Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng về đánh giá giá trị khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổng quan về tỉnh Bình Định

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc – Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km². Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km. Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia.

Hình 2. 1. Bản đồ địa lý hành chính Bình Định

2.1.1. Về đặc điểm kinh tế – xã hội

2.1.1.1. Dân số

Theo số liệu thống kê của cục thống kê Bình Định năm 2021, dân số tỉnh Bình Định khoảng 1,5 triệu người (chiếm 1,7% dân số cả nước – 90,73 triệu người). Mât đ̣ô dân số trung binh 251,1 người/km2, bằng 93% ̀ mật độ trung bình của cả nước (274 người/km²); tỷ lệ dân số thành thị chiếm 30,8% (thấp hơn so với trung bình cả nước – 33,1%), nông thôn chiếm 69,2% (cao hơn so với trung bình cả nước – 66,9%).

Bình Định có yếu tố đặc trưng về dân tộc, ngoài dân tộc Kinh (chiếm 98%), tỉnh còn có các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Chăm, Ba Na và Hrê sinh sống ở các huyện miền núi và trung du.

Dân cư trên đia bàn tỉnh phân bố không đều, dân cư tập trung đông nhất tại khu vưc thành phố Quy Nhơn (mât đô ̣dân số trung binh 987̀ người/km2), tiếp đến là tại thị xã An Nhơn (mật độ trung bình 800 người/km2), huyện Hoài Nhơn (mật độ trung bình 750 người/km2); thấp nhất là huyện Vân Canh với 30,9 người/km2  (Niên giám thống kê, 2022)

2.1.1.2. Diện tích

Bình Định có diện tích tự nhiên 6.050 km2. Bình Định có 11 đơn vị hành chính: Thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ, đô thị loại 1 có 01 xã An Nhơn và 09 huyện gồm: An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh (miền núi), Tây Sơn, Hoài Ân (trung du), Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước (đồng bằng). Toàn tỉnh có 159 xã, phường, thị trấn (Trong đó: có 129 xã, 14 Thị trấn; 16 phường) (Niên giám thống kê, 2022). Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

2.1.1.3. Đặc điểm kinh tế

Trong giai đoạn 2017 – 2021, kinh tế – xã hội Bình Định đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Trên lĩnh vực kinh tế, tổng sản phẩm địa phương (GRDP) theo giá so sánh 1994 của tỉnh tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2017 – 2021 là 9,2%. GRDP bình quân đầu người đến năm 2021 đạt 40,1 triệu đồng, tăng 22,4 triệu đồng so với năm 2016. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 2017 – 2021 đạt 2.888 triệu USD, tăng trưởng trung bình 8,4%/năm. Thu ngân sách của tỉnh luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra hàng năm và tăng bình quân 9,7%/năm. Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 5 năm 2017 – 2021 đạt 24.178 tỷ đồng; trong đó, năm 2021 ước đạt 5.500 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách Nhà nước địa phương năm 2021 ước đạt 9.596,1 tỷ đồng; chi ngân sách cơ bản đáp ứng kịp thời kinh phí cho hoạt động của các ngành, các cấp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh và thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,3% năm 2017 xuống 6,25% năm 2021 (Cuc Tḥống kê, 2021)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Bình Định

2.1.2.1. Giao thông vận tải

Hệ thống giao thông khá đồng bộ. Quốc lộ 1A (qua tỉnh 118 km) và đường sắt quốc gia (qua tỉnh 150 km) chạy xuyên suốt chiều dài Bắc – Nam của tỉnh; cùng với Quốc lộ 1D (dài 34 km), Quốc lộ 19 (qua tỉnh 70 km) nối Cảng Quy Nhơn với bên ngoài thuận lợi. Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước có thể đón tàu 3 vạn tấn ra vào cảng an toàn. Cảng Thị Nại là cảng địa phương đang được nâng cấp đón tàu 1 vạn tấn. Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30km về phía Bắc đã và đang mở thêm nhiều chuyến bay đón hành khách đi và đến Bình Định. Toàn tỉnh có 386 km đường tỉnh lộ, đáng chú ý có tuyến đường ven biển nối từ Nhơn Hội đến Tam Quan tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, khai thác tiềm năng ven biển; tuyến đường phía Tây tỉnh đang được xây dựng nối từ An Nhơn đến Hoài Nhơn tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khai thác tiềm năng vùng đồi núi của tỉnh; hầu hết các xã đều có đường ô tô đến trung tâm.

2.1.2.2. Hệ thống điện nước Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Điện: Tiềm năng thủy điện khoảng 182,4 triệu kW. Bình Định đã xây dựng và thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh giai đoạn 2012 – 2016 có xét đến tới 2021 với mục tiêu 100% số xã có điện, trong đó 97% số xã được cấp điện lưới quốc gia, 98% số thôn có điện. Những năm qua đã tranh thủ nguồn vốn WB đầu tư trung áp, hạ áp, đến nay 100% xã có điện lưới và có trên 99% số hộ dùng điện. Thực hiện việc chuyển đổi mô hình, cấp phép hoạt động điện lực, vận hành lưới điện hạ thế an toàn, áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng điện, giảm tổn thất điện năng, đảm bảo giá bán điện đến hộ dân nông thôn.

Nước: Nhà máy nước Quy Nhơn được đầu tư nâng cấp có tổng công suất 45.000 m3/ngày đêm (sẽ tiếp tục tăng lên 48.000 m3/ngày đêm), hiện nay đã cấp nước cho hơn 90% dân số và các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP Quy Nhơn và một phần Khu kinh tế Nhơn Hội. Công suất cấp nước cho Khu công nghiệp Phú Tài: 8.500 m3/ngày đêm. Đang xây dựng công trình cấp nước cho Khu kinh tế Nhơn Hội: 12.000 m3/ngày đêm (giai đoạn 1). Đang hoàn thiện dự án cấp nước cho 9 thị trấn trong tỉnh với công suất 21.300 m3/ngày đêm.

2.1.2.3. Hệ thống thông tin liên lạc

Hệ thống bưu điện, bưu cục phủ kín toàn tỉnh, đến năm 2016 bình quân có

76,9 số thuê bao điện thoại/100 dân.

2.1.2.4. Hệ thống cơ sở lưu trú

Theo thống kê của Sở du lịch Bình Định, toàn tỉnh hiện có 149 cơ sở lưu trú du lịch với 3.816 phòng; công suất phòng nghỉ bình quân năm 2022 đạt 72%, cao nhất từ trước đến nay. Toàn tỉnh có 12 điểm tham quan du lịch đang được khai thác hiệu quả; có 30 Doanh nghiệp lữ hành, tăng 5 doanh nghiệp so với năm trước. Có 32 hội trường phục vụ hội nghị, hội thảo, 6 nhà hàng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cùng 12 trung tâm mua sắm phục vụ đa dạng hàng hóa trong và ngoài nước, quà đặc sản Bình Ðịnh và hàng lưu niệm cho du khách. Trong 1-2 năm tới, khi các dự án du lịch lớn tại TP Quy Nhơn được thi công hoàn thành, đưa vào hoạt động, sẽ tăng số lượng phòng nghỉ rất lớn cùng với những điểm nhấn về kiến trúc cho thành phố.

2.1.3. Điều kiện về tài nguyên du lịch Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

2.1.3.1. Tài nguyên xã hội nhân văn

Bình Định là nơi xuất phát của phong trào nông dân Tây Sơn thế kỷ 18 và là quê hương của Anh hùng dân tộc Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ; từng là kinh đô của Vương quốc Champa với các di tích còn lại là Thành Đồ Bàn (Vijaya), 14 Tháp Chàm với kiến trúc độc đáo, gốm cổ Gò Sành. Trong hai cuộc kháng chiến, Bình Định là địa bàn ác liệt nhưng luôn anh dũng đấu tranh và giành những thắng lợi rất đáng tự hào. Bình Định là quê hương và nơi nuôi dưỡng tài năng các danh nhân văn hóa: Đào Tấn, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan… Bình Định vừa là miền đất võ vừa giàu truyền thống nhân văn với các loại hình nghệ thuật dân tộc, các lễ hội truyền thống, là xứ sở của nhiều loại đặc sản và phong cách ẩm thực độc đáo; có 134km bờ biển với nhiều bãi biển, vũng, vịnh, thắng cảnh đẹp là điều kiện để phát triển du lịch sinh thái biển – núi và thủy sản. Có thể nói Bình Định hội đủ điều kiện để phát triển du lịch văn hóa – lịch sử và sinh thái.

