Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực thi chính sách phát triển du lịch cộng đồng ở thành phố Hội An dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát triển du lịch cộng đồng ở thành phố Hội An
2.1.1. Tài nguyên và tiềm năng du lịch
Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên 61,71 km2, nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn; cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc. Phần đất liền của thành phố có diện tích 46,22 km2 (chiếm 74,9% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố). Hạt nhân trung tâm đô thị Hội An là các phường Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô; trong đó có Khu phố cổ rộng chừng 5km2 đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (ngày 04/12/1999). Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm với diện tích 15,49 km2 (chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố). Cù Lao Chàm- Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (ngày 26/5/2013).
Ngoài lợi thế nằm gần sân bay Chu Lai của Quảng Nam và cảng hàng không quốc tế hiện đại Đà Nẵng, Hội An còn có một ưu thế đặc biệt với vị trí nằm trên “Con đường di sản văn hóa miền Trung” bao gồm: Hội An- Mỹ Sơn- Huế. Đây được xem là điều kiện khách quan thuận lợi giúp Hội An thu hút được một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước. Vị trí tiếp giáp biển Đông và cụm đảo Cù Lao Chàm- Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã tạo cho Hội An có thêm lợi thế về khai thác du lịch biển đảo. Các bãi biển An Bàng, Cửa Đại cách trung tâm phố cổ Hội An khoảng 3 km về phía Đông được bình chọn xếp hạng trong danh sách các bãi biển đẹp nhất trên thế giới. Đặc biệt, 7 km bờ biển Hội An nằm trên trục con đường biển “5 sao” nối từ phía Nam hầm đèo Hải Vân (Đà Nẵng), dọc theo vành đai bờ biển Liên Chiểu- Thuận Phước, qua bán đảo Sơn Trà và xuôi theo bãi biển Non Nước về phố cổ Hội An. Và trong tương lai gần sẽ kết nối với các vùng ven biển phía Nam dọc theo dòng Trường Giang vào đến Quảng Ngãi. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Ngoài ra, Hội An còn nằm trong chuỗi đô thị ven biển dài hơn 500 km vùng duyên hải miền Trung, là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng. Khu vực lân cận Hội An đã và đang hình thành các khu kinh tế, khu cảng phi thuế quan, các khu đô thị mới với quy mô lớn. Phía Bắc có khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô gắn liền với Di sản văn hóa thế giới Kinh thành Huế, thành phố Đà Nẵng đang được đô thị hóa nhanh và đóng vai trò động lực của khu vực. Phía Nam có cảng Kỳ Hà, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất. Các khu kinh tế và đô thị này đều có cảng nước sâu, hệ thống giao thông đường bộ và đường hàng không thuận lợi.
Với vị trí địa lý và quan hệ liên vùng, thành phố Hội An là trọng tâm của cụm động lực phía Bắc vùng Đông của tỉnh Quảng Nam, có quan hệ mật thiết với thành phố Đà Nẵng- vừa là đô thị lớn nhất Miền Trung, vừa là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước; là điểm đầu tuyến của hành lang Bắc trong chiến lược kết nối phát triển Vùng Đông- Vùng Tây tỉnh Quảng Nam, cùng với Đà Nẵng kết nối Đông Tây theo trục Quốc lộ 14B qua cửa khẩu Nam Giang của hành lang kinh tế EWEC2 và vùng kinh tế Tây Nguyên theo đường Hồ Chí Minh. Về đối nội, Hội An nằm trong Cụm động lực phát triển số 1 của Quảng Nam, là vùng giao thoa giữa Hành lang phát triển Bắc Quảng Nam (kết nối Vùng Đông Quảng Nam với các huyện Tây Bắc (Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang) tương đối dồi dào tài nguyên, nguyên liệu) với Vệt ven biển Quảng Nam.
Với những giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tài nguyên sinh thái và nhân văn, hoạt động văn hóa – du lịch sôi động, môi trường cuộc sống lành mạnh – an toàn – thân thiện… Hội An đã tạo hấp lực mạnh mẽ cho các du khách đến tham quan, các nhà khoa học đến nghiên cứu, các nghệ sĩ đến cảm thụ và sáng tác, các nhà đầu tư đến hợp tác làm ăn… Với những nỗ lực không mệt mỏi của cả hệ thống chính trị và đông đảo các tầng lớp nhân dân trong việc quyết tâm xây dựng một thành phố sinh thái – văn hóa – du lịch phát triển năng động và bền vững đã làm cho hình ảnh Hội An ngày càng thân thiện, gần gũi hơn trong sự quan tâm và tình cảm của bè bạn khắp năm châu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Tình hình kinh tế -xã hội và hoạt động du lịch
Năm năm qua (2019 -2024), Thành phố Hội An đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, tích cực tranh thủ, huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thúc đẩy các ngành, các thành phần kinh tế phát triển. Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Tổng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2014) bình quân giai đoạn 2020-2023 tăng cao, đạt 15,6%/năm. Tuy nhiên, vào năm cuối kỳ kế hoạch, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 và thiên tai nên tổng giá trị sản xuất năm 2024 chỉ đạt 4.801,5 tỷ đồng, đạt 36% so với kế hoạch, dẫn đến tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2020-2024 không đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Ngành du lịch Hội An tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế. Các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển du lịch tại các địa phương được triển khai thực hiện đã góp phần khai thác tiềm năng về du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng tại các địa phương. Không gian phát triển du lịch được trải khắp các vùng đô thị, nông thôn, hải đảo, làng quê; hoạt động tham quan, trải nghiệm, khám phá tại các điểm đến đã có sự chú trọng gắn kết với các loại hình lưu trú và dịch vụ khác. Các chủ trương quảng bá, kích cầu du lịch gắn với các chương trình, sự kiện trong Tỉnh và quốc tế đã được tập trung chỉ đạo triển khai có hiệu quả. Một số chương trình văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp, sản phẩm du lịch mới được đưa vào khai thác; việc phát huy vai trò của các doanh nghiệp tham gia vào những chương trình phát triển du lịch bền vững đã mang lại hiệu quả tích cực. Hàng năm, Hội An đều được các tổ chức du lịch quốc tế vinh danh với nhiều danh hiệu, giải thưởng uy tín.Bình quân hàng năm giai đoạn 2020-2023, tổng lượng khách đến Hội An tăng 26,5%/năm (đạt 16,6 triệu lượt, tăng gấp 2,8 lần so với giai đoạn 2015 -2019), tổng lượt khách lưu trú tăng 20,31%/năm (đạt 6,1 triệu lượt, tăng 64,86%), tổng ngày khách lưu trú tăng 19,3%/năm (đạt 13,6 triệu ngày, tăng 58,14%); quy mô kinh tế du lịch đạt 12,82 tỷ đồng, tăng bình quân 23,47%/năm. Năm 2024, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, hoạt động du lịch – dịch vụ của thành phố bị ảnh hưởng nghiêm trọng, các chỉ tiêu về tổng lượt khách đến Hội An, tổng lượt khách lưu trú và tổng ngày khách lưu trú đều bị sụt giảm mạnh nhưng bình quân cả giai đoạn 2020-2024 vẫn đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra. Mạng lưới cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn năm năm qua tiếp tục phát triển nhanh về số lượng và đa dạng về hình thức, tính đến ngày 31/12/2024, toàn thành phố có 800 cơ sở lưu trú du lịch với 12.216 phòng cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tiếp tục được quan tâm đầu tư, nhất là các bến bãi, cầu cảng, các điểm dừng chân và hệ thống các nhà vệ sinh công cộng… Việc triển khai Đề án “Phát triển bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An giai đoạn 2021-2030 đã đạt được nhiều kết quả tốt, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị khu dự trữ sinh quyển gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế từng bước được phát huy.
