Pháp luật bảo vệ cổ đông phải đảm bảo sự hài hoà, cân bằng lợi ích giữa các nhóm cổ đông lớn và Cổ đông thiểu số.Vấn đề tương quan về lợi ích, vị thế, đặc điểm của các loại cổ đông cũng là những vấn đề khá phức tạp cho các nhà làm luật khi xây dựng các quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông. Nói đến bảo vệ Cổ đông thiểu số là nói đến bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ trong công ty. Song, thế nào là quyền lợi ích chính đáng cũng là một câu hỏi khó trả lời, bởi vì bảo vệ lợi ích cổ đông này nhưng không thể làm thiệt hại đến cổ đông kia trong cùng một công ty. Nếu pháp luật quy định điều kiện để ĐHĐCD tiến hành và biểu quyết với một tỷ lệ thật cao thì sẽ có lợi cho Cổ đông thiểu số, giúp tỷ lệ của họ có trọng lượng. Song, cũng có thể gây khó khăn cho hoạt động doanh nghiệp cũng như tốn kém chi phí, cơ hội, trong khi về nguyên tắc nhận lợi nhuận và chịu lỗ sẽ chia theo tỷ lệ tương ứng với cổ phần của của họ. Tuy vấn đề bảo vệ cổ đông không chỉ thực hiện thông qua cơ chế biểu quyết Đại hội đồng cổ đông hay Hội đồng quản trị, nhưng những con số về tỷ lệ tối thiểu 51%, 65%, 75% khi biểu quyết thông qua Đại hội đồng cổ đông luôn là chủ đề được tranh luận trong các nhà làm luật, các luật gia và nhà nghiên cứu… Pháp luật công ty không thể quá thiên vị, bảo vệ nhóm Cổ đông thiểu số hay nhóm cổ đông đa số một cách thái quá, vượt quá mức độ cần thiết. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Thứ ba, các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số phải nhằm phát triển chung và định hướng theo công ty. Việc xây dựng các quy định phải để công ty có thể hoạt động kinh doanh hiệu quả vì lợi ích chung chứ không cản trở các hoạt động kinh doanh,mất thời gian và chi phí không đáng có của công ty.
Các quy định về bảo vệ cổ đông cũng phải tính đến vấn đề chi phí tức là hiệu quả kinh tế, để nó không phải là gánh nặng tài chính cho công ty. Trong những năm qua, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán đã đóng góp cho nền kinh tế quốc gia. Chính loại hình này mà chúng ta có được những ty phát triển xứng tầm thế.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả bảo vệ Cổ đông thiểu số nhằm xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh để thu hút đầu tư.
Nền kinh tế của quốc gia ngoại trừ đầu tư công thì được hình thành từ nguồn vốn và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.Thu hút được nhiều nhà đầu tư thì nền kinh tế sẽ càng phát triển và đem lại hiệu quả rõ rệt cho các ngành trong xã hội. Do đó chúng ta phải hoàn thiện một cơ chế pháp luật làm sao thuận lợi cho môi trường đầu tư trong đó việc bảo hộ quyền lợi là đặt lên hàng đầu.
Về môi trường đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều bất cập dù rất tiềm năng, sự bất cập đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Đa phần là do chính sách quản lý của nhà nước chưa kịp thời, nền tảng tri thức của chúng ta chưa đủ hấp thụ, văn hoá doanh nghiệp, thời gian và chi phí mà một doanh nghiệp trong nước phải bỏ ra để đáp ứng được các quy định kinh doanh như thành lập và vận hành doanh nghiệp, giao dịch thương mại quốc tế, nộp thuế, giải thể doanh nghiệp. Chúng ta không thể phủ nhận rằng công tác bảo vệ các nhà đầu tư nói chung và các Cổ đông thiểu số nói riêng còn nhiều việc phải thay đổi nhằm nhiều tình trang tranh chấp xảy ra, hạn chế vấn đề tham nhũng trong điều hành quản trị. Nếu có được sự nhìn nhận và thấu hiểu như vậy, một kế hoạch hành động nhanh gọn và cầu tiến, chắc chắn sẽ góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh,hấp dẫn nhất cho các nhà đầu tư .
Trước môi trường kinh doanh Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế cùng với sự cần thiết phải thu hút các nhà đầu tư là yếu tố bắt buộc nếu muốn hội nhập, chúng ta cần phải thu thập, lắng nghe những nhà đầu tư, thực hiện cải tiến nhanh chóng một cách hiệu quả vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số, đây là kế hoạch quan trọng và cần thiết để xây dựng một hệ thống pháp luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông thiểu số, từ đó tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh, là điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư, tạo sự yên tâm bỏ vốn vào thị trường từ những nhà đầu tư trong nước lẫn các nhà đầu tư ngoài nước.
3.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về quyền của cổ đông thiểu số
3.2.1.1. Thay đổi quy định về điều kiện thành lập nhóm cổ đông
Khoản 2 Điều 138, Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông”.
Khoản 2 Điều 114, Luật doanh nghiệp 2014 quy định “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ tại Điều lệ công ty có các quyền …”. Theo tác giả, tỷ lệ 10% là khá lớn để các Cổ đông thiểu số có thể gôm lại đủ tỷ lệ như trên để có thể sử dụng hết quyền trên, ngoài ra còn phải thoả mãn điều kiện là phải sở hữu liên tục ít nhất 06 tháng là “làm khó” Cổ đông thiểu số trong việc thực hiện quyền của họ, và trong trường hợp này, là làm giảm tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Như vậy nếu cổ đông lớn họ nhận chuyển nhượng thêm thì có được biểu quyết hay không thì không có ý nghĩa, luật không đề cập đến, trong khi các cổ đông nhỏ thì bị ràng buộc bởi quy định trên.