Bảng 2. 1. Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của Bình Định

STT DI TÍCH NƠI TỌA LẠC
1 Bảo tàng Quang Trung Thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn
2 Thành Hoàng Đế Thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn
3 Lăng Mai Xuân Thưởng Thuộc xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn
4 Mộ Đào Tấn Tọa lạc trên núi Huỳnh Mai (Hoàng Mai), thuộc xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước
5 Đền thờ Đào Duy Từ Thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn
6 Chùa Thập Tháp Thuộc thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn
7 Tháp Bánh Ít Thuộc xã Hiệp Phước, huyện Tuy Phước
8 Tháp Đôi Phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn
9 Tháp Dương Long (hay còn gọi là Tháp Ngà) Ở xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn
10 Căn cứ Núi Bà Nằm ở Đông Nam huyện Phù Cát

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bình Định

2.1.3.2. Tài nguyên thiên nhiên

Bình Định xưa nay vẫn nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nằm dọc dải đất duyên hải miền Trung với một bên là núi non trùng điệp, một bên là biển rộng bao la và giữa chúng là những cánh đồng lúa trải dài màu xanh ngút ngàn. Sự kết hợp của núi non và biển cả đã tạo nên những thắng cảnh tuyệt vời trên quê hương của Tây Sơn tam kiệt. Vùng đất hiền hòa mến khách này có những cảnh đẹp nổi tiếng mà du khách không thể bỏ qua. Đây là một số cảnh quan tiêu biểu đang được khai thác:

Bảng 2. 2. Một số cảnh quang thiên nhiên tiêu biểu của Bình Định

2.1.3.3. Các lễ hội Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Bình Định, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử dân tộc và phong tục tập quán vùng Đất Võ – Trời Văn. Là nơi hội tụ và giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc anh em, nên các hình thức văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng và phong phú. Hàng năm, Bình Định diễn ra nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, đậm chất truyền thống văn hóa, lễ hội và thường tập trung vào mùa xuân, thể hiện sự gắn kết hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

Bảng 2. 3. Các lễ hội tiêu biểu ở Bình Định

Ngoài ra, ở Bình Định còn vô số những Lễ hội dân gian và truyền thống khác (Xem bảng 2.4)

Bảng 2. 4. Các lễ hội tiêu biểu ở Bình Định

Nhìn chung, các lễ hội ở Bình Định đều tập trung vào mùa xuân, chính vì vậy mà các chương hay các chiến dịch quảng bá về du lịch nên được chú trọng chuẩn bị vào giai đoạn này trong năm.

2.2. Giới thiệu về tiềm năng văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” tại Bình Định

2.2.1. Tiềm năng “Hát Bội”

Bình Định có truyền thống hát bội từ lâu đời và phát triển mạnh mẽ ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với nhiều bầu, đoàn, nhiều tên tuổi đào, kép lừng danh trong cả nước. Từ khi những địa phương ở Bình Định có lễ đình, chùa vào dịp Xuân kỳ, Thu tế đều tổ chức hát bội vì vậy ở Bình Định có rất nhiều gánh hát bội.

2.2.1.1. Lịch sử của hát bội Bịnh Định Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Theo “Hồ sơ Di sản văn hóa” thì nghệ thuật Hát Bội có từ thời Trần (1226 – 1399), thịnh hành ở khu vực miền Trung, đặc biệt là Bình Định. “Hát Bội” là lối hát có tám sân khấu đấu lưng nhau với các kép, nghệ sĩ tạo thành sân khấu tám mặt, hát chung một tuồng (vở) cùng lúc. Hướng Tây Bắc (thuộc cung Càn, tượng trưng cho Trời) dành cho vua, hoàng thân quốc thích và các quan đại thần thưởng lãm; các cửa sân khấu khác dành cho các hạng tuỳ tùng theo thứ bậc, phẩm hàm và cho thứ dân ai cũng được xem. “Bội” là gấp lên, nhân lên, để sân khấu trở thành tám tấm gương phản chiếu cuộc đời thực.

Ông tổ của nghề Hát Bội là Đào Duy Từ, người đặt nền móng cho các tuồng Hát Bội và tổ chức nhiều đoàn hát, đến nay vẫn lưu truyền. Đến cuối thế kỷ XVIII,  thêm cây đại thụ của làng Hát Bội là Đào Tấn, người lập ra Học bộ đình – trường dạy Hát Bội và biểu diễn Hát Bội tại làng Vinh Thạnh, chủ biên trên 40 vở Hát Bội (Trần Hồng, 2003).

2.2.1.2. Đặc trưng của hát bội Bình Định

Ca từ Hát Bội phản ánh tình cảm của con người, như: tình vua tôi, cha con, mẹ con và bạn hữu,… Các tuồng Hát Bội thường có nội dung răn dạy, giáo dục lễ nghĩa, cách đối nhân xử thế, ca ngợi cái tốt đẹp, cao cả và phê phán thói hư, tật xấu. Hát Bội cũng được trình diễn trong các lễ hội, để cầu xin thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, gặp điều may mắn.

Trong nghệ thuật Hát Bội, có hai yếu tố cơ bản là hát và múa võ. Người hát sử dụng lối hát nhấn nhá, mang âm hưởng của tiếng địa phương, kết hợp rất hài hòa với các điệu múa võ cổ truyền Bình Định và được hỗ trợ bởi nhiều nhạc cụ dân tộc, đặc biệt là trống. Bên cạnh đó, hầu hết các loại binh khí của võ cổ truyền Bình Định đều góp mặt trên sân khấu Hát Bội như song kiếm, song phủ, độc phủ, đao, thương, siêu côn… nên khả năng biểu hiện dạng thức chiến đấu của những cuộc giao tranh trong sử sách là trực tiếp, vô cùng sinh động (Nguyễn Xuân Đà, 1998). Vì thế, Hát Bội đòi hỏi người diễn phải biết võ nghệ và sử dụng thuần thục các loại binh khí để biến võ thuật đời thường thành những hành vi chiến đấu, giao tranh đầy tính nghệ thuật trên sân khấu.

Nghệ thuật trang điểm, trang trí cho các vai diễn của Hát Bội cũng mang yếu tố đặc sắc, tạo nên nét riêng cho từng nhân vật, mỗi khuôn mặt thể hiện một tính cách hết sức đặc trưng. Hát Bội có giá trị nghệ thuật cao với tiếng kèn, nhịp trống, điệu đàn cò… diễn tả các cung bậc tình cảm: vui, buồn, yêu, ghét, hờn giận, đau thương, ai oán…, lúc hùng tráng, lúc vui vẻ, khi lại đau đớn, bi thương… hóa cùng các điệu hát phách, lối… làm cho người xem cảm động, say mê.

2.2.1.3. Tiềm năng khai thác Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện có Nhà hát Tuồng Đào Tấn vẫn đang hoạt động, lưu giữ, trình diễn những vở Hát Bội cổ truyền. Ngoài ra, còn có 10 đoàn Hát Bội không chuyên, liên tục trình diễn và truyền dạy loại hình nghệ thuật truyền thống này cho các thế hệ trẻ. Ở các vùng nông thôn, những nhóm Hát Bội thường xuyên trình diễn trong các sự kiện mang tính cộng đồng của làng, xóm hay các dịp hiếu hỉ của gia đình. Trải qua hàng trăm năm, Hát Bội vẫn được người dân Bình Định liên tục duy trì, thực hành và truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp.

Với những giá trị đặc sắc trên, Hát Bội Bình Định đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25 tháng 8 năm 2020.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định có Nhà hát Tuồng Đào Tấn là đơn vị chuyên nghiệp còn lại là các Đoàn truyền thống với tổng số đoàn là 10 đoàn (xem bảng 2.5).

Bảng 2. 5. Danh sách các đoàn truyền thống ở Bình định

STT TÊN ĐOÀN ĐỊA CHỈ
1 Đoàn hát bội An Nhơn 1 An Nhơn
2 Đoàn hát bội An Nhơn An NHơn
3 Đoàn hát bội Nhơn Hưng An Nhơn
4 Đoàn hát bội Ánh Dương Huyện Tuy Phước
5  Đoàn hát bội Phước An Huyện Tuy Phước
6 Đoàn hát bội Tuy Phước Huyện Tuy Phước
7 Đoàn hát bội Sông Côn Huyện Vĩnh Thạnh
8 Đoàn hát bội Ngô Mây Huyện Phù Cát
9 Đoàn hát bội Trần Quang Diệu Thành phố Quy Nhơn
10 Đoàn hát bội Sao Mai Trung tâm Văn hóa tỉnh Bình Định.

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bình Định

Bảng 2. 6. Sự phân bố các đoàn hát bội ở Bình Định

STT CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ TÍNH SỐ LƯỢNG
1 Tổng số thi xa, ̃ huyện trong tỉnh Huyện 10
2 Số huyện có Đoàn hát bội Huyện 4
3 Tổng số Đoàn hát bội Đoàn 11
4 Tổng số Đoàn chuyên nghiệp Đoàn 1
5 Tổng số Đoàn không chuyên Đoàn 10

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bình Định Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Các Đoàn hát bội chủ yếu tập trung vào các huyện như: An Nhơn, Tuy Phước, đây là 2 huyện có nhiều Đoạn hát bội nhất trong tỉnh. Huyện Tuy Phước là quê hương của vị hậu Tổ hát bội Đào Tấn, các gánh hát chủ yếu tập trung ở các xã Phước An, Phước Nghĩa, Phước Lộc, Phước Hoà.

2.2.2. Tiềm năng “Bài chòi”

Nghệ thuật Bài Chòi là thú vui tao nhã của người dân miền Trung Việt Nam nhân dịp đầu xuân. Đây vừa là loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính sáng tạo ngẫu hứng, vừa là trò chơi dân gian vui nhộn, đầy trí tuệ, ra đời từ nhu cầu liên lạc với nhau giữa các chòi canh trên nương rẫy, ở vùng trung du, rồi lan rộng đến các vùng nông thôn và ra cả miền biển.

2.2.2.1. Lịch sử bài chòi Bình Định

Trò chơi đánh bài chòi và hát dân ca bài chòi đã có lịch sử hàng trăm năm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, giao thoa văn hóa và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân bản địa. Bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền trên dải đất miền trung, không những trong dịp Tết mà còn ở các lễ hội của địa phương (Hoàng Chương, 2020).

Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền trung” do Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Viện Sân khấu Việt Nam tổ chức tại Nha Trang tháng 10-1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê, cổ bản… đang sử dụng trong hát bội và cải lương, đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương.

Theo tác giả Hoàng Lê (tác phẩm Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi) và một số nhà nghiên cứu cho rằng Hội đánh bài chòi bắt đầu từ khi Đào Duy Từ bỏ nhà Lê vào Nam theo chúa Nguyễn. Khi vào Nam ông chọn Bình Định là nơi dừng chân buổi đầu, trước khi Quận Công Trần Đức Hòa tiến cử ông về kinh giúp Chúa Sãi, thời gian ở Bình Định ông giúp dân khai hoang, phục hóa, sản xuất tăng gia. Ngoài ra ông còn giúp nhân dân Bình Định tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, xướng ca, tiêu biểu là Hát Bội và Hội đánh bài chòi (Hoàng Lê, 2003). Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Thời kỳ này Bình Định còn chịu nhiều ảnh hưởng của vùng biên viễn Việt – Chiêm, những vùng trung du nhân dân định cư còn thưa thớt, nơi đây rừng núi rậm rạp đan xen với chuỗi đồng bằng nhỏ hẹp, việc trồng trỉa thường bị thú hoang phá, nạn thú rừng phá hoại mùa màng xảy ra thường xuyên, nhân dân khó khăn nhiều mặt trong vấn đề bảo vệ nương rẫy; Để chống lại thú dữ, bảo vệ mùa màng, nhân dân dựng những cái chòi tranh tre, trên chòi có sàn ngồi, trên sàn ngồi có mái lợp che nắng, che mưa cho người canh giữ, mỗi chòi có trang bị mõ, trống, thanh la hoặc các thứ để gây tiếng động. Mỗi khi có thú rừng kéo đến phá hoại mùa màng, hoặc uy hiếp người canh giữ, thì các chòi đồng loạt hô vang và gõ các công cụ hỗ trợ xua đuổi, làm cho chúng hoảng sợ và không dám bén mảng đến phá phách hoa màu của nhân dân nữa. Rồi có những đêm trăng thanh gió mát, lúc nhàn rỗi không có thú rừng quậy phá, giữa các chòi người ta dùng ống tre bịt da ếch nối sợi chỉ, hoặc sợi tơ giăng qua giữa chòi này và chòi khác (sau này gọi là Hát ống) để nói chuyện hay ca hát đối đáp cho nhau nghe những điệu dân ca như: hò, vè, hát ru, hát kết, hát lý,…để giải buồn, đối cảnh sinh tình dần dần trở thành một mô hình sinh hoạt giải trí ở vùng nương rẫy. Từ những sinh hoạt văn hóa dân gian ấy Đào Duy Từ sáng kiến ứng dụng lối sinh hoạt nương rẫy này vào trò chơi đánh bài trên Chòi, từng bước phát triển thành Hội đánh bài chòi;

Hội đánh bài chòi là một cuộc chơi bằng hình thức đánh bài, nhưng không phải đánh bài ngồi trên chiếu trải dưới đất, trên phản ngựa trong nhà mà là ngồi trên chòi. Đánh bài trên chòi không phải để ăn thua, sát phạt mà trò chơi này là trò chơi có thưởng, chủ yếu là vui chơi, cầu may, cầu lộc đầu năm. Trong thời gian đầu thì Hội đánh bài chòi chủ yếu được tổ chức ở các chòi canh bảo vệ sản xuất, về sau được phát triển rộng rãi và là một trong những hoạt động vui xuân của nhân dân Bình Định trong những dịp tết cổ truyền nên thường gọi là “Hội bài chòi Xuân”, các thế hệ sau này gọi là “Hội đánh bài chòi cổ dân gian” (Bộ VHTT&DL, 2021)

2.2.2.2. Đặc trưng của bài chòi Bình Định

Theo tư liệu của “Hồ sơ Di sản văn hóa”,Bài Chòi là hình thức chơi bài nhưng không mang tính sát phạt, ăn thua như ở sòng bài, mà chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân. Người ta đến chơi Bài Chòi cốt để nghe hô Bài Chòi, thưởng thức giọng hô, hát, tài ứng đối và lối diễn trò của “Hiệu” (người hô, hát chính).

Ở Bình Định, từ xưa tới nay, thịnh hành ba hình thức Bài Chòi, gồm: Bài Chòi “truyện” có phông màn, có rạp che chắn; Bài Chòi “lớp”/”chiếu” thể hiện ngay trên chiếu, đi khắp các làng mạc miền quê và hội chơi Bài Chòi thường được trình diễn mỗi dịp xuân về. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Hội chơi Bài Chòi thường diễn ra ở sân đình làng hoặc những khoảng đất rộng, bằng phẳng, gần các khu dân cư, gần chợ, thuận lợi cho mọi người đi dự hội. Để chơi Bài Chòi, người ta dựng 9 hoặc 11 chòi bằng tre, nứa, lợp tranh như những chòi canh giữ rẫy, xếp theo hình chữ U. Chòi ở đáy chữ U gọi là chòi Cái. Người dẫn dắt cuộc chơi là các anh/chị Hiệu, ngồi ở chòi Cái. Họ rút con bài trong ống bài, giơ lên rồi hát những câu hát đố tên con bài ấy, gọi là Hô Thai. Người chơi mua 3 con bài, ngồi trên các chòi để đợi. Nếu cả 3 con bài trùng với những con bài mà anh/chị Hiệu xuớng tên thì thắng cuộc, được lĩnh thưởng, kết thúc một lượt chơi và sau đó, lượt chơi mới lại bắt đầu.

Nhạc cụ đệm trong Bài Chòi thường gồm: đàn nhị, song loan, kèn bóp và trống chiến. “Hiệu” khi hô, hát phải theo nhịp trống, nhịp sanh, có tiếng đàn tiếng kèn đệm theo, làm cho điệu hò thêm réo rắt, hấp dẫn. Đây là người rành các điệu hát nam, hát khách, hát lý… thuộc nhiều thơ, ca dao, biết pha trò, đồng thời, ứng đối nhanh nhẹn. “Hiệu” vừa hô tên con bài được rút từ trong ống thẻ giữa sân hội, vừa biểu diễn những động tác, giọng điệu để góp vui, tăng phần hấp dẫn cho người chơi và người xem hội. Bên cạnh những câu hô đơn giản lấy trong ca dao tục ngữ, hò vè, người chơi còn thi nhau sáng tác các câu hát cho hội chơi Bài Chòi thêm phần phong phú và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của người dân. Tích truyện Bài Chòi là những bài học về đạo đức, lòng nhân ái, tình yêu quê hương, đất nước và đoàn kết dân tộc. Nội dung bi hài của Bài Chòi phản ánh nhân tình thế thái và phê phán thói hư tật xấu, khiến người xem phải suy ngẫm hoặc vui cười sảng khoái.

Hình 2. 2. Sơ đồ bố trí hệ thống các chòi trong hội đánh bài chòi dân gian ở Bình Định

Sinh hoạt Bài Chòi là môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời giúp bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong Bài Chòi Bình Định được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt tinh thần thiết yếu và phổ biến khắp các huyện, thị của Bình Định. Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… liên tục được biến tấu một cách linh hoạt, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự hấp dẫn và riêng biệt của Bài Chòi và cũng góp phần lưu giữ, phổ biến một phần của kho tàng văn học Việt Nam.

2.2.2.3. Tiềm năng khai thác

Bài Chòi hiện vẫn được duy trì và thực hành thường xuyên không chỉ ở Bình Định mà ở hầu khắp các tỉnh Nam Trung bộ. Tỉnh Bình Định hiện vẫn còn một số câu lạc bộ Bài Chòi cổ thường xuyên trình diễn do những nghệ nhân tâm huyết, yêu nghề tập hợp và truyền dạy cho thế hệ kế tiếp, hoạt động dưới sự bảo trợ của Trung tâm văn hóa tỉnh Bình Định. Các liên hoan, hội diễn Bài Chòi của tỉnh (Bình Định – từ 2016 đến nay), khu vực (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa – 2019, 2020) và liên tỉnh (2017, 2020 và 2021) được tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền, tổ chức xã hội và được cộng đồng nhiệt tình hưởng ứng.

Với những giá trị đặc sắc, Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25 tháng 8 năm 2020 (BVHTT&DL, 2021)

2.3. Đánh giá thực trạng khai thác hát bội, bài chòi Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

2.3.1. Đánh giá về chính sách

Quan điểm về chính sách của tỉnh Bình Định được xây dựng dựa trên sự chỉ đạo, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Chính sách khai thác Di sản văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” Bình định cụ thể được ban hành như sau: Nhằm tiếp tục giữ gìn, phát huy, phổ biến, lưu truyền cho thế hệ mai sau những giá trị độc đáo của “Hát bội”, “Bài chòi”. Nâng cao nhận thức và lòng tự hào trong cộng đồng, trách nhiệm của các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, từng bước bảo tồn, phát huy giá trị “Hát bội”, “Bài chòi” trở thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội tỉnh Bình Định, UBND tỉnh vừa Phê duyệt Quyết định số 4850/QĐUBND về “Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát bội và Bài chòi trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2025”. Theo đó, 7 nhiệm vụ được đặt ra là:

  • Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn những giá trị tiêu biểu của “Hát bội”, “Bài chòi”;
  • Truyền dạy nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” trong cộng đồng và trong trường học;
  • Phục hồi, bảo tồn các vở tuồng cổ về “Hát bội”, xây dựng các trích đoạn tuồng, bảo tồn, phát huy hội đánh bài chòi dân gian, các vở “Bài chòi” dân gian;
  • Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù liên quan đến bao tồn và phát huy giá trị di sản “Hát bội”, “Bài chòi”;
  • Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu di sản “Hát bội”, “Bài chòi”;
  • Đầu tư, quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất thiết chế khai thác sử dụng, phát huy giá trị di sản tuồng, bài chòi;
  • Gắn kết Nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” với hoạt động du lịch nhằm phát huy hiệu quả giá trị di sản.

