Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên tại TP Thuận An, Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên
2.1.1. Quy định pháp luật về bảo vệ việc làm của người lao động chưa thành niên
Ở Việt Nam, việc làm được quy định từ khi ban hành BLLĐ đầu tiên (1994) bởi ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với NLĐ chưa thành niên mà còn đối với Nhà nước và xã hội. Theo các nhà bình luận BLLĐ định nghĩa việc làm được hiểu là sự việc qua đó NLĐ sử dụng thể lực, trí lực, với những kỹ năng, kinh nghiệm, kỹ thuật, trách nhiệm và cả tình cảm của chính mình để tiến hành thực hiện công việc, tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần, tạo ra giá trị sử dụng cho xã hội. Đồng thời NLĐ tạo ra thu nhập cho chính bản thân mình. Thu nhập của NLĐ thông qua hoạt động lao động với một việc làm hợp pháp là thu nhập hợp pháp, minh bạch, sạch sẽ nhất, đáng được trân trọng trong xã hội.
Dưới góc độ luật thực định, tương tự như BLLĐ năm 2012 thì BLLĐ năm 2019 định nghĩa: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”. Có thể thấy, khái niệm “việc làm” trong BLLĐ không chỉ phản ánh nội dung kinh tế – xã hội của việc làm (hoạt động mang lại thu nhập) mà còn phản ánh được tính chất pháp lý của việc làm (hoạt động mà pháp luật không cấm). Như vậy, theo quy định của BLLĐ năm 2019 thì một hoạt động được coi là việc làm phải đáp ứng hai loại điều kiện sau:
Việc làm là hoạt động có ích và tạo ra thu nhập cho NLĐ và cho các thành viên trong gia đình. Điều này thể hiện rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu chí tạo ra thu nhập của việc làm;
Hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Đây có thể coi là điều kiện đủ, chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. NLĐ hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho người khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Quan niệm về việc làm theo BLLĐ năm 2019, một mặt đã tiếp thu có chọn lọc các quan niệm về việc làm của các quốc gia trên thế giới, của ILO, mặt khác đã thể hiện tính khái quát cao đồng thời nêu lên các yếu tố cấu thành việc làm.
Quyền việc làm của NLĐCTN là một quyền pháp lý căn bản giúp cho NLĐCTN được tiến hành xác lập QHLĐ và thực hiện hành vi lao động hợp pháp. Trong khoa học luật lao động, quyền có việc làm của NLĐCTN được hiểu là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm, thu nhập, chế độ BHXH và các chế độ khác khi người NLĐCTN tham gia QHLĐ theo quy định của PLLĐ”.
Hiện nay, BLLĐ Việt Nam cũng đã xây dựng các quy định để bảo đảm việc làm và quyền tự do việc làm cho NLĐCTN. Theo đó, Điều 10 BLLĐ năm 2019 tiếp tục khẳng định nguyên tắc: “NLĐ được tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ NSDLĐ nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. NLĐC trực tiếp liên hệ với NSDLĐ hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình”. So với BLLĐ năm 2012 thì BLLĐ năm 2019 đã trực tiếp ghi nhận “quyền tự do lựa chọn việc làm của NLĐ” nhằm thể chế hóa quy định trên trong Hiến pháp năm 2013; đồng thời tạo ra sự tương thích giữa BLLĐ năm 2019 với nguyên tắc cơ bản về việc làm được nêu trong Luật Việc làm năm 2013 khẳng định: “ Bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc”. Việc luật thực định ghi nhận quyền tự do việc làm của NLĐCTN thể hiện mối quan hệ giữa tự do tư tưởng, tự do sáng tạo và hành vi lao động. Một hoạt động làm việc thiếu tự do tất yếu sẽ giảm sút hiệu quả, thậm chí tạo nên sự cưỡng bức lao động từ đó gây nên những mâu thuẫn, tranh chấp trong QHLĐ. Trên thực tiễn, quy định về quyền tự do việc làm của BLLĐ đã làm thay đổi nhận thức xã hội về việc làm. Từ chỗ trước đây, NLĐCTN có nhận thức phải xin bằng được việc làm ở các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp lớn thì nay đã chuyển sang chủ động tìm việc làm trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hoặc tự tạo việc làm cho chính mình thông qua khởi nghiệp startup, mở các cửa hàng kinh doanh nhỏ, đầu tư phương tiện để làm việc hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp công nghệ số lớn (bán hàng trực tuyến trên mạng, facebook, lái xe cho uber/grab, hoặc đào bitcoin…).
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của nhóm lao động chưa thành niên do đó bên cạnh các quy định chung thì nhà làm luật cũng đưa ra một số quy định “đặc thù” dành riêng cho nhóm NLĐ chưa thành niên, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Đối với NLĐ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì không được phép làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của BLLĐ năm 2019.
Dưới góc độ pháp lý, đây là quy định rất cần thiết, nhằm một mặt bảo vệ nghiêm ngặt người chưa thành niên, mặt khác để xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động và nhà nước đối với sự nghiệp chăm sóc, giáo dục, phát triển người chưa thành niên, thế hệ tương lai của đất nước. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Đối với các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đều là các công việc có các tư thế lao động không thuận lợi, gò bó, thiếu dưỡng khí; các công việc đòi hỏi sự rèn luyện sức khoẻ, kỹ năng cao; nơi làm việc gắn liền hoặc liên quan, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hình thành nhân cách (sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử); nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, gây bệnh tật nguy hiểm (như có bệnh truyền nhiễm, đột biến gen; gây hậu quả xấu về đạo đức…) đều thuộc danh mục cấm sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên tại Điều 144 của BLLĐ năm 2019. Nếu người sử dụng lao động vi phạm thì có thể phải chịu các trách nhiệm pháp lý mà pháp luật quy định. Pháp luật lao động quốc tế và quy định của các quốc gia đều quan tâm đến việc bảo vệ lao động chưa thành niên thông qua việc xác định danh mục cấm sử dụng lao động chưa thành niên, đồng thời có những hình thức xử phạt nghiêm khắc nếu chủ sử dụng lao động vi phạm quy định đó.
Tuy nhiên, theo tác giả, Điều 147 không nên liệt kê các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Việc liệt kê sẽ không mang tính khái quát trong Điều luật, hơn nữa dễ dẫn đến tình trạng thiếu hoặc sót. Vì thế, cũng như danh mục công việc nhẹ (đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi), danh mục công việc được làm (đối với người chưa đủ 13 tuổi), BLLĐ nên quy định danh mục công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, thay vì liệt kê như hiện nay.
Thứ hai, Đối với NLĐ từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục tại Phụ lục II của Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 11 năm 2020 do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành; bao gồm các công việc cụ thể như: i) Biểu diễn nghệ thuật; ii) Vận động viên thể thao; iii) Lập trình phần mềm; iv) Các nghề truyền thống: chấm men gốm; cưa vỏ trai; làm giấy dó; làm nón lá; chấm nón; dệt chiếu; làm trống; dệt thổ cẩm; thêu thổ cẩm; làm bún gạo; làm miến; làm giá đỗ; làm bánh đa; dệt tơ tằm; se sợi hoa sen; vẽ tranh sơn mài, se nhang, làm vàng mã,…
Thứ ba, Đối với NLĐ chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 BLLĐ năm 2019.
Thông thường là các công việc liên quan đến năng khiếu và đòi hỏi phải được rèn luyện từ rất sớm như công việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao. Khi tuyển dụng và sử dụng lao động này, người sử dụng lao động, ngoài việc tuân theo các điều kiện như đối với người lao động dưới 15 tuổi nói chung ở trên, còn phải tuân theo các quy định riêng như: không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của họ và đặc biệt phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bởi, đối với người lao động dưới 13 tuổi, lứa tuổi thực sự còn quá nhỏ để tham gia quan hệ lao động, do đó BLLĐ năm 2019 quy định các điều kiện chặt chẽ như vậy là hợp lý.
