Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập,Việt Nam luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt pháp luật về các chủ thể kinh doanh. Chính hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến không những có những tác động lớn đến hoạt động đầu tư kinh doanh ở trong nước mà còn vấn đề bảo vệ cổ đông. Ngoài ra, Việt Nam phải cam kết thực hiện những thông lệ quốc tế, chấp nhận cạnh tranh quốc tế, mở cửa cho thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi theo nguyên tắc đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức khác nhau. Muốn như vậy, thì chúng ta phải cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, trong đó việc tăng cường các cơ chế biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, các cổ đông là thiết yếu.

Cổ đông thiểu số thường chiếm số lượng lớn và thậm chí trong nhiều công ty, đặc biệt là các công ty đại chúng có thể có đến hàng ngàn Cổ đông thiểu số và tổng vốn cổ phần của họ cũng thường chiếm tỷ lệ đa số trong vốn điều lệ. Nói cách khác, một khi tập hợp được đa số cổ đông nhỏ, cũng có thể tạo được một nguồn vốn lớn góp phần vào công ty cổ phần. Nên trong những năm qua, có sự xảy ra tình trạng các Đại hội đồng cổ đông thường niên tổ chức không thành công nhiều đợt trong nhiều năm, đơn cử là trường hợp tranh chấp của các cổ đông của Ngân hàng Exim Bank dẫn đến nhiều lần phải huỷ các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc sự mua bán chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông lớn và nhỏ như ở Sacombank, Sabeco, Vinaconex cũng gây nhiều lãng phí và tranh chấp xảy ra kéo dài.

Hơn nữa việc quản lý công ty cổ phần thường chịu tác động từ phía các cổ đông lớn, mặc dù họ có tỷ lệ vốn góp chưa chắc đã cao và quyết định. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các công ty cổ phần cho thấy, đã có những trường hợp xãy ra như cổ đông lớn chèn ép cổ đông nhỏ, không ít Hội đồng quản trị và Ban GĐ thể hiện lộng quyền trong vai trò quản lý công ty, xuất hiện trường hợp cổ đông có quyền kiểm soát thông tin, điều hành có sự áp đảo Cổ đông thiểu số; trong khi đó ý thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các Cổ đông thiểu số còn thấp. Ngoài ra, thị trường chứng khoán là một kênh không thể thiếu cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư và đang trên đà phát triển vì vậy để phát triển thì vấn đề thiết lập, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan để bảo vệ tốt quyền và đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn cũng như lợi ích của các nhà đầu tư cổ phần là cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” để tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành, thực trạng áp dụng về quyền và nghĩa vụ của Cổ đông thiểu số trong các công ty cổ phần trong thời gian qua. Đồng thời, từ đó rút ra một số bất cập trong quy định của pháp luật, có đề xuất một số hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Việc bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là một nội dung trong pháp luật về các chủ thể kinh doanh và pháp luật thương mại, được nhiều nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp nghiên cứu trong thời gian qua. Thông thường, các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Hơn nữa, tại từng thời điểm nghiên cứu sẽ có những nhận định khác nhau là điều không thể tránh khỏi. Nhiều công trình đã xuất bản như: Sách, luận văn, báo, đề tài khoa học cấp bộ, ngành, nhiều bài báo, tạp chí có đề cập đến nội dung nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng của nó trong tình hình quản trị các doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế thị trường của đất nước, trong khả năng của người viết đã sưu tầm và xin đề cập một vài nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Quách Thuý Quỳnh, 2010, “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, Hà Nội. Bài viết đưa ra hai luận điểm chính: thứ nhất, bảo vệ quyền lợi Cổ đông thiểu số, đây là vấn đề quan trọng trong việc quản trị công ty trong các nền kinh tế chuyển đổi; thứ hai, quyền cổ đông , một phương tiện và cơ sở pháp luật để bảo vệ Cổ đông thiểu số. Từ đó đã đề ra một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ Cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam..

Đỗ Thái Hán, 2012,“Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội. Trình bày những vấn đề về quyền của cổ đông, sự cần thiết phải bảo vệ Cổ đông thiểu số, cơ chế bảo vệ Cổ đông thiểu số và so sánh pháp luật một số nước trên thế giới với các nội dung nghiên cứu: thực trạng bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần, thực tiễn quản lý và điều hành công ty cổ phần, bảo vệ Cổ đông thiểu số ở một số nước như Nhật Bản, Pháp, Mỹ.. từ đó rút ra những quan điểm và đề xuất một số nghiên cứu để áp dụng cho Việt Nam, giải pháp và kiến nghị.

Nguyễn Thị Thu Hương, 2015,“Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Việt Nam. Luận án nghiên cứu về sâu về quan điểm và nhu cầu bảo vệ Cổ đông thiểu số, thông qua đó góp phần làm rõ nhận thức về bảo vệ Cổ đông thiểu số; làm rõ vai trò về việc bảo vệ Cổ đông thiểu số và các yêu cầu đối với pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số, những yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số đối với công ty cổ phần, từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số.

Đỗ Quang Minh, 2018, “Bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Việt Nam. Luận văn gồm 03 chương bao quát về: Những lý luận về quyền cổ đông và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần; Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần từ đó xây dựng phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần trong thời gian sắp tới.

Phan Hoàng Ngọc, 2018,“Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số công ty cổ phần ở Việt Nam: nghiên cứu so sánh với Nhật bản và Hoa kỳ”, Luận án Tiến Sĩ Luật, Học viện Khoa Học Xã hội, Việt Luận án khái quát về lý luận cơ bản về bảo vệ Cổ đông thiểu số; phân tích và đánh giá pháp luật bảo vệ Cổ đông thiểu số, có liệt kê và đối chiếu làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt với pháp luật của Nhật Bản và Hoa Kỳ, từ đó rút ra những khuyến nghị để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Cổ đông thiểu số.