Để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trên, UBND tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức thực hiện Đề án nhằm tập hợp các tổ chức, cá nhân hoạt động nghề nghiệp hoặc có tâm huyết với di sản văn hóa phi vật thể, góp phần thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể mang tầm vĩ mô liên vùng, khu vực có di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngày 31/08/2023, UBND Bình Định ban hành quyết định 3189/QĐ-UBND Thành lập Hội đồng cấp tỉnh xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân”, “Nghệ sĩ ưu tú” lần thứ 9 – năm 2023 (Bộ VHTT&DL, 2023). Nhìn chung, tỉnh cũng đang từng bước triển khai các dự án khai thác, khôi phục cũng như bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi ở Bình Định. Tuy nhiên vẫn chưa thực sự có dự án nào hoàn thành cũng như mang lại kết quả cụ thể. Do chính sách và việc thực thi còn chưa đồng bộ nên vẫn còn nhiều bất cập trong việc khai thác hát bội, bài chòi phục vụ du lịch. Việc du khách vẫn còn chưa biết đến loại hình nghệ thuật này cũng như việc tổ chức hội bài chòi còn sơ sài, tạm bợ tại các tuyến điểm du lịch cũng như các hội chợ làm cho chất lượng không đồng đều khiến khán giả cũng không mặn mà lắm,…Ngoài ra việc thiếu các kịch bản hay, mới, dễ hiểu cũng làm hạn chế khán giả đến với hát bội.

2.3.2. Đánh giá về công tác nghiên cứu tiềm năng Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Các nghiên cứu tiềm năng về khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi hiện nay cũng có nhưng nhỏ lẻ. Về hát bội thì gần như chưa có nghiên cứu chính thức nào được thực hiện. Về bài chòi có vài nghiên cứu đã và đang thực hiện, chủ yếu để làm cơ sở đề xuất công nhận Di sản văn hóa phi vật thể bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

  • Dự án “Bảo tồn hội đánh bài chòi cổ dân gian ở Bình Định” (2016) của Bộ VHTT&DL thực hiện trong chương trình Văn hóa phi vật thể năm 2016. Với các nội dung chính là góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển(Bộ VHTT&DL).
  • Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay”, do GS. Hoàng Chương làm chủ nhiệm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiệm thu vào ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  • Nhạc viện Quốc gia đang xây dựng, hoàn chỉnh hồ sơ để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị Chính phủ và trình UNESCO xét duyệt và công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại .

2.3.3. Công tác tổ chức khai thác khách

2.3.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý về khai thác Di sản văn hóa

Trong lĩnh vực du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh trực tiếp phòng Nghiệp vụ du lịch có trách nhiệm quản lý và khai thác giá trị di sản văn hóa để lập kế hoạch, định hướng phát triển không gian du lịch, phát triển sản phẩm du lịch. Bộ máy tổ chức Sở VHTT&DL:

Hình 2. 3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá, thể thao và du lich Binh Đinh

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, cụ thể là phòng Quản lý di sản Sở chịu trách nhiệm quản lý di sản văn hóa hát bội bài chòi. Ngoài ra, một số đơn vị khác cũng tham gia nghiên cứu, tổ chức khai thác, biểu diễn hát bội, bài chòi như: Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Nhà hát Tuồng Đào Tấn, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bình Định, trường Văn hóa nghệ thuật Bình Định…

Bảng 2. 7. Đánh giá của các quản lý du lịch về công tác qui hoạch hát bội, bài chòi

Theo số liệu điều tra của tác giả, khi được hỏi về công tác qui hoạch hát bội, bài chòi trong những năm qua thì có 33% câu trả lời là tốt và 51% câu trả lời còn lại là bình thường và 16% câu trả lời là không tốt.

Thực tế hiện nay, việc phối hợp quản lý giữa ngành Du lịch và Văn hóa để tổ chức khai thác phát huy giá trị di sản trong hoạt động du lịch còn hạn chế. Chủ yếu là việc của ngành nào, trách nhiệm của ngành nào thì ngành đó thực hiện. Vì vậy, đã có nhiều hội thảo khoa học, nhiều công trình, đề án về bảo tồn hát bội, bài chòi nhưng không có sự tham gia từ phía các nhà quản lý du lịch. Ngược lại, việc khai thác hát bội, bài chòi trong hoạt động du lịch cũng hầu như do ngành Du lịch đảm nhiệm mà thiếu sự phối hợp từ ngành Văn hóa. Do đó, du lịch chưa được đầu tư một cách bài bản về chất lượng, cách tổ chức cũng như hiệu quả kinh tế. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Theo đánh giá của sở VHTT&DL (2021) thì hoạt động biểu diễn bài chòi trong những năm gần đây khá sôi nổi, nhất là trong 2 năm trở lại đây, đặc biệt là bài chòi được khai thác trong các chương trình du lịch phục vụ khách quốc tế. Tuy nhiên, những hoạt động như vậy cũng chưa được cơ quan có trách nhiệm quản lý chặt chẽ, hệ thống. Khi có yêu cầu, các CLB tự tổ chức biểu diễn cho khách và hưởng tiền bồi dưỡng từ đoàn khách đó. Cơ quan Nhà nước hầu như không quản lý được chất lượng các buổi biểu diễn, không gian biểu diễn… mà thường thì do chính doanh nghiệp du lịch ký kết hợp đồng với đơn vị biểu diễn đưa ra yêu cầu và tư vấn cho đơn vị biểu diễn.

Nhìn chung, công tác quản lý, tổ chức khai thác di sản hát bội, bài chòi thiếu tính hệ thống, thiếu sự phối hợp, hỗ trợ giữa các cơ quan Quản lý Nhà nước về văn hóa với du lịch, với doanh nghiệp kinh doanh du lịch, với người dân địa phương. Do vậy, việc khai thác hát bội, bài chòi phát triển một cách bột phát, đơn điệu.

2.3.3.2. Tổ chức khai thác khách

  • a) Số lượt khách đến Bình Định

Bình định được xem là điểm tham quan hấp dẫn đối với các du khách không những trong nước mà còn cả du khách quốc tể trên khắp thế giới.Với những địa điểm tham quan tại du lịch Bình Định mang trong mình một vẻ đẹp lãng  mạn với vẻ đẹp hài hòa giữa rừng và biển khiến ai đến đây cũng phải ấn tượng, say mê… Vì những yếu tố đó mà lượng khách du lịch đến Bình Định không ngừng tăng theo từng năm.

Bảng 2. 8. Số lượt khách đến Bình Định giai đoạn năm 2019 – 2022

Theo số liệu thống kê, năm 2019 Bình Định đón 1.690.000 lượt khách, đến năm 2022 số lượt khách là 3.200.000. Như vậy, bình quân hàng năm, số lượt khách tăng 23.78%.

Hình 2. 4. Lượt khách du lịch đến Bình Định giai đoạn năm 2019 – 2022

Đặc biệt, khách du lịch quốc tế tăng mạnh trong giai đoạn năm 2021 -2022, tăng 25%, đây cũng là dấu hiệu đáng mừng cho du lịch Bình Định. Tuy nhiên lượng khách quốc tế cũng chiếm tỉ trọng khá nhỏ so với lượng khách nội địa.

  • b) Doanh thu ngành du lịch Bình Định

Còn về doanh thu trong ngành du lịch của tỉnh Bình Định trong các năm qua cũng có nhiều tăng trưởng. Lượng khách nội địa đến Bình Định tăng cao trong những năm gần đây do Bình Định còn khá nhiều danh lam thắng cảnh mới được đưa vào khai thác du lịch nên đã thu hút được lượng khách đáng kể. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Bảng 2. 9. Doanh thu về du lịch của Bình Định giai đoạn năm 2020 – 2022

Như vậy, doanh thu cho dịch vụ ăn uống là chiếm tỉ trọng cao nhất (bình quân hơn 40%) so với tổng doanh thu về du lịch ở Bình Định. Riêng giai đoạn năm 2021 – 2022, doanh thu du lịch tăng 73.65% là mức tăng không hề nhỏ so với doanh thu các năm về trước. Tuy nhiên, nếu tính bình quân chi tiêu cho cho 1 khách thì con số này khá thấp, chưa đến 500.000 đồng/ du khách. Điều này chứng tỏ việc khai thác khách vẫn chưa được thực sự được thực hiện toàn diện. Việc doanh thu tăng là do số lượng du khách tăng chứ việc chi tiêu của du khách thì không tăng đáng kể.