Ngoài ra, xuất phát từ đặc trưng của NLĐ chưa đủ 15 tuổi còn nhỏ, đang trong độ tuổi phát triển thể chất, trí tuệ và nhân cách. Họ chưa có đầy đủ khả năng để thực hiện được hầu hết các công việc theo yêu cầu chung xã hội, dễ bị ảnh hưởng của môi trường sống, lao động và học tập. Trong môi trường lao động có nhiều yếu tố tác động tích cực thì lao động chưa đủ 15 tuổi có thể phát triển tốt về thể chất, sức khỏe, nhân cách, nhưng nếu môi trường không tốt, có nhiều yếu tố tiêu cực thì thể chất, nhân cách của họ rất dễ chuyển biến theo hướng xấu, do chưa có kinh nghiệm sống, chưa hiểu biết xã hội, chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân cũng như quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Do đó nếu có tham gia quan hệ lao động thì cơ bản thường là trong trường hợp lao động nghệ thuật, có năng khiếu hoặc do không có kế sinh nhai đành phải đi làm việc để kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình… Vì vậy, nhằm mục đích bảo vệ lao động này khi tham gia quan hệ lao động, do đó tại Điều 145 BLLĐ năm 2019 thì nhà làm luật đã đưa ra quy định yêu cầu người sử dụng lao động phải bảo đảm các điều kiện chặt chẽ sau đây: Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Hợp đồng lao động giữa các bên bắt buộc phải bằng văn bản. Mục đích là để ràng buộc các bên trong thực hiện quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Nhất là bên người lao động chưa đủ 15 tuổi trong việc thực hiện các nghĩa vụ lao động.
Người đại diện theo pháp luật của người chưa đủ 15 tuổi phải ký vào bản hợp đồng lao động. Mục đích là để người đại diện xác nhận sự đồng ý về nội dung hợp đồng lao động, bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ lao động của con mình, đồng thời phải liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp con mình vi phạm kỷ luật lao động làm thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động. Ví dụ, lao động chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động mà không có tài sản riêng thì người đại diện phải bồi thường thiệt hại tài sản cho người sử dụng lao động.
Trước đây, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động dưới 15 tuổi không được ký vào bản hợp đồng lao động mà hợp đồng lao động chỉ được ký giữa người sử dụng lao động với người đại diện hợp pháp của người lao động và có sự đồng ý của người lao động. Quy định này không phù hợp, bởi lẽ người lao động là người trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ lao động, nếu không được ký vào bản hợp đồng lao động thì khó có cơ sở ràng buộc họ thực hiện nghĩa vụ lao động, đồng thời như vậy không đúng với bản chất của hợp đồng và không bảo đảm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động.
Quy định mới tại Điều 145 này đã khắc phục được bất cập trên và phù hợp hơn với thực tế sử dụng lao động cũng như thống nhất với các quy định khác của Bộ luật, không chỉ bảo đảm quyền tự định đoạt của cá nhân người lao động mà còn nhằm ràng buộc trách nhiệm khi họ trở thành người lao động.
Khi ký hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng. Mục đích là nhằm xác nhận người lao động dưới 15 tuổi đủ sức khỏe để làm việc, đồng thời bảo vệ một cách tốt nhất sức khỏe cho họ trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động.
Thời giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi. Theo đó, thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Cùng với thời giờ làm việc, pháp luật quy định người sử dụng lao động phải bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi của người lao động. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa đủ 15 tuổi làm “công việc nhẹ”. Theo đó “công việc nhẹ” cụ thể gồm những công việc gì hoàn toàn do nhà nước xác định và quy định.
Ngoài ra, trong một số trường hợp do yêu cầu riêng của công việc, pháp luật cho phép người sử dụng lao động được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc. Thông thường là các công việc liên quan đến năng khiếu và đòi hỏi phải được rèn luyện từ rất sớm như công việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao. Khi tuyển dụng và sử dụng lao động này, người sử dụng lao động, ngoài việc tuân theo các điều kiện như đối với người lao động dưới 15 tuổi nói chung ở trên, còn phải tuân theo các quy định riêng như: không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của họ và đặc biệt phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bởi, đối với người lao động dưới 13 tuổi, lứa tuổi thực sự còn quá nhỏ để tham gia quan hệ lao động, do đó Điều luật quy định các điều kiện chặt chẽ như vậy là hợp lý.
2.1.2. Quy định pháp luật về bảo vệ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên
Do lao động chưa thành niên hiểu biết xã hội, hiểu biết cuộc sống còn hạn chế, khả năng tự bảo vệ chưa cao, dễ bị bóc lột và lợi dụng, nên trong thực tế nhiều chủ sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ, tổ hợp tác, cá nhân trong các làng nghề, cơ sở xây dựng, sử dụng lao động sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thủ công,… đã kéo dài thời giờ làm việc trong ngày. Thậm chí có trường hợp bóc lột tối đa sức lao động của lao động chưa thành niên tới 14, 15 giờ trong một ngày. Họ hầu như không được nghỉ ngơi, học tập, tham gia các hoạt đông xã hội khác, từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần của lao động chưa thành niên.
Bởi vậy, để bảo vệ lao động chưa thành niên khi tham gia quan hệ lao động, ngoài quy định các nghề, công việc được sử dụng lao động chưa thành niên, điều kiện tuyển dụng lao động chưa thành niên, các quyền lợi về việc làm, tiền lương,… pháp luật còn đặc biệt quan tâm đến điều kiện lao động vệ sinh, an toàn và thời giờ làm việc. Theo đó, Điều 146 BLLĐ năm 2019 giới hạn cụ thể về thời giờ làm việc của người chưa thành niên nói chung, trong đó chủ yếu đối với lao động chưa thành niên khi tham gia quan hệ lao động. Cụ thể, người sử dụng lao động phải bố trí thời giờ làm việc hợp lý, không được vượt quá mức trần thời gian làm việc do Bộ luật Lao động quy định. Đặc biệt, đối với người chưa đủ 15 tuổi, người sử dụng lao động không được bố trí họ làm việc quá 04 giờ trong 01 ngày, 20 giờ trong 01 tuần, tức là bằng nửa thời giờ làm việc của người lao động thành niên làm công việc bình thường trong điều kiện bình thường. Mục đích là nhằm tạo điều kiện cho họ được nghỉ ngơi, dành thời gian để học tập và tham gia các hoạt động xã hội khác.
Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thời giờ làm việc không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần, đồng thời chỉ được làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường. Do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có sự phát triển tương đối về thể lực, sức khỏe và trí lực, nên để đáp ứng nhu cầu thu nhập của họ và nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp thủ công, vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay, họ có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào họ cũng được thỏa thuận làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm mà chỉ trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành. Mục đích của quy định này là nhằm bảo đảm cho người lao động chưa thành niên phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Nếu người sử dụng lao động vi phạm các quy định về thời giờ làm việc đối với lao động chưa thành niên thì bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định.