Ngoài ra những cuốn sách rất ý nghĩa đã mang đến nhiều kiến thức bổ ích cho việc nghiên cứu công ty cổ phần tại Việt Nam

  • TS Bùi Xuân Hải và Nhóm biên soạn (2017), “Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh”, Nhà xuất bản Hồng Đức.
  • Bùi Thị Hằng Nga và nhóm biên soạn (2018), “Pháp luật doanh nghiệp: quy định và tình huống”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.HCM. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Những công trình trên đã có những đóng góp cơ bản cho khoa học pháp lý Việt Nam đối với việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần. Tác giả luận văn kế thừa những đóng góp khoa học đó, từ đó bổ sung thêm kiến thức khoa học pháp lý kết hợp với tư duy nhận thức, kiến thức và thực tiễn để có thể hoàn thiện và viết luận văn đạt chất lượng cao nhất.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận pháp luật và thực trạng trong việc bảo vệ Cổ đông thiểu số theo Luật doanh nghiệp, rút ra một số định hướng từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm thực hiện và hoàn thiện các mục đích trên, luận văn giải quyết các vấn đề sau:

  • Nghiên cứu lý luận về quyền và nghĩa vụ cổ đông thiểu trong công ty cổ phần.
  • Phân tích các quy định cũng như thực trạng của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.
  • Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật để bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp cao học, người viết tập trung vào việc phân tích Luật doanh nghiệp 2014 về các vấn đề cơ bản về Cổ đông thiểu số, quy định pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số hiện nay, cơ chế bảo vệ Cổ đông thiểu số, giải pháp và kiến nghị về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần ở Việt Nam.

Luận văn không đề cập đến khía cạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc cổ đông với tư cách là người nắm giữ các loại chứng khoán khác như: trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư; các loại chứng khoán khác. Không nghiên cứu toàn bộ các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông của công ty, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu khía cạnh pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là nghiên cứu lý luận chung về Nhà nước và Pháp Luật. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp để xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:

  • Phương pháp logic, phương pháp lịch sử: phương pháp này sử dụng chủ yếu ở chương 1 nhằm phân tích quá trình phát triển để hình thành loại hình công ty cổ phần tại Việt Nam. Làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận về vấn đề cổ đông, bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích luật viết: tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền của cổ đông và Cổ đông thiểu số. Trên cơ sở phân tích kết hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện trong thời gian qua liên quan đến vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số tại các công ty cổ phần ở Việt Nam.
  • Phương pháp quy nạp, diễn dịch: chủ yếu được sử dụng ở chương 3 với mục đích đánh giá các quy định của pháp luật có liên quan đến đề tài, đánh giá tình hình chung của cả nước cũng như nêu lên những thực trạng về vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số. Qua đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở lý luận, tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu có những nội dung có liên quan, cho các cơ quan quản lý, các cổ đông và những người quản trị, điều hành công ty.

Những phân tích thực tiễn, kiến nghị những giải pháp trong luận văn sẽ là định hướng và góp phần bổ sung các quan điểm lý luận khi các nhà làm luật hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập Công ty cổ phần tại Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương chưa bao gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo theo quy định, kếu cấu như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền cổ đông và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam.
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam.

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

1.1. Khái quát về cổ đông và cổ đông thiểu số

1.1.1 Khái niệm về cổ đông

Theo khoản 2 Điều 3 Luật doanh nghiệp 2014 “cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Cổ phần chính là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, cũng chính là phần vốn nhỏ nhất của Công ty cổ phần. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Theo quy định Luật doanh nghiệp 2014, tư cách cổ đông của tổ chức, cá nhân có thể được xác lập trong các trường hợp sau: đăng ký mua cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp; mua cổ phần do công ty chào bán trong phạm vi cổ phần được quyền chào bán; nhận chuyển nhượng cổ phần từ cổ đông của công ty; thừa kế cổ phần thuộc di sản của người để lại thừa kế; được cổ đông của công ty tặng cho; mua cổ phần được bán đấu giá để thi hành án.

Tại Việt Nam, pháp luật không có quan niệm và công nhận về Công ty cổ phần có một cổ đông. Nhưng trên thực tế hoạt động của một số Công ty cổ phần thì có loại hình Công ty cổ phần chỉ có một cổ đông chi phối hoặc biến tướng để phù hợp khi đăng ký thành lập nhưng thực tế hoạt động điều hành chỉ có một cổ đông. Trong giáo trình Luật thương mại của PGS.TS Ngô Huy Cương, “cũng có khái quát về pháp luật nhiều nước trên thế giới có thừa nhận và điều tiết Công ty cổ phần một thành viên” [6, tr.229]. Tại Điểm b, Khoản 1 Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014 quy định “trong Công ty cổ phần bắt buộc phải có tối thiểu 03 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa.”.

Mọi Công ty cổ phần đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo quy định, sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này. Phải được lưu trữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc trung tâm lưu ý chứng khoán. Cổ đông được quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Việc quy định sổ cổ đông và cách thức quản lý sổ cổ đông và thông tin trao đổi được quy định tại Khoản 2 Điều 121 Luật doanh nghiệp 2014.

Tuỳ theo cách phân loại theo quyền và nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông sở hữu, cổ đông được phân thành như sau: cổ đông sáng lập, cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi.

Tuỳ theo tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ trong một công ty, cổ đông được phân loại thành:

  • Cổ đông lớn: do điều lệ công ty cổ phần quy định tỷ lệ để được coi là cổ đông lớn trên cơ sở pháp luật hiện hành. Theo Điều 2, Thông tư số 155/2015/TT-BTC về việc hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán quy định “cổ đông lớn là nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; thành viên sáng lập của quỹ đại chúng”.
  • Cổ đông nhỏ: Như đề cập định nghĩa về cổ đông lớn, thì có thể hiểu “cổ đông nhỏ là những cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”.

Căn cứ vào khả năng chi phối của công ty, cổ đông được chia thành 02 loại: Cổ đông đa số và Cổ đông thiểu số.

