Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Theo thống kê của tổng cục Du lịch Việt Nam, trong năm 2021 ngành du lịch Việt Nam thu hút hơn 8 triệu lượt khách quốc tế và hơn 35 triệu lượt khách du lịch trong nước. Trong năm 2025, con số này có thể lên đến 11-12 triệu cho khách quốc tế và 45-48 triệu khách trong nước. Điều đó dẫn đến ước doanh thu du lịch đạt 18-19 tỷ USD (Tổng cục Du lịch, 2022). Việc phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn được các cấp chính quyền địa phương trong cả nước quan tâm, đặc biệt là các vùng trọng điểm có nhiều tài nguyên du lịch.
Bình Định là một tỉnh địa đầu của vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là miền đất giàu đẹp về thiên nhiên, phong phú về lịch sử văn hoá. Nơi đây hội tụ đầy đủ tài nguyên, tiềm năng du lịch cơ bản và những lợi thế so sánh với các tỉnh lân cận để có thể tổ chức hầu hết các loại hình du lịch với quy mô lớn và hình thành hạt nhân phát triển và đóng vai trò là động lực của khu vực.
Có lẽ hiếm có vùng quê nào như Bình Định khi cùng lúc sở hữu nhiều loại hình văn hóa truyền thống đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tại Bình Định, hát bội, võ cổ truyền đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Riêng bài chòi Bình Định, từ năm 2021 đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) lựa chọn đại diện cho Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên …được xây dựng hồ sơ điền giã để trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Bộ VHTT&DL, 2020).
Nhận thức rõ được những lợi thế này, Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ tỉnh Bình Định nhiệm kỳ (2016-2021) và (2022-2025) xác định:“Phát triển du lịch Bình Định thành ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của địa phương”(Sở VHTT&DL, 2021) và trong những năm qua Du lịch Bình Định đã đạt được những kết quả bước đầu. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch được tăng cường, nhiều khu, điểm du lịch, sản phẩm du lịch mới ra đời, hoạt động kinh doanh du lịch đã đạt được những thành tựu đáng kể, có những đóng góp nhất định trong sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Bên cạnh việc khai thác các sản phẩm du lịch thuần túy, việc khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể như: hát bội, võ cổ truyền, bài chòi,…cũng được các cấp chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm. Ngoài việc mang đến sự đa dạng trong sản phẩm du lịch cho du khách, việc giới thiệu nét văn hoá truyền thống đặc trưng quốc gia, vùng miền, địa phương cũng góp phần truyền bá văn hóa địa phương đến cho các du khách.
Đầu năm 2023, UBND tỉnh Bình định đã phê duyệt Quyết định số 4850/QĐUBND về Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát bội và Bài chòi trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2025 (UBND tỉnh Bình Định, 2023). Trong đó gồm 7 nhiệm vụ, giải pháp đặt ra là: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn những giá trị tiêu biểu của Hát bộ, Bài chòi; Truyền dạy nghệ thuật Hát bội, Bài chòi trong cộng đồng và trong trường học; Phục hồi, bảo tồn các vở tuồng cổ về Hát bội, xây dựng các trích đoạn tuồng, bảo tồn, phát huy hội đánh bài chòi dân gian, các vở Bài chòi dân gian; Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù liên quan đến bao tồn và phát huy giá trị di sản Hát bội, Bài chòi; Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu di sản Hát bội, Bài chòi; Đầu tư, quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất thiết chế khai thác sử dụng, phát huy giá trị di sản tuồng, bài chòi; Gắn kết Nghệ thuật Hát bội, Bài chòi với hoạt động du lịch nhằm phát huy hiệu quả giá trị di sản.
Tuy nhiên, việc khai thác chưa lột tả được hết giá trị của các sản phẩm du lịch văn hóa này. Các chương trình hỗ trợ duy trì và phát triển cũng như khai thác để phục vụ du lịch chưa đồng bộ, chưa khai thác hết tiềm năng của sản phẩm. Đặc biệt là cho đến thời điểm hiện nay còn rất ít nghiên cứu có liên quan đến đánh giá việc khai thác sản phẩm văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Định. Vì các lý do trên, tác giả chọn đề tài“Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch Bình Định” thông qua luận văn này tác giả mong muốn có những giải pháp cụ thể hơn, thực tế hơn để đưa nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định phục vụ du lịch hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh nhà.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Khai thác các di sản văn hóa phi vật thể hát bội và bài chòi vào phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bình Định.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định.
- Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tương nghiên cứụ
Luận văn tập trung đi vào giải pháp thực trạng khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội” và“Bài chòi” Bình Định phục vụ phát triển du lịch.
3.2 Đối tương khảo sáṭ
- Các lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch…và các du khách.
3/3 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian
- Phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn là các di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội” và “Bài chòi” trên địa bàn Tỉnh Bình Định
Về thời gian
- Số liệu thứ cấp lấy từ năm 2019 đến 2022.
- Số liệu sơ cấp được điều tra từ tháng 2 đến tháng 5/2023.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1 Nguồn số liệu sử dụng
Số liệu thứ cấp:Bao gồm các tài liệu, sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, niên giám thống kê… đã được công bố. Nguồn dữ liệu, số liệu của Tổng cuc ̣thống kê; Bộ VH – TT – DL; Hiệp hội Du lịch Việt Nam; UBND Tỉnh Bình Định; Sở VH – TT- DL Tỉnh Bình Định, các sở ban ngành liên quan và các nguồn khác…
Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp thu được thông qua việc tiến hành điều tra, phỏng vấn các lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch…và các du khách về những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu. Việc điều tra, phỏng vấn thông qua các phiếu điều tra khảo sát được thiết kế theo mẫu với nội dung là những tiêu chí đã được lựa chọn để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
- Phương pháp thống kê mô tả Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp tin cậy của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, UBND Tỉnh Bình Định; Sở VH-TT-DL Tỉnh Bình Định, các sở, ban, ngành, địa phương có liên quan, các doanh nghiệp chuyên về văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các số liệu chính thức được công bố của các tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Hiệp hội Du lịch Bình Định, …. Từ các nguồn số liệu trên, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê để đánh giá khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định.
- Phương pháp chuyên gia
Tiếp cận và làm việc với các chuyên gia, cán bộ quản lý văn hóa, du lịch, một số lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch để phỏng vấn, điều tra, có thêm dữ liệu nhằm bổ sung cho các nghiên cứu, cũng như phân tích chính xác hơn về thực trạng, đề xuất các giải pháp khoa học, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
- Phương pháp tham chiếu và suy diễn quy nạp
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học đã được công bố, những mô hình, cách làm hiệu quả trong khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch, tác giả áp dụng để suy diễn, hệ thống lại các nội dung từ lý luận cũng như thực tiễn khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch.
- Phương pháp so sánh
Thông qua các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối để so sánh cho thấy được sự thay đổi của hiện tượng nghiên cứu.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến việc đánh giá khai thác các sản phẩm phi vật thể nhằm định giá sản phẩm du lịch, đánh giá giá trị khai thác sản phẩm du lịch nhằm định hướng phát triển du lịch cũng như phát triển du lịch bền vững tại các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Nghiên cứu của Rodzi và các cộng sự (2019) về “Du lịch và di sản văn hoá phi vật thể” (Between Tourism and Intangible Cultural Heritage), việc khai thác di sản văn hóa Melaka có thể có mặt tiêu cực và tích cực. Mục tiêu của bài nghiên cứu là giới thiệu các nghiên cứu trước đây về du lịch trong mối quan hệ với di sản văn hoá phi vật thể và xem xét các quan điểm tích cực và tiêu cực về tầm quan trọng của du lịch và di sản văn hoá. Kết quả của bài nghiên cứu không chỉ định hướng khai thác về du lịch và di sản văn hoá phi vật thể ở Malacca mà còn phát triển một bản đồ văn hoá trong những nỗ lực ban đầu để bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Nghiên cứu “Tăng trưởng du lịch tài nguyên thiên nhiên của thành phố Lazarevac” của Malinic và công sự (2021). Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc bình ổn giá du lịch ở Lazarevac thông qua tiến hành khảo sát du khách các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của du khách như: Khía cạnh du lịch và khía cạnh quản lý. Đối với khía cạnh du lịch, các tác giả tiến hành đo lường các yếu tố như: sự hấp dẫn của thị trường, các yếu tố quan trọng khi thiết kế sản phẩm du lịch. Khía cạnh quản lý, các yếu tố được đo lường là: Tầm quan trọng của văn hóa, sự bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Du lịch, văn hoá và mối quan hệ lẫn nhau ngày càng trở nên quan trọng hơn khi lập kế hoạch phát triển bền vững. Để cải thiện đô thị du lịch Lazarevac và để sử dụng tốt hơn các nguồn lực du lịch điều cần thiết là phải đầu tư lớn hơn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cơ sở hạ tầng công cộng và du lịch; Các đơn vị lưu trú nhỏ và các dịch vụ phụ trợ.
Nghiên cứu “Lễ hội và hội chợ của người La Mã – Các yếu tố chính trong việc thúc đẩy di sản văn hoá phi vật thể” của Georgiana và cộng sự (2022). Hội chợ và lễ hội trong việc quảng bá sản phẩm văn hóa phi vật thể của Rumani ảnh hưởng lớn lao đối với nền kinh tế của đất nước. Nghiên cứu đã được tiến hành để hiểu được hành vi của khách du lịch ở Rumani liên quan đến việc tham dự và ý định của họ để đi du lịch tại một địa điểm chỉ để tham dự hội chợ hoặc các lễ hội. Bài nghiên cứu này dựa trên những phát hiện của cuộc điều tra định lượng được thực hiện vào năm 2022. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định xem người Rumani có quan tâm đến việc tham dự các hội chợ và lễ hội và liệu họ sẵn sàng đi du lịch cho mục đích này. Những phát hiện của nghiên cứu phản ánh rằng những người trả lời là có quan tâm đến việc tham dự các sự kiện chiếm phần lớn (84%), có nghĩa là người dân Rumani vẫn quan tâm đến việc tìm kiếm nhiều điều về truyền thống, giá trị văn hóa khi lựa chọn điểm đến du lịch của họ.
5.2. Nghiên cứu trong nước
Lê Thị Minh Huế (2015) với đề tài:“Khai thác di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh phục vụ phát triển du lịch”.Nghiên cứu đã hệ thống hóa những vấn đề của di sản văn hóa Quan họ, bao gồm: khái niệm, lịch sử hình thành phát triển, phân bố các làng Quan họ, hình thức tổ chức, diễn xướng, làn điệu, ca từ Quan họ, không gian Quan họ tồn tại, phát triển. Phân tích vai trò ý nghĩa của di sản văn hóa Quan họ với hoạt động du lịch, và đánh giá vai trò của di sản văn hóa Quan họ trong phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả nước nói chung. Nghiên cứu công tác tổ chức, quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch. Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác Quan họ trong hoạt động du lịch hiện nay của Bắc Ninh, từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập, hạn chế cần giải quyết. Đưa ra một số định hướng và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về tổ chức, quản lý; nguồn nhân lực; đầu tư cho khách du lịch Quan họ; thị trường khách du lịch; xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch; xúc tiến du lịch Quan họ. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Trần Thị Huyền (2018) với đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch”. Nghiên cứu trình bày những vấn đề cơ bản về ca trù, lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù, nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù. Nghiên cứu thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay ở Việt Nam. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù.