2.1.3. Quy định pháp luật về bảo vệ tiền lương và thu nhập đối với lao động chưa thành niên Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Cũng như những lao động khác, tiền lương của với lao động chưa thành niên được căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc, mức lương này không được phép thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ tại Nghị định số 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Trên cơ sở nguyên tắc “Trực tiếp” chính là sự trực tiếp về trách nhiệm; trách nhiệm của bên trả là trực tiếp trả hoặc chịu trách nhiệm về sự trả đó; trách nhiệm của bên nhận là trực tiếp nhận hoặc chịu trách nhiệm về sự nhận theo đó mà trong nguyên tắc trực tiếp này ở khoản 1 Điều 94 BLLĐ năm 2019 có quy định “Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp”.Việc cho phép người lao động chua thành niên ủy quyền cho người khác nhận lương được cho là hợp lý, nhất là trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn không thể trực tiếp nhận lương…
Trên cơ sở hình thức trả lương do hai bên thỏa thuận, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương cho người lao động bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền qua tài khoản cá nhân của người lao động tại ngân hàng; nếu trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và phí chuyển tiền lương. Quy định này trả lương bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản là phù hợp với yêu cầu của Công ước số 95 về bảo vệ tiền lương của ILO (với quy định: “Việc thanh toán bằng hiện vật như thực phẩm, hàng hóa hay dịch vụ phải bị hạn chế hết sức chặt chẽ. Mục đích là nhằm bảo vệ sức mua của người lao động mà điều này có tác động rộng lớn hơn đối với nền kinh tế”) và phù hợp với điều kiện thực tế, khi các giao dịch điện từ ngày càng trở nên phổ biến, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người trả và người nhận.Quy định này của BLLĐ năm 2019 sẽ giúp cho NLĐ chưa thành niên chưa có đủ khả năng hiểu biết về vấn đề này không bị lợi dụng và vi phạm quyền lợi. Bộ luật mới còn quy định người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động. Đặc biệt, không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định tránh cho NLĐ chưa thành niên còn non nớt về mặt nhận thức bị ép buộc thực hiện những hành vi không mong muốn. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Nhằm minh bạch tiền lương của người lao động chưa thành niên thì tại Khoản 3, Điều 95 BLLĐ năm 2019 tại yêu cầu mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương người lao động, trong đó ghi rõ: Tiền lương; Tiền lương làm thêm giờ; Tiền lương làm việc vào ban đêm; Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)… Về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định này là sự bổ sung quan trọng, đây vừa là sự cụ thể hóa quy định tại Điều 8 (những người lao động phải được thông báo theo cách mà cơ quan có thẩm quyền coi là thích hợp nhất về những điều kiện và những giới hạn mà những khấu trừ đó có thể được tiến hành), Điều 14 (nếu cần phải có những biện pháp hữu hiệu để thông báo cho người lao động biết một cách thích hợp và dễ hiểu: mỗi kỳ trả lương, những thành phần tiền lương của họ trong kỳ trả đó, nếu các thành phần đó có thể thay đổi) của Công ước số 95 về bảo vệ tiền lương của ILO, vừa xuất phát từ điều kiện thực tế của Việt Nam khi thời gian qua, việc trả lương của người sử dụng lao động thường không kèm các bảng kê để người lao động có căn cứ đối chiếu cụ thể nên dễ dẫn đến các thắc mắc, tranh chấp phát sinh, do đó việc bổ sung quy định này có phần tăng thêm trách nhiệm cho người sử dụng lao động song cũng sẽ góp phần tích cực cho việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp.
Thông qua quá trình điều tra và khảo sát trên địa Việt Nam nói chung và các tỉnh nói riêng cho thấy: việc vi phạm của NSDLĐ trong lĩnh vực trả công cho NLĐ chưa thành niên là phổ biến và hầu hết là trả công thấp hơn so với lao động trưởng thành. Điều này xuất phát từ việc NSDLĐ lợi dụng tâm lý người chưa thành niên làm việc là để học việc, tập dượt và chưa có kinh nghiệm trong khi đó NLĐ chưa thành niên lại rất cần công việc bởi hầu hết họ thuộc lớp gia đình nghèo. Theo báo cáo của Bộ LĐ,TB&XH đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thì: “Mức thấp nhất là 800.000 đồng/tháng/em, 17 cơ sở trả lương trực tiếp theo tuần hoặc tháng, trả gián tiếp có 38 cơ sở thông qua cha mẹ của các em 01 năm/lần. Lương làm theo giờ, làm ban đêm: hầu hết cơ sở không trả; Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho chưa người thành niên: không có cơ sở nào thực hiện”.
2.1.4. Quy định pháp luật về bảo vệ an toàn và vệ sinh lao động đối với lao động chưa thành niên
An toàn lao động được hiểu là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Vệ sinh lao động được hiểu là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động. An toàn lao động không tốt thì sẽ gây ra tai nạn lao động, vệ sinh lao động không tốt thì sẽ gây ra bệnh nghề nghiệp, làm tổn hại sức khỏe của NLĐ chưa thành niên. Chính vì vậy, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao động là nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm điều kiện làm việc, phòng tránh rủi ro từ môi trường làm việc cho NLĐ chưa thành niên. Do đó, Điều 132 BLLĐ năm 2019 đã quy định “NSDLĐ, NLĐ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Quy định này bắt buộc tất cả các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh, cả ở khu vực có QHLĐ và khu vực không có QHLĐ đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Nghĩa là các đơn vị sử dụng lao động phải thực hiện đúng và đầy đủ nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm, chế độ an toàn, vệ sinh lao động và các quy định có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động do Nhà nước quy định hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia phê chuẩn và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chung (Hiến pháp năm 2013, BLLĐ năm 2019) và các văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).
Để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thì việc xác định nghĩa vụ của các bên tham gia vào QHLĐ là rất cần thiết. Theo đó, Điều 134 của BLLĐ năm 2019 quy định trách nhiệm của NSDLĐ trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đối với NLĐ chưa thành niên tại nơi làm việc. Theo đó, NSDLĐ có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Bộ luật không chỉ rõ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, tuy nhiên căn cứ vào các quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thì NSDLĐ phải thực hiện các giải pháp như sau: 1) Đảm bảo nơi làm việc, máy móc, thiết bị sản xuất tại nơi làm việc đạt quy chuẩn kỹ thuật; 2) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; 3) Xây dựng và ban hành kế hoạch xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc; 4) Tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho NLĐ; 5) Trang cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại; 6) Thực hiện các chế độ bảo hộ, chăm sóc sức khỏe NLĐ, các chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở đó, NLĐ chưa thành niên có trách nhiệm chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động; tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
Việc xác định nghĩa vụ như trên giúp NSDLĐ và NLĐ biết để hiểu và thực hiện đúng trách nhiệm của mình trong vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động. Đây cũng là cơ sở pháp lý để xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của từng bên khi xảy ra các sự cố về an toàn, vệ sinh lao động
Cùng với Bộ luật Lao động, Luật An toàn vệ sinh lao động là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo an toàn lao động. Tuy nhiên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động vẫn chưa thống nhất và toàn diện, vẫn còn tình trạng chồng chéo, trùng lắp các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật ; tiếp đó lại có nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau gây khó khăn cho công tác áp dụng, quy định danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong nhiều văn bản, gây khó khăn trong công tác tra cứu, thực thi. Thực tế cho thấy quy định về an toàn lao động chưa phù hợp và còn nhiều vướng mắc trong việc áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95% tổng số doanh nghiệp) và lao động trong khu vực không có quan hệ lao động (chiếm gần 60% lực lượng lao động). Một số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, cơ khí chưa quan tâm đến công tác an toàn, vệ sinh lao động, nhưng lại thường xuyên sử dụng lao động phổ thông, không qua đào tạo dẫn đến nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cao. Công tác khai báo về tai nạn lao động của các doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm túc, chưa phản ánh đúng tình hình thực tế. Mặt khác, sự vào cuộc của chính quyền trong công tác ATVSLÐ ở một số nơi còn thiếu tích cực, công tác thanh tra, xử lý các vi phạm còn chưa nghiêm, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, thậm chí nhiều nơi khi phát hiện sai phạm nhưng chỉ dừng ở mức nhắc nhở, không lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.
2.2. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Lao động chưa thành niên luôn là đối tượng được quan tâm bởi nhiều tổ chức quốc tế và chính phủ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong báo cáo “Child labour – Global estimates 2020, trends and the road forward” được công bố tháng 6 năm 2021 của ILO và UNICEF cho thấy tình trạng lao động chưa thành niên trên toàn thế giới đang ở tình trạng đáng báo động. Những tiến bộ trong việc cải thiện tình trạng lao động chưa thành niên đạt được trong hai thập kỷ qua bị đe dọa nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19, làm thúc đẩy và gia tăng thêm 8,9 triệu lao động chưa thành niên trên toàn thế giới vào cuối năm 2022. Tại lễ khởi động Chương trình quốc gia về phòng ngừa và giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 diễn ra vào ngày 1/12/2021 thì đại diện của ILO tại Việt Nam đã nhận định: “Lao động chưa thành niên không chỉ gây rủi ro về uy tín cho Việt Nam với tư cách là một đối tác thương mại quốc tế và làm suy yếu năng lực của lực lượng lao động tương lai của đất nước, mà còn làm xói mòn quyền của trẻ em và gia tăng tình trạng nghèo đói theo chu kỳ. Việc thực hiện Chương trình quốc gia phòng ngừa giảm thiểu lao động chưa thành niên sẽ đảm bảo rằng cam kết này được áp dụng trên thực tế, tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu; điều này rất quan trọng đối với sự phục hồi kinh tế của đất nước sau Covid- 19.