1.1.2 Khái niệm về cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

CĐTS là khái niệm trên thực tế còn tồn tại rất nhiều tên gọi khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất như sau:

Quan điểm thứ nhất khái niệm Cổ đông thiểu số dựa trên khái niệm của cổ đông lớn. Trong khi Luật doanh nghiệp không định nghĩa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thì Hiện nay có văn bản luật trực tiếp quy định về cổ đông lớn đó là Luật các tổ chức tín dụng 2010. Khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 khái niệm“cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần”. Như vậy, Luật đưa ra một tỷ lệ là 5% để phân ranh giới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong Công ty cổ phần, vì vậy có thể khái quát rằng cổ đông nhỏ hay còn gọi là Cổ đông thiểu số là cổ đông sở hữu dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Cách đề cập như trên là chưa hợp lý bởi vì những tỷ lệ này chưa đủ phản ánh bản chất của Cổ đông thiểu số, mà tỷ lệ này được quy định nhằm mục đích để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn.

Quan điểm thứ hai cho rằng loại hình Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, nên một khi cổ đông góp nhiều vốn (cổ phần) thì sẽ có nhiều quyền hơn so với các cổ đông khác và ngược lại. Nên từ đó hiểu rằng, Cổ đông thiểu số là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ phần trăm tương đối nhỏ cổ phần có quyền biểu quyết trong Công ty cổ phần. Cách tiếp cận này cũng có lý nhưng chưa đầy đủ, vì có những trường hợp các Cổ đông thiểu số tập hợp lại thành nhóm cổ đông, đạt được một mức chi phối thì có thể chi phối được công ty, trong khi đó các cổ đông được coi là cổ đông lớn lại có thể bị lép với bởi nhóm cổ đông này. Ví dụ trong trường hợp có 40 cổ đông, trong đó có 01 cổ đông sở hữu 22% cổ phần của công ty và 39 cổ đông còn lại mỗi cổ đông sở hữu 2% cổ phần công ty. Thông thường cổ đông có tỷ lệ cổ phần sở hữu đạt 22% thì được xem là cổ đông lớn. Và cổ đông nắm giữ 2% là cổ đông nhỏ, các cổ đông này tập hợp lại cổ phần của mình, tạo thành nhóm cổ đông sở hữu 78% cổ phần công ty thì cổ đông sở hữu 22% cổ phần trong công ty lại ở vào vị trí Cổ đông thiểu số do bị hạn chế về khả năng chi phối các quyền điều hành và định đoạt trong công ty. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Hải (2018) trong cuốn giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh định nghĩa “Cổ đông thiểu số dựa trên cả hai yếu tố quan trọng: thứ nhất, là phần vốn góp của họ (tỷ lệ phần trăm có quyền biểu quyết) hay phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty. Thứ hai là khả năng trong việc tác động và chi phối đến các vấn đề quan trọng cũng như có quyền biểu quyết thông qua các vấn đề được đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông”.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2015) “nếu tỷ lệ cổ phần của cổ đông mà không quyết định và kiểm soát công ty thì bản thân số lượng cổ phần không thể nói lên được vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số” hay theo như Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung trong trang 349 sách Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 thì cho rằng “được gọi là cổ đông ít vốn hay nhiều vốn là khi phải nói đến số lượng tiền họ bỏ ra thực tế để góp vốn vào công ty và gọi là đa số hay thiểu số là khi họ thực thi và khả năng thực hiện quyền biểu quyết”.

Từ những phân tích và nhận định trên, cho thấy việc xác định Cổ đông thiểu số nên theo hướng mở tuỳ thuộc cơ cấu cổ đông từng doanh nghiệp, theo đó khi nhận định Cổ đông thiểu số không nên chỉ căn cứ vào việc ấn định tỷ lệ sở hữu vốn cụ thể mà cần phải xem xét khả năng chi phối của cổ đông trong việc thực hiện quyền điều hành công ty. Nói một cách khác, Cổ đông thiểu số nên được hiểu và xác định chính xác tuỳ thuộc vào cơ cấu sở hữu thực tế trong mỗi Công ty cổ phần. Theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt thì được xem là Cổ đông thiểu số (minority shareholders) khi mà cổ đông/nhóm cổ đông đó không có quyền biểu quyết hoặc nắm tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết dưới 50%, do quy định tại luật pháp đa số các nước tiên tiến là các Nghị quyết ĐHCĐ được thông qua khi có số cổ phần có quyền biểu quyết chỉ cần từ 51% trở lên là hợp pháp.

Thực tế cho thấy tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ quyết định khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát Công ty cổ phần. Theo đó, các cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần càng cao thì khả năng chi phối các vấn đề lớn của công ty càng lớn và ngược lại. Cổ đông thiểu số với số vốn góp hạn chế sẽ gặp phải không ít những bất lợi khi thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty, để tự bảo vệ mình những Cổ đông thiểu số có tiếng nói chung có thể tập hợp lại, thông qua nhóm cổ đông thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép. Về nhóm cổ đông, luật quy định rõ tại Khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp như sau: “ Nhóm cổ đông là một tập hợp các cổ đông thiểu số sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty”. Nhóm cổ đông được hình thành một cách đơn giản và linh hoạnh như: chỉ cần có từ hai cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa, khi tập hợp lại sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần hoặc ít hơn theo Điều lệ công ty quy định, sở hữu cổ phần đó liên tục ít nhất là 06 tháng. Nhờ đó, cổ đông tự mình hoặc được gộp các cổ đông nhỏ lẻ thành nhóm cổ đông để thực hiện quyền đề cử, bầu, bổ nhiệm, miễn hội đồng quản trị (HĐQT), ban kiểm soát (BKS); quyền triệu tập họp đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)…, những quy định này mang ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ Cổ đông thiểu số.