Như trường hợp, năm 2018 nhà đầu tư từ Thái Lan đã chi gần 5 tỷ USD để sở hữu lượng lớn cổ phần tại Tổng công ty Bia – rượu – nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) nhưng không thể ngay lập tức có thể tham gia vào điều hành công ty, bởi bị giới hạn do quy định phải sở hữu cổ phần liên tục trên 6 tháng. Quy định này cho thấy đã hạn chế quyền của cổ đông và đặc biệt là nhóm Cổ đông thiểu số. Vì vậy, việc tăng quyền cho cổ đông nhỏ là cần thiết, và giảm mạnh tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhỏ hơn 10% (theo tác giả nên 3%) như Khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định có quyền tiếp cận thông tin và can thiệp vào hoạt động của DN cũng có thể dẫn đến tình trạng đối thủ cạnh tranh mua cổ phần và gây khó dễ, thậm chí quấy phá DN. Bên cạnh đó còn có nguy cơ đẩy chi phí quản trị doanh nghiệp tăng cao. Tuy nhiên một tỷ lệ nhỏ hơn 10% sở hữu cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán là có tổng số vốn đã đầu tư rất lớn. Và với một nhà đầu tư, bản thân họ phải hành động dựa trên lợi ích của tỷ lệ cổ phần đó đem lại, không ai mạo hiểm hy sinh quyền lợi của mình để quấy phá rối doanh nghiệp. Hơn nữa, thông lệ thế giới, quản trị công ty ở các nước đều đề cao quyền cổ đông, hệ thống pháp luật các nước luôn có xu hướng bảo vệ cao nhất quyền cổ đông, trong đó có các Cổ đông thiểu số để nhà đầu tư yên tâm, đã bỏ vốn đầu tư là được bảo đảm quyền lợi. Nếu muốn tăng cường khả năng quản trị doanh nghiệp dần tiếp cận theo chuẩn quốc tế thì không thể không đi theo xu hướng này. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
3.2.1.2 Về quyền nhận cổ tức
Mặc dù đã có những quy định mới về quyền nhận cổ tức của cổ đông theo Điều 132 Luật doanh nghiệp 2014, tuy nhiên theo chúng tôi để giải quyết tình trạng chậm chi trả cổ tức, không chịu chi trả cổ tức cho cổ đông đang diễn ra phổ biến trong thời gian gần đây một cách triệt để.
Theo quy định pháp luật hiện nay không can thiệp sâu vào việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp, mà giao toàn quyền cho Đại hội đồng cổ đông – cơ quan quyền lực cao nhất trong Công ty cổ phần quyết định. Nhưng trong thực tế, Đại hội đồng cổ đông của các công ty thường chỉ thông qua tỷ lệ cổ tức, còn thời gian thanh toán thường được ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định. Sau khi Hội đồng quản trị quyết định chi trả cổ tức cho cổ đông và ngày đăng ký cuối cùng được xác lập. Về luật thì cổ đông có quyền khởi kiện doanh nghiệp nợ cổ tức ra tòa án, nhưng trên thực tế, việc khởi kiện được đánh giá khó khả thi. Giả sử, cổ đông nhỏ có thắng kiện thì cũng có nhiều khó khăn để bản án được thi hành, chưa kể nếu có đòi được cũng không tương xứng với chi phí và công sức bỏ ra.
Vì vậy, cần phải hoàn thiện thêm các quy định pháp luật như sau: Việc chi trả cổ tức đúng thời hạn là trách nhiệm và nghĩa vụ của Giám đốc/ Tổng giám đốc hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị; nếu không thực hiện được đúng những người này phải chịu trách nhiệm cá nhân tương tự như việc trách nhiệm về công bố thông tin. Bởi nếu chỉ bắt doanh nghiệp trả thêm lãi suất hay lãi phạt, thì bản chất tiền đó cũng là chi phí hoạt động của doanh nghiệm, xét cho cùng cũng là tiền của các cổ đông của doanh nghiệp. Hoặc phải có quy định nếu doanh nghiệp vi phạm, thì bất cứ cổ động nào cũng có quyền khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng hoặc bồi thường cho những thiệt hại mà doanh nghiệp gây ra cho mình.