Hình 2. 5. Doanh thu ngành du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2020 – 2022

  • c) Cơ sở lưu trú phục vụ du lịch Bình Định

Đối với cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ.. đủ điều kiện kinh doanh theo NĐ 92/CP của Chính phủ do ngành du lịch cấp quyết định công nhận loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch, hàng năm ngành du lịch đều tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành để hướng dẫn và xử lý các vi phạm.

Bảng 2. 10. Số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2019 – 2022

Do du lịch cũng là một trong những ngành mũi nhọn của tỉnh nên việc đầu tư cơ sở lưu trú phục vụ du lịch cũng được gia tăng đầu tư. Lượng cơ sở lưu trú tăng bình quân hằng năm hơn 7%; số lượng phòng trong giai đoạn 2019 – 2022 tăng 965 phòng.

Tuy nhiên, số cơ sở lưu trú tăng nhanh cung ứng phần nào lương khách du lich tăng cao tai Quy Nhơn song tinh chuyên nghiêp, có tay nghề trong hoat đ̣ông lich vu chưa tốt, thiếu nguồn nhân lưc có tay nghề, môt cố sơ sở lưu trú cũ chưa tuân theo quy định thống nhất.

Hình 2. 6. Số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2019 – 2022

Số lượng cơ sở lưu trú (từ 1 sao đến 4 sao) năm 2022 tăng 22.95% so với năm 2019. Riêng giai đoạn 2021 – 2022 có số lượng phòng tăng vượt trội là 849 phòng, tăng 26.9%.

  • d) Tổ chức khai thác khách tham gia thưởng thức hát bội, bài chòi

Về tổ chức khai thác khách tham gia thưởng thức hát bội, bài chòi thì hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê nào chính thức. Theo khảo sát nghiên cứu của tác giả, cơ cấu khách như sau:

Bảng 2. 11. Thống kê mô tả mẫu

Qua cuộc điều tra khách du lịch đến tham quan tại một số điểm di tích trên địa bàn Bình Định cho kết quả thể hiện ở bảng 2.12 và 2.13. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Bảng 2. 12. Đánh giá nhu cầu khách du lịch đối với bài chòi Bình Định

Với số phiếu phát ra 100 phiếu và số phiếu thu về 100 phiếu cho ta thấy khách du lịch có nhu cầu cao về thưởng thức bài chòi ở Bình Định.

Qua kết quả điều tra (Bảng 2.12) cho thấy du khách thích thưởng thức hát bài chòi (51% thích và 19% rất thích); Việc tham gia đánh bài chòi cũng được du khách chọn với tỉ lệ khá cao (47% thích và 34% rất thích); kết quả cũng cho thấy du khách thích được nghe hát bài chòi bằng giọng không phải địa phương có tỉ lệ cao hơn (60% thích và 20% rất thich) trong khi hát bài chòi bằng giọng địa phương có tỉ lệ chọn thấp hơn (40% thích và 29% rất thích); du khách cũng đánh giá rất cao bầu không khí hội đánh bài chòi (47% thích và 36% rất thích); về tiêu chí tuồng hiện đại thì tỉ lệ không thích là khá cao (52%), trong khi tỉ lệ không thích tuồng cổ thì lại thấp hơn đáng kể (35%), điều này chứng tỏ du khách vẫn thích thưởng thức các tuồng tích cổ hơn là hiện đại; ngoài ra các tiêu chí khác không được đánh giá cao như 41% cho là cảm giác chiến thắng khi đánh bài chòi là bình thường hoặc chỉ 27% là thích chỉ ngồi xem hội đánh bài chòi mà không tham gia.

Như vậy, cả 2 loại hình nghe hát bài chòi hay tham gia đánh bài chòi đều được du khách đánh giá cao, vì vậy, chúng ta cần phải đầu tư hơn nữa vào chất lượng của những buổi biểu diễn hát bài chòi cũng như tạo nhiều cơ hội cho du khách có cơ hội được tham gia vào đánh bài chòi hơn nữa nhằm thu hút khách đến với sản phẩm du lịch văn hóa này.

Bảng 2. 13. Đánh giá nhu cầu khách du lịch đối với hát bội Bình Định

Tổng kết từ kết quả điều tra (Bảng 2.13) như sau: với tiêu chí thích nghe hát tuồng có 45% thích và 1% là rất thích; về điệu bộ và cử chỉ khi xem tuồng có 36% thích và 26% rất thích; da số du khách thích nghe hát tuồng bằng giọng địa phương có 49% thích và 12% rất thích; du khách cũng thích nghe hát tuồng bằng giọng không phải địa phương nhưng thấp hơn có 36% chọn thích và 7% là rất thích; sau khi thưởng thức hát bội, du khách cũng rất thích mua quà lưu niệm là các mặt nạ tuồng, có 39% chọn thích và 10% chọn rất thích; tuồng tích cổ có tỉ lệ thích là 46% và 12% là rất thích, trong khi tuồng hiện đại có 28% thích và 1% là rất thích, điều này chứng tỏ du khách vẫn chuộng xem các tuồng tích cổ hơn là hiện đại; về tiêu chí xem hát tuồng tại nhà hát có 34% chọn là thích và 2% chọn là rất thích, trong khi có 24% chọn là thích ngồi xem tuồng tại khách sạn, nhà hàng, tuyến điểm,…và 12% rất thích.

Kết luận, việc tổ chức hát bội ở nhà hát hay ngoài nhà hát đều được chọn gần như nhau, điều này là gợi ý cho các nhà quản lý không nên chỉ tập trung tổ chức hát bội ở các nhà hát mà nên phát triển hơn nữa loại hình này phục vụ tại các khách sạn, nhà hàng, tuyến điểm. Ngoài ra tuồng tích cổ được hát bằng giọng địa phương được khách chọn khá cao, điều này chứng tỏ việc cố gắng bảo tồn và phục dựng lại các tuồng tích cổ của nhà nước hiện nay đang đi đúng hướng.

Bảng 2.14. Đánh giá nhu cầu tham gia các hoạt động khác của du khách khi đến Bình định

Trong 6 tiêu chí đưa ra để đánh giá thì tham quan các công trình kiến trúc văn hóa được du khách thích nhất với tỉ lệ là 40% thích và 13% rất thích; kế đến là tham quan các làng nghề có 38% thích và 2% rất thích; tỉ lệ tham quan các danh lam thắng cảnh là 36% thích và 2% rất thích; mua sắm sản vật địa phương và tham gia lễ hội có tỉ lệ chọn gần bằng nhay là 33% thích mua sản vật địa phương và 32% thích tham gia lễ hội; thấp nhất là thưởng thức các đặc sản địa phương có 25% thích.

Mặc dù Bình Định nổi tiếng là vùng đất có nhiều lễ hội và giàu sức hấp dẫn như vậy, nhất là các sản phẩm du lịch văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể như hát bội, bài chòi vẫn chưa thật sự được đầu tư để trở thành sản phẩm du lịch. Hát bội, bài chòi mới chỉ được đầu tư trên góc độ văn hóa mà chưa chú trọng đến yếu tố du lịch. Nói đến du lịch thì ngoài yếu tố tài nguyên du lịch là yếu tố ban đầu, cơ bản thì không thể không nói tới yêu cầu quan trọng của yếu tố dịch vụ.

Sản phẩm du lịch văn hóa hát bội, bài chòi chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ du lịch cho du khách. Vì thế, hát bội, bài chòi chỉ thu hút khách địa phương và vùng lân cận, một số khách Việt kiều, khách nước ngoài khá hạn chế. Hát bội, bài chòi chưa thật sự trở thành điểm đến thường xuyên của du khách trong mỗi chương trình du lịch đầu xuân hay nói cách khác là hầu hết khách du lịch chỉ đến Bình Định vì các mục đích khác, còn nếu có cơ hội thì có thể sẽ thưởng thức hát bội, bài chòi chứ không phải là mục đích chính khi đến với Bình Định.

Tóm lại, hiện nay việc tổ chức khai thác khách tham gia thưởng thức hát bội, bài chòi còn nhỏ lẻ, chưa đồng bộ. Việc phối hợp với các đơn vị kinh doanh du lịch để quảng bá cũng như đưa hát bội, bài chòi đến với du khách còn chưa thực sự được phối hợp tốt.

2.3.4. Đánh giá về tổ chức đào tạo Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Tổ chức đào tạo nhân lực khai thác du lịch

Nguồn nhân lực du lịch ở đây là bao gồm tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch từ cấp quản lý đến cả những người dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch. Tính đến tháng 6/2022, toàn tỉnh có 5.156 lao động trực tiếp, trong đó lao động trong các cơ sở kinh doanh lữ hành chiếm 7.8%; lao động trong cơ sở vận chuyển khách là 9.8%; lao động trong điểm kinh doanh vui chơi giải trí là 1.6%; còn lại đa số lao động trong các cơ sở lưu trú chiếm 80.8% (Sở VHTT&DL).

Số lượng và trình độ nguồn nhân lực Bình Định qua các năm thể hiện như sau:

Bảng 2.15. Thống kê số lượng và trình độ nguồn nhân lực du lịch Bình Định giai đoạn 2019 – 2022

Tổng số nguồn nhân lực trong ngành du lịch tăng cao vào 2 giai đoạn 2020 – 2021 (18.5%) và giai đoạn 2021 – 2022 (7.5%). Tuy nhiên việc gia tăng lượng du khách hàng năm đến với Bình Định thì số lượng gia tăng này vẫn không đáng kể.