Trên cơ sở quan điểm về các quy định, phân tích trên về Cổ đông thiểu số và Nhóm cổ đông. Tác giả đề xuất khái quát khái niệm Cổ đông thiểu số như sau: Cổ đông thiểu số còn gọi là cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong Công ty cổ phần, không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

1.1.3 Đặc điểm và vai trò của cổ đông thiểu số trong quản trị công ty cổ phần Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

CĐTS cũng là cổ đông phổ thông, do đó, quyền và nghĩa vụ của Cổ đông thiểu số cũng giống như cổ đông phổ thông. Ngoài các quyền của cổ đông phổ thông, Cổ đông thiểu số còn có những quyền rất đặc thù để họ có thể tự bảo vệ mình trước các cổ đông lớn đầy quyền lực, như quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014. Về cơ bản, kế thừa và tiếp thu các ý kiến sau khi vận dụng Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 đã xây dựng thêm một cơ chế để bảo vệ các Cổ đông thiểu số, vốn luôn là những nhóm có quyền và nghĩa vụ bé nhỏ trong Công ty cổ phần, bởi họ ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trước các cổ đông lớn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật này đã xảy ra nhiều vấn đề cho những nhà làm luật tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của pháp luật. Thông qua đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Cổ đông thiểu số bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng có một cơ sở và cấu trúc hoàn chỉnh trong quản trị để chính Công ty cổ phần có thể hoạt động thuận lợi và hội nhập hơn.

LDN 2005 cũng như Luật doanh nghiệp 2014 gần như không có quy định nào liên quan đến khái niệm cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn, ngoại trừ một lần nhắc đến cụm từ “cổ đông lớn”. Luật không quy định về Cổ đông thiểu số và cổ đông đa số, nhưng có thể coi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu số cổ phần mà trong Đại hội đồng cổ đông không đạt tỷ lệ biểu quyết cần thiết để thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông là Cổ đông thiểu số. Như vậy, cổ đông nhỏ và nhiều cổ đông lớn, thậm chí sở hữu tới 49% số cổ phần vẫn có thể thuộc vào nhóm Cổ đông thiểu số, đây là đặc điểm để nhận biết Cổ đông thiểu số.

Về vai trò, cổ đông đa số hay Cổ đông thiểu số cũng đều phát sinh các vấn đề tương tự nhau, trong đó có việc tranh chấp các vấn đề liên quan đến quyền lợi trong nội bộ công ty. Chính vì vậy, cả Luật doanh nghiệp 2005 và Luật doanh nghiệp mới năm 2014 đều quy định, nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ là một trong những vấn đề quan trọng bắt buộc phải có trong Điều lệ của công ty. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Tuy nhiên, từ “tranh chấp” chỉ xuất hiện rất ít trong Luật doanh nghiệp 2014, chẳng hạn, quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 120 về “Cổ phiếu”, Luật doanh nghiệp 2014: Cổ đông phải “chịu trách nhiệm về những tranh chấp phát sinh từ việc cấp lại cổ phiếu mới” trong trường hợp đề nghị công ty cấp lại cổ phiếu mới, nếu bị mất, bị huỷ hoại hoặc hư hỏng khác. Nhưng, Luật lại có nhiều quy định khác xử lý vấn đề tranh chấp nội bộ công ty, trong đó có việc khởi kiện đối với người quản lý công ty.

1.1.4 Nhu cầu và bản chất của bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số

Trong ngôn ngữ tiếng Việt, bảo vệ có nghĩa là: chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho được nguyên vẹn; bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm; bảo vệ quyền lợi có nghĩa là bảo vệ các lợi ích được hưởng, mà người khác không được xâm phạm đến. Do vậy, bảo vệ quyền lợi Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần được hiểu là: hoạt động pháp lý được thực hiện bởi những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ các lợi ích được hưởng của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần nhằm phòng ngừa, trừng trị hành vi vi phạm quyền của Cổ đông thiểu số, đồng thời phục hồi những quyền đã bị hạn chế, tước bỏ bởi hành vi vi phạm quyền của Cổ đông thiểu số.

Bảo vệ Cổ đông thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của pháp luật Công ty cổ phần. Cổ đông thiểu số thường chiếm số lượng lớn và thậm chí nhiều công ty đặc biệt trong các công ty đại chúng có Cổ đông thiểu số lên đến hàng ngàn người và tổng vốn cổ phần của họ cũng thường chiếm tỷ lệ đa số trong vốn điều lệ. Nói cách khác, một khi tập hợp được lại các cổ đông nhỏ thì cũng có thể tạo một nguồn vớn lớn góp vào Công ty cổ phần, chứ để từng cổ đông nhỏ riêng lẽ sẽ không có tiếng nói trong Công ty cổ phần. Cho nên, thông thường việc quản lý Công ty cổ phần lại thường chịu tác động từ các cổ đông lớn, trong khi chúng chưa chắc có một tỷ lệ vốn cổ phần cao. Như vậy, việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ tạo ra một sự phát triển bền vững trong mộ hình quản trị Công ty cổ phần, bởi nó sẽ đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cổ phần. Tuy nhiên, thực tế trên thị trường có những trường hợp xảy ra như sau:

Cổ đông lớn chèn ép Cổ đông thiểu số: bảo vệ cả cổ đông lớn và Cổ đông thiểu số là phù hợp với tinh thần của pháp luật doanh nghiệp, mọi cổ đông đều có quyền được đối xử công bằng. Trong một công ty đối vốn như công ty cổ phần, cổ đông lớn với số lượng cổ phần mà họ nắm giữ đã được pháp luật bảo vệ rất nhiều, ưu thế về vốn giúp họ không chỉ tự bảo vệ quyền lợi của mình mà còn có thể dễ dàng chi phối công ty, trục lợi thông tin, cá nhân, đẩy thiệt hại cho Cổ đông thiểu số. Nếu quyền lợi của Cổ đông thiểu số không bị xâm phạm và bị xem thường từ thì sẽ không nêu ra vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số. Lý do khiến cổ đông lớn lạm quyền, xâm phạm quyền lợi của Cổ đông thiểu số chủ yếu là vì mục đích tư lợi. Thực tế cho thấy các cổ đông lớn có những quyền lợi, tìm cách thâm tóm công ty để dành quyền quản lý, từ đó không khó để họ thực hiện điều chèn ép Cổ đông thiểu số bởi họ có trong tay sức mạnh quyền lực. Các Cổ đông thiểu số dù có biết mình bị xâm phạm, nhưng do thời gian, thông tin tiếp cận khó nên phần lớn vẫn phải cam chịu chấp nhận. Các thủ đoạn, cách thức mà cổ đông lớn hay dùng trong việc lấn quyền phổ biến là việc cổ đông lớn trực tiếp điều hành công ty với quyền kiểm soát Hội đồng quản trị, thậm chí cả Ban giám đốc nên thông qua Hội đồng quản trị bành trướng quyền lực, xây dựng những quyết định có lợi cho mình tước bỏ quyền Cổ đông thiểu số hoặc lợi dụng quyền hạn của mình và sử dụng các thông tin của công ty để thực hiện tối đa các giao dịch tư lợi, chiếm đoạt tài sản của công ty. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Sự lộng quyền của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc trong vai trò quản lý, thực tế rất nhiều công ty không có sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý là một dấu hiệu đặc trưng của Công ty cổ phần. Chính vì vậy, có những người được làm quản lý công ty rồi có những hành động cá nhân mà không vì mục tiêu tối đa hóa của cải cho các cổ đông.