3.2.1.3 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Được quy định tại Điều 129 Luật doanh nghiệp 2014: “cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Việc yêu cầu này phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề quy định tại khoản này”. Nội dung văn bản yêu cầu phải có tối thiểu các thông tin sau: tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Giá mua lại cổ phần được tính theo giá thị trường hoặc theo quy định của điều lệ công ty. Nếu các bên không thỏa thuận được công ty sẽ giới thiệu ít nhất 3 tổ chức định giá để cổ đông lựa chọn và đó sẽ là kết quả cuối cùng. Công ty thực hiện việc mua lại cổ phần của cổ đông trong vòng 90 ngày kể từ ngày có yêu cầu. Như vậy quy định cho thấy, thời gian mua lại là khá dài, thông thường việc đề nghị công ty mua lại rơi vào đa số là các Cổ đông thiểu số, họ là nhóm cổ đông dễ bị tác động tiêu cực từ các quyết định của nhóm cổ đông lớn. Vì họ không có nhiều quyền trong công ty, nên việc kéo dài thời gian như trên là không cần thiết, vì một khi các cổ đông đã yêu cầu công ty mua lại là họ đã không mong muốn tham gia đầu tư dài hạn. Do vậy pháp luật nên quy định rút ngắn thời gian lại trong trường hợp cổ đông yêu cầu công ty mua lại theo quy định, chính việc này làm cho các Cổ đông thiểu số có điều kiện thu hồi vốn và đầu tư ở những nơi có khả năng sinh lời theo nhu cầu. Ngoài ra, quy định về mức giá cổ phần được xác định bằng cách thức định giá của tổ chức chuyên nghiệp, pháp luật cũng không quy định cụ thể vấn đề chi phí định giá thuộc về cổ đông hay phía công ty. Vì vậy, nên quy định rõ ràng để dễ thực thi khi triển khai thực hiện
3.2.1.4 Hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết
Trước đây, Luật doanh nghiệp 2005 chỉ quy định 2 hình thức dự họp truyền thống là tham dự trực tiếp và ủy quyền cho người khác. Luật doanh nghiệp 2014 đã cấp tiến theo lộ trình quốc tế hoá, áp dụng công nghệ thông tin nên đã bổ sung các hình thức khác như hình thức hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác; gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử.
Dù việc tổ chức ĐHCĐ trực tuyến đã được luật hóa, tháo gỡ băn khoăn liệu đại hội trực tuyến có hợp pháp, nhưng số lượng doanh nghiệp tổ chức đại hội đồng cổ đông trực tuyến rất hiếm.
Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể hình thức khác bao gồm những hình thức nào, đối với mỗi hình thức quy định rõ quy trình, thủ tục và các điều kiện thực hiện để tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng quy định trên thực tế một cách có hiệu quả. Ngoài ra cần quy định cơ quan giám sát việc thực hiện cách thức tham dự và thực hiện biểu quyết cho chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của cổ đông. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
LDN 2014 đã quy định không bắt buộc việc bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải theo phương thức bầu dồn phiếu. Nếu doanh nghiệp bỏ phương thức bầu cử này, mà chuyển sang phương thức bầu cử thông thường, thì nhóm Cổ đông thiểu số gần như không có cơ hội bầu đại diện của mình vào cơ quan quản trị và kiểm soát doanh nghiệp. Vì vậy tác giả kiến nghị, việc quy định việc bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nên theo hình thức và bắt buộc phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu như quy định của Luật doanh nghiệp 2005. Đồng thời, việc bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải được tiến hành đồng thời với bầu các thành viên khác. Việc quy định bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định tại khoản 3 Điều 144 Luật doanh nghiệp năm 2014 cần phải được sửa đổi theo hướng bảo vệ, nâng cao quyền của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần; việc bãi miễn thành viên hội đồng quản trị phải có cơ sở, điều kiện và lý do rõ ràng.
3.2.1.5 Quyền yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông.
Theo khoản 3 Điều 114 và Khoản 6 Điều 136 Luật doanh nghiệp 2014 quy định “quyền của cổ đông và nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng sồ cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông…..”; Việc xác định Hội đồng quản trị vi phạm quyền nghiêm trọng…như vậy thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Vì vậy rất khó áp dụng cho cổ đông có quyền chính thức trong việc thực thi điều này. Vì vậy cần cụ thể hoá trong pháp luật hoặc trong các văn bản hướng dẫn thi hành để các Cổ đông thiểu số có định lượng trong việc thực thi quyền của mình. Ngoài ra tính chi tiết sẽ làm kim chỉ nam cho các nhà quản lý có trách nhiệm và biết được mình phải làm gì đối với quyền và nghĩa vụ tương ứng chức vụ được Đại hội đồng cổ đông giao phó.
Đối với vấn đề triệu tập ĐHĐCD bất thường, tại Điểm a, Khoản 3 Điều 136 Luật doanh nghiệp 2014 cho phép Hội đồng quản trị triệu tập họp bất thường Đại hội đồng cổ đông “nếu xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty”, cho thấy khá rủi ro và bất lợi cho Cổ đông thiểu số. Bởi vì, Hội đồng quản trị thường là đại diện cho các cổ đông lớn, việc cho phép Hội đồng quản trị toàn quyền quyết định trong việc triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường một cách tuỳ tiện, sẽ làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty. Đặc biệt, việc quy định tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường được tổ chức như thế nào khi thời hiệu tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên vẫn còn (từ 4 đến 6 tháng kể từ khi thời hiệu tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên vẫn còn. Một sốt Công ty cổ phần trong thời gian qua, trong thời gian chuẩn bị Đại hội đồng cổ đông thường niên, thì Hội đồng quản trị triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường, nhằm để thực hiện một số mục tiêu của các cổ đông lớn, gây ảnh hưởng và xâm phạm đến quyền lợi của Cổ đông thiểu số . Khi các cổ đông khiếu nại, thì lý do vì lợi ích công ty được cho rằng là quan trọng hoặc cho rằng làm đúng luật. Vì vậy đề nghị pháp luật Luật doanh nghiệp nên quy định lại theo hướng “Trong thời gian tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên, doanh nghiệp không được tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường để giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông bất thường để giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông thường niên”. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
3.2.1.6 Đối với nhóm quyền về thông tin và kiểm soát
Hiện nay, yêu cầu về công khai và minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp đối với các cổ đông nói chung còn yếu, chưa thật đầy đủ và phù hợp với thông lệ quốc tế; chưa có cơ chế kiểm tra và giám sát chất lượng của các thông tin được công bố đến cổ đông. Ngoài ra, các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch hóa thông tin bên trong của doanh nghiệp còn mang tính hình thức, sơ sài. Các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 cũng cho thấy sự hạn chế trong các cơ chế kiểm tra và giám sát các thông tin công bố ra ngoài của các công ty cổ phần gây ra rất nhiều thiệt hại cho thị trường, cho các cổ đông, cho các nhà đầu tư và cho tất cả các bên liên quan.
Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về công khai, minh bạch hóa thông tin trong quản trị công ty để đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; đồng thời, nâng cao yêu cầu công khai hóa thông tin đối với công ty, mở rộng quyền tiếp cận thông tin cho cổ đông, tăng cường quyền của cổ đông được tiếp cận thông tin theo định kỳ hoặc theo yêu cầu đối với mọi cổ đông khi có nhu cầu, không hạn chế về tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty cổ phần mới có thể tiếp cận thông tin, đặc biệt đối với các thông tin về quản lý và giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi của công ty. Chính vì điều đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, Nhà nước là trung tâm lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp, và công khai để có cơ sở và tạo sự an toàn cho các hoạt động kinh doanh và giao dịch của cộng đồng doanh nghiệp. Thông qua đó, các doanh nghiệp, các cổ đông có thể truy tìm thông tin nhằm đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm thông tin cần thiết của các tổ chức, cá nhân.
3.2.1.7 Quyền kiểm soát các giao dịch tư lợi
Cần có sự sửa đổi nhất định đối với quy định về kiểm soát giao dịch lớn trong cổ phần của pháp luật hiện hành để tránh tư lợi và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của Cổ đông thiểu số.Trước hết về các hình thức biểu hiện của giao dịch cần phải kiểm soát, có thể lựa chọn một trong hai cách khắc phục như sau: dỡ bỏ toàn bộ các quy định về biểu hiện của giao dịch được liệt kê trong 135 của Luật doanh nghiệp 2014 (bán, đầu tư) và chỉ cần quy định theo hướng “các giao dịch có giá trị từ 35% hoặc 50% giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất cần có sự thông qua Đại hội đồng cổ đông”. Hai là, giữ nguyên quy định hiện hành về việc liệt kê các hình thức biểu hiện giao dịch nhưng bổ sung thêm hai hình thức “cho vay và vay” trong quy định tại điểm h Khoản 2 Điều 149 thẩm quyền của Hội đồng quản trị vào điểm d khoảng 2 Điều 135. Sự sửa đổi này sẽ tạo ra sự thống nhất trong cách thiết kế quy định pháp luật về cùng một vấn đề ở các doanh nghiệp khác nhau.
Về vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi được ghi nhận trong Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014, xác định trường hợp hợp đồng cần phải có sự kiểm soát, chủ thể có thẩm quyền kiểm soát, trình tự thủ tục kiểm soát và hậu quả pháp lý trong trường hợp các hợp đồng trên không được giao kết theo đúng quy định của pháp luật. Đây là việc vô cùng cần thiết để đảm bảo các hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp và các chủ thể có mối liên hệ nhất định với doanh nghiệp là hoàn toàn khách quan, minh bạch và xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp mà không trở thành một cơ hội để “rút ruột” doanh nghiệp của các chủ thể có “vai vế” nhất định trong tổ chức này. Nhìn từ góc độ thực tiễn áp dụng, nội dung Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014 lại có những điểm bất cập và chưa hợp lý để vận dụng và áp dụng như sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Một là, ngay trong cách đặt tên của các điều luật là “hợp đồng, giao dịch của công ty phải được Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận” (Điều 162) đã là một sự bất hợp lý. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 giao dịch bao gồm hai loại là “hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng” vậy trong trường hợp này, các quy định liệt kê cả “hợp đồng và giao dịch” là nhằm đề cập đến đối tượng cần phải kiểm soát bao gồm cả “hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương”. Tuy nhiên, hành vi pháp lý đơn phương là một loại giao dịch chỉ đề cập đến ý chí của một chủ thể, trong khi đó hợp đồng là loại giao dịch đề cập đến hành vi của ít nhất là hai chủ thể trở lên. Trong trường hợp này, các quy định tại Điều 162 của Luật doanh nghiệp năm 2014 hướng tới giao dịch gồm ít nhất hai chủ thể trở lên, do đó, trong tên gọi của những điều luật trên dùng thuật ngữ “giao dịch” là không cần thiết. Ở đây, chỉ cần dùng thuật ngữ “hợp đồng” là đủ truyền tải nội dung cũng như mục đích của việc thiết kế những quy định trên.
