Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về vườn quốc gia Ba Bể

2.1.1. Vị trí địa lý

VQG Ba Bể nằm ở phía tây bắc huyện Ba Bể, cách thị xã Bắc Kạn 68 km theo hướng Tây – Bắc, cách Thủ đô Hà Nội 260 km về phía Bắc. VQG Ba Bể mở rộng bao gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm nằm ở các xã Nam Mẫu, Khang

Ninh, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc vùng núi đá vôi xen kẽ các thung lũng đất hẹp thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. VQG Ba Bể nằm trên trục đường Hà Nội – Cao Bằng là một trong các tuyến giao thông quan trọng Quốc gia.

  • VQG Ba Bể có ranh giới như sau:

Phía Đông và Bắc: Giáp các xã Cao Thượng, Cao Trĩ và Khang Ninh (huyện Ba Bể), xã Yến Dương, Chu Hương (huyện Chợ Đồn).

Phía Tây và Nam là ranh giới hai tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang và giáp các xã Quảng Khê, Nam Cường, Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn), Đà Vị ( Na Hang- Tuyên Quang).

Với vị trí nằm trong khu du lịch vùng Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp khu di tích lịch sử ATK (huyện Chợ Đồn), khu di tích Nà Tu (Cẩm Giàng), di tích danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia Động Nàng Tiên (huyện Na Rì), khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), xa hơn là khu di tích lịch sử Pắc Bó, Thác Bản Giốc (tỉnh Cao Bằng), VQG Ba Bể có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành VQG Ba Bể được tính từ năm 1977 theo Quyết Định số 41-TTg ngày 24/1/1977 của Thủ tướng Chính phủ chính thức công nhận Ba Bể là khu văn hoá lịch sử. Quan điểm trên được tái khẳng định trong Nghị định 194/CP, ngày 9/8/1986 giao cho Bộ Lâm Nghiệp và các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát và xây dựng dự án đầu tư cho Ba Bể thành vườn quốc gia. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

VQG Ba Bể được chính thức thành lập từ 10/11/1992 theo quyết định số 83/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chức năng nhiệm vụ của VQG Ba Bể là: Bảo tồn các nguồn gen động, thực vật, các hệ sinh thái, cảnh quan môi trường; Tổ chức, quản lý, phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch dịch vụ. Về cơ cấu tổ chức, VQG Ba Bể (trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn) gồm: Ban Giám đốc; Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Tài chính – Kế toán; Phòng Khoa học – Kỹ thuật; Hạt Kiểm lâm; Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường.

Trước đây, VQG Ba Bể thuộc tỉnh Cao Bằng, sau khi tái lập tỉnh, VQG Ba Bể nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (1997). Từ năm 1997 đến năm 2011, VQG Ba Bể chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn. Đến cuối năm 2011, VQG Ba Bể được giao cho UBND tỉnh Bắc Kạn quản lý (Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg ngày 17/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển VQG Ba Bể thuộc Bộ NN & PTNT về UBND tỉnh Bắc Kạn quản lý).

Trong kế hoạch Hành động Đa dạng Sinh học (1994) đã đề xuất mở rộng VQG Ba Bể lên 50.000 ha. Năm 1995, dự án đầu tư mở rộng VQG Ba Bể được xây dựng với diện tích đề nghị là 23.340 ha. Năm 2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó diện tích của VQG Ba Bể là 10.048 ha (bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 3.931 ha; Phục hồi sinh thái: 6.083ha; dịch vụ hành chính: 34 ha).

Năm 1995, tại Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới tổ chức tại Mỹ, hồ Ba Bể được công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt cần được bảo vệ. Tháng 12 năm 2012, VQG Ba Bể được công nhận là vườn di sản ASEAN. Ngày 02/02/2020, Ba Bể chính thức được công nhận là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam, sau Xuân Thủy (Nam Định) và Bàu Sấu (Đồng Nai). Hiện Việt Nam đang đề nghị UNESCO đưa VQG Ba Bể vào danh sách di sản thiên nhiên thế giới với 2 giá trị lớn nhất về cảnh quan địa chất độc đáo và giá trị nổi bật về địa chất địa mạo.

2.1.3. Sơ lược về hoạt động du lịch tại vườn quốc gia Ba Bể

Sơ đồ 2.1. Bản đồ du lịch tại VQG Ba Bể Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

VQG Ba Bể là nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng và phong phú với nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, v.v. đã và đang được khai thác cho hoạt động du lịch. Không chỉ có vẻ đẹp hoang sơ mà Ba Bể còn là nơi hội tụ nhiều nền văn hóa phong phú và đặc sắc. Những nét sinh hoạt văn hóa của đồng bào Tày, Dao, Mông với các làn điệu dân ca như hát Then, Sli, Lượn, múa khèn, các lễ hội truyền thống (hội Lồng tồng, hội xuân), trò chơi dân gian (đua thuyền độc mộc, chọi bò, võ dân tộc, bắn cung, bắn nỏ) đã tạo nên sự hấp dẫn, khiến nơi đây thu hút được một lượng  khách du lịch nhất định.

Biểu đồ 2.1. Lượng khách du lịch tại Ba Bể giai đoạn 2021 – 2023

Vị trí của du lịch hồ Ba Bể đã được xác định như một điểm du lịch quan trọng  trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2020 – 2025 và tầm nhìn đến 2030. Chính vì thế, việc phát huy được thế mạnh của Ba Bể qua việc tìm và phát triển các loại hình du lịch tận dụng được đúng thế mạnh ở đây cần phải được xác định là một nhiệm vụ không chỉ của VQG mà còn của cả chính quyền, nhân dân địa phương. Và đối với các thế mạnh về địa lý, địa mạo và đa dạng sinh học ở Ba Bể thì các hoạt động du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm gắn với thác, hồ, địa hình núi là các hoạt động du lịch phù hợp và có thế mạnh nhất.

2.2. Điều kiện phát triển du lịch mạo hiểm tại vườn quốc gia Ba Bể

2.2.1. Địa chất, địa hình

Địa hình của VQG Ba Bể mang đặc điểm của vùng trung du miền núi phía Bắc tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi. Địa hình gồm 2 dạng chủ yếu là đồi và núi cao.  Khu vực phía Đông là các dãy núi kéo dài tít tắp của cánh cung Ngân Sơn, cánh cung liên tục nhất, điển hình nhất ở vùng Đông Bắc. Các dãy núi trong khu vực này có độ cao từ 800 –1500m. Một số núi cao hùng vĩ là danh lam thắng cảnh quan trọng và có sức thu hút du khách với các hoạt động du lịch thể thao, leo núi, khám phá và mạo hiểm, như dãy Phja Bjooc. Ngoài ra tại đây có hố sụt karst điển hình nhất ở Việt Nam, hình thành nên cảnh quan vô cùng độc đáo. Chính phức hệ hồ-sông-suối-núi đá vôi, tại VQG Ba Bể là điều kiện thuận lợi phát những hoạt động khám phá kết hợp với đi thuyền theo các tuyến sông, thác.

Trên địa bàn VQG Ba Bể có 2 con sông Năng và Chợ Lùng chảy qua. Sông Năng bắt nguồn từ dãy núi cao Pha Giạ chảy vào địa phận huyện Ba Bể từ xã Bành Trạch theo hướng Đông – Tây; Sông Chợ Lùng bắt nguồn từ phía Nam huyện Ba Bể theo hường Đông – Tây sau đó đổ vào hồ Ba Bể rồi thông ra sông Năng; Cánh cung sông Gâm chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, xuyên suốt địa giới của huyện với nhiều ngọn núi cao đã tạo nên địa hình hiểm trở rất đặc trưng của huyện Ba Bể.

Với các đặc điểm địa hình như vậy, VQG Ba Bể có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch như dã ngoại, ngắm cảnh, thám hiểm và du lịch nghỉ dưỡng.

2.2.2. Hệ thống sông, suối, thác ghềnh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Là điểm tập trung của các hệ thống đứt gãy chính ở vùng Đông Bắc Việt Nam, VQG Ba Bể và khu vực lân cận có mạng lưới sông suối dày đặc với 2 – 2,5 km dòng chảy/ km2.  

Hồ Ba Bể Đặc điểm nổi bật nhất của VQG Ba Bể. Hồ nằm ở vị trí trung tâm của Vườn, có cấu tạo đặc biệt thắt ở giữa và phình to ở hai đầu. Quanh hồ Ba Bể là những vách đá, chỗ dựng đứng như một bức tường, chỗ lại vòng vèo uốn lượn ăn sâu vào các thung lũng làm cho hình dáng hồ rất độc đáo.  Do có cấu tạo địa chất đặc biệt nên hồ Ba Bể có những nét riêng biệt so với các hồ karst khác trên thế giới.

Ba con sông, suối chính đổ nước về hồ Ba Bể là sông Tà Han, suối Bó Lù ở phía Tây, sông Chợ Lèng ở phía Tây Nam. Hệ thống sông suối này hợp thành hệ thuỷ phía Nam của VQG. Nước Hồ Ba Bể chảy theo hướng Nam – Bắc đổ ra sông Năng, chảy qua phần phía Bắc của VQG, sau đó tiếp tục chảy theo hướng Tây gặp sông Gâm ở phía Đông của tỉnh Tuyên Quang.

Khu vực sông Năng, hồ Ba Bể là điều kiện bổ trợ rất tốt để kết hợp hoạt động chèo thuyền vượt thác Đầu Đẳng với thăm ngắm cảnh quan tự nhiên, làng bản. Khi chèo thuyền dọc sông Năng, khách du lịch có thể quan sát rừng nhiệt đới trên núi đá vôi và vô số các kiến tạo hình thành trong vùng đá vôi. Ngoài ra, trong địa bàn VQG Ba Bể cũng còn nhiều khu vực hoang sơ và có địa hình hiểm trở như khu vực thác Bạc với nhiều đoạn suối, thác ghềnh, hang động phù hợp với những hoạt động chèo thuyền vượt thác, kết hợp khám phá nét sinh hoạt độc đáo của các bản làng ven sông.

2.2.3. Các giá trị tài nguyên du lịch bổ trợ

  • Cảnh quan tự nhiên

Hệ sinh thái vùng hồ bao quanh bởi hệ sinh thái núi đá vôi đã hình thành nên 3 loại hệ sinh thái: Hệ sinh thái sông/hồ, hệ sinh thái rừng ngập nước và hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi. Khu vực này bao gồm 2 loại thực vật chính: Rừng trên đá vôi (phân bố trên các sườn núi dốc, có thảm thực vật dày và chiếm phần lớn diện tích của vườn quốc gia), rừng thường xanh (phân bố trên các đồi thấp hơn và che phủ bởi lớp đất dày hơn) (Thái Văn Trừng, 1978).

Theo báo cáo “Quy hoạch xây dựng khu du lịch Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2030” của sở VHTT&DL Bắc Kạn phối hợp với Công ty Nikken Sekkei Civil Engineering (2023), Ba Bể là một trong những VQG có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh cao trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam và các khu vực núi đá vôi trên thế giới. Khu vực Vườn được che phủ trên 73,68% diện tích rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, trong đó kiểu rừng nguyên sinh ít bị tác động trên núi đá vôi được coi là mẫu chuẩn của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam và thế giới. Các hệ sinh thái rừng đặc biệt này là một thế mạnh riêng cho Ba Bể. Với các giá trị đó, nhiều loại hình du lịch đặc biệt có thể khai thác được và có tiềm năng lớn như đu dây, đi xe đạp địa hình mạo hiểm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Ba Bể được biết đến như là một khu vực tài nguyên rừng đa dạng, phong phú, nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm, có giá trị và được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc. Hệ động vật có giá trị tự bảo tồn nguồn gen cao với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm. Về thực vật, các kết quả điều tra ở VQG Ba Bể cho thấy có 280 loài thực vật, trong đó có 300 loài gỗ, 300 loài cây thuốc, 52 loài đã đưa vào sách đỏ Việt Nam.

Theo kết quả điều tra thực hiện từ các năm 1992, 1997, và các năm 2008, 2009 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Viện nghiên cứu Tài nguyên Sinh thái, Trường Đại học Lâm nghiệp, khu hệ động vật VQG Ba Bể gồm 38 loài thú, 111 loài chim, lớp bò sát và lưỡng cư có 24 loài, 54 loài cá, với  rất nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam. Trong đó có Voọc mũi hếch là loài đặc hữu và Voọc đen má trắng là loài quý hiếm.

Các giá trị thiên nhiên này cũng là những tài nguyên du lịch quan trọng đối với các hoạt động du lịch sinh thái kết hợp du lịch mạo hiểm ở Ba Bể như các hoạt động xem chim, quan sát thú ban ngày và ban đêm kết hợp hoạt động đi bộ mạo hiểm xuyên rừng. Đây là các hoạt động đã và đang được khai thác rất hiệu quả ở nhiều VQG và khu bảo tồn khác ở Việt Nam như Xuân Thủy, Cát Tiên, Cúc Phương, Tam Đảo.

Với khu hệ thực vật có tính đa dạng sinh học cao,  nhiều điểm riêng biệt như vậy, đây sẽ là điểm hấp dẫn lớn với du khách, đồng thời cũng là các giá trị mà hoạt động du lịch mạo hiểm có thể phát triển. Tuy nhiên,cần có biện pháp bảo vệ những vùng nhạy cảm, tránh các tác động của hoạt động du lịch có thể tạo ra ngay trong quá trình quy hoạch và ngay sau đó là quá trình khai thác du lịch để giảm thiểu các tác động bất lợi đó.

  • Khí hậu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Bảng 2.1. Số liệu khí hậu khu vực Vườn quốc gia Ba Bể 

VQG Ba Bể mang đặc điểm khí hậu của vùng núi phía Bắc Việt Nam với nhiệt độ trung bình năm  là 22 độ C, độ ẩm 83,3%, lượng mưa trung bình năm 1.378mm, số ngày mưa phùn trung bình trong năm 33,3 ngày. Độ ẩm cao  là điều kiện thuận lợi cho thực vật của VQG phát triển mạnh mẽ, độc đáo, tuy nhiên, mùa mưa kéo dài gây bất lợi cho các hoạt động du lịch.

Ngoài ra, khí hậu có sự phân hóa theo mùa nên cũng có những tác động đến sự hình thành tính thời vụ trong phát triển du lịch. Mùa du lịch cao điểm là các tháng mùa khô. Điều kiện này cũng ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch đặc thù (nhất là sự phát triển các tuyến điểm du lịch dã ngoại).

  • Các giá trị văn hóa bản địa

VQG Ba Bể là nơi cư ngụ của hơn 3000 cư dân thuộc 5 nhóm dân tộc khác nhau. Hơn 2009 năm qua, cư dân người Tày đã định cư tại nơi này và trở thành tộc người chiếm đa số ở Ba Bể. Người Kinh và người Mông là những nhóm định cư sau các nhóm Tày, Nùng, Dao.

Bảng 2.2. Dân số các xã trong khu vực VQG Ba Bể

Người Tày sinh sống tại các dải đất thấp ven hồ (chiếm 58%), người Dao cư ngụ nơi lưng chừng núi (chiếm 21%), người Mông sinh sống trên các vùng núi cáo (chiếm 13%), người Nùng chiếm 7% và người Kinh chỉ chiếm 1% dân số. Người Tày chủ yếu định cư ở các bản Pắc Ngòi, Lùng Quan, Bản Quán, Cốc Lùng, Bó Lù, Cốc Tộc và Cám Hạ, cộng đồng người Dao sinh sống tại bản Cám Thượng, Bản Tầu thuộc xã Cao Thượng. Tuy cộng đồng rất đoàn kết, song mỗi dân tộc vẫn giữ được những bản sắc văn hóa rất riêng.

Người Tày và Nùng thuộc chung ngữ hệ Tày – Thái và có nhiều nét tương đồng về văn hoá. Theo truyền thống, người Tày thường chăn nuôi, dệt thổ cẩm và đánh bắt cá quanh hồ Ba Bể. Thuyền độc mộc cũng được sử dụng cho mục đích này. Thổ cẩm giữ một vị trí đáng kể trong đời sống tinh thần và tình cảm của đồng bào Tày. Nguyên liệu chính của dệt thổ cẩm là sợi được nhuộm thành nhiều màu khác nhau. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Phong tục, tập quán: Trong đời sống hàng ngày, đồng bào các dân tộc ở đây có những phong tục truyền thống rất đẹp, theo chuẩn mực văn hóa rất đáng trân trọng. Ví dụ như trong các phong tục tập quán của người Mông thì việc cưới xin để lại những dấu ấn bản sắc mang tính truyền thống của người Mông nhiều hơn cả.

Đám cưới của người Mông thường được tổ chức vào mùa xuân hay cuối đông vì đồng bào kiêng những tháng có sấm chớp. Hôn nhân của người Mông cũng tuân theo những lễ nghi như dạm hỏi, ăn hỏi (hẹn cưới) và lễ đón dâu.

Lễ hội: Các lễ hội của các đồng bào dân tộc ở đây luôn gắn bó với cuộc sống lao động sản xuất của người dân. Lễ hội thể hiện ước mơ khao khát của con người về đời sống ấm no hạnh phúc, là cầu nối giữa con người với thế giới tâm linh, lễ hội là hình thức giao tiếp để con người gửi đi thông điệp cầu xin thần linh bao bọc, che chở, giúp đỡ con người chiến thắng cái ác, chiến thắng bệnh tật và cho mùa màng bội thu. Những lễ hội tiêu biểu tại VQG Ba Bể như Lễ cầu mùa, Lễ hội xuân Ba Bể, Lễ hội Lồng Tồng, Chợ tình Xuân Dương, Tết thanh minh v.v

Ẩm thực: Ba Bể có nền văn hóa ẩm thực khá đa dạng, nhiều nét đặc sắc mang hương vị truyền thống của Việt Nam được nhận biết rộng rãi với mùi vị đặc trưng và thành phần tự nhiên. Những món ăn địa phương trong khu vực này gồm cá nướng, măng quấn thịt, thịt gác bếp, rượu ngô. Những loại thực phẩm khác bao gồm thịt lợn, thịt gà, thịt bò, khoai tây, rau xanh, gạo nếp. Không chỉ đa dạng về các loại thực phẩm, khi ăn cơm mọi người ngồi lại với nhau bên bàn tre tại tầng một của nhà sàn truyền thống cũng là đặc điểm quan trong và đặc biệt về thói quen ăn uống của người Việt trong mắt du khách.

Bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, những đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc là một yếu tố thu hút khách du lịch tới Ba Bể. Các hoạt động du lịch văn hóa sẽ là một hình thức bổ trợ tốt, giúp đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, khiến khách du lịch có thêm nhiều lựa chọn, hoặc có nhiều hoạt động hơn trong kì nghỉ.

Sự đan xen các loại hình du lịch cũng làm cho du khách có nhiều hứng thú và trải nghiệm thú vị, qua đó tăng thời gian lưu trú cũng như lợi nhuận giúp việc kinh doanh hiệu quả hơn.

Khi các hoạt động du lịch phát triển, người dân có thêm nguồn thu nhập giúp đời sống cải thiện đời sống hàng ngày và cũng qua đó nâng cao nâng cao nhận thức môi trường, giữ gìn phát huy truyền thống bản sắc văn hóa của các cộng đồng người dân tộc thiểu số sống gần đó.

2.3. Hiện trạng khai thác phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

2.3.1. Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch đã từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng tại VQG Ba Bể. Một số tuyến đường giao thông đến các khu, điểm du lịch đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp như: Cải tạo nâng cấp đường tỉnh lộ 258; Đường nối khu du lịch Ba Bể với khu du bảo tồn Na Hang (Tuyên Quang); Các tuyến đường đi bộ trong vườn quốc gia Ba Bể; San gạt mặt bằng, xây dựng bến thuyền, nhà chờ thuyền, bãi đỗ xe tại khu trung tâm đón tiếp Buốc Lốm, bến thuyền Tà Kèn; Điện lưới, thông tin liên lạc đã có ở hầu hết các khu, điểm tham quan du lịch, hầu hết các tuyến đường tới các điểm du lịch đã điện lưới và phủ sóng thông tin liên lạc. Đó là những dấu hiệu đáng mừng và là điều kiện tốt cho sự phát triển của du lịch Ba Bể trong thời gian tới.

Tuy nhiên, đối với du lịch mạo hiểm nói riêng, do các điểm du lịch mạo hiểm tại Ba Bể đều nằm ở các khu vực có địa hình phức tạp như núi cao, rừng rậm, thác, hồ, nên việc phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ chưa được đầu tư. Do đó, đây cũng có thể là một trong các điều kiện đã làm hạn chế tốc độ phát triển của du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng tại Ba Bể.

Hệ thống đường xá: Theo báo cáo “Đánh giá hoạt động du lịch Bắc Kạn giai đoạn 2014 – 2022” của Sở VHTT&DL Bắc Kạn (2023): Về hệ thống đường bộ ở VQG Ba Bể, các tuyến đường tuy được rải nhựa nhưng mặt đường hẹp, kết cấu mặt đường bằng vật liệu không bền vững, chủ yếu mặt là cấp phối và đường đất; Đường thôn, đường mòn ra đồng, lên núi, lên các bản ở vùng cao là đường đất đi theo địa hình triền núi, thoát nước còn kém, chủ yếu phục vụ đi lại và công việc nương rẫy của nhân dân; Đường vào VQG Ba Bể vẫn đang được xây dựng, mặt cắt đường trục chính khu vực hiện nay chỉ có chiều rộng tối đa là 6m, chưa đáp ứng được nhu cầu du lịch bằng ô tô đang ngày càng tăng; Hệ thống cống thoát nước dọc và ngang đường chưa được bố trí đủ và chưa hợp lý, do vậy khi mưa thoát nước không kịp dẫn tới xói lở, phá nền đường, mặt đường. Với hiện trạng về hệ thống đường xá như vậy, Ba Bể sẽ không đáp ứng được nhu cầu về phát triển du lịch trong tương lai.

Đường thủy: Qua khảo sát cho thấy VQG Ba Bể chỉ có 01 tuyến đối nội vận tải đường thủy là tuyến sông Năng đoạn Chợ Rã – Ba Bể – Thác Đầu Đẳng dài 26 km. Phương tiện vận tải của tuyến chủ yếu sử dụng xuồng máy, bè mảng, thuyền độc mộc vừa phục vụ du lịch và vận chuyển người, hàng hóa dân sinh. Bến bãi đường thuỷ nội địa có 03 bến đón khách trên đoạn sông Năng là bến bến Bốc Lốm (Khang Ninh), bến ở hồ Ba Bể và bến Thác Đầu Đẳng; có 02 bến neo đậu là bến Động Puông và bến ngã ba sông Cao Thượng. Đặc biệt tại bến thác Đầu Đẳng là nơi diễn ra hoạt động chèo thuyền vượt thác, nhưng tại đây cơ sở vật chất nghèo nàn, không có bất kì hệ thống thiết bị biển báo, cọc tiêu, thiết bị phòng hộ nào. Hệ thống lan can cho du khách đứng quan sát cảnh quan đã han nghỉ, không đảm bảo các yếu tố về độ an toàn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Giao thông công cộng: Hiện nay tại Ba Bể chưa có các loại hình giao thông công cộng như xe buýt. Do địa hình khu vực có độ dốc lớn, quy mô mặt đường nhỏ, mật độ dân cư thấp nên việc tổ chức giao thông công cộng chưa thể thực hiện. Bến xe tạm ở Thị trấn Chợ Rã-huyện Ba Bể là bến trung chuyển của tuyến hồ Ba Bể – Chợ Rã với tần suất 18-20 chuyến/ngày; Có 02 tuyến xe khách tư nhân vận tải phục vụ việc giao thông đi lại của người dân và du khách tham quan du lịch vùng hồ Ba Bể, đó là tuyến Chợ Đồn đến trung tâm Ba Bể và tuyến thị trấn Chợ Rã đến thị xã Bắc Kạn. Các tuyến này về cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao thông của cộng đồng địa phương xong chưa đáp ứng được yêu cầu vận tải du lịch do phương tiện cũ, độ an toàn thấp hơn so với điều kiện của các hệ thống vận chuyển du lịch.

Hệ thống thông tin liên lạc: Tại Ba Bể, mạng lưới thông tin liên lạc đã được nâng cấp và trải rộng trên toàn địa bàn. Ngoài hệ thống thông tin liên lạc đường dây còn có hệ thống thông tin liên lạc không dây của vinaphone, mobiphone, viettel đã được phủ sóng rộng khắp đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin cơ bản của cộng đồng, của VQG và cho cả khách du lịch trong quá trình thăm quan, lưu trú tại Ba Bể. Việc có thể tiếp cận được với một hệ thống thông tin như vậy cũng là điều kiện rất tốt cho các hoạt động du lịch mạo hiểm triển khai ở Ba Bể.

Hệ thống cung cấp điện nước và xử lý chất thải: Công tác quản lý chất thải ở Ba Bể hiện tại còn kém. Qua khảo sát thực tế tại khu vực động Hua Mạ, chất thải thường được các hộ dân tự xử lý bằng cách đốt hoặc chôn lấp, một số nơi người dân vứt xuống các khu vực thung lũng hoặc ra các sông hồ. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề vệ sinh và các nguồn tài nguyên du lịch. Ngoài ra, dọc theo tuyến sông Năng và tại các điểm du lịch mặt nước hồ Ba Bể, có quá nhiều phương tiện giao thông đường thủy di chuyển nên cũng gây ra một số ô nhiễm. Hầu hết các phương tiện này đều chạy nguyên liệu hóa thạch, gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn trên các tuyến di chuyển và bến bãi. Tại các điểm diễn ra hoạt động du lịch mạo hiểm, rác thải cũng mới chỉ được thu gom về khu vực tập trung sau đó được đốt hoặc chôn lấp ở các điểm trong VQG mà không có hệ thống xử lý tiêu chuẩn nào.

Với hiện trạng ô nhiễm và xử lý chất thải như vậy, nếu không được quản lý phù hợp thì trong tương lai gần, việc ô nhiễm sẽ là điều khó tránh khỏi. Việc sử dụng các phương tiện vận tải đường thủy có động cơ cũng cần phải có hình thức quản lý chất thải, xả thải phù hợp, nếu không sẽ gây ô nhiễm nguồn nước. Hồ Ba Bể, thác Đầu Đẳng là những điểm nhấn cũng như giá trị cốt lõi của hoạt động du lịch mạo hiểm tại Ba Bể, nếu nước hồ bị ô nhiễm, thì hoạt động du lịch mạo hiểm khó có thể duy trì một cách bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Hệ thống chỉ dẫn, các trạm cứu hộ du khách: Do đặc điểm về loại hình, du lịch mạo hiểm rất chú trọng đến vấn đề an toàn. Vì vậy mà hệ thống chỉ dẫn hay các trạm cứu hộ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ du khách trong những trường hợp đặc biệt. Tại Ba Bể hiện nay đã có một quầy thông tin hỗ trợ khách du lịch được xây dựng ở cổng lối vào VQG, một đài quan sát được xây dựng trên tuyến đường đi bộ xuyên rừng. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy, tại 2 địa điểm này thường xuyên không có người trực. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động ứng cứu du khách trong trường hợp cần thiết sẽ không đảm bảo.

Các trang thiết bị phục vụ hoạt động du lịch mạo hiểm: Một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của du lịch mạo hiểm Ba Bể chính là chất lượng của các dịch vụ trong du lịch mạo hiểm. Hiện tại các hộ dân trong VQG đã tham gia vào việc cung cấp, cho du khách thuê các trang thiết bị hỗ trợ hoạt động du lịch mạo hiểm (thuyền kayak, đèn pin, giầy leo núi, v.v.). Tuy nhiên vì chưa có sự am hiểu về loại hình này cũng như chưa có sự đầu tư nên các hoạt động này diễn ra một cách tự phát, không theo một quy định nào. Kết quả điều tra khảo sát cũng cho thấy có đến 34,6% du khách đưa ra góp ý cần cải thiện, nâng cấp các thiết bị an toàn trong du lịch mạo hiểm. Nếu không cải thiện vấn đề này, Ba Bể sẽ không thể xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch mạo hiểm theo chuẩn, đảm bảo các yêu cầu cần thiết để giữ chân khách du lịch.

2.3.2. Hoạt động du lịch mạo hiểm ở Ba Bể

Hàng năm có khoảng hơn 32.000 lượt khách đến Ba Bể, trong đó lượng khách nội địa khoảng 26.000 lượt (gấp 5 lần khách quốc tế). Cho tới nay vẫn chưa có một thống kê chính thức nào về lượng khách du lịch mạo hiểm tới Ba Bể được thực hiện bởi VQG hay Sở VHTT&DL Bắc Kạn. Qua quá trình thực hiện khảo sát với 52 đối tượng khách du lịch mạo hiểm, tác giả nhận thấy  khách du lịch quốc tế tham gia vào loại hình này là chủ yếu.

Biểu đồ 2.2. Cơ cấu khách tham gia du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể

Kết quả điều tra cũng cho thấy trong hoạt động du lịch mạo hiểm, khách quốc tế chiếm 84,6% tổng lượng khách trong khi khách nội địa chỉ chiếm khoảng 15,4%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Lý do khách nội địa ít tham gia vào các chương trình du lịch mạo hiểm có thể là do tâm lý e ngại về vấn đề an toàn hoặc chưa thực sự muốn có những hoạt động mạnh trong các kí nghỉ của mình. Chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số khách quốc tế là đối tượng khách Tây Âu (Đức, Hà Lan), tiếp đó là Châu Mỹ (26,8%). Ngoài ra cũng có một số khách du lịch đến từ các khu vực châu Đại Dương như Úc, New Zeland. Có thể các khách này đến từ các quốc gia phát triển và có đời sống cao, người dân thích đi du lịch, đặc biệt là các hoạt động du lịch sinh thái, mạo hiểm nên họ là đối tượng chính của loại hình du lịch mạo hiểm ở Ba Bể. Và dường như đây cũng là mục tiêu của nhiều du khách quốc tế khi đến du lịch Việt Nam mong được gần với thiên nhiên hơn, có cơ hội trải nghiệm với các hoạt động mạo hiểm gắn với thiên nhiên.

Độ tuổi và giới tính: Kết quả điều tra cho thấy đối tượng khách tham gia du lịch mạo hiểm tại Ba Bể chủ yếu tập trung vào độ tuổi từ 18 – 25 là 19,5 %, độ tuổi từ 26 – 40 là 51,3% , độ tuổi từ 41-60 là 28 % và trên 60 là 1,2%. Điều này cho thấy hoạt động du lịch mạo hiểm thu hút khách du lịch trẻ nhiều hơn. Có thể do một số yêu cầu về sức khỏe và niềm yêu thích phiêu lưu mạo hiểm nên hoạt động này được nhiều người trẻ tuổi chọn hơn.

Về giới tính, trong số du khách tham gia hoạt động du lịch mạo hiểm ở Ba Bể có có 57,3 % là nam và 42.7% là nữ. Đây là tỉ lệ có sự sai khác không lớn giữa nam và nữ, và cũng cho thấy xu hướng du lịch mạo hiểm không phải là một hoạt động không phù hợp với phái nữ.

Thành phần và trình độ của du khách: Khách du lịch mạo hiểm ở Ba Bể cũng đến từ nhiều thành phần với mặt bằng nhận thực khác nhau trong xã hội. Các thông tin phỏng vấn về trình độ học vấn của du khách cũng cho thấy trình độ cao đẳng – đại học chiếm tới 47,6%, trình độ trên đại học chiếm 28,1 %, các đối tượng này tới VQG Ba Bể với mục đích trải nghiệm du lịch mạo hiểm, nghiên cứu, học tập. Tương ứng với tỉ lệ về trình độ du khách, cơ cấu về nghề nghiệp của du khách gồm: sinh viên chiếm 13,9%, nhà nghiên cứu 26,4%, quản lý 15,7%, nhân viên văn phòng 32,3%. Kết quả điều tra ở Ba Bể cũng phù hợp với báo cáo “Nghiên cứu về thị trường du lịch mạo hiểm 2022” của Hiệp hội Thương mại Du lịch Mạo hiểm.

Lưu trú: So với nhiều VQG và KBTTN của Việt Nam. Ba Bể là một trong những VQG có nhiều hình thức lưu trú nhất, bao gồm nhà nghỉ của nhà nước, của tư nhân và nhà nghỉ du lịch cộng đồng.

Bảng 2.3. Nơi lưu trú của khách du lịch tại Ba Bể 

Tại Ba Bể hiện nay mới chỉ có 2 khách sạn tiêu chuẩn một sao đang hoạt động (xem phụ lục 3). Tuy nhiên qua khảo sát cho thấy phòng ốc có dấu hiệu xuống cấp, trang thiết bị cũ kĩ, chất lượng dịch vụ chưa tốt, nhân viên lễ tân hầu như không nói được ngoại ngữ. Đến Ba Bể, đa phần khách du lịch mạo hiểm lựa chọn hình thức lưu trú tại các nhà nghỉ du lịch cộng đồng. Điều này cho thấy khách du lịch mạo hiểm tuy không quan tâm nhiều đến tiện nghi sang trọng nhưng vẫn thích lựa chọn các nơi lưu trú sạch sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn. Đây cũng là một lợi thế rất tốt để các hộ dân tại Ba Bể phát triển các cơ sở lưu trú và tăng thu nhập. Nếu có các định hướng và đầu tư tốt, các hộ dân có thể tính đến việc tạo các điểm lưu trú đủ điều kiện trong rừng, trên các tuyến du lịch mạo hiểm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách và qua đó du khách cũng có cơ hội trải nghiệm nhiều hơn ở ngoài thiên nhiên nơi mà hoạt động du lịch mạo hiểm đang diễn ra.

2.3.3. Sản phẩm du lịch mạo hiểm ở Ba Bể Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

So với tiềm năng của mình, các sản phẩm du lịch mạo hiểm tại Ba Bể nhìn chung còn đơn điệu và chưa có sự gắn kết. Hiện nay mới chỉ có 3 loại hình du lịch mạo hiểm đang được khai thác tại đây:

Đi bộ mạo hiểm xuyên rừng: Khách du lịch có 2 lựa chọn

Lựa chọn 1: Tuyến đi bộ mạo hiểm xuyên rừng bắt đầu từ văn phòng vườn quốc gia, đi qua thung lũng Tắc Kè, đi xuyên rừng lên độ cao 789m (so với mực nước biển) để quan sát thiên nhiên, chim thú, đặc biệt là toàn cảnh hồ Ba Bể, sau đó tiếp tục xuyên rừng đến làng Him Đăm của dân tộc Dao, đi tiếp xuống Nà Mằm và quay trở lại VQG.

Lựa chọn 2: Tuyến đi bộ xuyên rừng kéo dài khoảng 10 km, xuất phát từ bản Cốc Tộc, qua các bản làng trên núi (Khau Qua, Nặm Dài) tới thác Đầu Đẳng, lên thuyền trở về Cốc Tộc.

Đối với tuyến đi bộ mạo hiểm xuyên rừng, khách du lịch đi qua nhiều dạng địa hình đồi núi phức tạp, nhiều kiểu rừng và nhiều cảnh quan khác nhau. Qua các tuyến đó, du khách có cơ hội trải nghiệm các hoạt động đi bộ leo núi và cảm nhận được sự thay đổi về khí hậu khi đi qua các kiểu rừng, các đai cao khác nhau trên núi cao và cảm nhận sự mạo hiểm khi di chuyển qua các kiểu địa hình đó. Khách du lịch sẽ trải nghiệm sự khó khăn khi băng qua các con đường, các ngọn đồi, con suối, chiêm ngưỡng cảnh quan độc đáo, quan sát và tham gia vào các sinh hoạt độc đáo của người dân bản địa như Mông, Dao, Tày, Nùng. Để trải nghiệm được tuyến du lịch này, du khách cần một khoảng thời gian từ 1-2 ngày. Tuy nhiên, mức độ mạo hiểm đối với sản phẩm du lịch này ở cấp độ nhẹ nên cũng phù hợp với nhiều đối tượng khách, và cũng không cần đầu tư kỹ thuật cầu kì hay các hướng dẫn phức tạp về kỹ thuật cũng như an toàn.

Khám phá hang động: Nhiều khách du lịch tới Ba Bể cũng quan tâm tới hoạt động thăm và khám phá một số hang động đá vôi. Hiện nay ở Ba Bể có một số hang động đang được khai thác du lịch như động Hua Mạ, động Puông. Trong chuyến đi 1 ngày, khách du lịch sẽ được trải nghiệm các hoạt động như thăm bản dân tộc Pắc Ngòi của người Tày hoặc chèo thuyền trên hồ Ba Bể kết hợp khám phá động Puông. Không chỉ bị cuốn hút bởi vẻ nguyên sơ như ban đầu lúc hình thành, khi đi sâu vào khám phá phần sau của hang động, khách du lịch sẽ có dịp đi bộ khám phá lòng động tối tăm, được chiêm ngưỡng các nhũ đá, rèm đá, cột đá với hình dáng và màu sắc khác nhau. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Chèo thuyền vượt thác: Nói đến Ba Bể là nói đến hệ thống hồ trên núi nổi tiếng của Việt Nam. Do đó, với Ba Bể thì các hoạt động du lịch gắn liền với nước, khám phá cảnh quan sẽ là các hoạt động du lịch đặc trưng và có tiềm năng nhất.

Hiện tại, hoạt động chèo thuyền vượt thác Đầu Đẳng cũng đang được khai thác như một dịch vụ du lịch mạo hiểm ở Ba Bể. Phương tiện chính phục vụ cho hoạt động này là những chiếc thuyền đơn hoặc thuyền đôi làm bằng nhựa composit, bằng cao su đúc hoặc thuyền bơm hơi, có hình dạng chiếc lá tre, nhỏ, dài, mảnh mai. Khi khách du lịch tham gia hoạt động này, họ có cơ hội kết hợp việc chèo thuyền vượt qua những dòng chảy dữ dội của thác Đầu Đẳng, đồng thời ngắm cảnh hồ Ba Bể, quan sát cảnh ven hồ và động vật (ở cạn và thủy sinh). Trong tuyến chèo thuyền vượt thác tại Ba Bể, du khách sẽ chèo thuyền kayak từ bến thuyền Buốc Luốm, dọc theo sông Năng tới thác Đầu Đẳng. Thời gian của hoạt động này là một ngày, mức độ mạo hiểm đối ở cấp độ trung bình.

Theo kết quả điều tra khảo sát thì khi tham gia vào các hoạt động du lịch mạo hiểm Ba Bể, khách du lịch tham gia nhiều nhất vào hoạt động đi bộ mạo hiểm xuyên rừng, tiếp đó là chèo thuyền vượt thác, khám phá hang động. So với 2 hoạt động trên, hoạt động đi bộ mạo hiểm xuyên rừng có nhiều yếu tố thu hút sự tham gia của du khách, bởi nó vừa kết hợp được việc trải nghiệm khám phá các dạng địa hình đồi núi vừa hòa mình vào thiên nhiên. Hơn nữa, hoạt động này cũng không cần đầu tư kỹ thuật cầu kì hay các hướng dẫn phức tạp về kỹ thuật cũng như an toàn. Trong các hang động trong VQG Ba Bể, động Hua Mạ mới chỉ được khảo sát du lịch vào năm 2012-2013 và hiện vẫn chưa phát triển nhiều về dịch vụ du lịch cũng như số lượng du khách. Khách du lịch thông thường tới đây chủ yếu thăm ngắm khu vực phía ngoài hang, còn đối với khách du lịch mạo hiểm, họ sẽ tham gia vào việc leo núi 300 mét sau đó khám phá lòng hang (rất rộng khoảng 1ha), và toàn bộ chiều dài (tới hơn 700m). Trần động có chỗ rộng và cao tới 40 – 50m, chứa đựng nhiều vách, nhũ đá kỳ vĩ. Tuy nhiên khi khảo sát tại đây cho thấy việc lắp các bóng đèn chiếu sáng bằng ánh sáng trắng đã làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp cũng như mức độ hoang sơ của hang động này.

Biểu đồ 2.3. Các hoạt động du lịch mạo hiểm được du khách tham gia

Kết quả đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể dựa trên ý kiến du khách cho thấy mặc dù khách du lịch đánh giá cao về sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể (địa hình, hệ thống sông suối, cảnh quan tự nhiên, khí hậu) nhưng du khách cũng chưa hài lòng về các yếu kém như cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật (hệ thống đường xá, cơ sở cung câp dịch vụ du lịch), chất lượng các dịch vụ phục vụ du lịch mạo hiểm (dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ huấn luyện, v.v.) (Xem phụ lục 5). Kết quả điều tra này cũng cho thấy, rõ ràng các loại hình đang triển khai này là chưa đạt hoặc chỉ mới ở mức độ giới thiệu. Cũng từ các nhận xét đó, việc hoàn thiện về kỹ thuật và chất lượng của các loại hình đang khai thác dường như sẽ là những vấn đề cần giải quyết nhằm duy trì và tiến tới phát triển các hoạt động du lịch phong phú hơn ở Ba Bể.

2.3.4. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch mạo hiểm

Bộ máy tổ chức của ban quản lý VQG Ba Bể gồm: Ban giám đốc, 4 phòng chức năng nghiệp vụ và 2 đơn vị trực thuộc (Hạt Kiểm lâm, Trung tâm Giáo dục Môi trường và Dịch vụ Môi trường Rừng (GDMT&DVMTR).

Bảng 2.4. Trình độ cán bộ Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Trung tâm Giáo dục Môi trường và Dịch vụ Môi trường Rừng 

Nhìn chung, lực lượng lao động phục vụ du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng tại VQG Ba Bể còn thiếu và yếu về số lượng lẫn chất lượng. Cán bộ có trình độ đại học chiếm 18,1%, cao đẳng là 54,6% và trung cấp là 27,3%. Hiện ít hơn 10% cán bộ đang làm về du lịch trong VQG có chuyên môn về du lịch. Đây thực sự là khoảng trống lớn về nghiệp vụ, nên khó có thể có các sản phẩm du lịch có chất lượng khi số lượng nhân sự có chuyên môn phù hợp lại thiếu như vậy.

Đối với loại hình du lịch mạo hiểm là một hoạt động du lịch có tính chuyên biệt và đòi hỏi kiến thức và kỹ thuật, lực lượng hướng dẫn viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc huấn luyện, hướng dẫn và tham gia cùng du khách trong các hoạt động khám phá. Tuy nhiên số lượng cán bộ được đào tạo chuyên ngành du lịch ở VQG Ba Bể hiện mới chỉ có một người và chưa có ai được đào tạo nghiệp vụ, chuyên môn phù hợp về quản lý và vận hành các hoạt động du lịch mạo hiểm.

Theo kết quả điều tra khảo sát, đa số khách du lịch đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch mạo hiểm của Ba Bể ở mức trung bình. Cụ thể là 25% du khách đánh giá hoạt động hướng dẫn của hướng dẫn viên tốt, 59,7% đánh giá trung bình; Đánh giá ở hoạt động huấn luyện trong các hoạt động chèo thuyền, khám phá hang động, 75% đánh giá trung bình, 25% đánh giá kém; Đánh giá ở dịch vụ ứng cứu, có đến 82,7% du khách đánh giá trung bình, 17,3% đánh giá kém .

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy về phía các công ty du lịch, hiện nay các công ty kinh doanh loại hình du lịch mạo hiểm chưa có sự quan tâm đến thị trường Ba Bể. Các hướng dẫn viên đi cùng du khách đến Ba Bể hầu hết là hướng dẫn viên suốt tuyến không có kĩ năng, kinh nghiệm hướng dẫn khách tham gia hoạt động du lịch mạo hiểm. Lý giải cho điều này, hướng dẫn viên du lịch mạo hiểm cần một sức khỏe tốt, cần kinh nghiệm, khả năng tổ chức và xử lý mọi tình huống với các kỹ thuật và trình độ chuyên nghiệp, cho nên số lượng hướng dẫn viên du lịch mạo hiểm vốn không nhiều. Khi khảo sát tại thực địa, tác giả nhận thấy các công ty hay du khách có nhu cầu về du lịch mạo hiểm đều tìm đến hướng dẫn viên là người dân bản địa mới mức phí 300.000-500.000/ngày. Vấn đề đặt ra ở đây là 100% các hướng dẫn viên địa phương này đều chưa được đào tạo qua một khóa học chuyên sâu nào về du lịch mạo hiểm. Tất cả những gì họ có chỉ là kinh nghiệm cá nhân. Ngoài ra họ hầu như không nói được ngoại ngữ nên việc giao tiếp giữa du khách và hướng dẫn viên gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình đội ngũ nhân sự như trên sẽ là một trở ngại lớn trong việc quản lý cũng như đảm bảo kỹ năng, nghiệp vụ ,xây dựng định hướng phát triển du lịch du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng tại VQG Ba Bể. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

2.3.5. Chính sách đầu tư, quy hoạch và phát triển du lịch mạo hiểm

Với sự ra đời và phát triển của du lịch Ba Bể, một số công trình lớn nghiên cứu về quy hoạch đã ra đời như: Quyết định số 1741/QĐ-UBND ngày 23/9/2011 của UBND tỉnh Bắc Kạn về Quy hoạch du lịch Vườn Quốc gia Ba Bể; Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 16/01/2023 vè Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2030; Dự án Xây dựng các khu BTTN thông qua bảo tồn sinh thái, cảnh quan (PARC)(2008); Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp (3PAD)(2020). Ngoài ra, ngày 19/2/2021 Tỉnh ủy Bắc Kạn ra nghị quyết số 18-NQ/TU xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở quy hoạch đầu tư xây dựng khu du lịch Ba Bể thành trung tâm du lịch sinh thái của tỉnh và khu vực, với các loại hình du lịch kết hợp tham quan di tích lịch sử, văn hóa và các lễ hội truyền thống.

Trong “Quy hoạch du lịch Vườn Quốc gia Ba Bể” chú trọng tới mục tiêu phát huy tối đa tiềm năng du lịch kết hợp với bảo tôn nguyên vẹn giá trị địa chất, văn hóa của vùng hồ. Quy hoạch được xây dựng nhằm xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở đầu tư xây dựng khu du lịch Ba Bể thành trung tâm du lịch sinh thái với các loại hình du lịch kết hợp tham quan di tích lịch sử.

Ngày 30/10/2022, UBND tỉnh Bắc Kạn đã có Quyết định số 1872/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2030. Quy hoạch du lịch Ba Bể nhằm xác định phương hướng, định hướng các sản phẩm du lịch và định hướng cho quá trình đầu tư, khai thác du lịch gắn với phát triển kinh tế nông-lâm nghiệp-dịch vụ và bảo tồn đa dạng sinh thái tự nhiên. Quy hoạch sẽ giúp Ba Bể tạo thành nơi có sức hấp dẫn liên quan đến phát triển bền vững dựa trên hệ sinh thái cảnh quan tự nhiên và làng xóm hiện hữu. Ngoài ra, quy hoạch còn giúp xây dựng thương hiệu vùng, khai thác tối đa giá trị tài nguyên cảnh quan có hệ sinh thái đa dạng và đặc thù của Vườn Quốc gia Ba Bể Phát triển du lịch Ba Bể hướng tới trở thành khu du lịch sinh thái số 1 của Việt Nam”

Dự án “Xây dựng các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên trên Cơ sở Sinh thái Cảnh quan” (PARC): Là một dự án kết hợp bảo tồn và phát triển của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Từ năm 2008 đến năm 2013, dự án đã thử nghiệm phương pháp tiếp cận sinh thái cảnh quan để bảo tồn di sản đa dạng sinh học của Việt Nam, giúp bảo tồn một cách có hiệu quả đa dạng sinh học tại các sinh cảnh đã bị chia cắt và chịu tác động của con người bằng cách áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái cảnh quan trong công tác quản lý khu bảo tồn.

Dự án “Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn” (viết tắt là Dự án 3PAD Bắc Kạn) có hiệu lực vào ngày 27/05/2018,  kết thúc vào ngày 30/06/2024. Một trong những hợp tiêu hợp phần của dự án là các sáng kiến cải thiện môi trường. Mục tiêu của hợp phần này là xây dựng các hệ thống bảo vệ và bảo tồn đất dốc một cách bền vững về mặt xã hội, môi trường và kinh tế thông qua các tiểu hợp phần sau: (i) Quản lý đất bền vững và bảo tồn dựa vào trồng cỏ; (ii) Chi trả cho dịch vụ môi trường và (iii) Du lịch sinh thái.

Trong tất cả các nghiên cứu, quy hoạch này đều không thấy nhắc đến việc xây dựng chiến lược và quy hoạch du lịch mạo hiểm, mà chủ yếu là các sản phẩm, loại hình du lịch đã và đang tồn tại tại Ba Bể. Vì vậy mặc dù được thừa nhận là điểm nổi bật của du lịch Bắc Kạn với tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn, nhưng chiến lược phát triển  du lịch mạo hiểm Ba Bể vẫn là một bài toán chưa có lời giải.

2.3.6. Hoạt động quảng bá du lịch mạo hiểm Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Nhằm tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về miền đất, con người, tiềm năng văn hóa, du lịch của Ba Bể đến với các nhà đầu tư, du khách trong và ngoài nước, trong những năm vừa qua, tỉnh Bắc Kạn đã tổ chức các hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch với nhiều hình thức và nội dung như: Xuất bản các ấn phẩm, tờ rơi, tập gấp, đĩa DVD; quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài truyền hình trung ương, địa phương, website của Sở); tổ chức các hội nghị giới thiệu quảng bá du lich Ba Bể nói chung; tổ chức khảo sát, xây dựng, phát triển các chương trình du lịch liên vùng, ký kết thoả thuận hợp tác phát triển du lịch với các địa phương trong công tác phối hợp quảng bá du lịch, kêu gọi đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, trao đổi kinh nghiệm quản lý. Đặc biệt được sự đồng ý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỉnh Bắc Kạn đã cùng với các tỉnh trong vùng chiến khu Việt Bắc: Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, cùng tổ chức Chương trình “Du lịch qua những miền di sản Việt Bắc” luân phiên hàng năm tại các tỉnh. Hoạt động quảng bá xúc tiến, liên kết hợp tác phát triển du lịch nhìn chung đã đem lại hiệu quả, hình ảnh du lịch của Ba Bể nói riêng và Bắc Kạn nói chung đã được đông đảo công chúng, du khách trong và ngoài nước biết đến, lượng khách du lịch đến Bắc Kạn ngày càng tăng.

Biểu đồ 2.4. Các kênh thông tin về du lịch mạo hiểm Ba Bể

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một chiến dịch quảng bá riêng nào cho loại hình du lịch mạo hiểm nói riêng. Nhắc đến Ba Bể từ lâu vẫn gắn liền với loại hình du lịch sinh thái. Nếu đem so sánh với hoạt động quảng bá về hang Sơn Đoòng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng thì du lịch mạo hiểm tại Ba Bể hầu như chưa được biết đến trên các phương tiên thông tin đại chúng trong nước chứ chưa nói đến nước ngoài. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Theo kết quả khảo sát, 42,3% du khách biết đến du lịch mạo hiểm qua sự giới thiệu của bạn bè, người quen, sau đó là qua các phương tiện truyền thông, công ty du lịch. Khảo sát tại thực địa cho thấy các trung tâm thông tin du lịch tại Ba Bể luôn trong tình trạng không có người trực. Hoạt động giới thiệu quảng bá về du lịch mạo hiểm Ba Bể tại các hãng lữ hành cũng không mấy khả quan qua con số 17,1% du khách được hỏi trả lời rằng họ biết đến du lịch mạo hiểm Ba Bể qua sự chào bán của công ty du lịch. Thông thường các hãng lữ hành lớn ít chuyên về du lịch mạo hiểm nên nếu khách có nhu cầu thì họ thường bán lại cho các công ty lữ hành mạo hiểm địa phương hoặc thuê hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn trên tuyến như là các hoạt động xen kẽ vào chương trình du lịch của họ. Việc bán chương trình du lịch được thực hiện thông qua mạng hoặc khách trực tiếp đến văn phòng. Tờ rơi cũng được phát đến các khách sạn nhưng không phổ biến và không phải công ty nào cũng làm. Việc việc chăm sóc khách hàng cũng chưa được các công ty chú trọng. Khi quan sát một số hoạt động du lịch với các hướng dẫn viên thì thấy trong quá trình và kết thúc chuyến đi, họ không hề mời chào hay giới thiệu cho khách những hoạt động mạo hiểm có ở Ba Bể, điều đó cũng là một hạn chế cho việc khách quay trở lại lần tiếp theo.

2.4. Nguyên nhân của thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại vườn quốc gia Ba Bể

2.4.1. Những thành công và nguyên nhân

Du lịch mạo hiểm bước đầu được khai thác ở VQG Ba Bể và thu hút được số lượng khách du lịch nhất định. Có được những thành công bước đầu như trên là do:

VQG Ba Bể có đặc điểm địa chất, địa hình, hệ thống sông ngòi đa dạng, thích hợp với việc tổ chức các hoạt động tìm hiểu, khám phá. Hệ sinh thái độc đáo, đa dạng, trong đó có nhiều loài quý hiếm cũng là đặc điểm giúp cho du khách có thêm động lực đến thăm và tìm hiểu, đặc biệt đối với du khách quốc tế.

Điều kiện khí hậu và môi trường tự nhiên của VQG Ba Bể cũng là điều kiện lý tưởng giúp phát triển các loại hình du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng.

Với khí hậu trong lành, thiên nhiên vẫn giữ được nét hoang sơ, ảnh hưởng của các hoạt động của con người lên môi trường chưa nhiều. Đây là đặc điểm quan trọng thu hút được khách du lịch.

VQG Ba Bể có sức hút đối với du khách về việc khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm các đặc điểm văn hóa, truyền thống địa phương. Cộng đồng dân cư tại Ba Bể đã ý thức khá rõ về lợi ích của việc làm du lịch và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Họ tuân thủ tốt các chính sách, quy định về giá cả, cách thức của Ban quản lý VQG Ba Bể nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung, có thái độ niềm nở hiếu khách. Du lịch phát triển đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân bản địa. Đời sống của họ không những được nâng cao mà các giá trị văn hóa truyền thống cũng được bảo tồn. Khi hiểu được giá trị của các tài nguyên thiên nhiên thì việc phá rừng làm rẫy cũng giảm rõ rệt.

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Hoạt động du lịch mạo hiểm Ba Bể vẫn chưa được phát triển đồng bộ và tương xứng với tiềm năng của nó. Một số khó khăn và nguyên nhân chính trong só đó là:

Vấn đề nhận thức: Tuy được thừa nhận có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và có những điều kiện thuận lợi phát triển du lịch mạo hiểm nhưng nhận thức từ các cấp chính quyền đến người dân địa phương về khai thác hiệu quả loại hình du lịch mới mẻ này ở Ba Bể còn nhiều hạn chế. Điều này thể hiện ở chỗ hiện nay ở Ba Bể chưa có bất kì một quy hoạch nào về phát triển du lịch mạo hiểm. Đối với mọi cấp, quy hoạch du lịch là rất cần thiết để có thể quản lý và thành công trong sự phát triển ngành du lịch. Kinh nghiệm quốc tế và ở Việt Nam đã cho thấy những địa bàn phát triển du lịch không có quy hoạch đều gặp phải những vấn đề về xã hội và môi trường, giảm lợi ích về kinh tế, không thể nào cạnh tranh một cách hiệu quả đối với bất kỳ một nơi nào đã có quy hoạch du lịch.

Chưa xây dựng được sản phẩm đặc trưng cũng như đẩy mạnh hoạt động liên kết phát triển thị trường: “Sản phẩm du lịch đặc thù được phát triển dựa trên tính độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu, mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính độc đáo và sáng tạo” [5,tr.57]. Thực tế cho thấy, các sản phẩm du lịch mạo hiểm tại Ba Bể vẫn còn đơn điệu và thiếu sự gắn kết giữa các tuyến, điểm du lịch, không gian du lịch của VQG Ba Bể chưa gắn kết chặt chẽ trong mối liên kết vùng của không gian du lịch miền núi phía Bắc. Những chương trình độc đáo hấp dẫn du khách còn hạn chế, du lịch còn mang tính mùa vụ. Có rất nhiều du khách chỉ ghé qua Ba Bể rồi đến các điểm du lịch khác, không lưu trú hoặc lưu trú 1 đêm.

Đây chính là các khó khăn và trở ngại chính ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng tại Ba Bể. Thực tế, so sánh về tiềm năng thì Ba Bể có nhiều điều kiện phát triển hơn các khu vực khác xong việc khai thác hiệu quả hoạt động du lịch chưa tương xứng với đúng giá trị và tiềm năng.

2.5. Đánh giá chung hoạt động du lịch mạo hiểm tại vườn quốc gia Ba Bể

Qua kết quả điều tra và phân tích điều kiện, thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm Ba Bể cho thấy du lịch mạo hiểm tại Ba Bể bên cạnh việc khai thác được những lợi thế về tài nguyên, còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức cần được khắc phục.

Điểm mạnh

Cảnh quan ngoạn mục, địa hình hiểm trở với các loại tài nguyên du lịch tự nhiên điển hình của vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Sức cuốn hút của văn hóa dân tộc thiểu (phong tục tập quán, lễ hội, ẩm thực)

Môi trường chính trị ổn định, người dân địa phương thân thiện với khách du lịch.

Điểm yếu

Nhận thức về phát triển du lịch mạo hiểm của các cấp chính quyền, doanh nghiệp du lịch cũng như cộng đồng địa phương còn hạn chế.

Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của loại hình du lịch mạo hiểm.

Sản phẩm du lịch đơn điệu, kém hấp dẫn, không có tính đặc trưng.

Cơ hội Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

Ban đầu thu hút được sự hỗ trợ của một số dự án nước ngoài (PARC, 3PAD), sự đầu tư kinh doanh của một số doanh nghiệp lữ hành lớn (Saigon Tourist).

Bước đầu có sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động khai thác du lịch.

Thách thức

Chưa có quy hoạch riêng cho du lịch mạo hiểm Ba Bể.

Khai thác tài nguyên du lịch có xu hướng không bền vững.

Một số tài nguyên du lịch có nguy cơ bị ô nhiễm và biến mất.

Lợi thế so sánh của VQG Ba Bể bị giảm do phải cạnh tranh với các vườn quốc gia khu vực miền Bắc như VQG Hoàng Liên,  VQG Cúc Phương.

Tiểu kết chương 2

Vườn Quốc gia Ba Bể có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch mạo hiểm. Tuy nhiên mức độ khai thác tài nguyên đưa vào phát triển du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng còn rất ít. Qua quá trình khảo sát và điều tra lấy ý kiến du khách cho thấy hiện trạng phát triển du lịch mạo hiểm VQG Ba Bể còn tồn tại các vấn đề về quy hoạch, xây dựng sản phẩm, liên kết, phát triển thị trường khách cùng với đó là nhận thức về phát triển loại hình du lịch đặc thù của chính quyền, các doanh nghiệp lữ hành và người dân địa phương còn thấp. Việc chỉ ra nguyên nhân của hiện trạng phát triển du lịch mạo hiểm và phân tích điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – thách thức là cơ sở để đưa ra những định hướng hay giải pháp nhằm khai thác hiệu quả hoạt động du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch mạo hiểm tại vườn quốc gia Ba Bể

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464