Ở Việt Nam hiện nay, thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên được đánh giá là chưa nghiêm túc. Tình trạng lao động chưa thành niên tham gia vào QHLĐ nhưng không được ký kết HĐLĐ bằng văn bản, phần lớn là hợp đồng bằng lời nói nên không có ràng buộc về mặt pháp lý giữa NSDLĐ và NLĐ chưa thành niên, nếu có ký kết HĐLĐ thì hầu hết chưa quy định rõ thời gian làm việc, chế độ nghỉ ngơi. Tình trạng lao động chưa thành niên làm việc ở những ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên vẫn còn diễn ra; nhiều cơ sở sử dụng lao động trong độ tuổi chưa thành niên, không đăng ký với cơ quan quản lý lao động địa phương, do đó rất khó khăn trong công tác quản lý, giám sát. Theo số liệu Điều tra quốc gia về lao động chưa thành niên do ILO do Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố năm 2020 có thể thấy vẫn có tới 198.505 trẻ em, chiếm 12,9% làm các công việc tự sản, tự tiêu (trong tổng số 344.166 trẻ em 5-17 tuổi hoạt động kinh tế với các công việc thuộc nhóm sản phẩm tự sản, tự tiêu thuộc nhóm đối tượng được loại trừ theo tinh thần của Công ước 138) được xác định là lao động chưa thành niên do đã tham gia vào các công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em. Cũng theo kết quả điều tra trên thì tỷ lệ trẻ em 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế có giảm từ 15,5% năm 2012 xuống 9,1% năm 2018. Tuy nhiên, năm 2018 vẫn còn 29,6% trẻ em tham gia hoạt động kinh tế tham gia làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, trong đó tập trung nhiều trong khu vực công nghiệp xây dựng và khu vực dịch vụ. Có tới 805 lao động trẻ êm phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (chiếm 50,4% số lao động chưa thành niên).
- Bảng 1. Số liệu về tỉ lệ trẻ em từ 5-17 tuổi tham gia lao động chưa thành niên theo vùng và theo dân tộc của chủ hộ năm 2020-2021 Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Có thể thấy, kể từ khi tham gia các công ước Công ước số 138 và 182 của ILO thì Việt Nam đã có rất nhiều nổ lực trong việc nội luật hoá các tiêu chuẩn lao động quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên vào trong pháp luật lao động với các quy định tương đối đầy đủ nhằm tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện bảo vệ, ngăn chặn tình trạng lao động chưa thành niên bị bóc lột sức lao động và xây dựng một môi trường an ninh, an toàn và lành mạnh để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Nhìn chung, pháp luật Việt Nam về cơ bản đã tương đồng với những nội dung cơ bản của Công ước về Quyền trẻ em và Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì một số quy định của pháp luật hiện hành vẫn tỏ ra chưa thực sự tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế dẫn đến tình trạng lao động trẻm em tại Việt Nam trong những năm gần đây có dấu hiệu gia tăng đặc biệt là dưới tác động tiêu cực từ đại dịch COVID 19 mang lại điều này thể hiện thông qua kết quả Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020-2021 do Tổng cục Thống kê và UNICEF phối hợp đã chỉ ra một số nội dung cơ bản về thực trạng sử dụng lao động chưa thành niên tại Việt Nam hiện nay:
- Trong số trẻ em 5-17 tuổi, trẻ em gái (7,6%) có xu hướng tham gia lao động chưa thành niên nhiều hơn trẻ em trai (6,4%).
- Tỷ lệ trẻ em ở nông thôn tham gia lao động chưa thành niên cao hơn trẻ em ở thành thị (8,1% so với 4,6%)
- Trẻ em không đi học có nguy cơ tham gia lao động chưa thành niên cao hơn 5 lần so với trẻ em đang đi học (26,2% so với 5,7%)
- Trẻ em trong các hộ gia đình nghèo hơn, trẻ em có mẹ có trình độ học vấn thấp hơn, cũng như trẻ em thuộc các nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng tham gia lao động chưa thành niên nhiều hơn các nhóm khác.
- Trong các nhóm dân tộc thiểu số, trẻ em dân tộc Mông có nguy cơ tham gia lao động chưa thành niên cao hơn nhiều so với trung bình của cả nước (25,5% so với 6,9%).
Tỷ lệ trẻ em từ 5-17 tuổi làm việc trong điều kiện lao động nguy hiểm có tương quan nghịch với nhóm mức sống của hộ gia đình và trình độ học vấn của người mẹ. Trẻ em từ các gia đình nghèo hơn và có mẹ có trình độ học vấn thấp hơn có nhiều khả năng làm công việc nguy hiểm hơn.
- Bảng 2: Số liệu về các hình thức lao động chưa thành niên theo loại công việc và nhóm tuổi năm 2020-2021
- Bảng 3: Khung xác định lao động chưa thành niên và lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm trong dân số trẻ em từ 5-17 tuổi theo kết quả điều tra của ILO năm 2020
- Bảng 4: Biểu đồ cơ cấu về tình trạng đi học của lao động chưa thành niên theo kết quả điều tra của ILO năm 2020 (%
- Bảng 5: Biểu đồ về tình trạng trẻ em gặp phải các vấn đề về sức khoẻ và an toàn lao động (%)
Bên cạnh đó, tình trạng cưỡng bức lao động đối với trẻ em vẫn tồn tại trong thời gian vừa qua mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực trong việc xoá bỏ hiện tương này. Điển hình là vụ việc xảy ra vào đầu tháng 2 năm 2021 Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Công an huyện Tư Nghĩa đã giải cứu thành công 08 thiếu nữ bị nhốt trong quán karaoke Hoàng Gia ở xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa. Theo lời khai của các nạn nhân sau khi được giải cứu, thì vì hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn và nghe theo lời dụ dỗ của một số đối tượng nên những thiếu nữ này đã tìm đến quán karaoke Hoàng Gia để xin việc làm. Trong quá trình làm việc ở đây, nhóm NLĐ nói trên luôn bị NSDLĐ nhốt, tịch thu điện thoại, không được ra khỏi quán và thay phiên tiếp khách. Nghiêm trọng hơn, họ bị tra tấn, đánh đập và bị dùng nhiều biện pháp nhục hình, tra tấn như lột quần áo để châm điện, đe dọa chặt ngón tay, chân và uy hiếp tinh thần buộc các nạn nhân phải làm việc.
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam đã tương thích với những quy định cơ bản của Điều 32 Công ước về quyền trẻ em và hai Công ước số 138 và 182 của ILO. Tuy nhiên, xét trên một số vấn đề cụ thể thì vẫn còn bất cập. Những bất cập này cũng chính là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng LĐTE hiện nay ở nước ta.