Hai là, mặc dù tên gọi của các điều luật nêu trên đề cập đến “hợp đồng” nhưng nội dung cụ thể được triển khai trong từng điều luật lại đề cập đến “dự thảo” hợp đồng khi quy định về trình tự, thủ tục kiểm soát hợp đồng“người đại diện theo pháp luật hoặc Hội đồng quản trị trình dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch cho Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông” quyết định tùy theo giá trị của hợp đồng đối với công ty cổ phần (Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014). Điều này đã dẫn đến những lúng túng, khó khăn nhất định cho các doanh nghiệp khi thực hiện trình tự, thủ tục kiểm soát đối với những hợp đồng này. Sở dĩ như vậy là bởi vì trong quá trình đàm phán và giao kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng có thể phải trao đổi vô cùng nhiều các loại giấy tờ, văn bản để có thể đi đến thống nhất ý chí với nhau. Nếu theo tinh thần của những điều luật trên thì tất cả những loại văn bản mà các bên trao đổi cho nhau đều là các dự thảo hợp đồng và đều phải có sự “đồng ý” hoặc “chấp thuận” của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông… Mỗi lần như vậy, các cơ quan này lại phải tổ chức họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản để có thể xem xét và thông qua những bản dự thảo hợp đồng. Như vậy, đến khi đến được quá trình ký kết hợp đồng, thì sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức để các cơ quan có thẩm quyền trong doanh nghiệp thực hiện được quyền kiểm soát đối với những hợp đồng có khả năng dẫn đến tình trạng tư lợi này. Trong khi việc kiểm soát đến mức chi tiết, cụ thể từng văn bản trao đổi trong quá trình trao đổi là không thực sự cần thiết.
Tóm lại để khắc phục tình trạng bất hợp lý trên, có thể thiết kế lại những quy định Điều 162 theo hướng để các cơ quan có thẩm quyền trong các doanh nghiệp có thể kiểm soát được những “hợp đồng” dễ phát sinh tư lợi thì họ phải thông qua hai thủ tục: Thứ nhất, thông qua chủ trương của hợp đồng và nội dung này giữ lại toàn bộ quy định hiện hành về thủ tục thông qua dự thảo hợp đồng trong Luật doanh nghiệp 2014. Thứ hai, thông qua hợp đồng sau khi đã thống nhất ý chí giữa các bên trong hợp đồng và bản thân doanh nghiệp cần kiểm soát phải có nghĩa vụ thông báo cho chủ thể phía bên kia về thủ tục kiểm soát như là điều kiện để phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
3.2.1.8 Đối với quyền yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết của đại hội đồng cổ đông
Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014 quy định cổ đông có quyền yêu cầu tòa án, trọng tài hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong một số trường hợp, điều này nghĩa là trao cho Toà án hoặc Trọng tài có thẩm quyền hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Tác giả cho rằng, không nên trao cho họ thẩm quyền này bởi việc yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông không phải là một tranh chấp thương mại, do đó theo Luật Trọng tài thương mại 2010 thì trọng tài không thể thụ lý giải quyết yêu cầu này, vì vậy không nên quy định cho Trọng tài quyền này.
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ nội bộ đối với cổ đông thiểu số
Để việc bảo vệ Cổ đông thiểu số được hiệu quả và đạt được tính công bằng giữa các cổ đông chúng ta cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ nội bộ, trong đó quan trọng hơn cả là cần phải đẩy mạnh việc hoàn thiện chế định pháp lý về ban kiểm soát, để cơ quan này thực hiện đúng vai trò giám sát của mình trong Công ty cổ phần, tránh quyền lực trong Công ty cổ phần dồn và tập trung vào Hội đồng quản trị và GĐ/TGĐ. Nếu như chế định về Ban kiểm soát được xây dựng một cách hoàn thiện, mang tính độc lập, không bị chi phối bởi Hội đồng quản trị thì cơ quan này sẽ mang lại nhiều hiệu quả trong việc giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, quy trình chuẩn bị chương trình, nội dung cuộc họp Đại hội đồng cổ đông và cả công tác tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để đảm bảo tiến hành Đại hội đồng cổ đông sẽ diễn ra đúng theo trình tự thủ tục, tinh thần pháp luật. Từ đó các vi phạm của Hội đồng quản trị và các cổ đông lớn ít đi và đảm bảo quyền lợi cho Cổ đông thiểu số.
Ngoài ra để đảm bảo hiệu quả thực thi các quy định về Bảo vệ nhà đầu tư tức là bảo vệ Cổ đông thiểu số, tác giả kiến nghị một số sửa đổi trong pháp luật hiện hành, như sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Thứ nhất, sửa đổi quy định về mức độ chịu trách nhiệm của người quản lý Để đảm bảo các nguyên tắc: người quản lý doanh nghiệp phải làm việc vì lợi ích cao nhất của cổ đông và quyền lợi của cổ đông cũng cần phải được bảo vệ ở mức độ cao nhất, đề nghị xem xét sửa đổi Khoản 4, Điều 162, Luật doanh nghiệp năm 2014 như sau: “Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được chấp thuận theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này hoặc nếu bị cổ đông khởi kiện và được xác định là có gây thiệt hại cho lợi ích của công ty. Nếu hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quy định này và/hoặc gây thiệt hại cho công ty hoặc quyền lợi của các cổ đông khác, cổ đông có quyền yêu cầu người chấp thuận, ký kết hợp đồng và cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị, hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc có liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó”.
Thứ hai, sửa đổi quy định về khởi kiện người quản lý: Khoản 2, Điều 161, Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện.” Tuy nhiên, nên xem xét sửa đổi quy định này thành nội dung như sau: “Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty”.