Ngành du lịch tăng trưởng khá và tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Tổng giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 8.563,6 tỷ đồng, tăng 15,56% so với cùng kỳ, vượt 6,71% so với kế hoạch.Tình hình du khách giai đoạn 2017 – 2021: Tổng lượt khách đến Hội An năm 2017 có 1.629.725 lượt, năm 2021 có 3.309.214 lượt (tăng gấp 2 lần), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2017- 2021) 118,97%. Trong đó; khách Quốc tế: Năm 2017 – 813.160 lượt, năm 2021 – 1.966.694 lượt (tăng gấp 2,4 lần), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2017-2021) 123,66%; Khách Việt Nam: Năm 2017 – 816.565 lượt, năm 2021 – 1.342.520 lượt (tăng gấp 1,64 lần), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2017-2021) 113,64%. Năm 2022: Có 4.550.000 lượt khách, tăng 76,84% so với cùng kỳ; trong đó khách Quốc tế 3.400.000 lượt, tăng 42,83% so với cùng kỳ; khách Việt Nam 1.150.000 lượt, chỉ đạt 98,06% so với cùng kỳ.Năm 2023, thành phố Hội An đón được 5.350.000 lượt khách, tăng 5,24% so với cùng kỳ, đạt 94,22% kế hoạch; trong đó, khách Quốc tế là 4 triệu lượt, tăng 5,16% so với cùng kỳ, đạt 94,25% kế hoạch. Tổng lượt khách mua vé tham quan khu phố cổ đạt 2.498.230 lượt, tăng 4,09%. Tổng lượt khách lưu trú ước đạt 1.971.800 lượt, tăng 13,56% so với cùng kỳ và đạt 97,61% kế hoạch. Bình quân ngày khách lưu trú ước đạt 2,07 ngày. Doanh thu ngành du lịch ước đạt 5.300.000 triệu đồng, tăng 7,91% so với cùng kỳ và tăng 8,16% so với kế hoạch. Nhìn chung, các chỉ tiêu chủ yếu của ngành đều tăng và vượt cao so với kế hoạch [44]
Các điều kiện kinh tế – xã hội trên đã kiến tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng ở Hội An phát triển mạnh mẽ.
2.2. Tình hình thực thi chính sách phát triển du lịch cộng đồng ở thành phố Hội An thời gian qua Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
2.2.1. Mục đích, yêu cầu thực hiện chính sách phát triển du lịch cộng đồng ở thành phố Hội An
Quá trình thực hiện chính sách phát triển DLCĐ ở thành phố Hội An xác định mục đích, yêu cầu là sự tác động của chính sách phải dựa trên nguồn tài nguyên nhân văn và tài nguyên văn hóa đa dạng phong phú của địa bàn Hội An, phải phù hợp với các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, dân cư Hội An ở từng khu vực làng nghề, làng quê. Điều này càng lưu ý trong việc ban hành các chương trình, đề án, kế hoạch của chính quyền thành phố Hội An về các mô hình kinh doanh nhỏ, phát triển cơ sở lưu trú, quản lý và khai thác các tiềm năng du lịch trên địa bàn.
Theo đó, mục tiêu của chính sách là ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng du lịch cho khu vực biển – đảo – làng quê, chú trọng việc bảo tồn, phát huy các giá trị sinh thái – nhân văn của từng khu vực địa bàn, gắn với đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch sinh thái, DLCĐ tại các khu vực này, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia và được hưởng lợi từ DLCĐ.
Để ban hành chương trình kế hoạch, cơ chế phát triển phù hợp, trong quá trình thực hiện chính sách phát triển DLCĐ ở thành phố Hội An đặt ra yêu cầu phải tạo lập được các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển DLCĐ phù hợp với đặc điểm nhu cầu phát triển của từng địa bàn. Đồng thời, chú trọng tập trung vào việc thiết lập cơ chế liên kết, hợp tác cùng các doanh nghiệp trong việc giới thiệu thị trường, quảng bá sản phẩm, đào tạo nghề, hướng dẫn tập huấn kỹ năng nghề… ; xây dựng nguồn nhân lực bền vững dài hạn tại các vùng nông thôn ven đô của Hội An.
2.2.2. Tình hình công tác xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch cộng đồng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Phát triển du lịch cộng đồng là một trong những nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 27/12/2020 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2024, định hướng đến năm 2030 và lần đầu tiên được quy định trong Luật Du lịch năm 2021 nhằm phát huy vai trò và tạo cơ hội cho cộng đồng dân cư làm du lịch.Du lịch cộng đồng tại Quảng Nam bắt đầu hình thành từ năm 2013 và phát triển mạnh từ năm 2017, tập trung chủ yếu ở các huyện, thị xã, thành phố: Hội An (Làng gốm Thanh Hà, Làng Rau Trà Quế, Rừng dừa Bảy Mầu, Mộc Kim Bồng, Cù Lao Chàm), Tam Kỳ (Làng Bích Họa Tam Thanh), Điện Bàn (Làng du lịch cộng đồng sinh thái Triêm Tây), Duy Xuyên (Làng du lịch cộng đòng Trà Nhiêu, Mỹ Sơn), Đông Giang (Làng du lịch Bhờ Hôồng, Đhrôồng), Nam Giang (Làng du lịch dựa vào cộng đồng Cơtu, làng nghề Zara)… .Nếu năm 2017, chỉ có 6 địểm du lịch cộng đồng hoạt động thì đến nay trốn địa bàn tỉnh đă có 19 điểm du lịch cộng đồng được đưa vào đón khách.Trong đó 07 điểm có Ban quản lý điểm du lịch, 07 điểm đã thành lập Tổ họp tác, Họp tác xã.
Trong thời gian qua, ƯBND tỉnh đã quan tâm chỉ đạo ban hành nhiều văn bản về chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển du lịch, trong đó có phát triển du lịch cộng đồng: Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 27/12/2020 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2024, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 364/QĐ-ƯBND ngày 31/01/2023 về quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2030; Quyết định số 1222/QĐ-UBND ngày 7/7/2019 của ƯBND tỉnh phê duyệt đề án phát triển làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019-2024…ƯBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung chỉ đạo, đầu tư nguồn lực cho phát triển du lịch cộng đồng, tiêu biểu như thành phố Hội An.
Trên cơ sở các nghị quyết, quyết định của Đảng bộ, UBND tỉnh Quảng Nam; Thành phố Hội An đã ban hành các Nghị quyết, Đề án, Kế hoạch về phát triển du lịch cộng đồng: Nghị quyết số 26/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hội An ngày 29 tháng 12 năm 2020 về việc Thông qua Đề án phát triển bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An giai đoạn 2021 – 2030. Đề án số 5175A/ĐA- UBND của UBND Thành phố Hội An, ngày 29 tháng 12 năm 2020 về Phát triển bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm- Hội An giai đoạn 2021 – 2030 (điều chỉnh, bổ sung). Quyết định số 1641/2019/QĐ-UBND ngày 07/09/2019 của UBND thành phố Hội An về việc phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới xã Cẩm Hà giai đoạn 2017-2019 và định hướng đến năm 2024. Kế hoạch số 738-KH/UBND, ngày 14/3/2021 của UBND thành phố Hội An về phát triển du lịch – dịch vụ tại làng rau Trà Quế, xã Cẩm Hà.
Đề án xây dựng làng quê – làng nghề sinh thái xã Cẩm Kim giai đoạn 2021-2030. Kế hoạch triển khai quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hội An đến năm 2024. Phương án xây dựng, mở rộng tuyến tham quan khu vực Rừng Dừa Bảy Mẫu và tham quan nội vùng tại xã Cẩm Thanh. Kế hoạch phát triển du lịch tại An Mỹ – Cẩm Châu, Kế hoạch mở rộng bãi tắm An Bàng, phường Cẩm An tại khu A và khu C. Kế hoạch phát triển du lịch tại Thanh Nam Đông – Thanh Nam Tây thuộc phường Cẩm Nam
2.2.3. Kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch cộng đồng thành phố Hội An từ năm 2019 – 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
2.2.3.1. Phân công nhiệm vụ và tổ chức hoàn thiện bộ máy hoạt động quản lý và phổ biến, tuyên truyền chính sách
Trên cơ sở các Nghị quyết, Đề án, Kế hoạch về phát triển du lịch cộng đồng , UBND Thành phố đã phân công nhiệm vụ cho các cơ quan, ban ngành thành phố như sau:
Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thường trực tham mưu thực hiện các Đề án phát triển DLCĐ chịu trách nhiệm: Là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương liên quan trong việc triển khai thực hiện các đề án DLCĐ. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức đánh giá, lựa chọn các điểm DLCĐ đáp ứng tiêu chí hỗ trợ. Phối hợp với các địa phương xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí thực hiện quy định hỗ trợ hằng năm trình UBND Thành phố hỗ trợ kinh phí thực hiện. Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của các đề án, Tham mưu kịp thời cho UBND Thành phố xử lý những tồn đọng, vướng mắc phát sinh trong thực tế. Định kỳ cuối năm tổng hợp, báo cáo UBND và tham mưu UBND thành phố tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện Đề án về DLCĐ. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện các nội dung hỗ trợ chung cho các phường, xã theo Đề án.
Phòng Tài chính: Chủ trì phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn thủ tục, hồ sơ hỗ trợ đối với nguồn vốn sự nghiệp. Phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu UBND thành phố cân đối, bố trí ngân sách trong kế hoạch hằng năm để thực hiện các đề án DLCĐ. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng đối tượng, hiệu quả và hướng dẫn việc thực hiện thanh quyết toán nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, thành phố theo quy định.
Phòng Kinh tế – Hạ tầng: Chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương liên quan trong công tác hướng dẫn, thẩm định và theo dõi, kiểm tra thực hiện các hạng mục về quy hoạch mặt bằng và đầu tư hạ tầng các điểm du lịch; trong việc tổ chức các hội chợ, hội thảo, các lễ hội nhằm giới thiệu, quảng bá các thương hiệu, sản phẩm của làng nghề, các doanh nghiệp của địa phương đến du khách trong, ngoài nước. Chủ trì, phối hợp với UBND các phường, xã và các cơ quan liên quan lập, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hệ thống đường giao thông đến các khu, điểm du lịch. Tổ chức các tuyến vận tải khách công cộng đến các khu, điểm du lịch. Tăng cường công tác quản lý phương tiện vận tải hành khách đến các khu, điểm du lịch bảo đảm nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải. Phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND phường, xã hướng dẫn bố trí địa điểm và lắp đặt bảng chỉ dẫn du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin, địa phương liên quan trong việc tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về du lịch cho đội ngũ lao động tại các điểm du lịch.
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì phối hợp với UBND các phường, xã và các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan hướng dẫn hỗ trợ thiết kế và sản xuất các mẫu và bao bì sản phẩm làng nghề. Phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác quy hoạch, xây dựng các dự án phát triển DLCĐ gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án OCOP tại các địa phương. Khuyến khích, hỗ trợ các nghệ nhân trực tiếp mở các lớp truyền nghề cho lao động nông thôn. Phối hợp với các ngành, địa phương liên quan trong công tác tuyên truyền vận động người dân, dụ khách bảo vệ rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường du lịch.
Phòng Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì, phối hợp với UBND các phường; Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan hướng dẫn, hỗ trợ và theo dõi, kiểm tra công tác bảo vệ tài nguyên môi trường. Phối hợp các ngành, địa phương liên quan trong công tác tuyên truyền vận động người dân, du khách bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội: Phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin, địa phương liên quan trong việc tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về du lịch cho đội ngũ lao động tại các điểm du lịch.
Liên minh Hợp tác xã Thành phố: Chủ trì, phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND các Phường tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các điểm phát triển DLCĐ thành lập các Tổ hợp tác, Hợp tác xã du lịch; tổ chức các khóa tập huấn nâng cao năng lực quản lý, điều hành Tổ hợp tác, Hợp tác xã.
Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Phát thanh -Truyền hình Thành phố: Tăng cường tuyên truyền, quảng bá phát triển du lịch; phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương để tuyên truyền rộng rãi hình ảnh về miền đất, con người Hội An nói chung và DLCĐ nói riêng, cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển DLCĐ của thành phố. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng cường các tin, bài tuyên truyền về chủ trương phát triển du lịch của thành phố.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Thành phố: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành liên quan tăng cường vận động các tầng lớp nhân dân am gia giữ gìn bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an toàn nhằm nâng cao hình ảnh về miền đất, con người Hội An để phát triển du lịch; xây dựng phong cách ứng xử văn minh, thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch.
Hiệp hội Du lịch Thành phố: Hỗ trợ xây dựng dự án phát triển DLCĐ và triển khai hoạt động trong 02 năm đầu kể từ khi điểm du lịch đi vào hoạt động; kết nối các doanh nghiệp du lịch với cộng đồng, tổ chức khảo sát, xây dựng chương trình du lịch, quảng bá các tuyến, điểm du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Công an Thành phố: Chủ trì, phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan, ban, ngành, địa phương liên quan thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho khách du lịch; đảm bảo môi trường du lịch; quản lý chặt các hoạt động tham quan, lưu trú, quản lý tạm trú; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư đến khảo sát địa điểm đầu tư và khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch.
Các địa phương trên địa bàn thành phố thực hiện quản lý toàn diện, thống nhất các điểm DLCĐ trên địa bàn thành phố, các điểm du lịch đã được công nhận thì đều được giao cho UBND cấp xã, phường quản lý, ban hành nội quy, quy chế hoạt động tại điểm du lịch, thực hiện công tác đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, môi trường kinh doanh; trên cơ sở thành lập các ban quản lý hoặc hợp tác xã. Riêng làng gốm Thanh Hà (Hội An) được giao cho Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Truyền thanh – Truyền hình thành phố Hội An quản lý bán vé phục vụ khách du lịch.
2.2.3.2. Tình hình cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và hỗ trợ thông tin phục vụ phát triển du lịch cộng đồng
Hạ tầng giao thông kết nối đến các điểm du lịch được chú trọng đầu tư, tạo điều kiện để các công ty lữ hành đưa khách đến, một số tuyến đường đến các khu, điểm du lịch được đầu tư từ nguồn vốn hạ tầng du lịch của chính phủ, ngân sách tỉnh và ngân sách địa phương. Hạ tầng thiết yếu phục vụ khách du lịch hiện tại có 07 điểm du lịch có nhà đón tiếp khách và được đầu tư nhà vệ sinh công cộng, 05 điểm đã đầu tư bãi đỗ xe. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp Sở Giao thông Vận tải và các địa phương tổ chức lắp đặt 78 biển chỉ dẫn đến các khu, điểm du lịch của 18 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, trong đó có các điểm DLCĐ. Một số hạng mục khác cũng được các địa phương quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm DLCĐ, cụ thể: thành phố Tam Kỳ đầu tư tại làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh: điểm thông tin du khách, khuôn viên sinh hoạt cộng đồng, tiểu hoa viên, chòi quan sát – đôi mắt Tam Thanh với vốn đầu tư trên 860 triệu đồng; UBND xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An đầu tư tại điểm du lịch Rừng dừa Bảy Mẫu: hệ thống kiot bán vé và kiểm soát du lịch, an ninh, cứu hộ cứu nạn, điểm dừng chân, khu tiểu công viên công cộng, điểm tập kết rác với tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ đồng; huyện Núi Thành đầu tư tại xã đảo Tam Hải công trình bia danh thắng Ghềnh đá Bàn Than – Hòn Mang – Hòn Dứa với 392 triệu đồng….
2.2.3.3. Tình hình nghiên cứu thị trường, tiếp thị và quảng bá hình ảnh các mô hình du lịch cộng đồng
Hoạt động quảng bá, thông tin du lịch đã được quan tâm hàng đầu, hàng ngàn bài viết, phóng sự truyền hình về Hội An, về Cù Lao Chàm, về các sự kiện kinh tế, văn hóa lễ hội được tổ chức tại Hội An của các báo, đài truyền hình Việt Nam, (VTV1, HTV7, DRT, QRT), nhiều trang Web đã phát huy tác dụng tuyên truyền giới thiệu kịp thời các hoạt động, sự kiện của thành phố. Ngoài ra hoạt động xúc tiến du lịch được thực hiện trên các trang web của thành phố, tập gấp Hội An, tập gấp du lịch tại các làng nghề, CD quảng bá, xúc tiến tại các lễ hội, sự kiện, Hội chợ quốc tế…. Sự kiện, lễ hội của thành phố vẫn được quan tâm hàng đầu, đây là cơ hội để quảng bá và xúc tiến du lịch như lễ hội ẩm thực quốc tế, giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản, Đêm phố cổ, Phố không có tiếng động cơ, mở rộng không gian đêm phố cổ, dạ hội chào năm mới…. Thương hiệu Hội An tiếp tục được nhiều du khách ưa chuộng. Hội An đã tạo nên và khẳng định thương hiệu cho riêng mình trên thị trường du lịch và được đánh giá là điểm đến khách du lịch phải đến ít nhất một lần trong đời. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Quan hệ đối ngoại, hợp tác của thành phố ngày càng được tăng cường và không ngừng mở rộng, đi vào chiều sâu; tập trung vào các lĩnh vực giao lưu văn hóa, nghiên cứu bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, phát triển đô thị và du lịch bền vững. Thông qua các cuộc hội thảo, sự kiện chính trị, ngoại giao, văn hóa, du lịch tầm quốc gia, quốc tế được phối hợp tổ chức tại địa phương, hình ảnh Hội An được quảng bá rộng rãi và thường xuyên trong nước và thế giới, góp phần quan trọng tăng thêm uy tín, vị thế của thành phố trong thời kỳ hội nhập.
Hội An đã đón nhận sự giúp đỡ đầy thiện chí về nhiều mặt của các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc như: UNESCO, UNHABITAT, UNIDO, ILO…; đồng thời xây dựng nhiều quan hệ hợp tác hữu nghị mới với các địa phương, tổ chức nước ngoài, ký kết thỏa thuận hợp tác trên nhiều lĩnh vực với thành phố Wernigerode (CHLB Đức), Matsusaka (Nhật Bản), Szentendre (Hungary), San Francisco (Hoa Kỳ), Trường ĐH Kristianstad, Công viên phần mềm Krinova (Thụy Điển), Trung tâm Dịch vụ công – ĐH Portland (Hoa Kỳ)…; tiếp đón nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm, làm việc, tư vấn chuyên gia, trao đổi kinh nghiệm,…và cũng đã cử nhiều đoàn cán bộ đi dự hội nghị, hội thảo, xúc tiến, quảng bá thương mại – du lịch, hội chợ, triển lãm… tại nước ngoài, góp phần củng cố, tăng cường và thắt chặt các mối quan hệ đối ngoại trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và quốc tế.
Hiếm có vùng đất di sản nào mà có được vinh dự chào đón rất nhiều đoàn thượng khách như Hội An. Trong mấy chục năm qua, hầu hết những lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các bộ ngành Trung ương đã ít nhất một lần “vi hành” về Hội An. Nhiều đoàn quan chức cấp cao quốc tế, nhiều nguyên thủ, khách VIP của các quốc gia từ Châu Âu qua Châu Á, từ Châu Mỹ đến Châu Phi và cả nước Úc xa xôi… cũng đều đã đặt chân đến Hội An. Thành phố đã đón tiếp và làm việc với hàng trăm lượt đoàn quốc tế đến để hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm quản lý, bảo tồn di sản văn hóa, tổ chức lễ hội – sự kiện, đầu tư dịch vụ – kinh doanh, quản lý môi trường.
Hội An đã tổ chức hoặc tham gia nhiều sự kiện chính trị – văn hóa – du lịch tầm quốc gia, quốc tế rất thành công, tạo được ấn tượng tốt. Nhiều đoàn nghệ thuật trong nước và các nước đến Hội An giao lưu, trao đổi kinh nghiệm. Sự kiện “Những ngày văn hóa Hội An” cùng với các chương trình nghệ thuật cổ truyền của Hội An đã được tổ chức tại nhiều tỉnh thành trong cả nước và nhiều quốc gia trên thế giới.
Hàng năm có rất nhiều nhà nghiên cứu, phóng viên, văn nghệ sĩ trong nước và nước ngoài đến hoạt động tại Hội An. Hình ảnh Hội An vốn đã qúa quen thuộc trên các kênh truyền hình, thông tấn, phim ảnh và các loại ấn phẩm văn hóa, báo chí khác trong nước và quốc tế. Trên thế giới mạng, hình ảnh Hội An cũng hiện hữu đa sắc màu và hấp dẫn vô cùng; với những cảm nhận, yêu mến, nhớ thương của những người lãng du đây đó nói về Hội An, bộc bạch hay tự tình, mộc mạc hay văn hoa, giản dị hay bóng bẩy cũng đều rất chân thành một tình cảm dành cho Hội An. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Trên lĩnh vực du lịch cộng đồng; công tác quảng bá xúc tiến được quan tâm đầu tư bằng nhiều hình thức nhằm thu hút khách du lịch như: tổ chức đón nhiều đoàn famtrip và presstrip, giới thiệu du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng và phát hành nhiều ấn phẩm du lịch, xây dựng bản đồ các điểm du lịch, thường xuyên cập nhật thông tin các điểm du lịch lên trang thông tin du lịch của tỉnh. Một số địa phương cũng đã chủ động trong công tác quảng bá xúc tiến du lịch như mời các đoàn famtrip lữ hành đến khảo sát, tổ chức xúc tiến du lịch tại thị trường nước ngoài, xây dựng cổng thông tin thực tế ảo và phần mềm trên thiết bị di động nhằm quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ du khách tra cứu thông tin. Khách du lịch đến với các điểm du lịch cộng đồng đa số là khách du lịch quốc tế, mục đích của du khách là trải nghiệm những khía cạnh chân thực của cuộc sống, đặc sản địa phương, thiết kế mộc mạc tự nhiên, các yếu tố mang đậm tính truyền thống bản địa.
2.2.3.4. Tình hình chất lượng sản phẩm và nguồn nhân lực phục vụ du lịch cộng đồng
Các sản phẩm du lịch mới được nhà nước, doanh nghiệp đưa vào khai thác như: Múa rối nước, Chương trình biểu diễn nghệ thuật hằng đêm (ngoại trừ tối thứ hai và thứ năm) của công ty Lune tại nhà biểu diễn Công viên Đồng Hiệp, Chương trình biểu diễn hằng đêm Ký ức Hội An của công ty GAMI; Chợ đêm Hội An; Lễ hội ẩm thực quốc tế; Festival Tơ lụa, Festival Gốm; điểm đến Công viên Đất Nung Thanh Hà, sản phẩm du lịch “Đi bộ dưới đáy biển” tại Cù Lao Chàm, sản phẩm ẩm thực chợ phiên thế kỷ 19, “Những ngày văn hóa Hàn Quốc tại Hội An”, “Những ngày Văn hóa dân tộc miền núi Quảng Nam tại Hội An”, Không gian Văn hóa Nhật Bản… Các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực lưu trú ngày càng quan tâm tổ chức các sự kiện văn hóa – du lịch, khai thác các dịch vụ hỗ trợ để thu hút du khách.
Đến nay mạng lưới dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, chăm sóc sức khỏe, vật lý trị liệu, spa đã phát triển rộng rãi phục vụ du khách trong và ngoài khách sạn. Hiệu quả kinh tế mang lại từ dịch vụ này rất cao so với các dịch vụ khác và đang dần trở thành nhu cầu cần thiết, không thể thiếu đối với khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.
Nhằm nâng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch của thành phố nói chung và nhân lực du lịch cộng đồng nói riêng, các phòng, ban, ngành, ất quan tâm đến công tác hỗ trợ đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch.
Nhiều lớp tập huấn, đào tạo về nghiệp vụ du lịch, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, ngoại ngữ, trang bị kiến thức về văn hóa địa phương, phát triển sản phẩm thủ công…được tổ chức, giúp người dân tham gia du lịch cộng đồng hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng phục vụ khách du lịch. Cụ thể: Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND các phường, xã, các cơ sở đào tạo tổ chức hỗ trợ dạy nghề cho gần 1.645 lao động, trong đó đào tạo trình độ trung cấp 321 lao động, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng 1.324 lao động; các nghề đào tạo chủ yếu như: Nghiệp vụ nhà hàng, Quản trị khách sạn, Kỹ thuật pha chế đồ uống, Kỹ thuật chế biến món ăn, Nghiệp vụ Lễ tân – buồng – bàn… tập trung ở địa bàn thành phố Hội An. Bên cạnh đó, UBND Thành phố triển khai thực hiện hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm, duy trì, mở rộng sản xuất, kinh doanh cho gần 1.500 cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh với tổng số tiền hơn 35,7 tỷ đồng. Hằng năm, Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng phục vụ du lịch như: tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch tại điểm; tập huấn kỹ năng kinh doanh lưu trú nhà dân; tập huấn kiến thức lịch sử, văn hóa địa phương và kỹ năng giao tiếp du lịch cộng đồng. Ngoài ra, một số điểm DLCĐ trên địa bàn tỉnh được các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ về đào tạo như: Làng rau Trà Quế, Cẩm Kim; Rừng dừa Bảy mẫu Cẩm Thanh (Hội An)…
2.2.3.5. Tình hình bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên du lịch cộng đồng
Về công tác bảo vệ tài nguyên du lịch: Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 27/12/2020 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2024, định hướng đến năm 2030 xác định “Quản lý chặt chẽ tài nguyên du lịch”, vì vậy, công tác bảo vệ tài nguyên du lịch được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Hằng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức bình quân 04 lớp tập huấn nâng cao nhận thức về du lịch cộng đồng, trong đó nhấn mạnh tuyên truyền cộng đồng tham gia hoạt động du lịch phải thực hiện tốt công tác bảo vệ tài nguyên du lịch tại địa phương phục vụ phát triển du lịch. Sở Tài nguyên và Môi trường và các địa phương, đơn vị liên quan hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường, tổ chức các hoạt động phát động bảo vệ môi trường góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch tại các khu, điểm du lịch. Các nội dung hướng dẫn quản lý các loại chất thải sinh hoạt, chất thải nguy hại phát sinh tại cơ sở, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật; UBND các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch; tổ chức các đợt phát động ra quân dọn dẹp vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
2.2.3.6. Tình hình xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng
- a) Tình hình hoạt động du lịch cộng đồng tại làng rau Trà Quế
Từ năm 2018 đến nay, mỗi năm BQL làng rau Trà Quế bán được trên 20 ngàn vé tham quan cho khách du lịch tham quan Trà Quế. Tuy nhiên, với phương pháp bán vé hiện nay của BQL làng rau Trà Quế khá lỏng lẻo và bị động (khi thấy du khách tham quan làng rau, nhân viên bán vé mới tiếp cận yêu cầu mua vé), số lượng khách tham quan làng rau thực tế lớn hơn khá nhiều so với con số 20 ngàn khách mỗi năm.
Bảng 2.1: Số lượng bán vé tham quan Trà Quế qua các năm
| Năm | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 |
| Số lượng bán vé tham quan | 12.948 | 13.409 | 24.236 | 30.633 | 28.226 | 26.170 | 22.290 |
| Khách Quốc tế | 12.713 | 13.272 | 23.239 | 29.729 | 27.608 | 26.050 | 21.440 |
| Khách Việt Nam | 235 | 137 | 997 | 1.354 | 618 | 120 | 850 |
Nguồn tổng hợp: Các Báo cáo của Phòng Kinh tế Thành phố Hội An qua các năm từ 2016 đến 2022
Phần lớn du khách tham quan Trà Quế thông qua tour của các công ty lữ hành, thời gian tham quan ngắn (30 phút), sản phẩm trải nghiệm ít; bên cạnh đó, một lượng không nhỏ du khách chỉ đạp xe ngang qua làng rau, không tham gia trải nghiệm các sản phẩm du lịch tại đây.
Bảng 2.2: Tài nguyên du lịch của làng rau Trà Quế
| STT | Phân loại | Tên điểm thu hút du lịch | Mức độ ưu tiên |
| 1 | Nghề truyền thống | Nghề trồng rau Trà Quế | 1 |
| 2 | Văn hóa, ẩm thực | Nghệ thuật truyền thống: Bài chòi, Hát bội,…
Ẩm thực: Tam hữu, bánh xèo, mì quảng,… |
2 |
| 3 | Di tích lịch sử | Giếng cổ, miếu bà Chúa, mộ ông Nguyễn Điển, miếu Ngũ Hành,… | 3 |
| 4 | Văn hóa-lễ hội | Lễ hội cầu bông… | 4 |
Nguồn: Báo cáo của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An cạnh đó, tại làng rau Trà Quế cũng có các sản phẩm du lịch như Một ngày làm cư dân Trà Quế (8 giờ), tham quan làng nghề (8 giờ), tham quan và học nấu ăn (5 giờ) do một số hộ dân phối hợp riêng với các công ty lữ hành tổ chức, không có sự gắn kết với cộng đồng. Do vậy, dẫn đến nguồn lợi từ du lịch không được lan tỏa rộng khắp đến cộng đồng dân cư và các hộ nông dân khác cũng chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn hình ảnh, thương hiệu chung để phát triển du lịch địa phương. Hiện nay, tại Làng rau Trà Quế có 12 nhà hàng hoạt động theo mô hình du lịch, có 06 hoạt động theo mô hình homestay, 05 biệt thự du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Bảng 2.3: Doanh thu từ vé tham quan Trà Quế qua các năm
Đơn vị tính: triệu đồng
| Năm | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 10/2022 |
| Doanh thu bán vé | 249,60 | 424,34 | 484,71 | 522,58 | 435,42 | 518,72 | 365,57 |
Nguồn tổng hợp: Các Báo cáo của Phòng Kinh tế Thành phố Hội An qua các năm từ 2016 đến 2022
Doanh thu từ bán vé được nộp vào ngân sách xã và để chi lương, nộp BHYT, BHXH cho 3 cán bộ chuyên trách, chi phụ cấp cho 3 cán bộ kiêm nhiệm, chi công tác vệ sinh môi trường, chi công tác bảo vệ, chi thuê mặt bằng và chi cho các hoạt động khác như: Chi hỗ trợ lễ hội cầu bông; hỗ trợ việc trồng mới và chăm sóc hoa, cây xanh tại làng rau; khen thưởng cho BQL và cán bộ bán vé khi thu vượt chỉ tiêu; chi sửa chữa nhỏ các hạ tầng cơ sở tại làng rau (Điện chiếu sáng, đường nội bộ); các hoạt động của thôn có liên quan đến làng rau Trà Quế; chi in vé, quảng cáo, tái đầu tư, công tác hành chính; hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, các hộ trồng rau khi tham gia lễ hội, quảng bá sản phẩm đến các địa phương khác. Phần vượt thu: Dùng để chi thu nhập tăng thêm, chi hỗ trợ cho hoạt động của các thôn khác ngoài thôn Trà Quế, các đoàn thể, trạm y tế, các trường học trên địa bàn xã Cẩm Hà, chi cho các hoạt động thường xuyên khác và chi sửa chữa hoặc làm mới các công trình XDCB thuộc địa bàn Xã Cẩm Hà.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những hạn chế, bất cập: Một số điểm sản xuất rau trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có hiện tượng sử dụng hóa chất tăng trưởng, thuốc bảo vệ thực vậtảnh hưởng đến uy tín các địa phương trồng rau sạch, trong đó có Trà Quế.Loại hình, sản phẩm du lịch còn thiếu phong phú nên chưa tăng được sức hấp dẫn mạnh đối với du khách.Nguồn lợi từ du lịch không được lan tỏa rộng khắp đến cộng đồng dân cư nên các hộ nông dân không tham gia khai thác du lịch chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn hình ảnh, thương hiệu chung để phát triển du lịch địa phương. Phần lớn lao động tại địa phương là lao động phổ thông, chưa được tập huấn, hướng dẫn đầy đủ trong việc khai thác du lịch. BQL làng rau Trà Quế hoạt động chưa hiệu quả do hạn chế về nguồn nhân lực, thành viên BQL phần lớn là kiêm nhiệm nên chưa sâu sát trong hoạt động quản lý du lịch tại làng rau. Cơ sở hạ tầng vẫn còn chưa đầy đủ, thiếu điểm vệ sinh công cộng.Vệ sinh môi trường còn chưa đảm bảo, một số hộ nông dân tập kết rác tại các bãi đất trống hoặc sát lề đường. Còn sử dụng rất nhiều vật liệu không thân thiện môi trường như bao nilon, bao tời để làm hình nộm đuổi chim và bọc các đầu vòi tưới rau nên không phù hợp với mục tiêu phát triển du lịch sinh thái.Vị trí làng rau Trà Quế nằm ngay khúc cua dốc lên cầu An Bàng dẫn đến bị khuất tầm nhìn và có nguy cơ gây mất ATGT nếu du khách tập trung đông. Các ngõ tiếp nối vào làng rau Trà Quế khá nhiều, khó khăn trong việc kiểm soát vé. Xung quanh làng rau có một số công trình xây dựng cao tầng gây chắn tầm nhìn, mất không gian làng quê.Sự thiếu liên kết trong khai thác du lịch giữa Trà Quế với các điểm du lịch khác, giữa du lịch và các ngành khác (văn hóa, thương mại,…). Việc quảng bá, khai thác du lịch hầu như chỉ dựa toàn bộ vào các công ty lữ hành [40]
- b) Làng mộc Kim Bồng, Phường Cẩm Kim Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Năm 1996 UBND thị xã Hôi An đã ban hành kế hoạch khôi phục các làng nghề truyền thống trên địa bàn thị xã, trong đó có làng mộc kim Bồng, xã Cẩm Kim, đây là bước khởi đầu tạo không khí hồi sinh cho làng Mộc Kim Bồng. Các chính sách tín dụng, hỗ trợ học nghề, truyền nghề, mở lớp đào tạo nghề được quan tâm tổ chức thường xuyên. Năm 2020, UBND thành phố ban hành. Đề án số 5109/ĐA – UBND, ngày 23/12/2020 về “xây dựng làng quê – làng nghề sinh thái xã Cẩm Kim, giai đoạn 2021 – 2024, định hướng đến năm 2030”. Công tác quảng bá, thông tin du lịch được quan tâm thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng phong phú, rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng; khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất tại làng mộc tham gia các hội chợ, triển lãm để quảng bá sản phẩm Mộc Kim Bồng đến các địa phương khác trên cả nước. việc xây dựng và bảo hộ tên tuổi của một số cơ sở sản xuất mộc được quan tâm Tại làng mộc Kim Bồng hiện có 29 cơ sở sản xuất và 97 lao động sản xuất, kinh doanh tại làng mộc Kim Bồng, trong đó có 60 lao động nghề mộc đang làm nghề trong 12 cơ sở sản xuất tại trung tâm làng nghề. Hiện nay, trên địa bàn xã Cẩm Kim có 01 nghệ nhân nhân dân, 01 nghệ nhân ưu tú và nhiều thợ giỏi, thợ lành nghề. Tổ chức sản xuất của nghề mộc Kim Bồng theo hai phương thức gồm thợ hành nghề riêng lẻ và thành lập trại/ cơ sở sản xuất, thường chỉ làm những mặt hàng đơn giản, sửa chữa nhỏ. Các trại/ cơ sở sản xuất thường lớn hơn, có quy mô từ 2 -5 người, trước đây có cơ sở sản xuất từ 15 đến 50 người. Nghề mộc là nghề nặng nhọc nên hầu như chỉ có đàn ông theo đuổi. Hiện nay, ở một vài cơ sở cũng có thợ nữ, chủ yếu đảm nhận việc hoàn thiện, đánh bóng sản phẩm.
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất và lao động tại làng mộc Kim Bồng những năm gần đây
| STT | Nội dung | Năm | ||||
| 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | ||
| 1 | Số hộ | 31 | 32 | 32 | 29 | 29 |
| 2 | Lao động (người) | 90 | 91 | 91 | 97 | 97 |
| 3 | Doanh thu ( triệu đồng) | 5500 | 7500 | 7540 | 8770 | 5000 |
Nguồn tổng hợp: Các Báo cáo của Phòng Kinh tế Thành phố Hội An qua các năm từ 2009 đến 2022
Tuy nhiên, những năm gần đây, nghề mộc kim bồng đang có dấu hiệu mai một, đứng trước khó khăn: Lượng khách không ổn định và có sự giảm sút mạnh. Hiện nay, lượng khách đến tham quan làng mộc chiếm tỷ lệ không đáng kể so với các điểm tham quan khác trên địa bàn thành phố như làng gốm Thanh Hà. Nguyên nhân: Không có thế hệ kế thừa, đặc biệt là thợ thủ công mỹ nghệ, thanh niên làng mộc Kim Bồng ngày càng ít người muốn theo nghề truyền thống của cha ông do việc học nghề mộc cần nhiều thời gian (từ 3 -5 năm). Ngoài năng khiếu, người học cần có tính kiên trì, nhẫn nại. Trong khi đó, thị trường lao động tại Hội An đang rộng mở với các nghề trong lĩnh vực du lịch dịch vụ hoặc những công việc nhàn hạ cho thu nhập đủ sống. Việc đào tạo thợ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa thu hút nhiều người tham gia. Một nguyên nhân khác là do thu nhập thấp, không đảm bảo đời sống, nhất là đối với thợ trẻ. Chế độ đãi ngộ của nghệ nhân còn hạn chế. Hiên nay nhà nước ta đã có chính sách đãi ngộ, tôn vinh với các nghệ nhân nghề mộc. Tuy nhiên chỉ thuần túy động viên về mặt tinh thần mà chưa có chế độ đãi ngộ vật chất xứng đáng. Vì vậy, chưa động viên khích lệ đội đội ngũ nghệ nhân này phát huy kinh nghiệm, khả năng sáng tạo cũng như thu hút, tạo ra hiệu ứng tốt để các lớp thợ trẻ địa phương noi gương và theo nghề cha ông. Khoa học công nghệ ít được quan tâm đầu tư, công cụ sản xuất truyền thống, sản phẩm làm ra không có khả năng cạnh tranh trên thị trường.Sản phẩm chủ yếu của làng mộc Kim Bồng hiện nay là mộc gia dụng, mộc chạm trổ trang trí nội, ngoại thất, mộc lưu niệm… tuy nhiên, nhìn chung các sản phẩm còn đơn điệu, thiếu tính ứng dụng cao, mẫu mã chưa đa dạng, phong phú, còn tập trung sản xuất ở một số sản phẩm có giá thành cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa thị trường. hiện nay một số sản phẩm được buôn bán tại làng mộc chủ yếu sản phẩm ngoại lai, có xuất xứ không rõ nguồn gốc, ảnh hưởng đến uy tín của làng mộc. Bên cạnh nghề mộc, người dân Kim Bồng còn có một số nghề thủ công khác như dệt chiếu, nghề lồng đèn, sản xuất tre, nghề may, nghề làm guốc, nghề đan thúng,túi xách… những cơ sở này nằm khá xã so vơi khu trung tâm làng nghề, sản phẩm còn đơn điệu nên ít được du khách biết đến và chưa thật sự thu hút du khách. Hiện Nay, một số cơ sở tráng mỳ, dệt chiếu đã tổ chức trình diễn, phục vụ khách du lịch nhưng còn manh mún, thiếu đầu tư, chưa được phát huy đúng mức [41] Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Bảng 2.5: Những nguyên nhân dẫn đến tính hình khách du lịch đến làng mộc Kim Bồng ngày càng giảm
| TT | Nội dung | Tỷ lệ |
| 1 | Cảnh quan, môi trường | 79% |
| 2 | Sự thay đổi của tuor, tuyến | 65% |
| 3 | Hoạt động du lịch chưa hấp dẫn | 82% |
| 4 | Sản phẩm làng mộc chưa đáp ứng nhu cầu thị hiếu | 14% |
| 5 | Khác |
c)Phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm- Hội An
Nằm cách khu phố cổ Hội An 18km về phía Đông, Cù Lao Chàm gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 15km2. Đây là khu bảo tồn biển thứ 2 tại Việt Nam, hội tụ các hệ sinh thái biển điển hình của vùng biển nhiệt đới. Cù Lao Chàm còn sở hữu 1.549ha rừng tự nhiên, 6.716ha mặt nước, 7 di tích văn hóa cấp quốc gia cùng các lễ hội truyền thống… Tất cả đã góp phần tạo nên một Cù Lao Chàm riêng có, đậm chất văn hóa miền biển đảo. Khu bảo tồn (KBT) biển Cù Lao Chàm – TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam được thành lập vào tháng 12/2010 và được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng 5/2013. KBT biển với 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai và Hòn Ông chứa đựng một kho tàng về văn hóa, lịch sử và hiện diện đầy đủ hệ sinh thái đa dạng, phong phú (bãi sậy, cồn cát, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, quần cư rong biển, rừng tự nhiên) đại diện cho vùng cửa sông, ven bờ cùng với cảnh quan trên cạn và dưới nước đã và đang mang lại cho Cù Lao Chàm – Hội An các thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái, tạo các mô hình sinh kế mới gắn với bảo tồn tài nguyên và lợi ích cộng đồng. Nghị quyết số 26/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hội An ngày 29 tháng 12 năm 2020 về việc Thông qua Đề án phát triển bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An giai đoạn 2021 – 2030. Đề án số 5175A/ĐA- UBND của UBND Thành phố Hội An, ngày 29 tháng 12 năm 2020 về Phát triển bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm- Hội An giai đoạn 2021 – 2030(điều chỉnh, bổ sung). Mục tiêu chiến lược đối với Tân Hiệp là xây dựng xã đảo thành một khu du lịch quốc gia phát triển toàn diện và có chất lượng cao về mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là quốc phòng an ninh – chính trị, kinh tế – văn hóa, sinh thái – môi trường; trật tự an toàn xã hội và gìn giữ, bảo tồn, phát huy cao nhất giá trị Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Với những giá trị nổi bật cùng chiến lược quảng bá hiệu quả, sau 10 năm kể từ khi được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (2013), làn sóng du lịch đã bùng nổ tại Cù Lao Chàm. Từ vài nghìn du khách vào năm 2009 đến năm 2022 đã có 450.000 tổng lượng khách đến đảo. Cùng với các loại hình sinh kế tích cực cho cộng đồng, đã nâng thu nhập bình quân hàng năm của người dân nơi đây từ 6 triệu đồng năm 2010 đến 24 triệu đồng vào năm 2016 và 40 triệu đồng năm 2022.
Bảng 2.6: Lượt khách đến xã đảo Cù lao Chàm qua các năm
| Năm | 2009 | 2013 | 2014 | 2017 | 2021 | 2022 |
| Lượt khách | Vài nghìn | 20.000 | 55.000 | 195.000 | 400.000 | 450.000 |
Nguồn tổng hợp: Các Báo cáo của Phòng Kinh tế Thành phố Hội An qua các năm từ 2009 đến 2022
Du lịch phát triển đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân địa phương. Chuyển dịch lao động từ nông – lâm – ngư sang du lịch – dịch vụ – thương mại tăng dần hàng năm. Theo báo cáo của UBND xã Tân Hiệp, nếu năm 2012 các ngành ngư – nông – lâm chiếm 85% tỷ trọng kinh tế toàn xã thì đến năm 2022 tỷ lệ này chỉ còn dưới 9%; thương mại – dịch vụ – du lịch tăng từ 10% (2012) lên hơn 76% (2022). Năm 2022, thu nhập bình quân của người dân xã đảo xấp xỉ 40 triệu đồng, nằm trong top đầu những xã, phường có thu nhập cao nhất của Hội An “Trong 5 năm qua, có thể nói, kinh tế xã đảo Tân Hiệp có bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là kinh tế dịch vụ du lịch; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch mạnh mẽ, thu nhập bình quân đầu người tăng cao. Từ một địa phương dựa vào kinh tế nông, ngư nghiệp là chính vào đầu nhiệm kỳ, chỉ trong 3 năm, Tân Hiệp đã chuyển mình trở thành một địa phương có du lịch phát triển năng động. Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư mạnh và tương đối đồng bộ, đáp ứng tốt cho hoạt động du lịch với quy mô phục vụ 400.000 khách mỗi năm”.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, hoạt động du lịch sinh thái, cộng đồng và bảo tồn và phát huy giá trị Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm- Hội An vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Hoạt động du lịch, nhiều mặt thiếu tính chuyên nghiệp, chất lượng các dịch vụ đi kèm còn thiếu và yếu. Trật tự kinh doanh chưa được quản lý chặt chẽ, sản phẩm du lịch còn hạn chế. Một số hạ tầng kỹ thuật luôn trong tình trạng quá tải do áp lực phục vụ số lượng lớn du khách trong một thời điểm nhất định dẫn đến nhanh xuống cấp, hư hỏng (giao thông, công trình vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải, rác thải, nước sinh hoạt…); môi trường sinh thái, đa dạng sinh học bị đe dọa do khai thác chưa hợp lý. Kiến trúc cảnh quan chưa được quy hoạch, sắp xếp để tạo sự độc đáo riêng biệt. Số lượng và chất lượng nguồn lao động chưa đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu phát triển. Một điều đáng quan ngại trong thời gian gần đây là các tệ nạn xã hội có biểu hiện đang len lỏi vào đời sống cư dân trên đảo, nhất là tệ nạn ma túy trong thanh thiếu niên, gây bất ổn xã hội. Nhận thức, ý thức của một bộ phận Nhân dân còn hạn chế trong quản lý, khai thác tài nguyên và kinh doanh du lịch – dịch vụ.Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết là do sự bất cập trong công tác quy hoạch, đầu tư phát triển một địa phương có tính đặc thù nhất là khai thác có hiệu quả các giá trị từ biển, đảo, rừng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh; chưa dự lường hết những mặt trái của hoạt động du lịch để có sự kiểm soát chặt chẽ, khắc phục kịp thời; lượng khách đến tham quan ngày càng tăng nhanh dẫn đến áp lực lớn về cơ sở hạ tầng cung ứng dịch vụ và bảo vệ tài nguyên; trình độ dân trí thấp cũng là trở ngại lớn trong phát triển của địa phương, thiếu lực lượng lao động trẻ có trình độ chuyên môn. Hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền còn chưa theo kịp với yêu cầu, công tác kiểm tra, kiểm soát còn thiếu thường xuyên; tính năng động, chủ động, sáng tạo trong quản lý còn nhiều hạn chế [19]
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách phát triển du lịch cộng đồng thành phố Hội An Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
2.3.1. Kết quả đạt được
Nhìn chung, DLCĐ trên địa bàn thành phố Hội An đang dần phát triển theo đúng định hướng và quy hoạch của tỉnh, bước đầu có hiệu quả: thị trường khách du lịch ngày càng mở rộng, lượng khách không ngừng tăng; sản phẩm du lịch từng bước được đa dạng, có thêm nhiều lựa chọn cho khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng trên địa bàn thành phố, góp phần kéo dài thời gian lưu trú của khách, mở rộng không gian du lịch; chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao. Công tác quản lý nhà nước ngày càng được đẩy mạnh, bước đầu tạo sự đồng thuận của các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo, quản lý, khoanh vùng bảo vệ các tài nguyên du lịch, góp phần bảo vệ cảnh quan làng quê, làng nghề; tình hình an ninh trật tự, an toàn tại các làng quê, làng nghề được đảm bảo; công tác đầu tư, phát triển, kinh doanh du lịch được chú trọng, cơ sở hạ tầng, giao thông được đầu tư, nâng cấp thường xuyên, vừa phục vụ dân sinh vừa phục vụ cho phát triển du lịch; công tác xã hội hóa được quan tâm, thu hút bằng nhiều nguồn lực, có nhiều thành phần kinh tế tham gia; vai trò chủ thể của người dân ngày càng được thể hiện; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Nhiều điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn đã nhận được giải thưởng du lịch cộng đồng ASEAN: Trong đó, đáng kể nhất là Tạp chí du lịch nổi tiếng hàng đầu thế giới Travel + Leisure bình chọn Hội An đứng đầu trong 15 thành phố tuyệt vời nhất thế giới, lần đầu tiên hình ảnh Chùa Cầu được Google vinh danh trên trang chủ (ngày 16/7/2023). Sự kiện đặc biệt quan trọng là ngày 12/10/2023 thành phố Hội An được trao giải thưởng “Điểm đến thành phố văn hóa hàng đầu Châu Á 2023” của Ban tổ chức giải thưởng du lịch thế giới lần thứ 26 – World Travel Awards (WTA).Công tác quy hoạch, quản lý theo quy hoạch được quan tâm triển khai.Các dự án lớn của Trung ương, tỉnh đầu tư trên địa bàn như: cầu Cẩm Kim thuộc quốc lộ 14H, đường ĐT 607, làn thứ hai đường dẫn cầu Cửa Đại (đường 129) đã khởi công xây dựng. Cộng đồng làng chài ven biển An Bàng, thành phố Hội An nhận giải thưởng nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay)…Có 03 điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đang hoạt động hiệu quả cao, mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân: rừng dừa Bảy Mẫu, làng gốm Thanh Hà và làng rau Trà Quế (thành phố Hội An). Tại 03 điểm ở Hội An, UBND thành phố Hội An đã triển khai bán vé tham quan. Nguồn thu từ vé tham quan được trích đóng góp vào ngân sách địa phương để thực hiện cải cách tiền lương, đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư cho công tác vệ sinh môi trường, đảm bảo an ninh, trật tự tại điểm du lịch. Các điểm du lịch này gần trung tâm du lịch của tỉnh nên lượt khách tham quan lớn, người dân đã có thu nhập ổn định từ hoạt động du lịch, không còn hộ nghèo tại các điểm du lịch này. Các hộ dân có tham gia hoạt động du lịch đều có thu nhập ổn định. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Một số điểm hoạt động bước đầu đã tạo được thêm công ăn việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người dân, góp phần tạo được diện mạo mới và nâng cao nhận thức về công tác phát triển du lịch tại địa phương: làng du lịch sinh thái cộng đồng Cẩm Kim; làng du lịch cộng đồng làng rau Trà Quế, xã Cẩm Hà; làng du lịch cộng đồng Cẩm Châu; làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà (thành phố Hội An)
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động du lịch cộng đồng tại một số điểm trên địa bàn tỉnh
Bảng 2.8. Nhận thức người dân Hội An về tác động của du lịch cộng đồng
| STT | Nội dung | Tốt | Bình thường | Không tốt |
| 1 | Tạo thêm việc làm mới cho bà con trong huyện/thị | 84.6 | 21.7 | 0.0 |
| 2 | Mang lại thu nhập ổn định cho1 bộ phận dân cư | 76.9 | 23.1 | 0.0 |
| 3 | Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho địa phượng | 23.1 | 76.9 | 0.0 |
| 4 | Góp ph ần tạo lập cảnh quan môi trường sạch đẹp | 34.6 | 65.4 | 0.0 |
| 5 | Góp ph ần xây dựng cơ sở hạ tầng cho địa phương | 30.8 | 69.2 | 0.0 |
| 6 | Đóng góp nguồn thu cho ngân sách địa phương | 3.8 | 96.2 | 0.0 |
| 7 | Đóng góp cho xá hoạt động xã hội tại địa phương | 23.1 | 76.9 | 0.0 |
| 8 | Góp phần thúc đẩy KT-XH phát triển | 30.8 | 69.2 | 0.0 |
2.3.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Một số điểm DLCĐ trên địa bàn thành phố hoạt động cầm chừng, lượng khách đến không thường xuyên, vì vậy chưa mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho địa phương, người dân. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng dân cư làm chủ thể trong việc quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi, một số nơi có tiềm năng về du lịch cộng đồng, tuy nhiên, người dân chưa mạnh dạn đầu tư, khai thác các dịch vụ phục vụ du khách, chưa chủ động tìm giải pháp thích hợp phát triển du lịch tại địa phương. Thêm vào đó, lao động tham gia các hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa phát huy hết được tiềm năng sẵn có để khai thác phục vụ khách du lịch, một bộ phận người dân chưa quan tâm nhiều đến du lịch cộng đồng. Hơn nữa, năng lực quản lý, điều hành, kết nối trong vấn đề phát triển du lịch của các thành viên Ban quản lý, Hợp tác xã, Tổ hợp tác còn nhiều hạn chế.
Hạ tầng thiết yếu như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, nhà đón tiếp… được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu khách du lịch. Chất lượng hạ tầng giao thông kết nối một số điểm du lịch cộng đồng còn thấp, làn đường nhỏ, rất khó khăn cho các công ty lữ hành tổ chức tour du lịch cho xe 30 chỗ ngồi trở lên. Thiếu kinh phí đầu tư sản phẩm du lịch tại các điểm nên các dịch vụ lưu trú, nhà hàng… quy mô còn nhỏ, chưa đảm bảo đủ các điều kiện và nhu cầu của du khách.
Các hoạt động trải nghiệm tại các điểm chưa đa dạng, phong phú nên thời gian lưu trú của du khách chưa dài và chi tiêu của khách còn thấp.
Môi trường xã hội tại một vài điểm du lịch đông khách đôi lúc vẫn chưa thật sự nề nếp, cạnh tranh về giá không lành mạnh. Đó là do sự quá tải về hạ tầng du lịch, lợi ích mang lại từ du lịch quá lớn nên xảy ra tình trạng cò mồi và cạnh tranh giá cả không lành mạnh, sự quá tải sức chứa của điểm đến ở những thời điểm cao điểm cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự bền vững của tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó, môi trường tự nhiên tại một số điểm du lịch chưa đảm bảo, do việc thu gom xử lý rác, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của một bộ phận du khách, người dân tại các khu, điểm du lịch chưa được tốt.
Khảo sát một số ý kiến của hướng dẫn viên về lý do làng mộc Kim Bồng chưa thu hút nhiều khách du lịch:
- Phương tiện giao thông đi lại khó khăn.
- Chưa tạo được cảm nhận khi đặt chân đến làng nghề
- Sản phẩm buôn bán chủ yếu là nhập nơi khác về.
- Vệ sinh không đảm bảo.
- Đặc biệt, các nhà thuyền không chịu trung chuyển về làng mộc Kim Bồng.
- Làng dừa, Làng gốm có nhiều hoạt động thu hút hơn.
- Đối với khách châu Á, khách du lịch chủ yếu là xem chung chung rồi về, không hứng thú lắm, thường chỉ đến 1 lần; khách châu Âu thì thích hoạt động trải nghiệm, thử làm nghề mộc.
- Chương trình quảng bá không có, chưa tiếp cận được với khách và công ty du lịch. Khách du lịch thường không biết đến làng mộc, các thông tin tại khách sạn hay khu vực công cộng không có, nếu có chỉ do hướng dẫn thông tin.
- Cần có một kênh liên kết với các công ty lữ hành để có sự điều phối khách về Cẩm Kim/.
- Công tác quản lý quy hoạch và đầu tư du lịch tại một số điểm chưa tốt. Một số điểm du lịch chưa được tổ chức quy hoạch bài bản nên người dân tự ý đầu tư xây dựng nhà cửa, xây dựng quán ăn, nhà hàng… làm phá vỡ không gian làng quê, làng nghề, giảm sức thu hút của điểm du lịch làng quê mà không có sự can thiệp của các cấp chính quyền tại địa phương; công tác bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống chưa được đầu tư đúng mức;
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch chưa hiệu quả; thiếu liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; liên kết ngành giữa du lịch, nông nghiệp và khu vực nông thôn để tạo thành chuỗi giá trị sản phẩm còn hạn chế, chưa đem lại hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
- Nguyên nhân của hạn chế
Nhận thức và sự quan tâm của một số ngành, chính quyền địa phương và một bộ phận người dân về phát triển du lịch cộng đồng còn chưa đây đủ. Thiêu nguôn lực đâu tư cho phát triên du lịch cộng đồng, ngân sách chủ yếu lồng ghép hỗ trợ đầu tư nhưng còn hạn chế. Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đông dân cư quản lý, tô chức khai thác và hưởng lợi, tuy nhiên vai trò chủ thê người dân chưa được thể hiện rõ. Người dân chưa mạnh dạn đầu tư, khai thác các dịch vụ phục vụ du khách. Công tác tư vấn hỗ trợ của các cơ quan, đơn vị chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
Trên cơ sở các nghị quyết, quyết định của Đảng bộ, UBND tỉnh Quảng Nam; Thành phố Hội An đã ban hành các Nghị quyết, Đề án, Kế hoạch về phát triển du lịch cộng đồng: Thành phố Hội An đã xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng; Tình hình hoạt động du lịch cộng đồng tại làng rau Trà Quế; Làng mộc Kim Bồng, Phường Cẩm Kim; Phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng bền vững xã đảo Tân Hiệp trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm- Hội An. Đánh giá chung về thực hiện chính sách phát triển du lịch cộng đồng thành phố Hội An: Nhìn chung, du lịch cộng đồng trên địa bàn thành phố Hội An đang dần phát triển theo đúng định hướng và quy hoạch của tỉnh, bước đầu có hiệu quả: thị trường khách du lịch ngày càng mở rộng, lượng khách không ngừng tăng; sản phẩm du lịch từng bước được đa dạng, có thêm nhiều lựa chọn cho khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng trên địa bàn thành phố, góp phần kéo dài thời gian lưu trú của khách, mở rộng không gian du lịch; chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao. Công tác quản lý nhà nước ngày càng được đẩy mạnh, bước đầu tạo sự đồng thuận của các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo, quản lý, khoanh vùng bảo vệ các tài nguyên du lịch, góp phần bảo vệ cảnh quan làng quê, làng nghề; tình hình an ninh trật tự, an toàn tại các làng quê, làng nghề được đảm bảo; công tác đầu tư, phát triển, kinh doanh du lịch được chú trọng, cơ sở hạ tầng, giao thông được đầu tư, nâng cấp thường xuyên, vừa phục vụ dân sinh vừa phục vụ cho phát triển du lịch; công tác xã hội hóa được quan tâm, thu hút bằng nhiều nguồn lực, có nhiều thành phần kinh tế tham gia; vai trò chủ thể của người dân ngày càng được thể hiện; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, bất cập: Một số điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn thành phố hoạt động cầm chừng, lượng khách đến không thường xuyên.Người dân chưa mạnh dạn đầu tư, khai thác các dịch vụ phục vụ du khách, chưa chủ động tìm giải pháp thích hợp phát triển du lịch tại địa phương. Lao động tham gia các hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa phát huy hết được tiềm năng sẵn có để khai thác phục vụ khách du lịch. Hơn nữa, năng lực quản lý, điều hành, kết nối trong vấn đề phát triển du lịch của các thành viên Ban quản lý, Hợp tác xã, Tổ hợp tác còn nhiều hạn chế. Hạ tầng thiết yếu như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, nhà đón tiếp… được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu khách du lịch… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Hội An

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