Hình 2.7. Số lượng và trình độ nguồn nhân lực du lịch Bình Định giai đoạn 2019 – 2022

Kết quả từ hình 2.7 cho thấy chất lượng nguồn nhân lực thật sự có cải thiện trong giai đoạn 2021 – 2022: Nhân lực có trình độ đại học và trên đại học tăng 8%; nhân lực có trình độ cao đẳng, trung cấp tăng 25%; đặc biệt nhân lực chưa qua đào tạo có chiều hướng giảm đáng kể (giảm 17%).

Tuy nhiên, số lượng nhân lực chưa qua đào tạo hay chỉ đạt trình độ cao đẳng, trung cấp là chiếm đa số, chính vì nguồn nhân lực du lịch của Bình Đinh còn yếu kém, hạn chế cho nên vấn đề đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch nói chung và nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch Bình Định nói riêng phải được ưu tiên hàng đầu. Vì chính con người tạo ra dịch vụ và quyết định chất lượng dịch vụ du lịch.

Qua khảo sát thực địa và phỏng vấn tại địa phương cho thấy tại hệ thống các di tích, điểm tham quan của Bình Định, lực lượng thuyết minh viên chưa đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, ngoại ngữ. Trong các chương trình có tham gia hát bội, bài chòi, hướng dẫn viên cũng chưa giới thiệu được nội dung, làn điệu, ý nghĩa các câu hò, bài ve, trang phục, lề lối hát… cho khách du lịch. Có lẽ vì vậy, mà khách du lịch thông thường chỉ cần thưởng thức hát bội, bài chòi trong thời gian dài lắm là khoảng một đến hai tiếng. Đối với khách quốc tế, một buổi biểu diễn hát bội, bài chòi thường chỉ trong vòng 45 phút.

Tóm lại, để di sản văn hóa hát bội, bài chòi đến được với khách du lịch thì không thể không nói tới vai trò của hướng dẫn viên du lịch. Hát bội, bài chòi là tài nguyên du lịch phi vật thể, cho nên đối với người nghe sẽ không dễ cảm nhận được, đặc biệt là đối với người nước ngoài. Do vậy, hướng dẫn viên, thuyết minh viên cần không những có kiến thức về văn hóa mà phải có trình độ ngoại ngữ tối thiểu để diễn tả, truyền đạt cái hay, cái đẹp của hát bội, bài chòi đến với khách du lịch. Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch, trong đó có lực lượng hướng dẫn viên của Bình Định còn nhiều hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho sản phẩm du lịch Bình Định thiếu sức hấp dẫn. Khách du lịch chưa thiết tha nhiều với điểm đến Bình Định.

Tổ chức đào tạo nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn hát bội, bài chòi 

Hiện nay, việc đào tạo các tài năng hát bội, bài chòi được thực hiện theo hai cách: thứ nhất là được đào tạo bài bản trong trường trung học Văn hóa nghệ thuật và du lịch; thứ hai là được các nghệ nhân truyền dạy. Hai hướng đào tạo trên đang được triển khai rộng khắp ở Bình Định. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Bảng 2. 16. Đánh giá của các chuyên gia về công tác đào tạo

Khi được về về việc tổ chức đào tạo các nghệ sĩ, nghệ nhân biểu diễn hát bội, bài chòi thì các chuyên gia đều cho rằng công tác này hiện nay chỉ ở mức độ trung bình, chưa thật sự tốt. Do thứ nhất là về chất lượng thì chưa được bài bản, còn số lượng hàng năm thì cũng quá ít (12 học viên và tổ chức tập huấn được cho 20 học viên). Con số này thật sự quá khiêm tốn so với các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.

Tổ chức đào tạo nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn bài chòi

Đến nay, số lượng nghệ nhân, diễn viên bài chòi dân gian trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 300 người; 28 câu lạc bộ bài chòi dân gian với 176 nghệ nhân, người nắm giữ di sản đã tham gia sinh hoạt ở tại các câu lạc bộ; trong đó số lượng nghệ nhân thực hành hô thai: 80 người. Số lượng nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy: 50 người. Ngoài ra, các nguồn lực khác tham gia như nhạc công, nghệ nhân dân ca cổ.

Bảng 2. 17. Nhân lực CLB bài chòi ở Bình Định

Trong 5 năm, giai đoạn 2017-2021, Đoàn Ca kịch Bài chòi đã xây dựng, phục hồi và nâng cao 10 vở diễn cùng với số buổi biểu diễn tăng từ 51 buổi năm 2017 lên 80 buổi năm 2021; công tác đào tạo, tập huấn, tổ chức truyền dạy trong cộng đồng và cho các nghệ sĩ trẻ dần được chú trọng, năm 2021 Trường Văn hoá Nghệ thuật đã tuyển sinh 01 lớp trung cấp dân ca – bài chòi với số lượng 22 học viên; Cục Nghệ thuật biểu diễn tổ chức tập huấn diễn viên nghệ thuật Ca kịch Bài chòi thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa năm 2020; Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức các lớp tập huấn, truyền dạy cho các hạt nhân phong trào.

So với tuồng không chuyên, “tương lai” của bài chòi dân gian có phần sáng sủa hơn. Lớp nghệ nhân cũ hiện còn rất ít nhưng số mới được đào tạo, bổ sung lai ̣ rất nhiều, hơn nữa, về mặt khách quan, loại hình này dễ phổ biến, dễ thực hành hơn, do vậy cơ hội di sản được kế tục, phát huy lớn hơn.

Tuy nhiên, trước sự lấn át của nhiều loại hình nghệ thuật mới, năng động, trẻ trung du nhập từ nước ngoài vào, cùng với thị hiếu thẩm mỹ không định chuẩn của công chúng Việt Nam đã tác động không nhỏ đến nhận thức và nhu cầu hoạt động nghệ thuật của lớp tài năng trẻ. Nhiều diễn viên trẻ, có tài năng thật sự, được đầu tư đào tạo đã không theo nghề, bỏ nghề, hoặc chuyển sang lĩnh vực nghệ thuật khác để nhanh chóng kiếm lợi. Đây chính là thực trạng rất đáng quan ngại cho việc đào tạo chính quy hiện nay về nghệ thuật bài chòi ở Bình Định nói riêng và các loại hình nghệ thuật dân gian nói chung.

Tổ chức đào tạo nghệ nhân, nghệ sĩ hát bội

So với bài chòi thì hát bội có phần yên ắng hơn. Do một số yêu cầu trong cơ sở vật chất kĩ thuật khi biểu diễn nên khó được triễn khai rộng khắp như bài chòi. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Hiện tại Bình Định có 1 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp là Nhà hát tuồng Đào Tấn và 10 đoàn nghệ thuật không chuyên. Về tổng số nghệ nhân, nghệ sĩ thực hành là 500 người, nghệ sĩ ưu tú là 5 người.

Bảng 2. 18. Nhân lực hát tuồng Bình Định

  • Về công tác đào tạo:giai đoạn năm 2019 – 2021, trường VHNT Bình Định đã đào tạo dược 12 học viên và tổ chức tập huấn được cho 20 học viên.
  • Về tổng số vở diễn: giai đoạn 2017 – 2021, đã xây dựng, phục hồi, nâng cao được 10 vở diễn.
  • Về các buổi biểu diễn thì tăng từ 50 vào năm 2017 buổi lên 80 buổi năm 2021.
  • Cơ sở vật chất: 1 nhà hát được xây dựng từ 1979, với qui mô 200 chỗ được dùng cho tập luyện và tổ chức biểu diễn.

Ở mảng tuồng không chuyên, hiện Bình Định còn 10 Đoàn tuồng không chuyên đang hoạt động, trong đó có 5 diễn viên đã được công nhận nghệ nhân ưu tú, số nghệ nhân có khả năng truyền dạy lên đến 200 người.

Bảng 2. 19. Nhân lực Tuồng không chuyên ở Bình Định

Việc thiếu thốn về cơ sở đào tạo cũng như cơ sở vật chất để tập luyện cũng làm chất lượng hát bội không chuyện dần bị mai một. Đa phần các nghệ nhân, nghệ sĩ ở các đoàn không chuyên vì yêu nghề nên vẫn cố duy trì, bên cạnh việc không được nguồn trợ cấp hàng tháng, phải vất vã mưu sinh nên thời gian dành cho trao dồi là hạn chế. Thêm nữa tuổi tác của các nghệ nhân, nghệ sĩ cũng là điều đáng quan tâm, trong khi giới trẻ lại không mấy mặn mà với loại hình nghệ thuật dân gian này nên thế hệ kế thừa gần như không có.