Thứ ba, sửa đổi quy định về việc kiêm nhiệm vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO Việc có nên cho phép chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần đồng thời đảm nhiệm vị trí điều hành hay không vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trên thế giới, xu hướng chung là các doanh nghiệp tách bạch giữa vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị (người trong hội đồng hoạch định chiến lược) và Giám đốc/ Tổng giám đốc (CEO- người điều hành và thực hiện chiến lược), nhưng tại Việt Nam, trong bối cảnh các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản trị ở cấp Hội đồng quản trị và Giám đốc/ Tổng giám đốc, việc tách bạch hai vị trí này chưa hẳn đã tốt và thuận lợi vì gây tốn kém cũng như bộ máy cồng kềnh. Hiện nay, pháp luật Việt Nam không cấm việc kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/ Tổng giám đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 125 Luật doanh nghiệp 2014 và quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng tại khoản 3 Điều 10 Thông tư số 121/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính Đối với vấn đề này, trong quá trình sửa đổi các quy định về đầu tư kinh doanh, cần tiếp tục có sự xem xét kỹ lưỡng hơn trên cơ sở đánh giá thực tiễn triển khai để áp dụng quy định phù hợp.
Thứ tư, sửa đổi quy định liên quan đến tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 138 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông”. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật doanh nghiệp 2014 là “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng”. Tỷ lệ 10% là quá lớn, thêm vào đó, việc phải thỏa mãn điều kiện về thời gian sở hữu “trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng” là “làm khó” Cổ đông thiểu số việc thực hiện quyền của họ, và trong trường hợp này, là làm giảm tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Theo thông lệ thế giới, giới hạn tỷ lệ sở hữu của cổ đông, nhóm cổ đông để được quyền đề xuất vấn đề đưa vào chương trình nghị sự của cuộc họp Đại hội đồng cổ đông là 3%-5%. Do đó, nên xem xét sửa đổi tỷ lệ quy định tại khoản 2 Điều 138 Luật doanh nghiệp 2014 theo thông lệ quốc tế tốt (5%), đồng thời bỏ yêu cầu về thời gian sở hữu.
Với mục đích là nhằm đảm bảo tính minh bạch, cung cấp thời gian đủ dài để cổ đông thu thập thông tin hoặc chuẩn bị ý kiến đối với các vấn đề của cuộc họp, theo tiêu chuẩn Ngân hàng thế giới đưa ra, các thông tin chi tiết về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông nên được gửi đến cổ đông trước 21 ngày diễn ra cuộc họp. Vì vậy, để phù hợp với tiêu chuẩn này, tác giả đề nghị bổ sung quy định tại Điều 6, Thông tư số 121/TT-BTC: “Thông tin chi tiết về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên phải được gửi đến các cổ đông trước ngày diễn ra cuộc họp ít nhất 21 ngày. Các thông tin cần thông báo bao gồm: thời gian dự kiến diễn ra cuộc họp, dự thảo chương trình nghị sự của cuộc họp”. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
- Tăng cường trách nhiệm của người quản lý
Tại Điều 160 Luật doanh nghiệp 2014 về Trách nhiệm của người quản lý công ty có thể bổ sung thêm một số thông tin quy định sau: Quy định “người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp”. Mở rộng phạm vi phải chịu trách nhiệm đối với các thành viên. Yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng Giám đốc có trách nhiệm trực tiếp hoàn trả khoản lợi nhuận thu được từ giao dịch có vi phạm, sau khi nguyên đơn (cổ đông) khởi kiện đòi hỏi thường thành công;
Khoản 4 Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014 quy định hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật. Theo quy định trên thì cổ đông chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hợp đồng, giao dịch được thực hiện không đúng với quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, người quản lý doanh nghiệp/doanh nghiệp phải làm việc/hoạt động vì lợi ích cao nhất của cổ đông, quyền lợi của cổ đông cũng cần phải được bảo vệ ở mức cao nhất; do vậy, khi hợp đồng, giao dịch gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của cổ đông, cổ đông có quyền yêu cầu bộ phận ra quyết định chấp thuận hợp đồng, giao dịch đó phải chịu trách nhiệm bồi thường. Vì vậy, để đảm bảo các nguyên tắc trên, nên xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014 như sau: “Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được chấp thuận theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này hoặc nếu bị cổ đông khởi kiện và được xác định là có gây thiệt hại cho lợi ích của công ty. Nếu hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quy định này và/hoặc gây thiệt hại cho công ty hoặc quyền lợi của các cổ đông khác, cổ đông có quyền yêu cầu người chấp thuận, ký kết hợp đồng và cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó”.
- Tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ
Chúng ta có thể thấy, nếu toàn bộ quyền lực trong Công ty cổ phần đều tập trung vào hội Hội đồng quản trị và ban giám đốc, thì rất dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền và khi đó cổ đông đặc biệt là Cổ đông thiểu số sẽ không được bảo vệ. Ban kiểm soát cần tạo ra một kênh thông tin, một kênh giao lưu và kết nối với các cổ đông, từ đó có một cơ chế phù hợp để cổ đông dựa vào để tự bảo vệ mình. Muốn vậy, hoạt động của ban kiểm soát cần được điều chỉnh bởi một quy định pháp lý theo hướng như sau: (i) Ban kiểm soát cần phải được độc lập hoạt động trong cơ chế làm việc, tránh tình trạng ban kiểm soát hoạt động vì lợi ích của hội đồng quản trị và ban giám đốc mà phải vì cổ đông; (ii) Việc bầu ra ban kiểm soát, cơ chế hiệu quả nhất là các thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc không được quyền đề cử, giới thiệu và bỏ phiếu bầu ra các thành viên ban kiểm soát bởi ban kiểm soát không điều hành quản lý doanh nghiệp, mà đóng vai trò giám sát hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ bên ngoài đối với cổ đông thiểu số Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật tại cơ quan quản lý nhà nước về Công ty cổ phần để làm kim chỉ nam cho định hướng trong quản trị và điều hành. Các hoạt động tại các cơ quan này bao gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban chứng khoán nhà nước, các Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, cơ quan quản lý thuế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống cơ quan thống kê,…) cần phải đồng bộ thông tin, thống nhất hơn nữa. Ví dụ cụ thể: Nên thủ tục công khai mẫu dấu trên cổng thông tin điện tử quốc gia hoặc nội dung về việc mua bán hay tự in hóa đơn để góp phần làm giảm thủ tục doanh nghiệp phải gửi cho cơ quan thuế, vừa tiết kiệm thời gian vừa tiết kiệm chi phí đồng nghĩa với số ngày không còn là 10 ngày mà giảm xuống còn 3 ngày, bởi vì những việc trên không thực sự có ý nghĩa, nhưng lại phát sinh thủ tục hành chính và chi phí cho doanh nghiệp. Do đó, nên bãi bỏ toàn bộ sự quản lý nhà nước về dấu, nên giao cho doanh nghiệp toàn quyền tự quản lý và sử dụng và thể hiện quyền tự chủ của doanh nghiệp và có lợi cho Chính phủ điện tử trong việc tinh giảm thủ tục hành chính. Hai là thủ tục về khai trình lao động bởi hiện nay, theo Bộ Luật lao động yêu cầu 3 thủ tục: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày thành lập, thì phải ra cơ quan lao động khai báo; định kỳ 6 tháng-1 năm hoặc có phát sinh thì phải khai báo lao động. Như vậy, nếu doanh nghiệp thành lập từ tháng 5 thì phải làm 2 thủ tục (vừa khai báo ban đầu, vừa khai báo theo định kỳ 6 tháng); mua hóa đơn hoặc tự in hóa đơn VAT trong 10 ngày.
Thứ hai, để hoạt động bảo vệ Cổ đông thiểu số được toàn diện, cần phải nâng cao vai trò thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển của các cơ quan độc lập như: cơ quan kiểm toán độc lập, tổ chức luật sư và các Hội, Hiệp hội, tổ chức Công đoàn … các câu lạc bộ nhà đầu tư, để các thành viên có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, cùng nhau góp tiếng nói chúng, nâng cao sức mạnh của mình. Tiếng nói của Cổ đông thiểu số vốn nhỏ bé nhưng rõ ràng tập thể của những Cổ đông thiểu số thì không hề nhỏ bé, thông qua tiếng nói của tập thể họ không chỉ có thể tự bảo vệ mình mà còn có thể đưa những vấn đề vướng mắc của công ty ra trước công luật để gây sức ép đối với các cổ đông lớn, qua đó góp phần hạn chế hành vi vi phạm của cổ đông đa số.
3.2.3 Hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm quyền cổ đông Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Xây dựng hệ thống chế tài vi phạm quyền cổ đông phù hợp trên tinh thần mức chế tài phải đủ sức răn đe. Các chế tài phải thể hiện được quan điểm: những khoản thu bất hợp pháp từ vi phạm quyền cổ đông đều phải bị tịch thu và bên cạnh đó, chủ thể vi phạm quyền cổ đông còn phải chịu chế tài hành chính hoặc chế tài chính hình sự (nếu có).
Trong một số trường hợp, bên cạnh việc cổ đông khởi kiện yêu cầu tòa án cấp có thẩm quyền giải quyền bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra, các chủ thể vi phạm quyền cổ đông còn có thể bị xử phạt vi phạm chính trong lĩnh vực đó.
Trước hết, cần phải có cách nhìn thoáng hơn về xử lý vi phạm quyền cổ đông. Tức là phải xem đây là hướng mở với tư cách là quyền của cổ đông, cổ đông có thể thực hiện hoặc không thực hiện. Chúng ta nên bổ sung Luật Tố tụng dân sự hiện hành về cơ chế rút gọn để thực hiện xử lý các vi phạm quyền cổ đông đã có chứng cứ rõ ràng, với tính chất là tranh chấp kinh tế do cổ đông thực hiện quyền khởi kiện. Thể hiện ở thủ tục ngắn gọn, thời gian nhanh hơn thời gian tố tụng thông thường hiện nay. Những trường hợp phức tạp sẽ thực hiện theo thủ tục chung.
Quản lý của cơ quan nhà nước đối với hoạt động của các Công ty cổ phần khi thực hiện các quyền cổ đông là cần thiết. Trên cơ sở những quy định pháp luật khi nhận thấy các vi phạm pháp luật cần thiết phải có sự tác động bằng các chế tài chính hoặc chế tài hình sự, các cơ quan nhà nước trong thẩm quyền phải xử lý nghiêm minh những vi phạm xâm hại đến quyền cổ đông. Đây là sự thể hiện quyền lực nhà nước trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước, cần thiết phải thiết lập lại trật tự xã hội trong lĩnh vực này.