Sự áp đảo của cổ đông có quyền kiểm soát thông tin, điều hành với Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần, họ có quyền để giữ tài sản với số vốn đã góp vào công ty và lòng tham nổi lên. Do vậy, về mặt lý thì các cổ đông góp nhiều vốn sẽ có nhiều ưu thế hơn trong việc ứng cử và tham gia quản lý, từ đó quản lý được phần vốn của mình một cách chính đáng và trục lợi phần vốn của các cổ đông nhỏ, gây ra bất công cho những cổ đông nhỏ khi mà quyền của họ không được chính những người quản lý bảo vệ.

Ngoài ra ý thức tinh thần tham gia đầu tư góp vốn theo kiểu đám đông, nên ý thức tự bảo vệ chính mình của Cổ đông thiểu số ở Việt Nam còn thấp. Cổ đông thiểu số thường không hiểu biết hoặc ít hiểu biết về các quy định pháp luật hiện hành. Đa số họ xuất phát từ nhiều thành phần khác nhau, vì vậy có trình độ, nhận thức, kiến thức, phương thức đầu tư chủ yếu quan tâm đến khoản lời. Họ chỉ quan tâm đến việc tăng giá, giá giá trị cổ phiếu hằng ngày, không quan tâm đến những nguy cơ gây thất thoát trong vấn đề quản trị doanh nghiệp đó. Trong khi đó, các cổ đông lớn có thể biết nhau nên họ gắn kết và liên minh dễ dàng để có thể kiểm soát công ty, từ đó có những xâm hại đến lợi ích chung của định hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như lợi ích của các Cổ đông thiểu số.

Ngoài ra, sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số nói chung và cổ đông nói riêng xét theo khía cạnh mục đích hoạt động của công ty: Các cổ đông với vai trò là chủ sở hữu công ty sẽ được bảo đảm bảo lợi ích tốt nhất, công ty cũng có trách nhiệm bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của những chủ thể có có liên quan khác như khách hàng, ngân hàng, nhân viên và đối tác của công ty.

  • Vì vậy có thể nói rằng, bản chất của việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là:

Đối với nhà đầu tư: Đảm bảo quyền lợi của các Cổ đông thiểu số, các Cổ đông thiểu số khi tham gia góp vốn vào công ty cổ phần mà được bảo vệ thì sẽ có quyền lợi. Việc pháp luật bảo vệ Cổ đông thiểu số sẽ giúp các nhà đầu tư có thể thực hiện được các quyền có cơ sở hơn. Ngoài ra tránh được sự chèn ép, đối xử không công bằng của các cổ đông lớn, và cuối cùng là nhận được quyền lợi công bằng của các cổ đông lớn và xứng đáng với số vốn mình bỏ ra.

Đối với công ty cổ phần: Khi bảo vệ quyền lợi Cổ đông thiểu số, thì sẽ khuyến khích nhà đầu tư tin tưởng bỏ vốn thêm khi công ty có nhu cầu huy động. Cũng như các Cổ đông thiểu số sẽ giữ đầu tư dài hạn, tạo sự bền vững trong phát triển của công ty và thị trường chứng khoán nếu công ty lên sàn chứng khoán. Bảo vệ Cổ đông thiểu số, giúp nhà đầu tư tin tưởng, lựa chọn tham gia góp vốn thay vì công ty phải đi vay ngân hàng, chính sự minh bạch có thể phát huy giá trị của công ty thông qua kêu gọi góp vốn..

Đối với quốc gia: Bảo vệ Cổ đông thiểu số sẽ làm cho môi trường đầu tư vốn được minh bạch, lành mạnh từ đó thu hút đầu tư trong và ngoài nước, giúp tăng trưởng kinh tế bền vững. Muốn phát triển kinh tế thì cần phải có chính sách thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ xã hội và các nhà đầu tư. Vì vậy việc xây dựng một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh trong việc bảo vệ Cổ đông thiểu số không chỉ giữ được chân các nhà đầu tư trong nước mà lựa chọn đầu tư tại Việt Nam mà còn ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường vốn của chúng ta.

Vì vậy, có thể thấy trên phương diện bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là Cổ đông thiểu số, pháp luật cần phải bảo vệ cổ đông qua các cơ chế hay phương thức bảo đảm vì lợi ích tốt nhất và công bằng để có quyền lợi cho cổ đông.

1.2. Các phương thức bảo vệ quyền lợi của của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, cơ chế tự bảo vệ Cổ đông thiểu số bao gồm 03 phương thức như sau:

  • Cơ chế tự vệ của cổ đông (thông qua quyền)

Cơ chế tự vệ của cổ đông là dựa trên quyền của chính mình để Cổ đông thiểu số tự bảo vệ quyền lợi bằng các quy định mà pháp luật trao quyền cho họ, đó chính là các quy định về quyền của cổ đông. Theo tiến sĩ Quách Thuý Quỳnh“quyền của cổ đông chính là công cụ duy nhất mà cổ đông có thể tự mình sử dụng để thực quyền và đảm bảo quyền cho mình”. Mỗi loại cổ đông có một quy khái niệm, đặc trưng và được pháp luật xây dựng một quy định riêng biệt., Luật doanh nghiệp 2014 có phân ra các loại cổ đông khác nhau căn cứ vào việc nắm giữ: cổ đông phổ thông; cổ đông ưu đãi. Trong cổ đông ưu đãi thì có cổ đông có quyền biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông có ưu đãi khác theo điều lệ công ty.

Bên cạnh hình thức để bảo vệ: các Cổ đông thiểu số có quyền tham gia trực tiếp; thông qua đại diện theo uỷ quyền, hình thức khác do pháp luật, điều lệ công ty quy định. Luật doanh nghiệp chưa có hướng dẫn làm rõ “Các hình thức khác” sẽ áp dụng như thế nào, nhưng quy định này đã trao quyền chủ động cho các doanh nghiệp trong việc tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông, bảo đảm các quyền và lợi ích của toàn bộ các cổ đông.

Về tỷ lệ quy định đối với điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông và tỷ lệ biểu quyết thông qua tại Đại hội đồng cổ đông được triển khai theo hướng bảo vệ tiếng nói của Cổ đông thiểu số, cụ thể như sau:

Theo khoản 1 và 2 Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2014, điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần lượt với các tỷ lệ tương ứng với lần thứ nhất, lần thứ hai là 51%, 33% và lần thứ ba giữ nguyên không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp. Việc quy định tỷ lệ theo Luật doanh nghiệp 2014 rõ ràng tạo điều kiện cho các Cổ đông thiểu số thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được dễ dàng hơn.

Điều kiện thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong Luật doanh nghiệp 2014 là 51% và 65%. Quy định này cho thấy quyền của Cổ đông thiểu số được nâng cao, khi đã đủ điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông, thì có thể dễ dàng quyết định các vấn đề lớn của công ty. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

  • Cơ chế bảo vệ bên trong (cơ chế tổ chức nội bộ để bảo vệ cổ đông thiểu số)

Được hiểu là Cổ đông thiểu số được bảo vệ bởi các chủ thể bên trong Công ty cổ phần như Đại hội đồng cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ.

Để bảo vệ quyền của cổ đông, Đại hội đồng cổ đông phải có hiệu quả, Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định cụ thể về thủ tục, trình tự tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông, trách nhiệm thông báo, báo cáo thông tin cho các tổ chức trước cuộc họp, quyền của các cổ đông đưa ra các vấn đề bàn bạc tại cuộc họp, thủ tục bỏ phiếu,… Việc quy định ngày càng cụ thể, chi tiết, rõ ràng cho thấy Luật doanh nghiệp 2014 đã mang lại một bước tiến dài trong vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số ở Việt Nam.

Các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp 2014 không thay đổi so với Luật doanh nghiệp 2005 trừ quy định: Hội đồng quản trị có quyền “thông qua hợp đồng mua bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty…”. Mặc dù quy định này giảm đi quyền của Hội đồng quản trị nhưng về cơ bản trong quan hệ pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số , thì quy định này có phần chi phối, kiểm soát mạnh và phục vụ cho lợi ích của đa số so với quy định quyền của Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp 2005..

Về cơ bản các chế định liên quan đến Giám đốc/Tổng giám đốc theo Luật doanh nghiệp 2014 không có sự thay đổi so với Luật doanh nghiệp 2005. Pháp luật đặt ra những tiêu chí lựa chọn giám đốc, phân định quyền lực rõ ràng giữa cổ đông với Hội đồng quản trị để công ty có thể phát triển bền vững cũng như Cổ đông thiểu số được bảo vệ. Nhưng thực tế Giám đốc/Tổng giám đốc có thể là những cá nhân không có cổ phần, lại do chính Hội đồng quản trị tuyển dụng và bổ nhiệm, nên Giám đốc/Tổng giám đốc vẫn có xu hướng đứng về phía một vài thành viên Hội đồng quản trị và đặc biệt là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

  • Cơ chế bảo vệ bên ngoài (kiểm soát bên ngoài để bảo vệ Cổ đông thiểu số)

Được hiểu là quyền lợi của Cổ đông thiểu số được các chủ thể bên ngoài của Công ty cổ phần bảo vệ, bao gồm: cơ chế hành chính của Nhà nước, cơ chế khởi kiện và các thiết chế thực thi khác. Theo quy định tại Điều 147 LDD 2014, theo đó Cổ đông thiểu số hoặc nhóm cổ đông theo quy định tại khoản 2 Điều 113 có quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài huỷ bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bởi các lý do nêu tại điều này, đây là một quyền khá quan trọng có tác dụng bảo vệ cho cổ đông. Như vậy, cổ đông mà đặc biệt là Cổ đông thiểu số có thể tự chủ động lên tiếng, yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài can thiệp để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình. Điều này cũng hạn chế được sự thụ động trong việc cổ đông chỉ biết trông chờ vào sự giám sát của cơ quan nhà nước, bởi vì quyết định của Đại hội đồng cổ đông là những vấn đề mang tính nội bộ của doanh nghiệp, hơn ai hết cổ đông sẽ là người tiếp cận và bị tác động nhanh nhất, do đó trao quyền năng này cho cổ đông để tự họ chủ động bảo vệ mình là hoàn toàn hợp lý

1.3. Quy định về các quyền của cổ đông thiểu số Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Dù sở hữu một tỷ lệ vốn góp hay cổ phần nhỏ vốn điều lệ, Cổ đông thiểu số vẫn được hưởng các quyền cơ bản của một thành viên, cổ đông như quyền biểu quyết và được chia lợi nhuận. Khi Cổ đông thiểu số đạt đến một tỷ lệ sở hữu vốn nhất định, họ sẽ có những quyền tương ứng với mức sở hữu đó. Một số mốc tỷ lệ chính được quy định bởi luật có liên quan mật thiết đến quyền của Cổ đông thiểu số.