Hộp 1.1: Ý kiến về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho hát bội

1. Để được hát tuồng, qua đó góp phần giữ gìn tổ nghiệp cha ông, chúng tôi chấp nhận vất vả. Điều chúng tôi tha thiết lúc này là làm sao để có lớp trẻ chịu hoc tuồng, để nối dài đời sống của những đoàn TKC trong tỉnh. Tìm người, dạy miễn phí, đoàn nào cũng làm hết rồi, song chẳng được mấy người, chẳng duy trì bao lâu. Có lẽ phải có chính sách khuyến khích, ưu đãi gì đó đi kèm thi ̀ may ra. Mà điều này th i ̀ nằm ngoài khả năng của các đoàn…” (Trích ý kiên Trưởng đoàn Hoàng Minh, Đoàn tuồng không chuyên Phước An (Tuy Phước)

2. Về hướng bố trí kinh phí đào tạo, tinh thần là sẽ giao trực tiếp cho các CLB bài chòi, đoàn hát bội để sử dụng hiệu quả, có sự tham gia, giám sát của cộng đồng dân cư – chủ thể văn hóa. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo Đề án đảm nhiệm việc kiểm tra, đánh giá về hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy….” (Trích ý kiến Phó  giám đốc Sở VH&TT Trương Đông Hải – quản lý mảng văn hoá của Sở VH- TT&DL Bình Đinh)̣ Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Tóm lại, công tác đào tạo nguồn lực biểu diễn hát bội, bài chòi hiện nay vẫn còn rất nhỏ lẻ và chưa thật sự hiệu quả: (1) Các cơ sở đào tạo bài bản thì còn rất hạn chế: một là trường Văn hóa nghệ thuật Bình Định, hai là Trường Đại học Qui Nhơn nên số lượng nhân lực được đào tạo bài bản hàng năm đếm trên đầu ngón tay (2) Cơ sở vật chất phục vụ luyện tập và biểu diễn còn quá ít: 01 nhà hát tuồng chuyên nghiệp tuy nhiên khá cũ kĩ (xây dựng năm 1979) với sức chứa 200 chỗ (3) Tính chuyên nghiệp không cao, đa số là các đoàn không chuyên nên chất lượng biểu diễn sẽ không đồng đều (4) Chưa có chế độ đãi ngộ cụ thể cho các nghệ nhân, nghệ sĩ có nhiều năm cống hiến cho nghệ thuật tỉnh nhà.

2.3.5. Đánh giá về đầu tư

2.3.5.1. Đầu tư cho du lịch

Trong 6 tháng đầu năm 2023, tỉnh Bình Định đã thu hút được 45 dự án có vốn đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký hơn 11.860 tỷ đồng, trong đó, chấp thuận chủ trương đầu tư 21 dự án với vốn đăng ký hơn 4.160 tỷ đồng, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 24 dự án có vốn đăng ký gần 7.700 tỷ đồng. Các dự án đầu tư tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực dịch vụ, du lịch, thương mại; tiếp đến là công nghiệp, xây dựng và nông lâm ngư nghiệp. Thành phố Quy Nhơn là địa bàn dẫn đầu về hiệu quả thu hút đầu tư với 28 dự án, tiếp theo là thị xã An Nhơn có 8 dự án, huyện Tuy Phước 4 dự án…Một số dự án tiêu biểu được chấp thuận đầu tư tại tỉnh như: Khu du lịch sinh thái Đầm Thị Nại với tổng vốn đầu tư hơn 4.000 tỷ đồng; khu đô thị-thương mại-dịch vụ đông bắc cầu Tân An với tổng vốn đầu tư gần 1.400 tỷ đồng; khu du lịch núi Bà Hỏa với tổng vốn đầu tư 200 tỷ đồng.Về đầu tư nước ngoài, 6 tháng đầu năm, Bình Định đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 6 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 92 triệu USD. Đến nay, toàn tỉnh có 73 dự án FDI với tổng vốn đăng ký gần 827 triệu USD, từ các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore…(UBND tỉnh Bình Định, 2021).

Tuy nhiên, các dự án đầu tư cũng đang chỉ mới bắt đầu, đa phần các nguồn đầu tư đều đổ vào các dự án lớn nên cần có nhiều thời gian để triễn khai. Trước mắt vẫn còn có nhiều khó khăn trong việc triễn khai các dự án như đền bù đất cho các khu qui hoạch, nhân lực để thực hiện dự án,…chính vì vậy mà vẫn còn rất nhiều dự án vẫn còn dậm chân tại chỗ.

2.3.5.2. Đầu tư cho hát bội, bài chòi Bình Định

Từ khi nghệ thuật Bài Chòi, Hát bội Bình Định được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2020 tỉnh đã có những dự án đầu tư cho hát bội, bài chòi đến năm 2025 như sau:

Bảng 2. 20. Kinh phí cho hát bội, bài chòi chuyên nghiệp

Tuy nhiên, các kinh phí này chỉ đủ để tra lương cho nhân viên, các nghệ nhân, nghệ sĩ của 2 đoàn chuyên nghiệp. Còn việc đầu tư hỗ trợ cho các đoàn không chuyên gần như là không có.

Bảng 2. 21. Kinh phí thực hiện đề án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di sản phi vật thể hát bội, bài chòi tỉnh Bình định đến năm 2025

Việc đầu tư cho các dự án bảo tồn phục hồi cũng như qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất đều được tính toán cho đồng bộ. Phân bổ các giai đoạn cũng như tổng mức đầu tư cho các dự án là khá hợp lý.

Tuy có chủ trương chính sách đầu tư cho hát bội bài chòi Bình Định nhưng hiện tại thì các dự án vẫn còn đang trong giai đoạn bắt đầu triễn khai nên vẫn chưa có kết quả cụ thể nào được ghi nhận.

2.3.6. Marketing Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Ngay sau khi hát bội, bài chòi được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2020, đã có nhiều hoạt động truyền thông, quảng bá cho hát bội, bài chòi đến với công chúng trong và ngoài nước.

Theo thống kê của Sở TT&TT, từ năm 2014 đến nay, Bình Định đón từ 150200 phóng viên các cơ quan báo chí trong nước và quốc tế tham dự và đưa tin về các lễ hội văn hóa dân tộc ở Bình Định, trong đó đông đảo và có sức lôi cuốn hấp dẫn nhất là Festival Tây Sơn – Bình Định (2014); Liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam cứ 2 năm tổ chức một lần (đến nay đã tổ chức đến lần thứ 4), lễ hội chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa vào mồng Năm tháng giêng âm lịch…; Thông qua các hoạt động lễ hội, tổ chức sự kiện là dịp báo chí quảng bá di sản văn hóa Bình Định; Các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống như Tuồng, Dân ca – Bài chòi, võ cổ truyền của Bình Định liên tục xuất hiện trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức khác nhau từ phim ảnh đến báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử …(Sở TT&TT)

Tuy nhiên, quá trình chuyển tải dung lượng thông tin này đã nảy sinh một số yêu cầu phải có sự nhìn nhận lại để đánh giá cho đúng về tình hình thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền trên lĩnh vực bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc của tỉnh Bình Định, cụ thể như sau:

Tuy các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh đã chú trọng xây dựng các chuyên trang, chuyên mục… dành cho lĩnh vực văn hóa song số lượng, chất lượng tin, bài phần nhiều chỉ tập trung vào các dịp lễ, tết hoặc khi có sự kiện, do đó làm cho thông tin rời rạc, không sâu, chưa thường xuyên.

Các báo chưa có nhiều các bài viết chuyên sâu, kịp thời phản ánh các góc cạnh khác nhau trên lĩnh vực bảo tồn văn hóa dân tộc. Chưa thường xuyên đưa tin, bài về di sản Bình Định như hát bội, bài chòi, võ cổ truyền, nhạc võ Tây Sơn và các danh nhân văn hóa Bình Định. Nhà báo Bình Định chưa vươn xa tới các trung tâm văn hóa lớn của đất nước.

Theo số liệu điều tra của tác giả với 100 du khách khi đến Bình Định thì đa phần khách biết đến hát bội, bài chòi là do bạn bè và người thân giới thiệu (36%), trong khi thông qua báo chí (2%) và truyền hình (8%) là rất thấp.

Hình 2. 8. Kênh thông tin đến với du khách

Đây cũng là dấu hiệu báo động cho công tác truyền thông quảng bá của tỉnh Bình Định đối với các sản phẩm du lịch văn hóa nói chung và hát bội, bài chòi nói riêng.

Về phối hợp với các doanh nghiệp du lịch: kinh doanh lưu trú, ăn uống, các công ty lữ hành vẫn còn rất nhiều bất cập, chưa thực sự đồng bộ. Theo số liệu điều tra của tác giả với 5 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch (3 đơn vị kinh doanh lữ hành và 2 đơn vị kinh doanh lưu trú và ăn uống) kết quả chỉ có 2 đơn vị lữ hành là “có” đưa hát bội, bài chòi vào trong chương trình tour, còn 3 doanh nghiệp còn lại thì trả lời là “không”. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Cũng theo số liệu điều tra của tác giả với 10 hướng dẫn viên thì kết quả cho thấy: chỉ có 01 HDV có thể thuyết trình, giới thiệu bằng tiếng Anh cho khách về hát bội/ bài chòi; chỉ có 3 HDV là chủ động giới thiệu cho khách về hát bội/ bài chòi; có 8 HDV đồng ý tổ chức cho khách khi khách có yêu cầu tham gia hát bội/ bài chòi.

Hình 2. 9. Công tác truyền thông từ hướng dẫn viên

Nâng cao chất lượng hoạt động thuyết minh hướng dẫn tại các điểm tham quan di sản văn hoá bằng cách tăng cường đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và các thuyết minh viên tại các địa điểm khách du lịch lui tới để đạt yêu cầu cao về trình độ, ngoại ngữ, cách giao tiếp ứng xử với khách là điều mà các lãnh đạo ngành du lịch tỉnh Bình Định nói chung, quản lý các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nói riêng cần phải đặc biệt quan tâm.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi ở Bình Định

2.4.1. Những thành công trong viêc khai thác di sản văn hoá phi vât thể hát bôi, bài chòi ở Binh Đ̀inh          

Phải nói rằng hát bội, bài chòi là một loại hình du lịch văn hóa không phải là mới nhưng cũng chưa thật phổ biến đối với du lịch nước ta. Tuy nhiên trong những năm qua, Bình Định nghê ̣thuât hát bôi, bài chòi đã mang đến cho du lich môt sản phẩm văn hoá du lich đôc đáo, góp phần bảo tồn phát huy di sản, đồng thời tăng thu nhâp cho nghê ̣si ̃trong các đoàn hát bôi, bài chòi.