- Thứ nhất, về độ tuổi tối thiểu tham gia lao động. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Độ tuổi tối thiểu là tiêu chuẩn cơ bản của pháp luật lao động, đã được quy định tại Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO với mức tuổi sàn là không dưới 15 hoặc không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc (Khoản 3 Điều 2). Là quốc gia phê chuẩn Công ước số 138, xét một cách khái quát, việc quy định về độ tuổi tối thiểu của trẻ em được tuyển vào làm việc của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế bởi tính linh hoạt theo từng loại hình công việc. Quy định chung của BLLĐ năm 2019 là 15 tuổi (Khoản 1 Điều 3), tuy nhiên, Điều 143 BLLĐ năm 2019 quy định về lao động chưa thành niên như sau: Đối với một số công việc đặc thù như làm việc tại các nhà hàng, khách sạn, quán bar, một số công việc và điều kiện làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam thì độ tuổi tối thiểu là 18; người từ 13 đến 15 tuổi chỉ được làm các công việc nhẹ theo quy định và người chưa đủ 13 tuổi thì chỉ được tuyển dụng cho các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao. Mục 68 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 09/2020/TT- BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về lao động chưa thành niên quy định về công việc phải mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng lao động chưa thành niên của nhóm tuổi từ 180 tháng – 15 tuổi đến dưới 216 tháng – 18 tuổi (Thông tư số 09/2020). Đây là quy định chỉ áp dụng với trường hợp người lao động chưa thành niên tham gia công việc liên quan đến mang vác trọng lượng một vật nhất định, mà không áp dụng chung cho tất cả các công việc, ngành nghề cấm sử dụng lao động chưa thành niên. Bên cạnh đó, Mục 35 Phụ lục III Thông tư số 09/2020 quy định về các công việc trên tàu đi biển không cụ thể về phạm vi công việc. Điều này có thể tạo điều kiện cho người sử dụng lao động lợi dụng sự không rõ ràng trong quy định để bóc lột lao động chưa thành niên. Xét một cách khái quát, việc quy định về độ tuổi tối thiểu của trẻ em được tuyển vào làm việc của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, tuy nhiên, chưa có sự cụ thể hóa đối với những loại hình công việc được phép sử dụng lao động chưa thành niên.
- Thứ hai, về danh mục các ngành nghề bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên.
Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục công việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên (69 công việc) tại Phụ lục III, danh mục nơi làm việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên (06 địa điểm) tại Phụ lục IV. Có thể thấy Thông tư này đã bổ sung nhiều công việc, nhóm công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên so với Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10/6/2013 ban hành Danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên, đặc biệt là những công việc thuộc ngành công nghiệp nặng, hóa chất, làng nghề truyền thống, khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế gia đình nơi tình trạng lao động chưa thành niên diễn ra phức tạp. Tuy nhiên, Thông tư số 09/2020 vẫn chưa quy định một số ngành nghề trong lĩnh vực ngư nghiệp và nông nghiệp được đánh giá là nguy hiểm do sử dụng thiết bị, máy móc thiếu tiêu chuẩn về an toàn lao động, bao gồm các yếu tố nặng nhọc, độc hại như cày, bừa… trong lĩnh vực nông nghiệp. Ngoài ra, tại Mục 35 Phụ lục III Thông tư số 09/2020 về Danh mục công việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên quy định các công việc trên tàu đi biển nhưng chưa giải thích có bao gồm công việc đánh bắt và chế biến hải sản hay không. Bởi đây cũng được coi là công việc nặng nhọc và nguy hiểm với lao động chưa thành niên.
- Thứ ba, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên.
Người chưa thành niên là đối tượng lao động đặc thù, việc quy định thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi nhằm đảm bảo cho trẻ em có thời gian học tập, nghỉ ngơi để phát triển thể chất. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Về thời giờ làm việc, BLLĐ năm 2019 vẫn giữ nguyên quy định về thời lượng là không quá 04 giờ/ngày và 20 tiếng/tuần đối với lao động dưới 15 tuổi. Đối với lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì được phép làm việc không quá 08 tiếng/ngày và 40 giờ/tuần (Điều 146). So với lao động thành niên, lao động chưa thành niên làm việc ít hơn 08 tiếng/tuần. Về làm thêm giờ, BLLĐ năm 2019 quy định lao động chưa thành niên từ đủ 15 đến 18 tuổi được làm thêm giờ và làm việc ban đêm một số công việc theo quy định pháp luật (Khoản 2 Điều 146). Tuy nhiên, Khuyến nghị số 146 của ILO về tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc cấm làm thêm giờ đối với lao động chưa thành niên để đủ thời gian cho việc giáo dục, nghỉ ngơi và các hoạt động khác (Đoạn 13). Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa tương thích với công ước quốc tế về quy định này.
Về thời giờ nghỉ ngơi, hiện nay vẫn chưa có quy định riêng cho lao động chưa thành niên, mà vẫn theo quy định về thời giờ nghỉ ngơi của người lao động nói chung (từ Điều 109 – 116 BLLĐ năm 2019). Đảm bảo thời giờ nghỉ ngơi luôn là chế định mà pháp luật nhiều quốc gia chú trọng và được quy định trong một số Công ước của ILO như Công ước số 106 về nghỉ hàng tuần trong thương mại và văn phòng năm 1957 hay Công ước số 132 về giờ làm việc và ngày nghỉ phép năm 1970. Là đối tượng lao động đặc thù về thể chất và tinh thần, việc quy định thời gian nghỉ ngơi cụ thể nhằm bảo vệ tối ưu quyền lợi chính đáng cho lao động này, phòng tránh việc lạm dụng sử dụng lao động chưa thành niên bất hợp pháp.
- Thứ tư, Về tiền lương và thu nhập đối với lao động chưa thành niên
Theo quy định tại Điều 1 Công ước số 95 (1949) về bảo vệ tiền lương của ILO quy định: …”tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ), hoặc bằng pháp luật quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. Với định nghĩa này, ILO đã đưa các dấu hiện cơ bản nhận biết tiền lương, bao gồm: 1) Tiền lương là sự trả công lao động; 2) Hình thức biểu hiện của tiền lương là bằng tiền mặt; 4) Tiền lương được ấn định bằng sự thỏa thuận của các bên hoặc bằng pháp luật quốc gia; 5) Lý do mà NSDLĐ phải trả lương cho NLĐ. Về phương diện pháp lý, có thể thấy đây là định nghĩa khá toàn diện về tiền lương. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Như đã đề câp, BLLĐ năm 2019 có quy định về mức lương tối thiểu áp dụng người lao động nhưng không quy định về tiền lương của lao động chưa thành niên, chính vì vậy mà các quy định về “tiền lương tối thiểu” của lao động chưa thành niên sẽ được áp dụng theo nguyên tắc chung . Vấn đề đặt ra quy định về tiền lương tối thiểu hiện nay vẫn căn cứ vào các tiêu chí đã được xây dựng sẵn qua nhiều năm. Do vậy, chính sách tiền lương tối thiểu đã bộc lộ một số hạn chế:
Công tác luật hóa tiền lương tối thiểu chưa cụ thể và đầy đủ, đặc biệt là các yếu tố xác định mức lương tối thiểu mới chủ yếu nhấn mạnh nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ nói chung & lao động chưa thành niên nói riêng, thiếu các yếu tố của thị trường lao động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Trên thực tế hiện nay mức lương tối thiểu còn thấp, chưa đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ nói chung, gây nhiều bức xúc cho NLĐ và là nguyên nhân của hầu hết các cuộc đình công và tranh chấp lao động. Mức lương tối thiểu thấp là hệ lụy rất lớn đến thực hiện các chính sách an sinh của NLĐ như ốm đau, thất nghiệp, tiền làm thêm giờ… Người sử dụng lao động thường căn cứ vào mức lương tối thiểu để ký hợp đồng lao động, trả lương, trích nộp bảo hiểm cho NLĐ cận kề hoặc cao hơn rất ít so với mức lương tối thiểu vùng.. Tuy nhiên, nghịch lý là các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, năng suất lao động thấp, nếu điều chỉnh nhanh để bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ thì nhiều doanh nghiệp sẽ khó khăn, giảm năng lực cạnh tranh NLĐ sẽ mất việc làm, không có thu nhập, thị trường lao động không ổn định. Việc dung hòa lợi ích giữa các bên là vấn đề rất nan giải.
Các căn cứ để tính cũng như điều chỉnh mức lương tối thiểu ở nước ta còn chưa khách quan, nhiều tiêu chí còn đánh giá mang tính chủ quan, trong mỗi lần điều chỉnh thông qua cơ chế ba bên trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, mức độ tranh luận còn gay gắt, sự nhượng bộ của các bên còn thấp.