Phan Văn Ngoạn (2021), nghiên cứu “Khai thác nghệ thuật cải lương ở Đồng bằng sông Cửu Long phát triển du lịch”.Khi nói đến miền Nam là nói Đờn ca Tài tử – một thể loại âm nhạc kết hợp hòa quyện hai tính chất bác học và dân gian, hay sân khấu Cải lương năng động, luôn thích ứng với đời sống xã hội hiện đại. Cùng với các thành tố văn hóa khác, nghệ thuật dân tộc – truyền thống ở các vùng miền đã tạo thành diện mạo văn hóa Việt Nam, khẳng định được bản sắc dân tộc trong quá trình giữ nước và dựng nước. Nghiên cứu trình bày những vấn đề về Cải lương, lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật dân gian đậm chất Nam bộ, đồng thời cũng phân tích thực trạng khai thác để đưa ra các giải pháp nhằm khai thác nghệ thuật Cải lương phục vụ phát triển du lịch hiệu quả.
Nghiên cứu “Tiếp thị di sản văn hoá để thúc đẩy tăng trưởng du lịch ở các vùng ngoại vi của Việt Nam để phát triển kinh tế bền vững” của Nguyễn Quỳnh Hoa (2022). Để thu hút khách du lịch đến từ các thị trường quốc tế khác có thu nhập cao, nhu cầu của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cần phải hiểu được hành vi của khách hàng, ý định mua, thái độ và các yếu tố ảnh hưởng khác để nhà tiếp thị du lịch có thể làm nổi bật và tăng cường hình ảnh du lịch Việt Nam trong nhận thức của du khách quốc tế, đặc biệt là các di sản văn hóa vô giá của mình. Bên cạnh đó, người dân địa phương cũng nhận thấy những ưu điểm của việc du lịch, họ sẽ nhận thấy sự cần thiết phải duy trì các truyền thống, phong tục văn hoá và môi trường tự nhiên vì lợi ích lâu dài. Đây sẽ là nền tảng cho chính quyền địa phương lập kế hoạch chiến lược chung cho phát triển bền vững, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn và miền núi.
6. Điểm mới của đề tài
6.1. Về lý luận
- Luận văn góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về sản phẩm du lịch văn hóa, các di sản phi vật thể,…
6.2. Thực tiễn
- Đưa di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định phục vụ phát triển du lịch.
- Nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất để phát triển ngành du lịch, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Bình Định.
- Xây dựng chiến lược, lộ trình để đưa du lịch thành một ngành kinh tế quan trọng có đóng góp lớn cho cơ cấu phát triển kinh tế của Tỉnh Bình Định, đồng thời tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương và nâng cao phúc lợi xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 03 chương như sau:
Phần mở đầu Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiêm trong ṿà ngoài nước về khai thác di sản văn hoá phi vât tḥể dân ca, trò chơi dân gian phục vụ phát triển du lịch:
Trình bày các khái niệm có liên quan và các nghiên cứu có liên quan trên thế giới cũng như trong nước.
Chương 2: Thực trạng về đánh giá giá trị khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định: Trình bày khái quát về di sản văn hóa hát bội, bài chòi của Bình Định đồng thời những khóa khăn, thuận lợi trong việc khai thác sản phẩm du lịch văn hóa phục vụ du lịch tại Bình Định.
Chương 3: Các giải pháp khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định: Đánh giá chung tình hình khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi Bình Định và đưa ra các giải pháp cho việc khai thác nhằm phát triển du lịch Bình Định.
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ DÂN CA, TRÒ CHƠI DÂN GIAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể và du lịch dựa vào di sản
1.1.1. Di sản văn hoá
Prentice (1993) đã định nghĩa thuật ngữ “di sản” không chỉ là các cảnh quan, lịch sử tự nhiên, các tòa nhà, hiện vật, truyền thống văn hoá và những thứ tương tự theo nghĩa đen hay ẩn dụ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những sản phẩm này có thể được quảng bá là sản phẩm du lịch. Ông cũng gợi ý rằng, các di sản nên được phân biệt theo các loại di sản: di sản xây dựng, di sản tự nhiên và di sản văn hoá.
Định nghĩa về di sản văn hoá có ý nghĩa rộng và mối quan hệ giữa tự nhiên và con người (UNESCO, 2017) vì di sản văn hoá không chỉ có nghĩa là những vật hữu hình như các di tích cổ và các công trình kiến trúc (Di sản văn hóa hữu hình) mà còn vô hình như kỹ năng, kiến thức, khả năng của con người và nhóm người, cũng như cách thể hiện lối sống, tín ngưỡng, truyền thống,…gọi là “Di sản văn hoá phi vật thể”.
Theo luật của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 28/2001/QH10 về di sản văn hoá, tại chương 1, điều 1 có ghi rõ: “Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Quốc hội, 2001).
Như vậy, di sản văn hóa là khái niệm chung bao gồm các di sản hữu hình và cả các di sản vô hình hiện hữu trên một quốc gia, lãnh thổ hay trên toàn thế giới.
1.1.2. Di sản văn hoá phi vật thể Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Năm 2003, UNESCO đã chia di sản văn hóa phi vật thể thành 5 loại (UNESCO, 2003: (Điều 2.1)):
- Truyền thống miệng và các biểu thức bao gồm ngôn ngữ như một phương tiện di sản văn hoá phi vật thể.
- Nghệ thuật biểu diễn.
- Thực tiễn xã hội, nghi lễ và các sự kiện lễ hội.
- Kiến thức và thực tiễn liên quan đến tự nhiên và vũ trụ.
- Thủ công truyền thống.
Trong Chương Tổng quát, Điều 2 của Công ước UNESCO về Bảo vệ Di sản văn hoá phi vật thể năm 2003 cũng tuyên bố rằng “Di sản văn hoá phi vật thể” có nghĩa là thực hành, đại diện và biểu hiện kiến thức, kỹ năng, công cụ, tài liệu, phát minh và các lĩnh vực văn hoá Từ những vấn đề mà cộng đồng và trong một số trường hợp cá nhân chấp nhận chúng như là một phần của di sản văn hoá của họ.
Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hóa phi vật thể, coi nó chỉ là một bộ phận mang tính chức năng của di sản văn hóa vật thể mà không phải là một dạng di sản có tính độc lập tương đối. Vì thế, việc bảo vệ và phát huy giá trị chưa được quan tâm thỏa đáng, dẫn đến tình trạng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể bị biến dạng và thậm chí còn bị mai một, thất truyền. Chỉ sau cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 32, UNESCO đã thông qua Công ước bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta mới có cách tiếp cận tương đối toàn diện về loại hình di sản văn hóa này. Tuy nhiên, trong thực tế từng quốc gia vẫn có cách định nghĩa và phân loại riêng, phù hợp với điều kiện lịch sử và văn hóa của mình.
Theo Điều 4, Chương 1 Luật Di sản văn hóa được ban hành tại Việt Nam (2019) “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” (Quốc hội, 2019).
Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại; Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác.
1.1.3. Khái niệm du lịch dựa vào di sản
Du lịch di sản văn hóa có nghĩa là đi du lịch để giải trí và học hỏi kiến thức trong môi trường xung quanh bao gồm những thứ do con người tạo ra như là kết quả của cuộc sống xã hội hiện tại trong hệ sinh thái (Feilden và Jokilehto, 1993).
Hall và Zeppel (1990) đề xuất các định nghĩa cho du lịch văn hoá và du lịch di sản. Trước đây, du lịch văn hóa gắn liền với những điểm thu hút trực quan, nghệ thuật trình diễn và các lễ hội, trong khi gần đây thì di sản văn hóa lại liên quan đến các di tích lịch sử, tòa nhà và đài kỷ niệm. Du lịch di sản được gọi là du lịch trải nghiệm vì du khách thường muốn đắm mình trong môi trường lịch sử và trải nghiệm. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Du lịch di sản được mô tả là một hoạt động kinh tế liên quan đến việc sử dụng các tài sản di truyền và văn hoá xã hội để thu hút khách du lịch (Fyall và Garrod, 1998). Du khách hài lòng với các điểm đến di sản văn hoá có xu hướng mở rộng thời gian lưu lại và quay trở lại.
Fyall và Garrod (1998) tin rằng du lịch văn hoá là một loại hình hoạt động kinh tế, nhờ di sản văn hóa, nhằm kích thích nhu cầu du lịch. Tuy nhiên, Poria và các cộng sự (2001) tuyên bố rằng đó là một hiện tượng dựa trên động lực và nhận thức của du khách hơn là do các thuộc tính thu hút đó. Hơn nữa, Kowalczyk (2014, trang 13) cho rằng du lịch văn hoá là “tất cả các hành vi du lịch gắn liền với sự quan tâm thực sự của họ đến các di sản văn hoá (tượng đài, văn hoá dân gian, địa điểm các sự kiện quan trọng …) và sự tham gia của họ vào cuộc sống văn hoá đương đại được hiểu rộng rãi.
Trong nghiên cứu của Peterson (1994) về mối liên hệ giữa di sản và du lịch, đã cho thấy ba lý do chính để thăm các di tích lịch sử: Trải nghiệm thời gian và địa điểm khác nhau, học cách thưởng thức trải nghiệm về tâm trí, chia sẻ với người khác hoặc dạy cho trẻ biết lịch sử của di tích. Du lịch di sản cũng được miêu tả như là một phân khúc khách du lịch được đánh giá cao về nghệ thuật biểu diễn, triển lãm văn hoá và các điểm tham quan khác có liên quan.
Sở Tài nguyên Lịch sử Virginia (1998) đã thống kê một số lợi ích của Du lịch văn hoá / di sản cung cấp cho du khách và người dân, cũng như các chính phủ:
Một là, du lịch văn hóa / di sản bảo vệ các nguồn tài nguyên lịch sử, văn hoá và tài nguyên thiên nhiên trong các cộng đồng, thị xã và thành phố. Mọi người tham gia vào cộng đồng khi họ có thể liên quan đến di sản cá nhân, gia đình, cộng đồng, khu vực hoặc quốc gia. Sự liên kết này thúc đẩy cư dân bảo vệ tài nguyên đã chia sẻ của họ và thực hiện việc quản lý tốt.
Hai là, du lịch văn hoá / di sản giáo dục người dân và khách du lịch về lịch sử và truyền thống địa phương / khu vực. Thông qua nghiên cứu và phát triển các điểm di sản / văn hoá, người dân sẽ được thông tin tốt hơn về lịch sử và truyền thống địa phương / khu vực có thể được chia sẻ với khách du lịch.
Ba là, du lịch văn hoá / di sản xây dựng các cộng đồng gần gũi, mạnh hơn. Kiến thức về di sản cung cấp sự liên tục và bối cảnh cho các cộng đồng, nâng cao sự tôn trọng của người dân, tăng cường giá trị công dân, xây dựng niềm tự hào của cộng đồng, và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Bốn là, du lịch văn hóa / di sản thúc đẩy sức sống kinh tế và công dân của một cộng đồng hoặc khu vực. Lợi ích kinh tế bao gồm: việc tạo ra các công việc mới trong ngành du lịch, tại các điểm tham quan văn hoá và trong các cơ sở liên quan đến du lịch; Đa dạng hóa kinh tế trong ngành dịch vụ (nhà hàng, khách sạn / nhà nghỉ, giường ngủ, dịch vụ hướng dẫn viên du lịch), sản xuất (nghệ thuật và hàng thủ công, quà lưu niệm, ấn phẩm) và nông nghiệp (vườn đặc sản hoặc chợ nông dân); Khuyến khích sở hữu địa phương của các doanh nghiệp nhỏ; giá trị tài sản cao hơn; tăng doanh số bán lẻ; Và thu nhập thuế đáng kể.
1.2. Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
1.2.1. Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”
1.2.1.1. Lịch sử hình thành
Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ, bộ môn nghệ thuật cổ điển và bác học bậc nhất Việt Nam. Là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền, được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam. Ðến cuối thế kỷ 18, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh về mọi mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn. Trong thế kỷ 19, Tuồng đã có một giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật này.
Theo quyển “Sự tích và nghệ thuật hát bộ” của Đoàn Nông (1943), tác giả cho rằng hát bộ phát triển từ thời kỳ thôn ổ đến thời kỳ vương cung.
Còn theo ông Diệp Văn Ký thì một số người Bình Định qua Tàu học hát bộ về lập gánh hát tại tỉnh nhà vì thế cho nên khắp Trung Kỳ các con hát đều hát theo giọng Bình Định.
Trong quyển “Nghệ thuật Tuồng Bắc” tác giả Hoàng Chương khẳng định: “Tuồng là của Việt Nam, bắt nguồn từ những trò diễn xướng dân gian trên miền Bắc rồi lan dần vào Nam tiếp thu nhiều yếu tố nghệ thuật khác mới hình thành rõ nét là hát bội (có nơi gọi là hát bộ) và hát bội phổ biến rất mạnh ở Bình Định (quê hương hậu tổ Đào Tấn) và khắp miền Trung, sau lan dần vào Nam Bộ. Và cũng từ miền Nam quay trở lại miền Bắc thành bộ môn tuồng mang phong cách Bắc”. (Nghê ̣thuât tuồng Bắc, NXB Sân khấu, 2000)
Tuồng ra đời thế kỷ XVIII, năm 1792 tại Huế (theo tư liêu ảnh Baraw đăng lại trên Tạp chi Sử địa Sài Gòn, số 9-10 năm 1968. Ông Lê Văn Chiêu minh họa ảnh cảnh diễn Tuồng tại Huế, trong cuốn Nghệ thuật sân khấu Hát bội NXB Trẻ 2013). Tuy nhiên, trước phát hiện của Baraw nhiều nơi đã diễn Tuồng, nhưng bằng chứng mới xác định hình ảnh ghi nhận sớm nhất tại Huế. Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801, phát triển vào Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu XX, xuất hiện một số tác giả soạn Tuồng, ban hát mạnh. Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807, tại Nghệ An. Hiện còn kịch bản Tuồng của Trần Cao Khải, Phan Bội Châu, một số cá nhân giữ tư liệu Tuồng Bắc. Đầu thế kỷ XX, Tuồng phát triển ra Bắc, xuất hiện một số ban hát diễn ở làng quê Bắc Bộ: Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An…Sách cổ ghi Tuồng xuất hiện đầu tiên ở xứ Bắc diễn các vở: Vương mẫu hiếu bàn đào, Mười hai vị thần thánh, Sơn hậu, Giác Oan… Qua nhiều nguồn tư liệu sát thực, chứng minh: Tuồng hình thành từ một trò diễn xướng dân gian tiến lên sân khấu, ra đời cuối thế kỷ XVIII, với các mốc thời gian như sau: Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
- Tuồng ra đời đầu tiên 1792 tại Huế.
- Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801.
- Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807.
- Tuồng Bình Định năm 1867, khởi nghiệp từ Đào Tấn.
Tuồng Chèo Xứ Bắc cùng trên cả nước, chỉ xuất hiện khi hoàn chỉnh nền thơ ca, văn học Việt Nam rực rỡ khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Đây là điều kiện tiên quyết đặt lời vào bài ca: làn, điệu Tuồng Chèo bằng nhiều thể thơ, văn (Tuấn Giang, 2019).
Chúng ta biết rằng trong cùng thời kỳ này tại vùng đồng bằng Bắc Bộ còn có Chèo và Múa Rối. Tuy nhiên, hai loại hình nghệ thuật kể trên chỉ tồn tại trong khu vực nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, không phổ biến trên quy mô toàn quốc như Tuồng. Ngày nay môn nghệ thuật này vẫn được coi là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch của Trung Quốc hay kịch Noh của Nhật Bản.
Bảng 1. 1. Các giai đoạn phát triển của “Hát bội”
1.2.1.2. Đặc trưng của “Hát bội”
Trong những ngày hội hè, tế, lễ, nhân dân thường tổ chức những trò diễn xướng dân gian, nội dung thoả mãn tình cảm, nguyên vọng của dân chúng. Mối quan hệ giữa sân khấu với người xem gần gũi, thân thiết, khán giả cùng giao lưu, tưởng tượng, khích lệ diễn viên sáng tạo làm cho buổi biểu diễn phong phú, hấp dẫn và hoàn chỉnh khung cảnh nghệ thuật.
Sân khấu “Hát bội” biến không thành có, biến cái hạn chế thành cái vô hạn. Cùng với người diễn viên, cảnh tượng sân khấu hiện dần lên, địa điểm, thời gian vở “Hát bội” được xác định. Bằng các phương tiện hát, múa và nhạc đệm, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên hát bội làm sáng tỏ ý nghĩa của câu chuyện, tạo ra sự khoái cảm về thẩm mỹ của trí tuệ.
Hát bội là nghệ thuật có tính tổng hợp cao, nó là sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn giữa văn học, âm nhạc, vũ đạo, hội họa và các trò diễn xướng dân gian. Mỗi một vở hay một tiết mục hát bội đều phải dựng trên một kịch bản văn học. Trong đó lời thoại và lời hát đều sử dụng các thể thơ. Những kịch bản của hát bội cung đình luôn khẳng định, ca ngợi sự tất thắng của chính nghĩa, của cái thiện và đạo lý của con người. Chất bi hùng đã tạo nên đặc trưng thẩm mỹ độc đáo nhất của vở. Mỗi vở hát bội, mỗi nhân vật trình diễn đều là những bài học, những tấm gương về đạo lý, đặc biệt là đạo trung quân ái quốc.Trong nghiên cứu của mình, tác giả Bùi Xuân Mỹ (2023) đã nêu các đặc trưng của “Hát bội” như sau:
Âm nhạc:Gồm hai bộ phận chủ đạo là khí nhạc và thanh nhạc. Khí nhạc về cơ bản gồm các nhạc cụ dân tộc như trống chầu, trống chiến, trống lệnh, thanh la, cồng, mõ và kèn. Thanh nhạc là phần hát, hát bội là sự kết hợp của: nói lối (hình thức nói cách điệu có tiết tấu, có giai điệu, thường được viết bằng chữ Nôm), nhịp phách và làn điệu. Sự kết hợp đa dạng khác nhau của các yếu tố này sẽ tạo ra những nhân vật khác với tính cách, tâm trạng và hoàn cảnh khác nhau.
Yếu tố hội họa: Hát bội cổ thể hiện rõ nhất trong mặt nạ và trang phục. Mỗi một nhân vật khi xuất hiện trên sân khấu đều được vẽ mặt nạ kỹ lưỡng thể hiện rõ đặc trưng của vai diễn, ví dụ tướng trung hậu có nền mặt đỏ, kẻ gian thần có nền mặt trắng, nền mặt xanh cho các vai quỷ quái hay các linh hồn, các nét vằn vện trên mặt cho các vai hung tợn bạo tàn… Vẽ mặt nạ trong hát bội có thể nói là một nghệ thuật hội họa độc đáo mang lại nhiều mỹ cảm cho người xem.
Diễn xuất:Hát bội mang đậm lối diễn xướng có tính cách điệu và biểu trưng của diễn xướng dân gian, nhưng tính cách điệu ở đây không tùy tiện mà có chuẩn mực. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Tính cách điệu, tính biểu trưng: Là đặc trưng quan trọng của hát bội. Tính cách và thần thái của nhân vật được lột tả và khắc họa bằng thủ pháp khoa trương, cách điệu, từ lối đi đứng, vũ đạo, lời ca, giai điệu và các động tác hình thể khác, đặc biệt hỗ trợ cho diễn xuất của nhân vật còn có mặt nạ. Mặt nạ là cách để diễn tả sâu sắc cái thần thái của nhân vật. Với tính cách điển hình, nhất quán từ khi bắt đầu cho đến cuối vở diễn, nhân vật luôn luôn được vẽ một mặt nạ mà chỉ cần nhìn nó người xem có hiểu biết đã dễ dàng nhận ra nhân vật ấy là tốt hay xấu, thiện hay ác.
Không gian và thời gian: Được tái hiện trên sân khấu bằng thủ pháp cách điệu một cách tài tình. Hát bội không quan tâm đến việc bài trí sân khấu để tạo ra không gian như các môn kịch nghệ khác. Không gian và thời gian kịch sẽ xuất hiện cùng nhân vật. Ví dụ nếu nhân vật diễn những động tác trèo đèo lội suối vất vả thì khán giả sẽ tưởng tượng sân khấu lúc ấy là rừng núi, suối đèo; ánh đèn sân khấu mờ đi, rồi sáng lên ba lần tức là anh ta đã trèo đèo, lội suối ba ngày đêm rồi. Thủ pháp tái hiện không gian và thời gian độc đáo này nó làm cho vở diễn có sự tham gia tích cực của người xem. Chính trí tưởng tượng của người xem đã hoàn thiện câu chuyện mà diễn viên đang kể trên sân khấu. Đặc trưng này đã tạo cho Tuồng có những khán giả say mê đến cuồng nhiệt, nếu họ xem và hiểu kỹ được vở diễn.
Sự dẫn dắt người xem: Vai trò dẫn dắt này được giao cho người cầm trống chầu. Đó là một quan chức hay một người am hiểu về hát bội. Người này còn đóng vai trò như một giám khảo của đêm diễn. Nếu diễn viên nào diễn hay, ông ta sẽ đánh lên mặt trống dể khen. Trống thúc dồn thì tức diễn rất hay, người xem theo đó vỗ tay nhiệt liệt; diễn dở ông ta đánh lên cạnh trống để chê. Nhờ có sự dẫn dắt của vị cầm chầu mà người xem được giáo dục cách cảm thụ vở diễn một cách gián tiếp, nhưng thường xuyên.
Hát bội có nhiều vở kinh điển như Sơn Hậu, Nữ tướng Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long cứu chúa, Nghêu Sò Ốc Hến… Một số hoạt cảnh nổi tiếng như Ông già cõng vợ chơi xuân, Hồ Nguyệt Cô hóa Cáo, Ngũ biến… đã từng là niềm say mê của nhiều thế hệ người Việt Nam.
1.2.2. Di sản văn hoá phi vật thể “Bài chòi” Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
1.2.2.1. Lịch sử hình thành
Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai. Cho đến nay, Bài Chòi vẫn tồn tại mạnh mẽ, sâu rộng trong làng xã khắp nơi trong tỉnh Bình Định.
Theo Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm 1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định đã nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 – 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp. Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi. Từ việc làm các chòi giữ hoa màu khỏi bị heo, nai, thú rừng ăn phá, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ, canh gác, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, “Hát ống” có từ đó, ông Đào Duy Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày Tết (Trần Hồng, 2003).
Nhà Âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới”(Trần Hồng, 2003); (“Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn”(1974)
Đánh Bài Chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở Miền Trung từ những năm đầu thập kỷ 20 cho đến sau những năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do còn tổ chức. Hát Bài Chòi, Nói Vè, Hô Lô Tô, Hát Dân ca được đưa vào các chương trình văn nghệ quần chúng để động viên, tuyên truyền các chính sách của Đảng rất đắc lực (Trần Hồng, 2003).
Trước năm 1945, hội chơi Bài chòi phát triển, nhất là ở vùng Nam Trung Bộ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nghệ thuật Bài chòi được sử dụng khá nhiều, tham gia tích cực vào việc động viên đồng bào, chiến sỹ, đả kích kẻ thù, ca ngợi những tấm gương đã góp phần vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc; trong thời gian này có người còn gọi là Bài chòi kháng chiến.
Sau ngày Hòa bình được lập lại, Đoàn Văn công Liên Khu Năm tập kết ra Bắc, đã được Trung ương Đảng, Bộ Văn hóa thành lập Đoàn Ca kịch Liên Khu Năm từ năm 1956 là thành viên đứng trong đại gia đình Sân khấu Việt Nam. Ở Miền Nam, với truyền thống lấy Văn nghệ Dân gian, các điệu Hò, Vè, Bài Chòi, Dân ca để sáng tác tiết mục Văn nghệ phục vụ nhân dân và bộ đội đánh Mỹ – Ngụy cũng rất có hiệu quả, được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ, Ban Tuyên huấn khu và các Tỉnh đã thành lập các Đoàn Văn Công giải phóng phục vụ ở chiến trường. Các Đoàn Văn Công giải phóng các Tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có Đoàn Kịch dân ca Bài Chòi hoạt động suốt mấy chục năm chống Mỹ – Ngụy và khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các ngành Văn hóa nghệ thuật, Các Đoàn văn công được phát huy và bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc có khoa học hiện đại và tiến bộ không ngừng…(Trần Hồng, 2003).
Giai đoạn từ sau năm 1975 đến 1990, nghệ thuật Bài chòi bị mai một và đứng trước nguy cơ bị lãng quên. Vào cuối năm 1990, nghệ thuật Bài chòi dần được phục hồi và đặc biệt từ năm 2016 trở lại đây, khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chủ trương phục hồi thì loại hình nghệ thuật này đã nhanh chóng được vực dậy, được đông đảo người dân 9 tỉnh, thành ở Trung Bộ tổ chức hội chơi Bài chòi vào các dịp lễ Tết, đầu năm mới. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
1.2.2.2. Đặc trưng của “Bài chòi”
“Bài chòi” là hình thức chơi bài nhưng không mang tính sát phạt, ăn thua như ở sòng bài, mà chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân. Người ta đến chơi “Bài chòi” cốt để nghe hô “Bài chòi”, thưởng thức giọng hô, hát, tài ứng đối và lối diễn trò của “Hiệu” (người hô, hát chính).
Khảo sát về tập quán người Việt xưa ở vùng Trung du, miền núi, hai ông P. Huard và M. Durand, các nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp đã mô tả: “Thôn dân ngủ đêm trên Chòi để canh heo rừng và thú dữ ra phá hoại hoa màu. Trên một chòi cao của mỗi rẫy, họ làm liên hoàn các rẫy và có nhiều chòi quanh nhau, khi có thú rừng về, các chòi đều đánh mõ, khua phèng la và xua đuổi vang động khắp vùng để hỗ trợ cho nhau. Những đêm thanh vắng họ nghĩ ra các trò chơi, hát ống để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này qua chòi kia. Từ đó họ sáng tạo ra Hô Bài Chòi, “Đánh Bài Chòi” được hình thành. Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành một nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng Văn nghệ dân gian Miền Trung”. (Trần Hồng, 2003).
G.L.Bôviơ, một học giả, người Ba Lan gốc Pháp từng có mặt trong nhóm nghiên cứu văn hóa Phương Đông của Bồ Đào Nha, Italia đến Việt Nam từ trước đại chiến thế giới lần thứ nhất. Năm 1902, Bôviơ hoàn thành tập sách: về Hát Bài Chòi– “Voici quelques pièces Hat Bai choi tireés du Phong trao Can Vuong”, 1902.Trong tập sách của mình ông đã miêu tả “Bài chòi” như sau:
Hát Bài chòi xuất hiện ở những tụ dân cư vùng rừng núi xa xôi. Tại những nơi này, từ việc xây cất nhà cửa đến việc làm ruộng, làm rẫy, săn thú… đều dựa theo kinh nghiệm lâu đời của người địa phương. Theo đó, nhà được dựng lên bằng hình thức “dã chiến”, có thể tháo – gỡ – lắp ráp dễ dàng mỗi khi cần chuyển vùng canh tác (du canh – du cư). Nhà càng gần rừng núi, gần dã thú càng cất thu hẹp lại và càng cao hơn ở phần chân trụ (dạng nhà sàn – ngày nay vẫn còn). Dựa vào phương tiện nhà ở và nhà chòi giữ rẫy sẵn có, người ta bày ra trò chơi. Giải trí là chủ yếu, nhưng để “sát phạt – hơn thua” nhau cũng thường xảy ra. Trò chơi này về sau người ta quen gọi là “đánh Bài chòi”.
Về sau, càng có nhiều ca dao, câu vè, câu thơ được lượm lặt, sưu tầm, rộng rãi hơn dành cho những dịp cạnh tranh tổ chức giữa các nhóm hò hát bài chòi với nhau. Trong sự cạnh tranh nghề nghiệp đó “hát bài chòi” có lúc đã trở thành “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội lúc bấy giờ. Họ làm được việc ấy dù ngẫu nhiên, song đối với các vị khoa bảng, những nhà yêu nước trong lớp người đi khai hoang – lập ấp… đã chú ý và triển khai để… đưa tác phẩm văn học đại chúng của mình vào “lợi thế” diễn đàn này. Cho tới giai đoạn hát bài chòi đã được rất nhiều người yêu chuộng, kể cả các nhân vật quý tộc, nó không còn đơn độc với giọng hò trước đó chỉ có phần đệm bằng “bộ gõ” đơn giản (đệm bằng cặp sanh – Sanh là 2 thanh gỗ chuốt tròn giống như 2 con găng cỡ lớn) mà còn có cả đàn nhị (đàn cò) và kèn lưỡi tre. Kèn này có lần người Pháp đã gọi đùa bằng tên một loại kèn xưa nhất của xứ Ả Rập (Cotarisiplet) (phát âm qua lưỡi gà, tương tự như chiếc Ascsê của Clarinét ngày nay). Phần nhạc đệm tất nhiên có trống tum (trống con) và xụp xòa làm nòng cốt.
Cũng trong tập sách của mình, G.L. Bôviơ có so sánh “Bài chòi” với dân ca Angêri. Ở đất nước nhỏ bé đó cũng có một thể loại dân ca xuất xứ từ một trò chơi kiểu như “đánh bài chòi” của Việt Nam. Nếu có khác, chỉ khác ở chỗ họ dùng những chiếc bàn con xếp vòng quanh một chiếc bàn lớn, thay vì ở Việt Nam dựng lên những chiếc chòi.Điểm giống nhất giữa hai trò chơi của hai nước này là đều dùng “hệ chu kỳ 12 con giáp” (cycle Décimal + Cycle Doudécimal) vào trong danh sách những con bài (Nguyễn Xuân Đà, 1998) Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Tại Hội thảo quốc tế “Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới” tại Quy Nhơn năm 2021, GS.TS Yves Defrance (Pháp) (2021) đã so sánh bài chòi với những loại hình nghệ thuật khác trên thế giới như sau: “Bài chòi có nhiều nét tương đồng với nghệ thuật truyền thống Âsiklik của những người hát thơ cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ, nghệ thuật truyền thống Pansori, nghệ thuật hát kể độc diễn của Hàn Quốc hay loại hình Kutiyattam (Ấn Độ)… Nhưng bài chòi là loại hình truyền thống có nguồn gốc từ một loại hình chơi bài giải trí”.
1.3. Vai trò của việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch
1.3.1. Vai trò về mặt kinh tế
Theo báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) (2023) do ngân hàng Châu Á- Thái Bình Dương (APB), dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,5% trong năm 2023 và 6,7% trong năm 2023, nhờ sự gia tăng hoạt động trong các lĩnh vực chế tạo, xây dựng, thương mại bán buôn và bán lẻ, ngân hàng và du lịch.
Năm 2022, ngành dịch vụ đạt thành tích tốt, tăng trưởng đến 7,0% so với mức 6,3% năm 2021. Thành tích này là nhờ số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng cao đến 26.0% trong năm 2022, làm cho các dịch vụ liên quan đến du lịch tăng trưởng 6,7%. Về triển vọng kinh tế mà báo cáo này đưa ra, tăng trưởng GDP được dự báo sẽ tăng lên 6,5% trong năm 2023 và 6,7% trong năm 2023. Với tăng trưởng mạnh trong ngành công nghiệp và dịch vụ dự kiến sẽ tiếp tục được duy trì, sản lượng nông nghiệp và khai khoáng tăng nhẹ cũng đóng góp thêm vào tăng trưởng kinh tế.
Đặc biệt, báo cáo chỉ rõ, tăng trưởng ngành dịch vụ vốn khá mạnh trong năm 2022 được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng này trong năm 2023 và 2023, lượng khách du lịch sẽ tiếp tục gia tăng nhờ có chiến dịch quảng bá du lịch điện tử mà Chính phủ Việt Nam mới triển khai gần đây.
Hoạt động du lịch góp phần khơi dậy các tiềm năng nghệ thuật hát bội, bài chòi vốn giàu có và phong phú đang còn tiềm ẩn chưa được sử dụng để nâng cao giá trị văn hoá địa phương đã được Nhà nước công nhận, cần phải quảng bá cho du khách trong và ngoài nước biết. Nhờ có du lịch, hằng năm trung bình từ 2 đến 3 triệu du khách quốc tế đến nước ta tham quan, họ được hiểu sâu hơn về đất nước, con người Việt Nam.
1.3.2. Vai trò về mặt xã hội Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Tạo môi trường giao tiếp cộng đồng lành mạnh: Không chỉ là một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian đơn thuần mà đánh “Bài chòi” còn là dịp các nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát hô, đối đáp. Và đặc biệt, đây còn là môi trường giao tiếp cộng đồng và là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, giải trí, tìm hiểu, trao duyên… Hội “Bài chòi” cổ thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở quảng trường phường xã,hoặc ở ngã ba đầu làng, sân đình.
Giáo dục về tính thẩm mỹ, lòng yêu quê hướng đất nước, hướng con người đến với chân – thịện – mỹ: Do cả những yếu tố chủ quan và khách quan mà “Hát bội” có những xu hướng thay đổi tương đối rõ rệt. Ở các vùng quê, kinh tế kém phát triển, các đình làng không có bề dày lịch sử, diễn xướng hát bội gần như bị quên lãng, chỉ còn lại những hình thức cơ bản như thắp nhang và dâng đồ thờ cúng. Ở các lễ hội lớn, thu hút khách thập phương, lễ xây chầu đại bội được đầu tư rất lớn, diễn xướng chuyên nghiệp, vừa là nghi lễ, vừa là một cách thức quảng bá đầy tự hào của con người về danh tiếng của địa phương (Tuấn giang, 2019). Việc gìn giữ và nâng dần tầm vóc nghệ thuật “Bài chòi” nhằm vào mục đích tối thượng là đưa đến cho người xem những giá trị thẩm mỹ, những món ăn tinh thần quen thuộc và sự chân thiện mỹ. Thông qua đó, cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân gian “Bài chòi” đậm chất trữ tình sâu lắng được trở về tính nguyên gốc, giữ cho được tính hồn nhiên, dân dã. Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người… thông qua những câu hô hát (còn gọi là câu Thai).
Nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân: Việc khai thác sản phẩm du lịch văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp. Đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm cũng không thể bị xem nhẹ. Lao động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đầu tư vào du lịch có xu hướng tạo ra việc làm nhiều hơn và nhanh hơn so với đầu tư vào các hoạt động kinh tế khác (NETO, 2003).
Để phát triển được tài nguyên du lịch ở những vùng, thường là xa xôi, hẻo lánh thì đòi hỏi phải đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đi kèm thiết yếu khác. Do vậy việc phát triển dẫn đến phân phối lại thu nhập và làm giảm bớt nghèo đói; đóng góp vào việc khôi phục các nghề thủ công, lễ hội và truyền thống; và cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi chung của xã hội (UN, 1999). Nói chung, du lịch được tin tưởng là sẽ làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển.
1.3.3. Vai trò về mặt văn hóa
Tính đại diện: “Hát bộ”, “Bài chòi” mang được tính đại diện cho văn hóa vùng miền đặc sắc của miền Trung mà không phải loại hình biểu diễn nào khác có được. Hội “Bài chòi” luôn được người dân miền Trung đưa vào hàng đầu danh sách những trò chơi lễ hội Xuân tại các tỉnh Nam Trung Bộ. Mỗi khi có hội chơi bài chòi là người dân trong vùng lại nô nức kéo nhau đến tham gia. Và hô bài chòi cũng là thể loại dân ca độc đáo của người dân khu vực Nam Trung Bộ và riêng Bình Định có Đoàn Ca kich Ḅài chòi và nhà hát tuồng Đào Tấn chuyên nghiệp đại diện,nghệ thuật “Bài chòi” cũng được giao cho Bình Định đại diện lập hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể nhân loại. Bình Định đã đề xuất di sản “Hát bội”, “Bài chòi” cho Bộ Vă hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di sản phi vật thể cấp quốc gia và đã được công nhận năm 2020 (UBND tỉnh Bình Định, 2022).
Giá trị thẩm mỹ: Nghệ thuật trang điểm, trang trí cho các vai diễn của “Hát bội” cũng mang yếu tố đặc sắc, tạo nên nét riêng cho từng nhân vật, mỗi khuôn mặt thể hiện một tính cách hết sức đặc trưng. Với “Hát bội”, giá trị thẩm mỹ là sự đặc sắc của trang phục, nét hóa trang cũng như từng điệu bộ, cử chỉ trong biểu diễn. Giá trị thẩm mỹ của “Bài chòi” lại là sự mộc mạc, thân quen của từng câu thơ, bài vè cũng như sự giao lưu với khán giả trong quá trình biểu diễn.
Giá trị lịch sử: Trải qua hàng trăm năm dâu bể, hát bội đã ngày càng cắm rễ trong đời sống tinh thần của người dân. Không những thế, sự giao lưu, kết hợp của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của các địa phương khác.Sinh hoạt “Bài chòi” là môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời giúp bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong “Bài chòi” được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt tinh thần thiết yếu và phổ biến khắp các huyện, thị của Bình Định. Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… liên tục được biến tấu một cách linh hoạt, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự hấp dẫn và riêng biệt của “Bài chòi” và cũng góp phần lưu giữ, phổ biến một phần của kho tàng văn học Việt Nam. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Bảo tồn tài sản văn hóa của vùng miền, của cả quốc gia: Du lịch không chỉ khai thác những giá trị văn hóa, di sản văn hóa, lịch sử của nghệ thuật hát bội, bài chòi mà còn gìn giữ, bảo tồn cho những thế hệ mai sau. Điều này được thể hiện trong việc sử dụng nguồn vốn của chương trình mục tiêu văn hóa dành cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử rất hạn hẹp, thì ngành Du lịch đã hỗ trợ kinh phí đầu tư, tu bổ, nâng cấp một số di tích trọng điểm tại các địa phương, góp phần làm cho những di tích ấy trường tồn với thời gian và trở thành “điểm sáng” văn hóa tại địa phương, được nhân dân mến mộ, cảm kích. Ngoài ra, bằng các hoạt động của mình, du lịch đã góp phần hỗ trợ và mở ra biên độ rộng lớn cho nghệ thuật hát bội, bài chòi hoạt động giao lưu hợp tác kinh tế, văn hóa quốc tế, nâng cao giá trị cuộc sống từ tinh thần đến vật chất cho xã hội, cho nghệ sĩ cống hiến hết mình vì nghệ thuật được tôn vinh, trân trọng.
Giao lưu văn hóa giữa các vùng miền cũng như các khu vực: Du lịch văn hoá làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân của các nước góp phần giới thiệu truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đất nước và con người Việt Nam với bạn bè năm châu.
1.4. Các nhân tốt ảnh hưởng đến khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch
1.4.1. Nhân tố thuộc về tài nguyên
Nhân tố thuộc về tài nguyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc khai thác phát triển du lịch. Đối với di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi”, ở nơi nào có tài nguyên phong phú, có nguồn gốc lâu đời, dòng nhạc dân gian dễ cảm nhận, điệu bộ, hình ảnh thể hiện tích tuồng cao v.v… sẽ dễ khai thác để phát triển và ngược lại.
1.4.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống cơ sở hạ tầng: Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến việc khai thác sản phẩm du lịch. Cơ sở hạ tầng có kết cấu tốt, đồng bộ sẽ thúc đẩy việc khai thác sản phẩm du lịch tốt và ngược lại. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm các thành phần như: Hệ thống mạng lưới giao thông, các cơ sở kinh doanh phục vụ lưu trú, các cơ sở kinh doanh phục vụ ăn uống, mạng lưới thông tin liên lạc, các dịch vụ y tế, các dịch vụ phụ trợ khác…
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng của sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật để nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch cần sân khấu với hệ thống âm thanh, ánh sáng và trang thiết bị khá hiện đại. Nếu hệ thống cơ sở vật chất chưa đảm bảo thì các đoàn phải biểu diễn lưu động tại nhiều địa bàn khác nhau ở địa phương, địa điểm biểu diễn của các đoàn kịch Bài chòi thường là sân khấu ngoài trời, hoặc các nhà văn hóa vốn không đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật – nội thất phục vụ cho yêu cầu biểu diễn của nghệ thuật sân khấu. Việc này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các buổi biểu diễn và sự tiếp nhận của công chúng. Địa điểm tổ chức cho “Bài chòi” cần thuận tiện, dễ dàng tiếp cần, đủ diện tích để tổ chức biểu diễn. Đồng thời phải đảm bảo vấn đề về thoát hiểm, an ninh và an toàn khi tổ chức đông người.
1.4.3. Nhân tố về nguồn nhân lực Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Nhân lực khai thác di sản văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi”: Để đưa được sản phẩm “Hát bội”, “Bài chòi” đến được với du khách cần phải có nguồn nhân lực thực hiện. Đó là các công ty du lịch lữ hành trong và ngoài nước, các phương tiện truyền thông, báo đài hỗ trợ công tác tuyên truyền quảng bá sản phẩm. Nếu làm tốt ở các bước này việc các du khách trong và ngoài nước dễ dàng có được thông tin về “Hát bội”, “Bài chòi” sẽ tạo cơ hội cho du khách lựa chọn sản phẩm.
Nhân lực biểu diễn, nghệ nhân: là nguồn nhân lực cốt lõi cấu thành nên sản phẩm cũng như chất lượng sản phẩm. Họ là đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân và những người có khả năng biểu diễn nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi”. Các nguồn lực này phải được đào tạo bài bản, có thời gian luyện tập thường xuyên, có cơ hội biểu diễn chuyên nghiệp để từng bước nâng cao tay nghề cũng như củng cố lòng yêu nghề. Phải có đội ngũ kế thừa tài năng, được trang bị các phương tiện hỗ trợ biểu diễn đẩy đủ, chuyên nghiệp.
1.4.4. Chính sách quy hoạch của địa phương
Các chính sách điều tiết của nhà nước góp phần tạo điều kiện để phát triển du lịch phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại và các dự đoán trong tương lai. Tuy nhiên, cũng có một số chính sách kìm hãm sự phát triển của ngành. Ví dụ như một số chính sách về bảo tồn di tích giúp nhà nước đạt được mục tiêu về xã hội nhưng hạn chế du khách quay trở lại vì không có cái mới.
Đường lối, chính sách phát triển du lịch đúng đắn của tỉnh ảnh hưởng rất quan trọng đến việc khai thác sản phẩm văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch.Chính sách của chính quyền hỗ trợ tốt sẽ giúp việc khai thác sản phẩm văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” tốt hơn và ngược lại. Trong đó, các hỗ trợ từ chính phủ sẽ giúp cho “Hát bội”, “Bài chòi” thông qua các vấn đề như sau:
Định hướng phát triển: Việc công nhận “Hát bội”, “Bài chòi” là Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia đã giúp “Hát bội”, “Bài chòi” được biết đến một cách rộng rãi trong và ngoài nước. Đưa sản phẩm du lịch văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” lên thành sản phẩm du lịch văn hóa của quốc gia.
Hỗ trợ kinh phí: Có chính sách hỗ trợ kinh phí từ chính phủ để cải thiện cơ sở vật chất, đầu tư vào công tác đào tạo đội ngũ kế thừa, khen thưởng cho các nghệ nhân, nghệ sĩ có thành tích đóng góp cho đoàn, cho câu lạc bộ.
Liên kết giáo dục: Đưa nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” vào phổ cập giáo dục,tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ diễn viên – nhạc công, truyền nghề cho đội ngũ diễn viên kế thừa.
Bảo tồn: Có kế hoạch đầu tư thỏa đáng để lưu trữ và bảo tồn các tư liệu về các vở diễn, trích đoạn hay, hình ảnh của các nghệ sĩ để bảo tồn; đồng thời phục vụ công tác quảng bá, minh họa giới thiệu nghệ thuật tuồng cho du khách và thế hệ trẻ mai sau.
1.5. Một số vấn đề về khai thác di sản văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Dựa vào bài học kinh nghiệm được rút ra từ việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong kinh doanh du lịch tại các quốc gia và tại Việt Nam. Cũng như căn cứ vào yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay với nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, chúng ta cần nghiên cứu thực trạng các vấn đề sau:
1.5.1. Chính sách quy hoạch
Chính sách khai thác Di sản văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” nhằm tiếp tục giữ gìn, phát huy, phổ biến, lưu truyền cho thế hệ mai sau những giá trị độc đáo của “Hát bội”, “Bài chòi”. Nâng cao nhận thức và lòng tự hào trong cộng đồng, trách nhiệm của các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, từng bước bảo tồn, phát huy giá trị “Hát bội”, “Bài chòi” trở thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội. Nhà nước nên tập trung váo các chính sách quy hoạch như sau:
1.5.1.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Để quản lý khai thác tốt di sản văn hoá trong hoạt động du lịch cần có bộ máy quản lý thống nhất từ trung ương đến các địa phương, có phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp. Trong công tác quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản văn hóa luôn chú ý đến việc thực hiện và triển khai các chính sách bảo tồn, phát huy di sản vǎn hóa dân tộc. Tiến hành việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lý vốn vǎn hóa truyền thống, phiên dịch, giới thiệu kho tàng vǎn hóa các dân tộc.
1.5.1.2. Đánh giá tài nguyên di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN), Sở VHTT&DL các tỉnh, địa phương cần điều tra, đánh giá tài nguyên như: các lợi thế về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của địa phương, điều kiện để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh, du lịch vui chơi giải trí, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần và du lịch làng quê… để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch từ đó tạo ra các điểm du lịch thu hút đượng sự quan tâm và lui tới của khách du lịch trong và ngoài nước.
1.5.1.3. Bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá
Trong thời đại ngày nay, nhu cầu và đòi hỏi của du khách về hưởng thụ văn hóa trở nên ngày một cao hơn. Các sản phẩm du lịch văn hóa phải đáp ứng được thị hiếu ngày càng khắt khe của họ. Giữa thời đại bùng nổ thông tin, du khách có thể dễ dàng lựa chọn điểm đến của mình. Nếu không có điểm tựa văn hóa, chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khí hậu thì du lịch địa phương sẽ khó có sức cạnh tranh cao. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa, việc bảo tồn và giữ gìn di sản văn hóa trong phát triển du lịch đang đặt ra những vấn đề cấp bách. Việc khai thác di sản quá mức, phát triển du lịch quá nóng, thiếu nguyên tắc đang đem tới những mặt trái, những tác động tiêu cực đến di sản. Nhiều di sản văn hóa Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, áp lực từ tình trạng xuống cấp, xâm hại di sản, sự thương mại hóa, làm tổn thương hoặc biến dạng di sản, nhất là những di sản văn hóa phi vật thể. Không ít sản phẩm văn hóa do chạy theo mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu kinh tế đã bóp méo, cải biên di sản, phản ánh không chân thực giá trị của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh văn hóa dân tộc.
Do vậy, việc khai thác, phát huy di sản văn hóa phải gắn liền với việc giữ gìn, bảo tồn. Bảo vệ di sản văn hóa chính là một trong 3 tiêu chí để đảm bảo phát triển du lịch bền vững: bền vững về kinh tế; bền vững về tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa – xã hội.
Vì vậy, khi khai thác di sản phục vụ du lịch, việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển là một bài toán khó cho ngành du lịch, bảo tồn không cản trở sự phát triển; phát triển không làm tổn hại đến bảo tồn.
1.5.1.4. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về khai thác di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương… Do đó, chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành,…; đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn.
1.5.2. Công tác nghiên cứu tiềm năng
Các công tác nghiên cứu tiềm năng ảnh hưởng rất nhiều đến định hướng khai thác phát triển sản phẩm di sản văn hóa phi vật thể. Công tác nghiên cứu tiềm năng cần tập trung vào các điểm sau:
- Khuyến khích các cá nhân tổ chức nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa nhằm khẳng định giá trị của di sản văn hóa.
- Tăng cường công tác nghiên cứu nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống.
- Khuyến khích nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn những giá trị tiêu biểu của sản phẩm văn hóa.
1.5.3. Công tác tổ chức khai thác
1.5.3.1. Nhà nước Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
- Trong các định hướng phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước quan tâm tới phát huy các giá trị văn hoá truyền thống nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nhà nước ban hành và xây dựng các cơ quan quản lý mang tầm vĩ mô với các loại hình văn hoá.
- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề ra và xây dựng những chiến lược cụ thể cho phát triển nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi”.
1.5.3.2. Doanh nghiệp
Doanh nghiệp du lịch đặt ra những kế hoạch cụ thể cho công tác marketing và thực hiện các chương trình du lịch có liên quan tới các giá trị văn hoá truyền thống nói chung và nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” nói riêng.
Doanh nghiệp du lịch xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật “Hát bội”, Bài chòi” và ngày càng hoàn thiện chúng, nhằm mục đích quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn.
1.5.3.3. Địa phương
Quan tâm và phát huy các giá trị văn hoá của nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” nhằm tạo môi trường quản lý thuận lợi cho nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” đến được với đông đảo người dân.
1.5.4. Công tác đào tạo
Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này. Bởi vì, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng của nguồn nhân lực.
Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên. Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng về di sản văn hoá để phát triển du lịch cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển KT-XH của địa phương. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực nên tập trung vào:
Nhân lực quản lý
- Nhân lực quản lý trong lĩnh vực du lịch: bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý.
- Nhân lực ngành du lịch: phát triển kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ nhằm phục vụ khách tốt nhất.
Nghệ nhân
- Nghệ nhân chuyên nghiệp như là các nghệ nhân cao tuổi, các nghệ sĩ chuyên nghiệp, các nghệ sĩ trẻ: Tạo cơ hội cho các nghệ nhân trao dồi, phát huy tài năng; huấn luyện các nghệ sĩ trẻ kế thừa và phát huy cái hay, cái đặc sắc của nghề nghiệp.
- Các nghệ nhân không chuyên: hỗ trợ tập huấn, đào tạo bài bản.
1.5.5. Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Sân khấu chuyên nghiệp: Các sân khấu chuyên nghiệp dành cho “Hát bội”, các địa điểm đủ điều kiện để tổ chức hội “Bài chòi”.
Câu lạc bộ sinh hoạt: Các câu lạc bộ là nơi các nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia giao lưu, sinh hoạt nhằm có nhiều cơ hội trau dồi, học hỏi kinh nghiệm cũng như truyền đạt lại cho các thế hệ diễn viên trẻ, thế hệ kế thừa.
Hội diễn, liên hoan nghệ thuật: Sân chơi dành cho các nghệ sĩ “Hát bội”, “Bài chòi”, đó là các hội diễn, liên hoan nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi”. Bởi đây là nơi các nghệ sĩ trên khắp cả nước gặp và trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ những vui buồn trong nghề nghiệp, đúc rút những bài học trong việc phát triển nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi”. Đây cũng là dịp để các tài năng được tôn vinh cũng như tìm kiếm, phát hiện những tài năng mới.
1.5.6. Marketing
1.5.6.1. Du lịch
Tuyên truyền, marketing dưới góc độ sản phẩm du lịch. Muốn hoạt động khai thác di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch được đẩy mạnh và đạt hiệu quả, cần phải tăng cường công tác quảng bá, tiếp thị, tập trung giới thiệu rộng rãi các di sản văn hoá dưới góc độ tài nguyên du lịch văn hoá cho du khách trong và ngoài nước thông qua ấn phẩm quảng cáo, tập gấp, mạng Internet.
Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục phối hợp với các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình nhằm tuyên truyền, quảng bá các giá trị của di sản văn hoá trong du lịch. Nâng cao chất lượng hoạt động thuyết minh hướng dẫn tại các điểm tham quan di sản văn hoá bằng cách tăng cường đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và các thuyết minh viên tại các địa điểm khách du lịch lui tới để đạt yêu cầu cao về trình độ, ngoại ngữ, cách giao tiếp ứng xử với khách. Tổ chức lại việc đón tiếp khách, giới thiệu và tổ chức các sự kiện cho đỡ tạo cảm giác tẻ nhạt, nhàm chán.
1.5.6.2. Văn hóa
Tuyên truyền dưới góc độ bảo tồn di sản văn hóa đang bị mai một. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo tồn di sản, phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống và phát triển du lịch văn hoá.
Tăng cường công tác truyền dạy di sản thông qua các chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức hướng đến quảng đại công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ (phối hợp cả truyền dạy tại cộng đồng và truyền dạy trong các trường phổ thông).
1.6. Kinh nghiệm khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam.
1.6.1. Kinh nghiệm khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch trên thế giới Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
1.6.1.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Khi tiến hành mở cửa với phương Tây, Nhật Bản vẫn là một quốc gia lạc hậu hàng thế kỷ so với các nước đã công nghiệp hoá. Với điều kiện như vậy, người Nhật đã huy động mọi tiềm năng sức mạnh dân tộc để phát triển đất nước. Những giá trị văn hoá truyền thống đã trở thành động lực của toàn dân tộc cho mục tiêu hiện đại hoá đất nước. Di sản văn hoá đã được người Nhật quan niệm và đối xử như một tài sản đặc biệt quan trọng – tài sản văn hoá. Đối với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước.
Đối với đất nước Nhật Bản, việc đề ra các chính sách để phát triển du lịch văn hóa cũng rất được coi trọng. Luật Bảo vệ tài sản văn hóa (Law for the Protection of Cultural Properties) được sửa đổi năm 1975, hệ thống các khu bảo tồn nằm trong các nhà truyền thống cũng được giới thiệu trong luật sửa đổi (ACAJ, 2019). Hệ thống này bao gồm các địa danh lịch sử như: làng chài, làng nghề truyền thống, cảng biển, đền chùa…. Hiện tại, hơn 100 địa danh đã được công nhận là khu di tích cổ quan trọng của Nhật Bản, những nơi này đang trở thành những điểm du lịch nổi tiếng. Vào những năm gần đây, trong bộ luật quy hoạch thành phố lịch sử ban hành năm 2014, các vấn đề giữa phát triển vùng và bảo tồn di sản văn hóa có thể được giải quyết song song trong cùng một chính sách (Kakiuchi, 2020).
Tại Nhật Bản các biện pháp quản lý với di sản văn hóa được thực hiện trước, các biện pháp đối với du lịch được thực hiện ngay sau đó. Quá trình hình thành các khung chính sách gồm hệ thống luật pháp, các quy định…về bảo vệ di sản và phát triển DLVH của Nhật Bản hết sức chặt chẽ nhằm làm hoạt động này trở nên bền vững hơn được thể hiện tại bảng 1.2
Bảng 1. 2. Quá trình hình thành khung chính sách về bảo vệ di sản và phát triển DLVH bền vững tại Nhật Bản
Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc bảo tồn, khai thác các di sản văn hoá là:
- Phải có một bộ máy hành chính có tính chuyên biệt và thống nhất cao,tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, chỉ đạo và giám định thi hành pháp luật.
- Nhật Bản đã tiến hành rộng rãi sự hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, giữa Trung ương và địa phương, giữa bộ máy hành chính nhà nước và nhân dân và giữa các thiết chế văn hoá hữu quan.
- Chính sách trao đổi văn hoá của Nhật Bản tập trung chủ yếu vào đẩy mạnh văn hoá Nhật Bản bằng những hoạt động quản lý mà tạo ảnh hưởng ra thế giới. Nhật Bản gửi các nghệ sĩ của mình sang phương Tây để học hỏi trào lưu mới và tìm những nguồn cảm hứng mới. Mục tiêu chính của việc trao đổi văn hoá của Nhật Bản là nâng cao chất lượng (theo tiêu chuẩn quốc tế) của các hoạt động nghệ thuật Nhật Bản nhằm đạt được sự thừa nhận trong cộng đồng quốc tế.
1.6.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Ở Trung Quốc, bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các di sản văn hoá lịch sử, thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc bảo vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, vào quy hoạch xây dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ văn vật. Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú trọng thúc đẩy việc bảo vệ di sản văn hoá thông qua giáo dục cộng đồng. Đề cương về chương trình: “Mỗi người đều có trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của đất nước” do Bộ Văn hóa và Cục Di sản đã công bố từ năm 1989, được quán triệt và thực hiện trong cả nước.
Các viện bảo tàng, nhà tưởng niệm và các cơ quan bảo vệ di sản văn hoá đã mở cửa đón công chúng và cung cấp nhiều chương trình về bảo vệ di sản văn hoá. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đề cập nhiều tới tầm quan trọng và giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học của di sản văn hoá Trung Quốc. Nhiều tờ báo lớn đã có chuyên mục về luật bảo vệ di sản văn hoá.Chính phủ Trung Quốc đã xác định: những tài sản văn hoá là do nhân dân tạo nên, chỉ khi nào bản thân tài sản ấy được nhân dân nhận thức đúng đắn, khi ấy nó mới có những giá trị đích thực. Đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO, công tác bảo tồn, phát huy và quảng bá di sản văn hoá dân tộc của Trung Quốc càng được coi trọng.
Trung Quốc chú trọng mở rộng ảnh hưởng văn hóa của mình ra các nước và khu vực trên thế giới mà châu Phi là một ví dụ điển hình. Trung Quốc đã ký với các nước châu Phi các hiệp định văn hóa và dự án văn hóa. Trung Quốc cũng tổ chức hoạt động “Thực hành văn hóa Trung Quốc ở châu Phi”,cử nhiều đoàn nghệ thuật và nghệ nhân biểu diễn lần lượt ở các nước châu Phi, những hoạt động này đã nâng cao sức hấp dẫn về văn hóa của Trung Quốc ở châu Phi (Cục Di sản, 1989).
1.6.1.3. Kinh nghiệm của Indonesia
Đền Borobodur của Indonesia nổi tiếng bởi đây là công trình kiến trúc Phật giáo bằng đá lớn nhất thế giới, do người Java xây dựng từ thế kỷ IX, sau đó bị quên lãng trong rừng cho đến khi người Anh phát hiện ra vào năm 1814.Năm 1973, Chính phủ Indonesia tiến hành chương trình khôi phục đền Borobudur do UNESCO hỗ trợ ¼ số kinh phí. Ngoài việc khôi phục đền, Chính phủ còn cho xây công viên ngoài ngôi đền dành cho khách du lịch. Một đơn vị trực thuộc Bộ Du lịch quản lý công viên.Khu công viên rộng 85ha gồm khu vực công viên, bảo tàng khảo cổ, nhà khách, hai nhà hàng, một tàu điện đưa khách đi thăm quan, 78 kiot và khu vực đỗ xe, 22 quán cà phê do người dân địa phương thuê. Khu vực này được gọi là “Công viên khảo cổ đền Borobodur”, bắt đầu đưa vào vận hành năm 1985. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Có 364 nhân viên làm việc cho công viên. Khu công viên này đồng thời quản lý cả hiệp hội hướng dẫn viên và chụp ảnh trong đền, hầu hết những người hành nghề đều là người dân địa phương. Theo thống kê, năm 1992, có1,989,448 khách đến đây du lịch, trong đó có 1,677,511 khách nội địa và 312,448 khách du lịch quốc tế.
Ngày nay, Chính phủ cho phép cơ quan Phật giáo quốc gia quản lý, tổ chức lễ waisak trong đền. Trước đây lễ waisak diễn ra hàng năm nhưng không được phép tổ chức trong đền, và quy mô nhỏ hơn. Hiện nay, lễ waisak này thu hút hàng nghìn phật tử khắp nơi trong cả nước về dự. Điều thú vị là thế hệ con cháu của tộc người Java trước kia xây dựng đền thì nay đều theo đạo Hồi và họ không quan tâm đến ngôi đền Borobudur. Trong khi đó, những người tham dự lễ Waisak hiện nay hầu hết thuộc tộc người khác. Điều này chứng tỏ rằng, Chính phủ Indonesia muốn sử dụng đền là trung tâm hành lễ theo truyền thống văn hóa mới. Phật tử không nhất thiết phải là người xây dựng đền trước đây miễn là họ là người Indonesia.
Tại Indonesia – Đất nước với hơn 17.000 hòn đảo, trong đó có 5 đảo chính và 30 đảo nhỏ hơn là nơi sinh sống của đa số dân số. Indonexia có khoảng 250 dân tộc, với hơn 580 ngôn ngữ, ngôn ngữ chính thức của quốc gia là Bahasa Indonesia. Indonesia là quốc gia có sự đa dạng sinh hoc ṿà văn hóa thuôc lọ ai lớn nhất thế giới ̣ sau Brazil. Để bào vệ, khôi phục và phát huy giá trị bản sắc văn hóa; trong nhiều năm vừa qua, Bộ Du lịch và Nghệ Thuật (Ministry for Tourism and Arts), Tổng cục Bảo vệ Thiên nhiên và Bảo tồn văn hóa (Dirjen Perlindungan dan Konservasi
Alam) và các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương đã nỗ lực đề ra các chính sách và hoạt động cụ thể để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa tai các cộng đồng dân cư phục vụ du lịch (Ardiwidjaja, 2015). Các nguyên tắc chỉ đạo phát triển du lịch nhằm bảo vệ hệ sinh thái và không gian văn hóa đã dược xây dựng khá sớm tại Indonexia thể hiện tại bảng 1.3.
Bảng 1.3. Một số nguyên tắc trọng tâm trong phát triển du lịch tại các cộng đồng địa phương tại Indonexia
1.6.2. Kinh nghiệm quản lý khai thác di sản văn hóa phi vật thể của các tỉnh ở Việt Nam
1.6.2.1. Kinh nghiệm khai thác di sản văn hóa phi vật thể tại Mai Châu-Hòa Bình
Mai Châu là huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình, cách trung tâm tỉnh lỵ 65km về phía Tây Bắc. Toàn huyện có 22 xã, 1 thị trấn với 137 thôn, bản, dân số trên 52.000 người, trong đó, dân tộc Thái chiếm 62%, còn lại là dân tộc Kinh, Dao, Mông. Mai Châu là vùng đất nổi tiếng về văn hóa dân gian, lễ hội đặc sắc, ngành nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa các dân tộc. Vùng đất Mai Châu được thiên nhiên ưu đãi với các khu rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, sông hồ tự nhiên, núi non hùng vĩ và cả hệ thống các hang động, thác nước tạo nên cảnh quan sinh động. Đây là vùng đất có tiềm năng phát triển du lịch, thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Trên địa bàn huyện có 102 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch, trong đó có 5 khách sạn, 20 nhà nghỉ, 77 nhà nghỉ cộng đồng. Gần đây, huyện đã thu hút các nguồn lực, kêu gọi doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia phát triển hạ tầng, tổ chức liên doanh liên kết, xây dựng các tua, tuyến du lịch đáp ứng tốt hơn nhu cầu du khách trong nước và quốc tế (Hương Lan, 2021). Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên chính là thế mạnh của du lịch Mai Châu. Với nét đặc sắc, độc đáo riêng, từ lâu du lịch Mai Châu đã có sức hút đối với du khách trong và ngoài nước. Mai Châu được coi là điểm sáng trong việc phát triển du lịch tại khu vực phía Bắc, đặc biệt là biết khai thác các giá trị văn hóa, tự nhiên vào phục vụ du lịch; phát huy có hiệu quả du lịch cộng đồng tại địa phương. Tổng số lượt khách tham quan du lịch tăng nhanh qua các năm. Năm 2021, ước tính toàn Huyện đón 340.000 lượt khách, trong đó, khách quốc tế là 80.000 lượt khách, khách nội địa 260.000 lượt khách; tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt trên 51 tỷ đồng (UBND Huyện Mai Châu, 2021).
- Phát triển du lịch văn hóa gắn với sinh hoạt cộng đồng
Một trong những điểm sáng của du lịch gắn với cộng đồng của Mai Châu đó là bản Lác. Nơi đây là nơi sinh sống chủ yếu của dân tộc Thái. Bản đã có trên 100 hộ dân sinh sống, trước đây dân bản sống bằng nghề trồng lúa, làm nương và dệt thổ cẩm. Sau này vẻ đep tiềm ẩn của Bản Lác dần được du khách khám phá. Năm 1993, UBND huyện Mai Châu chính thức đề nghị UBND tỉnh Hòa Bình cho phép khách du lịch nghỉ qua đêm trong bản. Đến nay, dịch vụ du lịch đã hình thành rõ rệt ở bản và loại hình du lịch “homestay” sống trong chính ngôi nhà của người dân được du khách ưa chuộng, đặc biệt là khách quốc tế. Hiện tại, ở Bản Lác có trên 50 hộ gia đình làm dịch vụ du lịch cộng đồng và được xây cất theo quy hoạch, mỗi nhà đều được đánh số thứ tự, nhà nào cũng cao ráo, sạch sẽ và giữ được truyền thống lối kiến trúc nhà sàn cổ, bên trong có đầy đủ chăn, đệm, gối được gấp ngăn nắp, gọn gàng (Đỗ Hà, 2020). Du khách sẽ được thưởng thức những món ngon dân dã như gà đồi, xôi nếp nương, măng đắng, cá đồ, cá hấp, cơm lam, thịt nướng, kèm theo rất nhiều món ăn ngon mà bất kỳ ai từng một lần nếm thử sẽ không thể nào quên.
Sau bữa cơm tối, du khách đến với không gian của những lời ca, điệu múa, tiếng trống chiêng rộn ràng mang đậm bản sắc văn hóa Thái. Ở đầu Bản Lác có một khu đất rộng có thể tổ chức các hoạt động sinh hoạt, giao lưu tâp thể như cắm trại, đốt lửa trại, nhảy sạp… Các điệu múa, bài hát của người Thái đã làm cho du khách đến đây say mê. Những buổi biểu diễn như thế đã được hình thành đã hơn 10 năm nay và hoàn toàn do người dân tự xây dựng và duy trì. Họ biểu diễn tất cả với tình cảm, mong muốn mang lại cho di khách cảm giác thoải mái và những trải nghiệm thú vị khi đến với bản làng của mình (Kim Định, 2021).
- Khôi phục, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng để phục vụ du lịch
Trong chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001-2016, Huyện ủy Mai Châu đã ra Nghị quyết số 03 về việc phát triển du lịch làng nghề, trên cơ sở đó, các ban, ngành xây dựng kế hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử, các lễ hội truyền thống, làng, bản văn hóa mang dấu ấn đặc trưng của địa phương để phục vụ cho công tác quảng bá, giới thiệu tiềm năng du lịch của huyện, nhờ đó, trong những năm gần đây, hoạt động du lịch trên địa bàn huyện đã có sự phát triển. (UBND Huyện Mai Châu, 2019). Ngoài Bản Lác, du khách có thể tới thăm và khám phá nét sống sinh hoạt, phong tục của các dân tộc tại bản Pom Coong, bản Văn, bản Nà Mo, bản Nà Mèo,… Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Song song với việc khuyến khích người dân tại các bản xây dựng một không gian văn hóa đặc trưng của đồng bào Thái. Mai Châu cũng đã định hướng để phát triển thêm những sản phẩm truyền thống là thế mạnh của địa phương như dệt thổ cẩm, rượu Mai Hạ, tỏi tía ở Pù bin Noong Luông… Từ những kết quả đạt được, huyện Mai Châu tiếp tục xây dựng đề án phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 – 2021 nhằm thúc đẩy kinh tế của huyện ngày càng phát triển, khai thác có hiệu quả tiềm năng các sản phẩm sẵn có ở địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tăng cường mối quan hệ về KT-XH với các địa phương trong và ngoài nước, đồng thời gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn huyện.
1.6.2.2. Kinh nghiệm phát huy di sản thế giới không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh KonTum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông,Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng. Các dàn Cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình. Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Song, Cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Thành thử trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều đó lý giải tại sao âm sắc Cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu.
Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc Cồng chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng Cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo.Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những ánh thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.
Ngày 25/11/2011, không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam, di sản thứ hai sau Nhã nhạc Huế, được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. Theo thống kê của Sở Văn hóa Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong cácplei/plơi của người Gia Lai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ Cồng chiêng. Và văn hóa Cồng chiêng đã thực sự đem lại cho du khách sự tìm hiểu sự khác biệt văn hóa.
1.6.3. Bài học kinh nghiệm đối với du lịch di sản văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Thứ nhất, phát triển du lịch dựa vào khai thác giá trị lễ hội phải được tính toán kỹ lưỡng, được xây dựng kế hoạch chi tiết, phải đặc biệt quan tâm đến bản sắc truyền thống văn hóa lễ hội, làm sao để không biến lễ hội trở thành thương mại hóa, làm mất đi ý nghĩa ban đầu của lễ hội – ý nghĩa tâm linh.
Thứ hai, phát triển du lịch dựa vào việc quản lý khai thác các di tích lịch sử đồng thời tăng cường công tác quản lý bảo tồn di tích, chia sẻ lợi ích kinh tế cho người dân địa phương.
Thứ ba, cần tăng cường đầu tư cho hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch. Quảng cáo tạo ấn tượng ban đầu nhưng có ý nghĩa quyết định đến việc mua tour của khách du lịch.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
1.7.1. Phương pháp thu thập
1.7.1.1. Số liệu thứ cấp
Được lấy từ các báo cáo và các văn bản của Bộ VHTT&DL, Sở VHTT&DL tỉnh Bình Định, UBND tỉnh Bình Định, sốliệu từ niên giám thống kê và các bài báo, bài nghiên cứu khác…
1.7.1.2. Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp:
- Lãnh đạo Sở VHTT&DL Bình Định về công tác bảo tồn di sản văn hóa hát bội, bài chòi.
- Hiệu trưởng các trường văn hóa nghệ thuật về công tác truyền dạy hát bội, bài chòi trong nhà trường.
- Giám đốc nhà hát Tuồng.
- Giám đốc các công ty Du lịch lữ hành.
- Nghệ nhân, nghệ sĩ hát bội, bài chòi về ca từ trong biểu diễn.
- Điều tra khách du lịch có tham gia thưởng thức hát bội, bài chòi phát biểu cảm nhận của họ về hát bội, bài chòi.
Bảng 1.4. Dung lượng mẫu điều tra
| STT | ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA | SỐ LƯỢNG |
| 1 | Lãnh đạo Sở VHTT&DL | 01 |
| 2 | Hiệu trưởng các trường văn hóa nghệ thuật & du lịch | 02 |
| 3 | Giám đốc nhà hát Tuồng | 01 |
| 4 | Giám đốc công ty Du lịch lữ hành/ kinh doanh du lịch | 05 |
| 5 | Nghệ nhân, nghệ sĩ hát bội, bài chòi | 01 |
| 6 | Hướng dẫn viên du lịch | 10 |
| 7 | Khách du lịch | 100 |
| Tổng cộng | 120 | |
Nguồn: Lựa chọn của tác giả
1.7.2. Phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
Số liệu sau khi được thu thập, được phân loại và sắp xếp theo các tiêu thức khác nhau. Số liệu điều tra được phân tổ và xử lý bằng excel để tổng hợp và hệ thống hóa những tiêu thức cần thiết cùng với việc sử dụng các con số tuyệt đối, tương đối và bình quân để phản ánh và đánh giá vấn đề nghiên cứu.
1.7.3. Phương pháp phân tích
1.7.3.1. Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế – xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được. Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu phân tích như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân để phân tích tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương; phân tích, đánh giá công tác quản lý khai thác di sản văn hoá cũng như những khó khăn hạn chế đối với công tác này ở địa phương trong từng điều kiện,trường hợp cụ thể về vấn đề đó.
1.7.3.2. Phương pháp so sánh
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá khoa học, khách quan mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến khai thác hát bội, bài chòi nhằm phát triển du lịch Bình Định như: tài nguyên du lịch, điều kiện hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, hiệu quả kinh tế…
1.7.3.3. Phương pháp chuyên gia
Tiếp cận và làm việc với các chuyên gia, cán bộ quản lý văn hóa, du lịch, một số lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch để phỏng vấn, điều tra, có thêm dữ liệu nhằm bổ sung cho các nghiên cứu, cũng như phân tích chính xác hơn về thực trạng, đề xuất các giải pháp khoa học, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
- Phương pháp thực hiện thông qua các phỏng vấn trực tiếp.
- Điểm trung bình của các tiêu chí được tính theo công thức như sau:
Tính điểm trung bình
Xử lý ý kiến bất đồng của chuyên gia
- Vấn đề mang tính định lượng: Để xem xét bất đồng của các chuyên gia những vấn đề mang tính định lượng thì dùng công thức:
- Với: X là phương sai; S là giá trị bình quân.
- Nếu CV lớn, nghĩa là có sự bất động ý kiến, sẽ tiến hành loại bỏ những ý kiến cá biệt.
- Đối với các vấn đề định tính: Ý kiến sẽ được lấy khi có tổng chuyên gia đồng ý trên 50%.
Khi thu thập các ý kiến của chuyên gia, trong một số vấn đề có thể phát sinh những ý kiến không đồng nhất. Vì vậy, cần tiến hành kiểm định để xử lý những bất đồng nêu trên. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
1.7.3.4. Phương pháp tham chiếu và suy diễn quy nạp
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học đã được công bố, những mô hình, cách làm hiệu quả trong khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch, tác giả áp dụng để suy diễn, hệ thống lại các nội dung từ lý luận cũng như thực tiễn khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch.
1.7.3.5. Phương pháp điều tra khảo sát
Nhằm cung cấp các thông tin cho nghiên cứu như: cơ cấu khách, sự hài lòng của du khách khi lựa chọn sản phẩm du lịch văn hóa hát bội, bài chòi; điều tra các doanh nghiệp trong vần đề tổ chức khai thác khách,…
- Điều tra khách: đề tài chọn thời điểm khảo sát từ tháng 2/2023 đến tháng 5/2023.
- Số phiếu được tính theo công thức:
- Trong đó: N là lượng khách dự kiến trong tháng 2/2023 và tháng 5/2023; độ tin cậy 95%; ∆x trong phạm vi cho phép = 5%. Độ lệch chuẩn lấy theo phương sai từ các cuộc điều tra du lịch trong nước.
- Thông qua phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch, các cán bộ quản lý tài nguyên, các hướng dẫn viên làm việc tại tỉnh Bình định,…
Số lượng mẫu được điều tra thực tế là 115 (lớn hơn mẫu tính theo công thức là 33 mẫu).
Tóm tắt chương 1
Ở chương 1 tác giả đã trinh bày cơ sở lý luân và kinh nghiêm trong và ngoài nước về khai thác di sản văn hoá phi vât thể dân ca, trò chơi dân gian phục vu ̣phát triển du lich. Đã khái quát cơ sở lý thuyết và các khái niệm về di sản, văn hoá, văn hoá phi vât thể. Cũng trong chương này, đánh giá vai trò của khai thác di sản phục vu ̣du lich, ̣tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác Di sản văn hóa hát bội, bài chòi đồng thời phân tích các vấn đề khi khai thác sản phẩm du lịch văn hóa.
Trong chương 1, tác giả cũng xác đinh mẫu để chọn câu hỏi khảo sát, phỏng vấn chuyên gia về nghê ̣thuât hát bôi, bài chòi phục vu ̣du lich. Chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày thực trạng và các đánh giá về việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch Bình Định. Luận văn: Khai thác văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp về văn hoá hát bội phục vụ du lịch Bình Định