Để có đươc kết quả đó là nhờ những nguyên nhân sau đây:

Trước hết, đó là Công tác bảo tồn di sản văn hóa hát bội, bài chòi đã đem lại những kết quả quan trọng. Nhờ có nỗ lực bảo tồn từ các cấp chính quyền Trung ương, địa phương và từ phía người dân – chủ nhân của di sản, mà hát bội, bài chòi đã được khôi phục, giữ gìn. Nhờ vậy mà hoạt động du lịch dựa vào việc khai thác giá trị di sản văn hóa hát bội, bài chòi mới có thể phát triển.

Thứ hai, Công tác đầu tư phát triển loại hình hát bội bài chòi cũng được cơ quan Quản lý nhà nước quan tâm, chú trọng. Một số dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi đã được đề xuất. Bên cạnh việc đầu tư từ phía cơ quan Quản lý nhà nước, một số doanh nghiệp du lịch cũng mạnh dạn đưa hát bội, bài chòi vào chương trình tour giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước,đội diễn viên hát bội, bài chòi phục vụ khách bất kể khi nào có yêu cầu…

Thứ ba, Sản phẩm du lịch văn hóa hát bội, bài chòi có sức lôi cuốn riêng cho nên lượng khách du lịch, nhất là khách du lịch nước ngoài tham gia những chương trình hát bội, bài chòi tại Bình Định gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Bước đầu, các nhà xây dựng sản phẩm du lịch đã biết kết hợp một cách hiệu quả việc khai thác hát bội, bài chòi trong hoạt động du lịch có gắn kết với tham quan các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội của Bình Định để tạo nên những chương trình du lịch khép kín khá hấp dẫn. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Thứ tư, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ngày càng được tăng cường. Nhất là cơ sở lưu trú du lịch có bước phát triển rõ rệt cả về số lượng và chất lượng dịch vụ, ngày càng có nhiều nhà đầu tư tham gia xây dựng các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Riêng trong giai đoạn 2019 – 2022 đã có 28 cơ sở được xây dựng mới đưa tổng số cơ sở lưu trú cả tỉnh lên 150 cơ sở. Số lượng cơ sở lưu trú tăng nhanh cơ bản đáp ứng số lượng khách vào các mùa cao điểm du lịch.

Thứ năm, số lượng, chất lượng nguồn nhân lực du lịch tiếp tục được cải thiện. Tính đến 6/2022 toàn tỉnh có 5.156 lao động trực tiếp làm việc trong các cơ sở kinh doanh du lịch. Tỷ lệ lao động phổ thông trong ngành du lịch đã giảm xuống, từ tỷ lệ 60% – 70%năm 2019 nay đã xuống 35.5%.

Thứ sáu, công tác tuyên tuyền, quảng bá du lịch có bước tiến bộ. Sau khi sát nhập thành sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch công tác tuyên truyền quảng bá du lịch có được sự đa dạng và rộng rãi khi kết hợp, lồng ghép với việc tổ chức các sự kiện văn hoá, thể thao có qui mô lớn trên địa bàn của tỉnh như các hội diễn văn nghệ dân gian chuyên và không chuyên được tổ chức ở Bình Định.

2.4.2. Những vấn đề còn han chế

Thứ nhất, chưa có một quy hoạch tổng thể phát triển hát bội, bài chòi và đưa ra các chiến lược phát triển du lịch xứng tầm, thể chế các chiến lược thành các kế hoạch đặc biệt về đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Cơ sở hạ tầng du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhất là cơ sở hạ tầng các khu du lịch và các điểm du lịch. Các dự án khu du lịch được coi là khâu đột phá cho du lịch, song tiến độ thực hiện dự án theo quy hoạch còn rất chậm. Công tác đầu tư, quy hoạch phát triển hát bội, bài chòi mới ở giai đoạn đầu. Tuy một số hoạt động đầu tư phát triển hát bội, bài chòi bắt đầu triển khai nhưng thực tế tiến độ rất chậm, vốn ít. Chưa có một kế hoạch tổng thể hay một chiến lược lâu dài cho phát triển du lịch, trong đó có khai thác, phát huy giá trị di sản hát bội, bài chòi. Vì thế, hoạt động du lịch khai thác hát bội, bài chòi hiện nay chỉ mới mang tính chất bột phát, nhất thời, khi khách có yêu cầu thì đáp ứng mà hầu như chưa được đầu tư một cách bài bản, hoặc đã có nhưng số lượng tại điểm đến còn quá ít.

Thứ hai, công tác xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa hát bội, bài chòi chưa chuyên nghiệp. Tuy một số sản phẩm hát bội, bài chòi đã bước đầu tạo được ấn tượng cho du khách nhưng nhìn chung sản phẩm còn hết sức nghèo nàn, đơn điệu; thiếu các dịch vụ du lịch đạt chuẩn phục vụ du khách. Sản phẩm du lịch nói chung mới mang tính chất “tự biên tự diễn”, thô sơ, thiếu tính sáng tạo. Bình Định chưa có được những sản phẩm du lịch đặc thù chất lượng cao, nên chưa tạo được điểm nhấn để thu hút và lưu giữ khách đến Bình Định. Sản phẩm phần lớn chỉ dựa vào giá trị sẵn có của các danh thắng, điểm di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội, làng nghề truyền thống. Các điểm quy hoạch du lịch mới chỉ đầu tư trùng tu, tôn tạo là chính còn hạn chế về cơ sở hạ tầng (Đường vào, cảnh quan, môi trường) và chất lượng phục vụ (hướng dẫn viên, hàng lưu niệm, phong cách đón tiếp, dịch vụ thông tin…). Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

Thứ ba, công tác tuyên truyền quảng bá cho hoạt động du lịch văn hóa hát bội, bài chòi vẫn còn bỏ trống. Cơ quan Quản lý nhà nước về du lịch và doanh nghiệp đều chưa chú trọng đến việc xúc tiến hình ảnh hát bội, bài chòi Bình Định. Điều này không chỉ thể hiện rõ trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh, chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp… mà có thể thấy trước mắt là trong các tập gấp, tờ rơi thiếu hẳn thông tin về hát bội, bài chòi, hoặc có chăng thì chỉ là nội dung giới thiệu chung chung, không đầy đủ. Thực tế số liệu điều tra của tác giả, 36% du khách biết đến hát bội, bài chòi là do giới thiệu từ người thân bạn bè chứ không phải từ báo đài. Ngoài ra, cộng đồng người dân cũng không được tập huấn kỹ năng làm du lịch, nhận thức về vai trò của hoạt động du lịch hát bội, bài chòi của người dân còn rất thấp. Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch tuy đã có chuyển biến, song chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Các sản phẩm quảng bá như tờ rơi, tờ gấp, đĩa VCD, DVD, sách… số lượng phát hành trong giai đoạn vừa qua mới chỉ đáp ứng việc cung cấp tới các điểm di tích, khách sạn, các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu trên địa bàn Bình Định, chưa quảng bá đến được các thị trường khách du lịch lớn trong và ngoài nước…

Thứ tư, là công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực hát bội, bài chòi còn hạn chế. Nguồn nhân lực chính là yếu tố then chốt của các ngành kinh tế, đặc biệt là ngành kinh tế dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, nhân lực của ngành du lịch Bình Định vừa thiếu vừa yếu. Hát bội, bài chòi thiếu những hướng dẫn viên, thuyết minh viên am hiểu về hát bội, bài chòi và có đủ trình độ ngoại ngữ để chuyển tải cho khách du lịch. Nhận thức của người dân về phát triển hát bội, bài chòi cần phải được tuyên truyền, nâng cao. Cán bộ của Ngành Du lịch phải được đào tạo, chuẩn hóa về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ.

Thứ năm, mặc dù các chỉ tiêu phát triển du lịch có nhịp độ tăng trưởng cao nhưng tỷ lệ đóng góp vào cơ cấu kinh tế chung của tỉnh còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng du lịch.

Thứ sáu, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn vừa ít về số lượng, yếu về năng lực chuyên môn và năng lực tài chính. Chất lượng dịch vụ du lịch chưa được đảm bảo và đặc biệt là đội ngũ lao động trong ngành du lịch thiếu tính chuyên nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa cao, có tới 75% lao động chưa qua đào tạo. Đặc biệt đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ; còn ít điểm di tích lịch sử – văn hóa có hướng dẫn viên hoặc thuyết minh viên chuyên nghiệp làm việc tại điểm.

Tóm tắt chương 2

Ở chương 2, tác giả đã trình bày thực trạng và đánh giá về khai thác di sản văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch ở tỉnh Bình Định. Đồng thời cũng phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác các sản phẩm văn hóa phi vật thể phục vụ phát triển du lịch. Chương 3 sẽ tiếp tuc trình bày các giải pháp trong việc khai thác di sản văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định. Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464