1.3.1 Nhóm quyền tài sản

Quyền nhận cổ tức: Cũng như những cổ đông lớn, Cổ đông thiểu số có quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, so với Luật doanh nghiệp 2005, Khoản 4, Điều 132 LDN 2014 quy định rõ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên Công ty cổ phần phải thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này sẽ góp phần hạn chế tình trạng nợ cổ tức, củng cố thêm niềm tin của nhà đầu tư khi đầu tư vào Công ty cổ phần.

Trường hợp Công ty cổ phần vi phạm các quy định về trả cổ tức, cổ đông có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án buộc Công ty cổ phần phải tuân thủ. Nếu các cổ đông có bằng chứng chứng minh Công ty cổ phần vi phạm các quy định về trả cổ tức thì ngoài việc khởi kiện yêu cầu tòa án buộc công ty thanh toán cổ tức, các cổ đông còn có quyền yêu cầu tòa án đưa ra phán quyết buộc công ty phải thanh toán thêm phần lãi chậm trả cổ tức cho các cổ đông.

Các quyền liên quan đến chuyển nhượng cổ phần, yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Luật doanh nghiệp 2014 duy trì nguyên tắc tự do chuyển nhượng (trừ trường hợp 03 năm của cổ đông sáng lập) từ Luật doanh nghiệp 2005, ngoài ra, cũng có quy định mới cho phép Điều lệ công ty được quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần. Theo đó, các cổ đông đã có ý tưởng sáng lập ra công ty thường là những cổ đông lớn, họ phải có trách nhiệm gắn bó với công ty, không được tùy ý từ bỏ công ty. Việc một cổ đông sáng lập rời khỏi công ty phải được sự đồng ý của các cổ đông khác, cụ thể là được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, điều này cũng không nằm ngoài vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số, đặc biệt là những cổ đông đến mua cổ phần sau khi công ty thành lập.

Bên cạnh đó, cũng giống như các cổ đông khác trong công ty, Cổ đông thiểu số cũng có các quyền khác về tài sản như quyền nhận một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán…

1.3.2 Nhóm quyền quản trị công ty Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Về hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết: Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, bên cạnh hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền thì còn có “các hình thức khác” do pháp luật, điều lệ công ty quy định. Mặc dù “các hình thức khác” chưa được làm rõ, nhưng quy định này không những đã thể hiện được sự chủ động của công ty trong việc lựa chọn các hình thức tham dự cuộc họp phù hợp với tình hình hoạt động (VD: họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử…) còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của toàn bộ cổ đông, đặc biệt là các Cổ đông thiểu số trong việc tham dự và thực hiện quyền biểu quyết của mình.

Về điều kiện tiến hành họp: Nếu như trước đây, Luật doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ cổ đông dự họp lần thứ nhất, lần thứ hai (khi lần thứ nhất không đủ điều kiện) lần lượt là: ít nhất 65% và ít nhất 51% thì Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014 giảm xuống còn: ít nhất 51% và ít nhất 33%. Như vậy, việc thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông dễ dàng tiến hành hơn vì chỉ cần phối hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông đạt tỷ lệ đủ điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai mà không cần phải triệu tập và làm quy trình ĐHCĐ lần thứ ba.

Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, Luật doanh nghiệp 2005 bảo vệ quyền dự họp của Cổ đông thiểu số được tốt hơn, hạn chế sự chi phối công ty của những cổ đông lớn. Tuy nhiên theo chúng tôi, dù việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hợp lí, bởi thực tế trong thời kỳ Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực do Cổ đông thiểu số không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông xảy ra khá nhiều, gây khó khăn không nhỏ trong việc họp Đại hội đồng cổ đông tại Công ty cổ phần.

Về tỉ lệ biểu quyết trong cuộc họp: Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định tỷ lệ thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông từ 51% đối với quyết định thông thường, từ 65% đối với quyết định quan trọng (LDN 2005 quy định tỷ lệ cũ là 65% và 75%). Xét trên phương diện bảo vệ Cổ đông thiểu số việc giảm tỉ lệ trên dường như gây bất lợi hơn cho Cổ đông thiểu số so với Luật doanh nghiệp 2005, tuy nhiên đây chỉ là những tỷ lệ tối thiểu; trong trường hợp các bên có thỏa thuận một tỷ lệ lớn hơn thì sẽ áp dụng theo tỷ lệ đó. Do vậy, nếu các cổ đông nhỏ có thể gôm lại để có một tỷ lệ đủ để quyết định thì vẫn hợp pháp và sẽ bảo vệ quyền lợi của cổ đông tốt hơn. Mặt khác, việc giảm tỷ lệ biểu quyết theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 còn hạn chế được những trường hợp chỉ vì lợi ích của một Cổ đông thiểu số trong công ty mà ngăn cản những chính sách lớn có lợi cho đa số cổ đông. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Về việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát: So với Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 quy định bầu dồn phiếu không còn là phương thức bắt buộc trong việc thực hiện bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, việc lựa chọn bầu bằng phương pháp bầu dồn phiếu hay không phụ thuộc vào quyền chủ động của công ty và được quy định trong điều lệ (Khoản 3, Điều 144). Bầu dồn phiếu là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ Cổ đông thiểu số, mục đích cơ bản của việc bầu dồn phiếu chính là tăng cường sự hiện diện của các Cổ đông thiểu số trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, đảm bảo điều hòa được quyền hành và kiểm soát công ty giữa các nhóm cổ đông với nhau. Mặc dù sự thay đổi trong Luật doanh nghiệp 2014 đã trao thêm quyền tự chủ hoạt động cho các Công ty cổ phần nhưng xét trên khía cạnh bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số thì quy định này phần nào hạn chế tác dụng của “công cụ pháp lý bầu dồn phiếu”. Trường hợp nhà đầu tư trở thành cổ đông của công ty thì điều lệ công ty đã có từ trước, trong đó nếu có quy định không áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu thì sẽ là một bất lợi cho nhóm cổ đông này.

Về quyền ứng cử, đề cử vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát: Khi những Cổ đông thiểu số liên kết lại để hình thành nhóm cổ đông, họ sẽ được quyền cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Bên cạnh việc đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị, khác với Luật doanh nghiệp 2005 (quy định thành viên Hội đồng quản trị phải là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông) Luật doanh nghiệp 2014, không quy định cụ thể số cổ phần mà cổ đông phải nắm giữ. Đây là một tiến bộ lớn tạo cơ hội để Cổ đông thiểu số tiến gần hơn vào bộ máy quản lý của công ty, trực tiếp giám sát các hoạt động của công ty, bảo đảm lợi ích chính đáng cho mình.

1.3.3 Nhóm quyền về thông tin Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

Quyền được nắm bắt những thông tin trong công ty mà cổ đông tham gia góp vốn là một trong những quyền cơ bản và rất quan trọng. Khi có thông tin mới có cơ sở để cổ đông thực hiện chất vấn về tình hình công ty, sử dụng các quyền khác như quyền biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền bầu và miễn nhiệm Hội đồng quản trị và cả quyền quản lý cổ phần của cổ đông. Về nhóm quyền này, kế thừa Luật doanh nghiệp 2005, Luật DN 2014 quy định đối với các thông tin quan trọng về báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, biên bản, nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo của Ban kiểm soát, chỉ khi các Cổ đông thiểu số tập hợp lại thành nhóm cổ đông thì mới có thể thực hiện (Khoản 2 Điều 114). Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam đã trao quyền cho Cổ đông thiểu số cơ hội được tiếp cận thông tin để có thể kiểm soát và theo dõi được tình hoạt động của công ty, tuy nhiên với việc hạn chế lượng thông tin bắt buộc phải cung cấp và giới hạn về chủ thể được yêu cầu cung cấp đã phần nào cản trở mục đích bảo vệ Cổ đông thiểu số của nhóm quyền này trên thực tế.

1.3.4 Nhóm quyền mang tính khắc phục

Về quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông: Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014 đã giới hạn lại chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông đó là “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty”. Trước đây, Luật doanh nghiệp 2005 trao quyền này cho tất cả các cổ đông, mặc dù có lợi hơn cho các Cổ đông thiểu số nhưng lại không tránh được khả năng bị lạm dụng bởi những vi phạm trong quá trình triệu tập và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông rất phổ biến. Việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hợp lí, các quy định của pháp luật vẫn phải tránh việc gây bất lợi cho cổ đông lớn do đó Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định chặt chẽ hơn vấn đề này.

Về quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ: Khoản 1 Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014 quy định “Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong một số trường hợp Luật định”. Nếu như trước đây, Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều Luật doanh nghiệp 2005 quy định cổ đông, nhóm cổ đông nói trên không được trực tiếp khởi kiện ngay từ đầu mà phải thông qua Ban kiểm soát, chỉ sau 15 ngày kể từ ngày Ban kiểm soát nhận yêu cầu mà không tiến hành khởi kiện thì cổ đông, nhóm cổ đông trên mới có quyền trực tiếp khởi kiện. Việc trao quyền trực tiếp khởi kiện các chức danh quản lý cho cổ đông, nhóm cổ đông ngay từ ban đầu mà không phải thông qua Ban kiểm soát theo Luật doanh nghiệp 2014 sẽ giảm bớt tính phức tạp trong thủ tục khởi kiện những chức danh quản lý của công ty. Thêm vào đó, họ có thể nhân danh công ty khởi kiện người quản lý khi phát hiện người quản lý có các hành vi vi phạm, gây thiệt hại cho công ty để đòi bồi thường thiệt hại sẽ góp phần bảo vệ Cổ đông thiểu số một cách hữu hiệu.

1.3.5 Ấn định nghĩa vụ và trách nhiệm cơ bản của người quản lý công ty

Theo quy định tại Điều 160 Luật doanh nghiệp 2014 thì người quản lý công ty bao gồm thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác. Có trách nhiệm bằng năng lực của mình phải bảo lợi ích hợp pháp cho công ty chính là lợi ích cho cổ đông theo nguyên tắc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt. Đây là những quy định được bổ sung trên tinh thần trách nhiệm của người quản lý và từ đó đem lại lợi ích cho các Cổ đông thiểu số.

Liên quan đến vấn đề trách nhiệm của người quản lý công ty đối với việc thực hiện yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông, Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định thêm một số nội dung như: Cả Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị đều phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện việc triệu tập cuộc họp bất thường theo đúng quy định (mà không phải là Chủ tịch Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm như trong Luật doanh nghiệp 2005). Mặc dù Luật chưa có quy định trong việc xác định mức độ trách nhiệm để bồi thường của các thành viên Hội đồng quản trị, nhưng đây vẫn là một trong những quy định giúp đảm bảo hơn quyền lợi của Cổ đông thiểu số. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

1.3.6 Kiểm soát các giao dịch tư lợi

Theo Luật doanh nghiệp 2014, các hợp đồng, giao dịch giữa công ty với cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; giữa công ty với thành viên Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ và người có liên quan của họ; giữa công ty với các doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, GĐ/TGĐ và người quản lý khác của công ty có sở hữu cổ phần phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận” (Điều 159, Điều 162).“Hội đồng quản trị chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhở hơn 35%….”. Trước đó, Điều 120 Luật doanh nghiệp 2005 quy định là cao hơn 35%. Như vậy, việc quy định giảm tỷ lệ như trên đã giúp quyền lợi của Cổ đông thiểu số được bảo đảm hơn rất nhiều.

  • Tiểu kết chương 1

CTCP ra đời gắn liền với giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Trong những giai đoạn khác nhau, nhà nước có xây dựng những quy định pháp luật khác nhau áp dụng đặc thù của mỗi nền kinh tế, với từng loại hình kinh doanh tương ứng.

Nội dung trọng tâm được trình bày là các vấn đề lý luận chung về cổ đông và bảo vệ quyền của Cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. Chương 2 sẽ xem xét, xác định rõ thực trạng vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số trong phạm vi pháp luật về công ty cổ phần tại Việt Nam. Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số

One thought on “Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464