Theo báo cáo về tiền lương toàn cầu 2014-2015 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong các nước ASEAN, mức lương bình quân của Việt Nam ở mức 3,8 triệu đồng/tháng (181 USD). Mức lương này chỉ cao hơn Lào (119 USD), Campuchia (121 USD) và thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực ASEAN như Philippines (206 USD), Thái Lan (357 USD), Malaysia (609 USD), Singapore (3.547 USD) . Việt Nam vẫn thuộc nhóm có mức lương tối thiểu thấp nhất trong khu vực ASEAN. Từ các bất cập của pháp luật hiện hành về “mức tiền lương tối thiểu” do đó dẫn đến trên thực tế nếu muốn chấp hành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, loại công việc được làm và áp dụng mức lương tối thiểu như lao động thành niên thì người sử dụng lao động ít lựa chọn sử dụng lao động chưa thành niên. Bởi vì, thời gian làm việc của lao động chưa thành niên ít hơn, hiệu suất lao động cũng vì thế mà ít hơn. Trên thực tế do người lao động chưa thành niên thường có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên nên mới đi thực hiện hoạt động lao động. Do quan niệm họ thường làm việc yếu hơn người lớn, nên người sử dụng lao động thường vi phạm trong việc trả lương cho đối tượng này như không trả lương, chậm trả lương, trả lương thấp hơn người lao động thành niên. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
- Thứ năm, Về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với lao động chưa thành niên
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng về khoa học công nghệ có tác động rất lớn đến môi trường lao động. Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đã tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp trong việc góp phần bảo vệ an toàn, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ chưa thành niên và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp cũng như kỹ thuật công nghệ mới, thì những yêu cầu về phúc lợi và đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động đã bộc lộ rõ những hạn chế, bất cập đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác này.
Cùng với Bộ luật Lao động, Luật An toàn vệ sinh lao động là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo an toàn lao động. Tuy nhiên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động vẫn chưa thống nhất và toàn diện, vẫn còn tình trạng chồng chéo, trùng lắp các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật như Luật Hóa chất, Luật Khoáng sản, Luật Công đoàn; tiếp đó lại có nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau gây khó khăn cho công tác áp dụng, quy định danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong nhiều văn bản, gây khó khăn trong công tác tra cứu, thực thi. Thực tế, một doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của nhiều luật và các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động khác nhau.
Quy định về an toàn lao động chưa phù hợp và còn nhiều vướng mắc trong việc áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95% tổng số doanh nghiệp) và lao động trong khu vực không có quan hệ lao động (chiếm gần 60% lực lượng lao động). Một số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, cơ khí chưa quan tâm đến công tác an toàn, vệ sinh lao động, nhưng lại thường xuyên sử dụng lao động phổ thông, không qua đào tạo dẫn đến nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cao. Công tác khai báo về tai nạn lao động của các doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm túc, chưa phản ánh đúng tình hình thực tế. Mặt khác, sự vào cuộc của chính quyền trong công tác ATVSLÐ ở một số nơi còn thiếu tích cực, công tác thanh tra, xử lý các vi phạm còn chưa nghiêm, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, thậm chí nhiều nơi khi phát hiện sai phạm nhưng chỉ dừng ở mức nhắc nhở, không lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.
Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất đều phải tuân theo quy định của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động. Điều đó có nghĩa là ở đâu có việc làm thì ở đó NLĐ chưa thành niên đều cần được bảo đảm về an toàn, vệ sinh lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội. Vì vậy, đối tượng điều chỉnh của công tác an toàn, vệ sinh lao động không chỉ áp dụng với khu vực có quan hệ lao động mà cả những người không có quan hệ lao động.
Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động cần được rà soát ban hành mới để kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, phù hợp với công nghệ và vật liệu mới. chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mới quy định việc giải quyết hậu quả thông qua chi trả chế độ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chia sẻ rủi ro với người sử dụng lao động khi xảy ra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng. Trong khi công tác phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được đặt lên hàng đầu đang là xu thế chung, là chuẩn mực quốc tế cũng như yêu cầu nội luật hóa các quy định được đưa ra trong các Công ước của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) đã được Việt Nam phê chuẩn, gia nhập.
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên tại TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
2.3.1. Thực hiện các quy định về bảo vệ về việc làm của người lao động chưa thành niên
Theo thống kê của Phòng LĐ,TB&XH TP. Thuận An về kết quả điều tra về lao động chưa thành niên vào năm 2020 trên địa bàn TP. Thuận An có 60.214 người dưới 18 tuổi (trong đó dưới 15 tuổi là 37.458 người), có 52,3% là trẻ em trai và 47,7% là trẻ em gái, chiếm 20,7% tổng dân số. Nhóm lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuồi chiếm tỉ lệ lớn tham gia vào quan hệ lao động bởi nhóm tuổi này đã có những đặc điểm về thể chất và tâm lý dần ổn định, gần giống với nhóm lao động trưởng thành, bắt đầu hình thành những khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Số trẻ em sống trong hộ gia đình nghèo và cận nghèo là 4.512 em. Số trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là 485 em, trong đó số trẻ em chưa bao giờ được đi học là 156 em. Đây là những trẻ em có nguy cơ sớm tham gia vào quan hệ lao động. Trong tổng số trên 60.214 trẻ em, có khoảng 1/6 trong số này (10.036 em) đang tham gia hoạt động kinh tế, chiếm gần 16,7% dân số nhóm tuổi này. Qua đó cho thấy, nhu cầu việc làm của người chưa thành niên là rất lớn, nhất là ở các xã kém phát triển (chiếm gần 85% số lao động chưa thành niên). Trong số đó, 45,2% lao động chưa thành niên hiện vẫn còn tiếp tục đi học, 52% hiện đã thôi học và 2,8% chưa bao giờ đi học.
Kết quả điều tra cũng cho thấy công việc mà lao động chưa thành niên thực hiện khá đa dạng với phạm vi trên toàn TP, tập trung chủ yếu trong các cơ sở dịch vụ và đơn vị sản xuất nhỏ của tư nhân như trẻ em làm việc phụ cha mẹ tại các làng nghề thủ công truyền thống như dệt may, thêu thùa, làm đồ gỗ, làm vàng mã, mây tre đan, sơn mài…; nhân viên tại các cửa hàng rửa xe; nhân viên trong các nhà hàng, quán ăn nhỏ; phu cửu vạn tại nhà ga, bến xe, chợ; đi thu gom phế liệu; đi phụ nề tại các công trình xây dựng hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố…
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc giảm thiểu LĐTE; tuy nhiên thực tế tại TP Thuận An cho thấy lao động chưa thành niên chưa nhận được sự quan tâm trong các chính sách, biện pháp giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các quy định về việc làm chưa có những quy định riêng áp dụng đối với lao động chưa thành niên chưa có những quy định ưu tiên, hỗ trợ tạo ra việc làm phù hợp với người chưa thành niên. Theo kết quả điều tra của Phòng LĐ,TB&XH TP Thuận An, trong số 100 em (từ 6 – 18 tuổi) được khảo sát cho biết cách thức các em tìm việc làm thông qua cha mẹ, người thân, bạn bè chiếm hơn 97%, qua môi giới chỉ chiếm 2,7%. Số liệu này cho thấy vai trò của Trung tâm giới thiệu việc làm là cầu nối giữa NSDLĐ và người lao động không hiệu quả. Điều này khiến cho LĐTE không nắm được thông tin về điều kiện làm việc và đây là một trong những nguyên nhân khiến các em bị lạm dụng, bóc lột trong quá trình tham gia lao động. Bên cạnh đó, trên địa bàn TP Thuân An vẫn liên tục xuất hiện tình trạng người chưa thành niên (đặc biệt là lao động nữ) làm việc trong các quán karaoke, nhà hàng ăn uống hoặc khách sạn là những địa điểm có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách của trẻ em.