Ý thức pháp luật và cập nhật thông tin là rất quan trọng cho bất kỳ ai, nên phải chú trọng việc nâng cao ý thức pháp luật của các cổ đông. Tuy nhiên việc thực hiện vận động, tuyên truyền nâng cao ý thức về các quyền của cổ đông phải thực hiện dựa trên nguyên tắc xuất phát từ mong muốn của các cổ đông không phải lúc nào cũng nghĩ đến quyền cổ đông của mình. Phần lớn các cổ đông quan tâm vì những lý do khác nhau. Do vậy, không thể hoàn toàn đánh giá các cổ đông không có ý thức pháp luật về quyền cổ đông, đôi khi có những trường hợp hiểu biết về quyền của mình nhưng cổ đông không muốn thực hiện. Cho nên, việc vận động tuyên truyền quyền cổ đông được thực hiện ở những địa chỉ nhất định, hình thức phù hợp làm sau có thể đáp ứng được những cổ đông quan tâm, làm cơ sở để những cổ đông khi cần có thể tìm hiểu quyền của mình và chúng ta cũng không cần thiết quá quan tâm đến những cổ đông không bao giờ muốn lưu ý đến quyền của mình
Phân định rõ chức năng của các cơ quan xử lý vi phạm quyền cổ đông theo ba hướng chính:
Một là, tòa án nhân dân cấp quyền có thẩm quyền. Các cổ đông khi nhận thấy quyền của mình bị xâm hại có thể yêu cầu tòa án thực hiện quyền của mình và tòa án có thể áp dụng các chế tài cần thiết để đảm bảo thực hiện các quyền hoặc khôi phục các quyền cổ đông bị xâm hại. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Hai là, các hoạt động liên quan đến chứng khoán thì sẽ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện xử lý dưới hình thức các chế tài hành chính. Nếu những vi phạm quyền cổ đông của các Công ty cổ phần là công ty chứng khoán sẽ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện. Những vi phạm quyền cổ đông trong lĩnh vực chứng khoán đến mức vi phạm pháp luật hình sự thì sẽ được xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự và áp dụng những chế tài hình sự cần thiết.
Ba là, Sở kế hoạch và nhà đầu tư (thông qua Phòng Đăng ký kinh doanh) chỉ là cơ quan vừa thực hiện “tiền kiểm” và “hậu kiểm” đối với doanh nghiệp. Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh đối với các loại Công ty cổ phần (bao gồm cả công ty chứng khoán), và xử lý hành vi vi phạm quyền cổ đông trong các Công ty cổ phần không phải là công ty chứng khoán.
- Tiểu kết chương 3
Trong chương này, đã phân tích hiện trạng việc áp dụng pháp luật bảo vệ CĐT trong công ty cổ phần, đưa ra nhiều giải pháp để hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ Cổ đông thiểu số. Vì vậy,việc nghiên cứu pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số là rất là quan trọng, qua đó các nhà làm luật, nhà quản lý nhà nước có thể cải cách hành chính và từ đó phát triển kinh tế theo hướng hội nhập. Từ nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần ở Việt Nam, kết hợp với lý thuyết pháp luật hiện tại, đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
Nội dung Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần tại Việt Nam đã xuất hiện khá sớm và trải qua các thời kỳ, pháp luật Công ty cổ phần vẫn chưa bảo vệ Cổ đông thiểu số một cách đầy đủ và hiệu quả. Pháp luật ngày càng được hoàn thiện cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với các cổ đông này. Luận văn đã phân tích khái quát Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số ở Việt Nam; phân chia các giai đoạn phát triển của pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số; nghiên cứu, phân tích pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số theo Luật doanh nghiệp năm 2014, từ đó chỉ ra được sự phát triển của pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số.
LDN năm 2014 đã tích hợp tất cả những tinh tuý của năm tháng lịch sử thực hiện pháp luật về các chủ thể kinh doanh nói chung và pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số nói riêng để xây dựng cơ chế pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số mới thích hợp với Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót và cần bổ sung thêm.
Luận văn đã đưa ra một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần qua kinh nghiệm lịch sử pháp luật ở Việt Nam trong chương 3 đó là: Pháp luật cần thiết phải hoàn thiện hơn nữa cơ chế pháp lý đã có, cùng với việc xây dựng các giải pháp mới nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về: Quyền của cổ đông; Cơ cấu tổ chức nội bộ (cơ chế bảo vệ bên trong); Kiểm soát bên ngoài (cơ chế bảo vệ bên ngoài). Chú trọng xây dựng cơ chế về kiểm soát thông tin của cổ đông lớn trên thị trường chứng khoán, cơ chế thực thi các quy định xử lý vi phạm lý vi phạm và giải quyết tranh chấp các vấn đề liên quan đến quyền lợi của cổ đông. Cần quan tâm nghiên cứu xây dựng các cơ chế về thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát hoạt động một cách độc lập để tăng hiệu quả trong việc quản trị doanh nghiệp
Trong bối cảnh tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định. Việc rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cổ đông, nhất là nhóm Cổ đông thiểu số là rất cần thiết nhằm tăng mức độ an toàn cho cổ đông, tạo khả năng huy động vốn trong dân cư. Qua đó cũng nâng cao chất lượng quản trị và điều hành doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, nâng cao tính hấp dẫn môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Nếu những giải pháp trên được pháp luật đề cập và bổ sung, chắc chắn rằng điểm số chỉ số bảo vệ Cổ đông thiểu số của Việt Nam sẽ được nâng lên để có thể đạt kết quả tốt hơn chỉ tiêu đặt ra được khả thi theo Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về việc “tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh năm 2017, định hướng đến năm 2020” do Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Đảm bảo hiệu quả thực thi các quy định về bảo vệ nhà đầu tư” với mục tiêu từng bước nâng cao thứ hạng chỉ số bảo vệ Cổ đông thiểu số. Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số