2.3.2. Thực hiện các quy định về bảo vệ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Theo kết quả khảo sát do Phòng LĐ,TB&XH TP. Thuân An về lao động chưa thành niên năm 2020 cho thấy: Các vi phạm về thời gian làm việc của lao động chưa thành niên cũng diễn ra phổ biến, thời gian làm việc của lao động chưa thành niên trung bình từ 4-5 giờ/ngày, có lúc lên đến 6 giờ/ngày hoặc nhiều hơn, thậm chí là 10 – 12 giờ/ngày trong dịp lễ, tết và vụ mùa sản xuất. Nếu làm việc trong các công ty may mặc, thực phẩm thì mùa cao điểm có thể làm việc hơn 8 giờ/ngày thậm chí 14- 16 giờ/ngày.. Xét theo độ tuổi, trẻ em nhóm 5 – 11 tuổi chủ yếu (gần 88%) làm ít hơn 24 giờ/tuần; trẻ em 12 – 14 tuổi chủ yếu (89%) làm ít hơn 42 giờ/tuần, nhưng sang tuổi 15 – 17, một nửa số lao động chưa thành niên phải làm hơn 42 giờ/tuần. Điều này cho thấy sự vi phạm pháp luật lao động của NSDLĐ và đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của lao động chưa thành niên 61. Trẻ em là nhóm cần đặc biệt chú ý vì thời gian làm việc dài sẽ vắt kiệt sức lực, ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tầm vóc và tâm lý của trẻ sau này.
2.3.3. Thực hiện các quy định về bảo vệ tiền lương và thu nhập đối với lao động chưa thành niên
Thông qua quá trình điều tra và khảo sát trên địa bàn Tỉnh Bình Dương nói chung và TP. Thuận An nói riêng cho thấy, việc vi phạm của NSDLĐ trong lĩnh vực trả công cho LĐCTN là phổ biến và hầu hết là trả công thấp hơn so với lao động bình thường. Điều này xuất phát từ việc NSDLĐ lợi dụng tâm lý người chưa thành niên làm việc là để học việc, tập dượt và chưa có kinh nghiệm trong khi đó lao động chưa thành niên lại rất cần công việc bởi hầu hết họ thuộc lớp gia đình nghèo. Theo báo cáo của Phòng LĐ,TB&XH TP. Thuân An khảo sát đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thì: “Mức thấp nhất là 800.000 đồng/tháng/LĐTE, 17 cơ sở trả lương trực tiếp theo tuần hoặc tháng, trả gián tiếp có 38 cơ sở thông qua cha mẹ của các em 01 năm/lần. Lương làm theo giờ, làm ban đêm: hầu hết cơ sở không trả; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho chưa người thành niên: không có cơ sở nào thực hiện”. Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Theo quy định của pháp luật, việc trả lương phải trả trực tiếp cho người lao động và trả tại nơi làm việc, tuy nhiên thực tế hiện nay các chủ cơ sở thường về các gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn tuyển dụng người chưa thành niên và đưa tiền cho cha mẹ, hàng tháng LĐTE không nhận lương mà chủ sử dụng sẽ chuyển tiền về gia đình. Rõ ràng đây là những sai phạm mà nguyên nhân không chỉ xuất phát từ NSDLĐ mà ở ngay chính cha mẹ của NLĐ chưa thành niên.
Thời gian qua,một số vụ việc vi phạm về NLĐ chưa thành niên đang được xã hội quan tâm rất nhiều, tuy nhiên có thể nhìn thấy một thực trạng là số liệu việc xử phạt những đơn vị, cá nhân vi phạm quy định về sử dụng NLĐ chưa thành niên vẫn còn quá ít ỏi, chưa được thống kê và quản lý một cách nghiêm túc. Rất nhiều người chưa thành niên tham gia quan hệ lao động nhưng không được tham gia bảo hiểm xã hội. Việc không nộp bảo hiểm xã hội đã dẫn đến nhiều thiệt hại cho người lao động khi không được hưởng các chế độ bảo hiểm khi có đủ điều kiện hưởng và cho cơ quan bảo hiểm với cảnh báo về nguy cơ vỡ quỹ do tiền thu không đủ cho chi. Như vậy, mặc dù bảo hiểm xã hội là một hình thức thể hiện tính nhân văn do con người sáng tạo ra nhằm đem lại những giá trị vật chất và tinh thần để hỗ trợ những người trong hoàn cảnh khó khăn thì bản thân NLĐ chưa thành niên không được hưởng.
2.3.4. Những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên
- Vướng mắc, bất cập
Thứ nhất, các văn bản pháp luật về bảo vệ NLĐ chưa thành niên chưa được cụ thể hóa và đồng bộ nên dẫn đến việc tổ chức triển khai còn vướng mắc. Cụ thể như các quy định về xử phạt vi phạm về lao động chưa thành niên: những vụ việc liên quan đến lạm dụng lao động chưa thành niên, các cơ quan chức năng không xác định được tội danh nên chỉ xử phạt hành chính, trong khi có những trường hợp trẻ em đã bị lạm dụng, bóc lột lao động tới mức bị xâm hại về thể chất và tinh thần có thể người vi phạm bị quy kết tội danh và bị xử phạt hình sự.
Thứ hai, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ NLĐ chưa thành niên ở một số địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chưa được quan tâm đúng mức.
Khi được hỏi về thực trạng LĐTE ở địa phương phần lớn các công chức, viêm chức quản lý địa phương khẳng định có và biết rõ LĐTE đang ở mức độ nào, tuy nhiên vẫn có câu trả lời “không biết”. Việc không biết rõ về tình trạng LĐTE tại địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương dẫn đến không đầu tư về nhân lực, tài chính cho hoạt động ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm trên địa bàn, không thực hiện việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về lao động chưa thành niên cho người dân, người sử dụng lao động chưa nắm được đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên. Một số lãnh đạo địa phương chưa thực sự coi bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ của mình nên còn chưa có biện pháp quản lý, theo dõi biến động để có biện pháp ngăn ngừa, khắc phục hiệu quả. Thêm vào đó, nhiều gia đình còn trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chỉ lo đối phó với đồng tiền, bát gạo và cái lợi trước mắt mà chưa quan tâm đến hậu quả lâu dài và sự phát triển của con em họ khi để chúng tiếp tục tham gia lao động.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác trẻ em chưa đáp ứng được yêu cầu, có thể đánh giá đang bị hụt hẫng về số lượng, trung bình Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Đối với cấp xã, công tác trẻ em chủ yếu được kiêm nhiệm nên thời gian dành cho công tác trẻ em còn hạn chế. Phần lớn cán bộ kiêm nhiệm công tác trẻ em lại chưa được đào tạo cơ bản về quyền trẻ em và công tác xã hội nên chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác trẻ em chưa cao. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chỉ bố trí 01 người chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác trẻ em nên không đủ thời gian triển khai đầy đủ các hoạt động theo chỉ đạo của các bộ, ngành trung ương và sở, ban, ngành địa phương. Tính trên các nhiệm vụ của trung ương giao và nhiệm vụ quản lý nhà nước về điều phối thực hiện quyền trẻ em ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã cho thấy khối lượng và áp lực công việc rất lớn.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi, chấp hành pháp luật và chính sách bảo vệ NLĐ chưa thành niên em tại một số địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chưa thực hiện thường xuyên, triệt để. Việc sử sử dụng NLĐ chưa thành niên chủ yếu là các chủ tư nhân, làm ăn nhỏ lẻ, phân tán và cũng có nhiều mánh khóe nên việc giám sát, xử lý chỉ được ở mức độ nhất định. Hoạt động thanh tra chủ yếu do thanh tra Tỉnh Bình Dương thực hiện chung thanh tra ngành LĐ – TB – XH, chưa có thanh tra chuyên ngành trẻ em, nên chưa có các cuộc thanh tra chuyên biệt để phát hiện các vi phạm liên quan đến LĐTE. Với số lượng lớn các doanh nghiệp, chưa kể các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề mà số lượng thanh tra viên có rất ít người thì không thể tiến hành thanh tra, phát hiện hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề có sử sử dụng NLĐ chưa thành niên. Lao động chưa thành niên chủ yếu được sử dụng nhiều trong các các cơ sở sản xuất hộ gia đình, làng nghề, các điểm khai thác khoáng sản tư nhân hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh không chính thức. Tại những điểm đó, rất khó khăn cho đoàn thanh tra phát hiện và xử lý. Khi có vấn đề cần được phát hiện, việc thành lập đoàn kiểm tra liên ngành, việc trao đổi thông tin giữa các ngành có liên quan và xác định nội dung, địa điểm, cử cán bộ tham gia đoàn còn chậm, gây kéo dài thời gian cho việc phát hiện, xử lý vụ việc.
Thứ năm, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trẻ em nói chung và về bảo vệ NLĐ chưa thành niên nói riêng còn nhiều khó khăn, số liệu thống kê về lao động chưa thành niên chưa được phản ánh kịp thời, chính xác. Số liệu LĐTE được cập nhật từ địa phương định kỳ 6 tháng, 1 năm. Do vậy độ chính xác và đầy đủ của thông tin cũng khó xác định, vì có một số địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chỉ đưa ra được đánh giá trong 6 tháng hoặc thậm chí không có, hoặc chỉ đánh giá chung với nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chứ không đánh giá riêng cho đối tượng LĐTE
Thứ sáu, kinh phí bố trí cho công tác bảo vệ, bảo vệ NLĐ chưa thành niên hằng năm chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, chưa tương xứng so với quy định của Luật Trẻ em. Chưa có nguồn ngân sách phù hợp để giải quyết những vấn đề nóng trong nhiệm vụ bảo vệ trẻ em với 3 cấp độ phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp theo luật định. Nhiều địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chưa quan tâm bố trí kinh phí để thực hiện các chương trình, đề án dành cho bảo vệ trẻ em; bố trí ngân sách chi thường xuyên cho công tác bảo vệ trẻ em thông qua ngành Lao động – Thương binh và Xã hội ở mức thấp; rút bớt ngân sách địa phương khi có ngân sách trung ương hỗ trợ Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
- Nguyên nhân của vướng mắc, bất cập
Thứ nhất, do hệ thống văn bản pháp luật về LĐTE còn thiếu đồng bộ. Quy định của pháp luật liên quan đến lao động chưa thành niên, được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, dẫn đến còn có sự thiếu đồng nhất trong các quy định về độ tuổi trẻ em. Hơn nữa, còn thiếu sự nhất quán trong các văn bản chính sách, pháp luật, như Bộ Luật Lao động, Luật Trẻ em và các văn bản khác, vì thế còn nhiều bất cập cho việc tổ chức thực hiện.
Thứ hai, do chính sách bảo vệ NLĐ chưa thành niên triển khai chưa kịp thời và chưa phù hợp với đối tượng. Điều này xuất phát trước tiên từ nhận thức của lãnh đạo chính quyền các cấp, của các cơ quan đoàn thể, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, gia đình và bản thân trẻ em về luật pháp, chính sách bảo vệ trẻ em, bảo vệ NLĐ chưa thành niên chưa cao. Một số chính quyền nhiều địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chưa chủ động xây dựng, phối hợp với các cơ quan đoàn thể, huy động các tổ chức xã hội, các cá nhân tham gia thực hiện các chương trình, mô hình tại địa phương bằng nguồn kinh phí của địa LĐTE và ngăn ngừa tình trạng lạm dụm sử dụng NLĐ chưa thành niên trên địa bàn.
Trong thực tế, đối tượng trẻ em bỏ học do phải lao động sớm có nhu cầu dạy nghề lớn, song việc thu hút các em vào các cơ sở dạy nghề còn hạn chế do: các em thường có trình độ học vấn thấp không đủ tiêu chuẩn đầu vào (tuyển sinh) theo quy định nên gần 100% số cơ sở dạy nghề dài hạn không tiếp nhận trẻ vào học nghề; chương trình, giáo trình hiện có chưa phù hợp với trẻ bỏ học. Mặt khác, đa phần các em đi lao động sớm đều có hoàn cảnh gia đình nghèo, phải đi lao động giúp đỡ gia đình nên nếu đưa các em vào cơ sở dạy nghề nhưng khoản kinh phí hỗ trợ cho các em không đủ để đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình các em thì cũng rất khó cho việc thu hút các em học nghề. Đã có nhiều em vào cơ sở học nghề nhưng không theo hết khoá học và phải bỏ dở giữa chừng để tiếp tục đi làm phụ giúp cha mẹ.
Thứ ba, hiện nay ngân sách nhà nước dành cho TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương được bố trí thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc các đề án, chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về bảo vệ trẻ em chứ chưa có ngân sách dành riêng cho bảo vệ NLĐ chưa thành niên. Chính vì vậy có những hạn chế nhất định trong hoạt động tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức và cộng tác viên làm công tác trẻ em. Do nguồn lực các địa phương có hạn và cơ quan tổ chức tập huấn không hỗ trợ cho người học là công chức, viên chức các cấp đi tập huấn theo cơ chế tài chính hiện hành, người học phải sử dụng ngân sách của cơ quan cử đi học. Vì vậy, hầu hết các công chức, viên chức muốn tham gia tập huấn nâng cao năng lực đều gặp khó khăn về tài chính nên việc tham gia bị hạn chế, dẫn đến năng lực thực thi các hoạt động bảo vệ NLĐ chưa thành niên của cán bộ chuyên trách ở các địa phương cũng bị hạn chế.
Thứ tư, do thiếu lực lượng thanh tra chuyên ngành trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương đặc biệt là thanh tra về LĐTE, do không có phương tiện, công cụ hỗ trợ để thực hiện thanh tra nên công tác thanh tra, kiểm tra không được thường xuyên. Đặc biệt là thanh tra những điểm nóng như lò khai thác khoáng sản đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của công an vì thế công tác thanh tra, kiểm tra càng không thể thực hiện chủ động.
Thứ bảy, do điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc thu thập thông tin trẻ em ở một số địa phương trên địa bàn TP. Thuận An, Tỉnh Bình Dương chưa đảm bảo, nhiều cấp xã chưa trang bị được hệ thống máy tính có kết nối internet để đảm bảo việc cập nhật dữ liệu trẻ em được thông suốt.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Qua nghiên cứu chương 2, tác giả rút ra một số kết luận sau:
Lao động chưa thành niên là một loại hình lao động đặc thù; bởi lẽ, khi sử dụng lực lượng lao động đặc biệt này cần tính đến những điều kiện và đặc điểm riêng biệt nhằm bảo đảm quyền học tập và phát triển của trẻ Sau khi trở thành thành viên của ILO, Việt Nam đã lần lượt phê chuẩn hai Công ước của ILO có liên quan đến vấn đề lao động chưa thành niên bao gồm Công ước số 182 về những hình thức LĐTE tồi tệ nhất và Công ước số 138 về buổi tối thiểu. Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền NLĐ chưa thành niên được đề cập ở BLLĐ năm 2019, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác như Luật trẻ em 2016; Luật Bình đẳng giới năm 2006..vvv. Nhìn chung, khung pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền NLĐ chưa thành niên đã tương thích với những quy định cơ bản của Điều 32 Công ước về quyền trẻ em và hai Công ước số 138 và 182 của ILO. Tuy nhiên thực tiễn thực hiện pháp luật trong thời gian qua cho thấy một số quy định về bảo vệ quyền NLĐ chưa thành niên vẫn còn những hạn chế, như: chưa có một định nghĩa chính thức về NLĐ chưa thành niên; quy định về độ tuổi của NLĐ chưa thành niên thiếu thống nhất và thiếu hệ thống về cơ sở lý luận; các quy định trong vấn đề việc làm, học nghề, giao kết hợp đồng, mức xử lý vi phạm chưa phù hợp; còn thiếu một số quy định cần thiết cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe, thiếu quy định mở rộng ngành nghề được sử dụng và cấm sử dụng NLĐ chưa thành niên;… Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.
Nhằm đảm bảo quyền của người lao động nói chung và quyền của NLĐ chưa thành niên nói riêng được thực thi đầy đủ trên thực tế đồng thời nhằm tăng tính khả thi của pháp luật, việc sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về lao động không phù hợp với thực tế là cần thiết, là trách nhiệm của các cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyền.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên