Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Ea H’Leo là một huyện nằm về phía Bắc của tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 80 km. Tên gọi của huyện Ea H’Leo bắt nguồn từ tên gọi của một dòng sông chạy ngang qua địa bàn huyện. Huyện được thành lập năm 1980. Về vị trí địa lý, phía Bắc và phía Đông giáp với tỉnh Gia Lai gồm các huyện Krông Pa, thị xã Ayun Pa, Chư Pưh và Phú Thiện; phía Tây giáp với huyện Ea Súp; phía Nam giáp Krông Búk, Krông Năng và Cư M’gar.
Tính đến năm 2021, diện tích tự nhiên của địa bàn huyện Ea H’Leo khoảng133.409 ha, có dân số khoảng 137.000 người. Địa bàn huyện cũng là nơi có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống. Theo thống kê khoảg 29 dân tộc, trong đó người Kinh, người Ê đê, Gia Rai là những dân tộc chiếm tỷ lệ đông hơn cả. Về hành chính, huyện Ea H’Leo có 12 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó 01 thị trấn và 11 xã bao gồm: thị trấn Ea Drăng, xã Cư A Mung, Cư Mốt, Ea Hiao, Ea H’Leo, Ea Khal, Ea Nam, Ea Ral, Ea Sol, Ea Tir, Ea Wy, Dliê Yang. Với tổng cộng 197 thôn, buôn, tổ dân phố, trong đó có 53 buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Về tình hình kinh tế, GDP bình quân đầu người tính đến năm 2020 là 2.130 USD. Hiện nay, hòa chung với xu thế phát triển của cả nước, Lãnh đạo địa phương quan tâm, khuyến khích người dân địa bàn đẩy mạnh các ngành công nghiệp và dịch vụ, dựa trên nền tảng là nông nghiệp. Từ đó, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và dịch vụ. “Tính đến năm 2020, tỷ trọng thương mại – dịch vụ đã chiếm 25,80% trong GDP, công nghiệp và xây dựng chiếm 26,64%, nông, lâm, thủy sản chiếm 47,57%”. [37]
Nhìn chung, với đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của địa bàn huyện hiện nay, phần nào ảnh hưởng đến tình hình tội phạm về ma túy cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy nói chung, việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với các vụ án về ma túy nói riêng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
2.1.2. Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Ea H’Leo là khu vực rộng lớn, nằm ở phía cuối tỉnh Đắk Lắk, dân cư đông đúc và phức tạp, có Quốc lộ 14 đi qua, đây là điều kiện để tội phạm ma túy tận dụng triệt để buôn bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy. Sử dụng các chất ma túy như heroine, methamphetamine, thuốc phiện, trồng và chế biến cần sa. Tội phạm về ma túy diễn ra dàn trải ở khắp các xã, thị trấn. Ngay tại trung tâm thị trấn Ea Drăng, còn khá nhiều đối tượng sử dụng ma túy, và đặc biệt ở một số xã vùng sâu vùng xa trong huyện như xã Ea H’Leo, Ea Hiao, Cư Amung, Ea Wy, số người sử dụng ma túy gấp khoảng 1,5 lần so với thị trấn Ea Drăng. Nhiều đối tượng nghiện ma túy đã đến tuổi lao động nhưng không chăm chỉ làm ăn mà mua bán ma túy để có tiền tiêu, hút và tiêm chích ma túy, giao du với những người nghiện ma túy khác. Trong một số vụ án, ma túy là nguyên nhân dẫn đến phát sinh loại tội phạm khác, thể hiện dưới dạng người phạm tội trước khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng lượng ma túy nhất định dẫn đến tinh thần bất ổn, chẳng hạn sử dụng ma túy rồi gây tai nạn giao thông. Hoặc thể hiện dưới dạng để có tiền mua ma túy sử dụng, người phạm tội đã thực hiện hành vi trộm cắp, cướp tài sản, thậm chí xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác để có tiền mua ma túy sử dụng. [42]
Trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2022, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk có xu hướng tăng giảm không đều, tuy nhiên nhìn chung đây là nhóm tội phạm chiếm số lượng lớn trong tổng số lượng án hình sự mỗi năm. Tổng số vụ án về ma túy trong thời điểm thống kê là 111 vụ, tương ứng bình quân khoảng 22 vụ mỗi năm. Trong đó, một số loại tội phạm phổ biến, thường xảy ra là Tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý. Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi các dịch vụ nhà hàng, karaoke cũng như sự manh động của các đối tượng phạm tội ngày càng cao, liều lĩnh hơn thì các đối tượng có xu hướng thực hiện hành vi phạm tội tổ chức trái phép chất ma túy ngày càng nhiều, hơn nữa chủ thể thực hiện còn có xu hướng trẻ hóa.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức – cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo thành lập năm 1981, có trụ sở tại trung tâm thị trấn Ea Drăng. Trải qua hơn 35 năm hình thành và phát triển, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo đã cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện, xây dựng huyện Ea H’Leo luôn phát triển về kinh tế, bảo đảm quốc phòng và an ninh, đời sống người dân ngày càng ổn định và nâng cao.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo hiện có 12 biên chế, 03 hợp đồng lao đồng. Trong đó, có 11 biên chế làm nghiệp vụ kiểm sát gồm: 07 Kiểm sát viên; 02 Kiểm tra viên; 01 Chuyên viên và 01 kế toán kiêm văn thư lưu trữ. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các công chức nghiệp vụ là 100% trình độ cử nhân Luật trở lên, 01 đồng chí trình độ cao đẳng Kế toán. Nhiều công chức đang tiến hành theo học lên các lớp Cao học thạc sĩ chuyên ngành Luật để nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng thời, đơn vị quan tâm cử các công chức đủ điều kiện theo học các lớp lý luận chính trị để phục vụ cho quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý. Có 06 đồng chí đạt trình độ từ sơ cấp lý luận chính trị trở lên. [38]
Tập thể lãnh đạo gồm có 01 đồng chí Viện trưởng, 02 đồng chí Phó viện trưởng. Với cương vị ở VKSND cấp huyện, đơn vị chưa có điều kiện thành lập phòng, do đó, phần lớn Kiểm sát viên đều kiêm nhiệm nhiều khâu công tác khác nhau.
Với cơ cấu tổ chức – cán bộ của VKSND huyện Ea H’Leo hiện nay, việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy bị ảnh hưởng nhất định. Theo báo cáo tổng kết qua các năm gần đây, số lượng vụ án hình sự khoảng 100 vụ/năm, án dân sự khoảng 1000 vụ/năm, cùng với việc thực hiện các công tác khác, cho thấy KSV còn phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau, dẫn đến việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy có lúc, có thời điểm chưa sát sao và đạt được hiệu quả tối đa, bao quát nhất.
2.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
2.2.1. Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy và kiến nghị khởi tố
- Bảng 2.1. Số nguồn tin về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Từ bảng số liệu trên, có thể thấy số nguồn tin về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022 trên địa bàn Ea H’Leo có xu hướng tăng dần. Đỉnh điểm là năm 2020, số nguồn tin ma túy đạt mức cao nhất là 27 tin/năm. Thực tiễn thực hiện pháp luật về THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm ma túy cho thấy, đa số các nguồn tin được tiếp nhận thông qua nguồn CQĐT phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy. Một số ít nguồn tin do cá nhân cung cấp đến CQĐT như hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại các quán Karaoke, hành vi trồng cây cần sa,…Đối với các nguồn tin về tội phạm ma túy trên, 100% đều được CQTHTT trên địa bàn Ea H’Leo giải quyết theo đúng quy định của pháp luật bằng các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội phạm ma túy tương ứng theo quy định của BLHS hiện hành.
2.2.2. Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy
- Bảng 2.2. Số vụ án và số bị can bị khởi tố, điều tra về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Qua bảng 2.2 cho thấy, trong nhóm tội phạm về ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tội mua bán trái phép chất ma túy luôn chiếm phần lớn trong tổng số án về ma túy phải THQCT và Kiểm sát điều tra tại VKSND huyện Ea H’Leo. Đặc biệt là Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, từ thực tiễn THQCT và kiểm sát điều tra án ma tuý tại địa bàn huyện, tác giả nhận thấy hầu hết hành vi tàng trữ của các đối tượng dưới dạng nhỏ lẻ, thường mua khoảng vài trăm nghìn tiền ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thoả mãn cơn nghiện. Từ năm 2018 đến năm 2022, số lượng vụ án ma tuý có xu hướng tăng nhẹ và đa dạng hơn các hành vi phạm tội. Theo đó, năm 2022, khởi tố mới và THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án về Tội trồng cây thuốc phiện, cây cần sa và Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhìn chung, 100% vụ án về ma túy từ khi phát hiện bắt quả tang, áp dụng các BPNC tạm giữ đến khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều được VKSND huyện Ea H’Leo tiến hành THQCT và kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật TTHS. Ở khía cạnh thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án ma túy trên, VKSND huyện Ea H’Leo đều đảm bảo 100% các quyết định phê chuẩn khởi tố bị can đều được phê chuẩn đúng thẩm quyền, thời hạn, trình tự thủ tục. Trong đó, có nhiều vụ án VKS đã tham gia lấy lời khai đối tượng ngay từ khi các đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ, để phục vụ cho cả hoạt động THQCT đối với việc biện pháp ngăn chặn cũng như việc khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp điều tra phù hợp.
- Bảng 2.3. THQCT đối với áp dụng BPNC trong giai đoạn điều tra Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Từ bảng số liệu trên cho thấy, hầu hết các bị can phạm tội về ma túy trên địa bàn Ea H’Leo đều bị áp dụng BPNC tạm giam (riêng 02 bị can phạm Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy năm 2022 bị áp dụng BPNC Cấm đi khỏi nơi cư trú). 100% các lệnh tạm giam của CQĐT đều được VKS phê chuẩn. Thực tiễn cho thấy, các tội phạm ma túy xảy ra trên địa bàn huyện Ea H’Leo đều là tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đồng thời các bị can là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú rõ ràng, nên bị can rất dễ thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc bỏ trốn. Do đó, việc áp dụng BPNC tạm giam là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ luật định, không để xảy ra trường hợp lạm dụng việc áp dụng BPNC, vi phạm quyền con người, quyền công dân.
Ngoài ra, với yêu cầu gắn công tố với điều tra là phương châm công tác trong tình hình mới hiện nay, nên hầu hết tất cả các vụ án hình sự nói chung, các vụ án về ma tuý nói riêng, lãnh đạo đơn vị quán triệt đến toàn thể KSV phải luôn sát sao, theo dõi và chủ động đưa ra các yêu cầu điều tra kịp thời, phù hợp với từng vụ án. Trong các hồ sơ vụ án, 100% vụ án đều được KSV ban hành các bản yêu cầu điều tra. Trong đó, nội dung yêu cầu điều tra chủ yếu làm rõ hành vi phạm tội, nhân thân của bị can (để xác định có hay không tái phạm, tái phạm nguy hiểm,…), mục đích phạm tội nhất là trong những vụ án chỉ có lời khai của người bị buộc tội về hành vi mua bán trái phép chất ma túy,.. Đặc biệt là KSV được phân công THQCT luôn bám sát các hoạt động của CQĐT, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, vật chứng, kết quả giám định, đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm, xác định trách nhiệm, vai trò của từng bị can, bị cáo (giám sát việc khám xét nơi cất giấu ma túy, các đồ vật, phương tiện phạm tội, lấy lời khai…). Lãnh đạo viện cũng chỉ đạo các KSV chú trọng công tác phối hợp với ĐTV, thống nhất kịp thời các biện pháp giải quyết các vụ án ma túy, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, kịp thời xin ý kiến cấp trên về những vấn đề chưa được thống nhất, kịp thời rút kinh nghiệm, khắc phục thiếu sót và vi phạm, nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra.
2.2.3. Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Bảng 2.4. Số vụ án và số bị can bị truy tố về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Từ bảng số liệu trên cho thấy, 100% vụ án ma túy trong giai đoạn điều tra được đề nghị truy tố và VKSND huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng đối với bị can ra trước Toà án để xét xử. Không có trường hợp nào, VKS phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Trong giai đoạn này, chủ yếu thực hiện pháp luật về áp dụng BPNC tạm giam (khi lệnh tạm giam của CQĐT không đủ để quyết định việc truy tố); thực hiện biện pháp hỏi cung bị can (phúc cung) để phục vụ cho việc ban hành Cáo trạng truy tố đối với bị can,…Đồng thời không có trường hợp nào phải ra quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ vụ án. Như vậy, việc thực hiện pháp luật THQCT trong giai đoạn truy tố đối với án ma túy được VKSND huyện Ea H’Leo tiến hành đảm bảo. Tuân thủ đúng quy định của BLTTHS, Quy chế ngành Kiểm sát là Quy chế số 111 và Quy chế số 03, quy chế nội bộ ngành về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.
2.2.4. Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án ma túy
- Bảng 2.5. Số vụ án và số bị can bị xét xử về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Như vậy, từ bảng số liệu trên cho thấy, ở giai đoạn xét xử, 100% vụ án về ma túy bị VKS truy tố đều được Toà án xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Không có trường hợp nào, Toà tuyên không phạm tội. Trong quá trình thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử đối với các vụ án ma túy, các KSV được phân công tham gia phiên toà chủ động nghiên cứu hồ sơ của vụ án để nắm vững nội dung vụ án, các tình tiết, chứng cứ vụ án; dự liệu các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà, chuẩn bị đề cương xét hỏi, dự thảo bản luận tội, những nội dung cần tranh luận để báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo VKS về đường lối giải quyết vụ án. Các KSV thể hiện tự tin, chủ động THQCT tại phiên tòa, đặc biệt là coi trọng việc xét hỏi, thẩm vấn công khai tại phiên tòa nhằm kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ một cách công khai, chứng minh các luận điểm đã nêu và kết luận trong bản cáo trạng để cùng với hội đồng xét xử làm rõ sự thật khách quan của vụ án và áp dụng đúng các quy định của pháp luật, cơ bản bảo vệ được các quan điểm truy tố được lãnh đạo VKS cho ý kiến.Tại phiên toà, KSV rất coi trọng việc luận tội dựa trên chứng cứ trong hồ sơ vụ án, vật chứng và so sánh, xác minh trong quá trình xét xử bị cáo. Vì vậy, kết quả thực hiện nhiều phiên tòa, Toà án tuyên xử trong khung hình phạt cũng như chấp nhận những đề nghị về xử lý vật chứng mà VKS đã đề nghị. Các bản án được tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, được dư luận xã hội ủng hộ, góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về đấu tranh chống tội phạm ma túy trên địa bàn huyện.
2.3. Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
2.3.1. Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Một là, việc thực hiện pháp luật trong THQCT đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn chưa triệt để
Thực tiễn tại địa bàn huyện Ea H’Leo cho thấy, phần lớn án ma túy là án quả tang. Khi đó, cơ quan THTT cần thiết phải áp dụng BPNC bắt người phạm tội quả tang để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong một số vụ án, việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang của CQĐT đôi khi còn để xảy ra những sai xót về mặt trình tự, thủ tục nhưng KSV chưa kịp thời phát hiện như: không cử người phiên dịch cho người dân tộc thiểu số không biết tiếng Việt. Có trường hợp do người lập biên bản là người biết tiếng dân tộc, nên nhận thức là mình và người bị bắt nói, nghe, hiểu được tiếng của nhau, nên không cử người phiên dịch, hoặc có trường hợp sử dụng chính người bị bắt phiên dịch cho người bị bắt cùng. Điều này vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 70 BLTTHS năm 2015. Xác định sai tư cách tố tụng của người chứng kiến thành người làm chứng, dù quá trình tham gia, thời điểm tham gia cũng như vai trò, địa vị tố tụng của mỗi người là khác nhau. Trong thành phần tham gia lập biên bản bắt người phạm tội quả tang không ghi tên người chứng kiến hoặc người phiên dịch, nhưng phần chữ ký lại có tên. Hoặc có trường hợp trong biên bản bắt người phạm tội quả tang ghi thu giữ “tang vật”, trong khi BLTTHS năm 2015 chỉ có quy định là “vật chứng”, không có quy định nào là tang vật.
Trong việc áp dụng biện pháp tạm giam, dường như CQĐT, VKS vẫn còn hơi cứng nhắc và áp dụng BPNC theo hướng dự phòng. Cụ thể, khi áp dụng BPNC tạm giam phải dựa trên quy định tại Điều 109 và Điều 119 BLTTHS, tuy nhiên phần lớn chỉ căn cứ vào Điều 119 BLTTHS là dựa trên sự phân loại tội phạm kết hợp với các điều kiện khác mà chưa dựa vào mục đích của việc áp dụng BPNC. Chẳng hạn, vụ án Võ Hoàng Nam (2000), phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS). Ngày 20/8/2021, Võ Hoàng Nam rủ một số đối tượng đến quán Karaoke Diamond (đường Lê Duẩn, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo) đến hát ka ra và cùng nhau sử dụng ma túy. Công cụ và ma túy do Nam chuẩn bị. Khi Nam và các đối tượng cùng nhau sử dụng thì tổ công tác Công an thị trấn Ea Drăng phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo bắt quả tang. Ngay sau khi bị bắt, Nam bị tạm giữ và sau đó chuyển tạm giam. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam là Nam phạm tội rất nghiêm trọng, có thể bỏ trốn. Tuy nhiên, Nam có nơi cư trú rõ ràng, hồ sơ xét phê chuẩn cũng không thể hiện “dấu hiệu bỏ trốn” của Nam. Tuy nhiên, KSV THQCT trong việc phê chuẩn việc áp dụng BPNC vẫn phê chuẩn lệnh tạm giam đối với Võ Hoàng Nam. Như vậy, căn cứ áp dụng tại Điều 119 là đảm bảo, tuy nhiên chưa đảm bảo mục đích của việc áp dụng BPNC tại Điều 109 BLTTHS. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Hai là, trong một số vụ án, KSV chưa chủ động bám sát tiến trình giải quyết vụ án ngay từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Một số vụ án, KSV chưa thực sự nghiên cứu kỹ hồ sơ, chưa làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân, tình tiết phạm tội, chưa phát hiện được những mâu thuẫn, tình tiết chưa rõ ràng trong quá trình hỏi cung bị can, và hồ sơ lời khai của người chứng kiến, người làm chứng,…. Chẳng hạn, vụ án Tàng trữ trái phép chất ma tuý, xảy ra ngày 12/11/2022, tại Thôn Ea Đen, xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý và bán lại cho người khác để kiếm lời, nên sau khi đi đám cưới cùng nhau tại Thôn 2, xã Ea Nam, Hoàng Văn Hải (2004) và Hà Văn Quân (2005) đã rủ nhau đi mua ma tuý. Sau khi mua 1.900.000 đồng tiền ma tuý (1,321 gam ma tuý, loại Heroine) của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại thôn Ea Đen, xã Ea Nam thì bị CQĐT Công an huyện Ea H’Leo bắt quả tang. Quá trình điều tra tiến hành lấy lời khai và hỏi cung, bị can Hà Văn Quân không có sự có mặt của người đại diện. KSV cũng không phát hiện ra sai sót của CQĐT.
- Ba là, yêu cầu điều tra của VKS còn mang nặng tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả.
Một số yêu cầu điều tra của KSV còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự thể hiện đúng được bản chất của một yêu cầu điều tra cần có. Đôi khi, đôi lúc, KSV chủ quan vào những chứng cứ quả tang mà không làm rõ việc thu thập chứng cứ, các vấn đề điều tra để mở rộng hoặc làm rõ còn có hay không tội phạm khác. Đơn cử, vụ án nhóm đối tượng rủ nhau góp tiền ma tuý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tại thời điểm sau khi sử dụng xong, một trong số các đối tượng còn cất giấu trên người một lượng ma tuý (đủ định lượng định Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý) để sau đó sử dụng tiếp. Tuy nhiên, KSV không làm rõ hành vi này mà quy kết, thu hút hết vào Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là chưa chính xác. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp, bản yêu cầu điều tra còn lan man, khó hiểu, nội dung yêu cầu chưa rõ ràng, gây khó khăn cho ĐTV khi thực hiện. Mặc dù, nhiều vụ án ma túy phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng nhưng ngay sau khi CQĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can, VKS vẫn phải đề ra ngay yêu cầu điều tra. Bởi vì thông thường các ĐTV chỉ tập trung vào chứng cứ xác định tội nhưng vấn đề cần chứng minh trong các vụ án hình sự không chỉ bao gồm chứng cứ buộc tội mà còn là việc thu thập chứng cứ chứng minh vô tội; bên cạnh đó còn có việc xác định các tình tiết khác như lý lịch bị can, trích lục tiền án, tiền sự, xác minh kết quả bản án hình sự, dân sự, án phí… các vấn đề tố tụng khác như tống đạt và nhận quyết định tố tụng nhưng hồ sơ chưa thể hiện.
- Bốn là, quá trình thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy trong giai đoạn xét xử chưa đảm bảo
Một số KSV còn thiếu chủ động trong việc xét hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án theo nội dung cáo trạng đã công bố; chưa chuẩn bị kỹ câu hỏi trong đề cương xét hỏi. Đôi khi câu hỏi dài dòng, hỏi không rõ ràng, nặng về giải thích, áp đặt nên chưa thực sự đáp ứng yêu cầu xét xử. Một số vụ án, lời luận tội của KSV chưa thực sự thuyết phục do chưa thực sự dựa vào kết quả xét hỏi và điều tra tại phiên tòa. Nhiều vụ án, tại phiên toà, KSV chưa thật sự chủ động, chưa linh hoạt, còn dựa vào các bản luận tội đã soạn sẵn từ trước mà không kết hợp với những tình tiết mới, lời khai mới, hay tình huống bất ngờ phát sinh tại toà. Tại phiên tòa, một số KSV không thể hiện được sự hùng biện trong luận tội, sự phân tích, đánh giá chứng cứ thiếu sắc bén; khả năng diễn đạt, phản ứng của KSV chưa theo kịp, chưa thuyết phục trước những vấn đề luật sư nêu ra, nhất là hạn chế về sự tự tin khi diễn đạt. Một số trường hợp chưa linh động mà còn phụ thuộc nhiều vào bản luận tội đã dự thảo trước. Chẳng hạn, trong dự thảo luận tội có soạn thảo nội dung kiến nghị phòng ngừa, tuy nhiên tại phiên toà xét xử chỉ có Hội đồng xét xử, KSV, bị cáo và các chiến sĩ hỗ trợ tư pháp, thì không nhất thiết đọc lại phần kiến nghị phòng ngừa.
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Quy định của pháp luật liên quan đến THQCT đối với vụ án ma túy còn nhiều thiếu sót
- Bất cập trong các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm ma túy
Thứ nhất, quy định tại chương XX, một số điều luật còn quy định theo kiểu liệt kê các trường hợp nhưng chưa cụ thể. Theo đó, tại khoản 1 của các Điều 249, Điều 250, Điều 252, Điều 253, Điều 254 BLHS quy định “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại điều này…chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Quy định này đang tạo ra hai cách hiểu khác nhau.
Ở cách hiểu thứ nhất, trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1 các Điều luật này mang tính định lượng (có thể nói là tương tự như trong các vụ án xâm phạm sở hữu, chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp….). Theo đó, trường hợp này bao gồm hai điều kiện, một là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các tội danh được liệt kê trong điều luật và hai là định lượng ma túy nhỏ hơn quy định tại các điểm khác trong điều luật đó. Tác giả cũng đồng tình với cách hiểu này, và thực tiễn cũng đã và đang vận dụng tinh thần này để giải quyết các vụ án trên thực tiễn,
Ở cách hiểu thứ hai, có thể hiểu theo hướng, chỉ cần đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã từng bị kết án về các tội phạm liệt kê tại điều luật thì nghiễm nhiên phạm vào tội phạm được quy định tại điều luật đó mà không phụ thuộc vào định lượng ma túy là bao nhiêu. Như vậy, về mặt lý luận đã cho thấy quy định tại khoản 1 các điều nêu trên đang không rõ ràng, không tạo được sự thống nhất về mặt lý luận.
- Khi tồn tại hai cách hiểu khác nhau như vậy sẽ dẫn đến các bất cập sau:
Một là, ảnh hưởng đến việc áp dụng các tình tiết định tội, định khung và quyết định hình phạt. Theo đó, ở cách hiểu thứ nhất, khi đã xem xét đến định lượng thì chỉ áp dụng định lượng tương ứng theo quy định của Luật và tình tiết tại điểm a được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ví dụ, A đã bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị xử phạt tù 05 năm, chưa được xóa án tích, A tiếp tục có hành vi Vận chuyển trái phép 06 kg quả thuốc phiện khô. Thì khi đó, A bị truy tố, xét xử về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm đ khoản 1 Điều 250 BLHS và áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Ở cách hiểu thứ nhất, nếu người phạm tội đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và bị kết án đồng thời định lượng ma túy đủ quy định tại các điểm khác trong cùng một điều luật thì hai tình tiết này đều được coi là tình tiết định tội. Đơn cử, B từng bị kết án 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép, chưa được xóa án tích, sau đó lại tiếp tục có hành vi Tàng trữ trái phép 0,2gam ma túy, loại Heroine. Khi đó, B sẽ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm a, c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Hai là, việc áp dụng tình tiết định tội, định khung, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không chính xác dẫn đến hệ quả là việc xác định trường hợp “tái phạm”, “tái phạm nguy hiểm” cũng không chính xác. Theo đó, tương ứng như đã phân tích, cách hiểu thứ nhất, sẽ áp dụng tình tiết tái phạm thì nếu phát sinh hành vi phạm tội tiếp theo trong thời gian chưa được xóa án tích thì đương nhiên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Ở cách hiểu thứ hai, do trước đó được xem là tình tiết định tội, nên khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội tiếp theo thì sẽ áp dụng tình tiết tái phạm.
Thứ hai, tại điểm a khoản 1 Điều 249, Điều 250, Điều 252, Điều 253, Điều 254, BLHS quy định rõ “… đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Vấn đề đặt ra là: các Điều luật đều quy định rõ việc bị kết án tại các Điều luật cụ thể (248, 250, 251, 252) của BLHS, vậy với tình tiết định tội này đối với người đã bị kết án về các tội quy định tại Điều 193, 194 BLHS 1999 (tương ứng với các điều 248, 249, 250, 251, 252 BLHS mới) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không, nếu không bị truy cứu thì sẽ không đảm bảo sự công bằng, khách quan, còn nếu truy cứu thì không đảm bảo được việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Do đó, cần có sự quy định về hành vi phạm tội thay vì quy định rõ các điều luật, vì như vậy sẽ không đảm bảo tính chuyển tiếp.
Thứ ba, trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhà làm luật chỉ quy định khối lượng chất ma túy làm căn cứ xác định TNHS, nhưng không quy định trực tiếp trong luật đây là khối lượng chất ma túy sau giám định quy đổi theo hàm lượng hay là khối lượng chất thu giữ có chứa chất ma túy. Do đó, vấn đề giám định chất ma túy còn gây tranh cãi.
Thứ tư, quy định về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo BLHS hiện hành chưa thật sự hợp lý. Vụ án thực tiễn: Vào khoảng18 giờ ngày 26/9/2021 sau khi cùng nhau uống rượu xong, Trần Minh Tân nảy sinh ý định rủ nhóm người gồm Nguyễn Thành Long, Hồ Đắc Long, Nguyễn Đức Tin và Lê Văn Dũng về nhà của bố mẹ vợ Trần Minh Tân là ông Nguyễn Đức Dũng và bà Lê Thị Thủy, thuộc Tổ dân phố 5, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk chơi. Tại đây, Tân rủ nhóm người trên sử dụng trái phép chất ma túy thì nhóm người trên đồng ý. Tân đã chuẩn bị chất ma túy gồm loại MDMA và Ketamine; các dụng cụ gồm: đĩa nhựa hình tròn có đường kính 27 cm; 01 tấm đệm có kích thước 1,2m x 2m; 02 tấm đệm có kích thước 0,5m x 1m; 01thẻ nhựa kích thước 8,5cm x 5,5cm; 03 đầu lọc thuốc lá để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Ea H’Leo phát hiện bắt quả tang. Tại Bản án số 21 ngày 21/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo đã tuyên xử bị cáo Trần Minh Tân, phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Trần Minh Tân, 07 năm tù giam [23]. Qua vụ án trên, tác giả nhận thấy, quy định về tội Tổ chức tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS, đặt trong một số trường hợp, khung hình phạt còn “nặng” hơn so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Cụ thể, quy định về tội Tổ chức sử dụng trái phép chưa có sự phân hóa trong một số trường hợp sau: (i) Một là, tại điểm b, khoản 2 Điều 255, quy định về tình tiết định khung “đối với 02 người”, nhưng chưa có sự phân hóa trong trường hợp tổ chức cho 02 người sử dụng ma túy và tổ chức cho hơn 02 người (đơn cử nhóm gồm 10 người sử dụng ma túy), vẫn áp dụng tình tiết định khung tương ứng là chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội; (ii) Hai là, nên chăng quy định về địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo đó, việc tổ chức sử dụng trái phép tại quán bar, vũ trường có tính chất nguy hiểm hơn so với, người thực hiện hành vi phạm tội đứng ra rủ rê đối tượng nghiện cùng ma túy cùng sử dụng tại địa điểm như nhà riêng, khu vực vắng người,…Do đó, cần xem xét sửa đổi Điều 255 cho phù hợp với thực tiễn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hiện pháp luật về THQCT
Thứ nhất, bất cập trong quy định về thời hạn giám định đối với chất ma túy theo quy định của BLTTHS
BLTTHS năm 2015 quy định “thời hạn giám định đối với chất ma túy không quá 09 ngày; Thông tư số 46/2013/TT-BCA ngày 05/11/2013 của Bộ Công an quy định quá trình giám định Opiat trong mẫu thu giữ tối thiểu là 02 ngày và tối đa là 11 ngày”. Tuy nhiên, trong những thời điểm, CQĐT ra quân xử lý tội phạm về ma túy, số lượng vụ án về ma túy tương đối lớn, bên cạnh đó, các trang thiết bị, máy móc hiện có của một số đơn vị công an tỉnh chưa đầy đủ, hiện đại nên nhiều vụ án cần phải chờ thời gian để đưa ra kết luận giám định một cách chính xác. Thời hạn trên quy định tương ứng với thời gian tạm giữ tối đa mà cơ quan có thẩm quyền THTT có thể áp dụng biện pháp tạm giữ đối với các đối tượng phạm tội. Sẽ rất khó khăn cho Cơ quan THTT áp dụng BPNC khi đã hết thời hạn tạm giữ mà chưa có kết luận giám định. Đặc biệt đối với những trường hợp giám định hàm lượng, trọng lượng chất ma túy trong các dung dịch ở thể lỏng nghi là chất ma túy thì các địa phương không đủ điều kiện để thực hiện nên phải trưng cầu Viện Khoa học kỹ thuật hình sự – Bộ Công an giám định, tuy nhiên thời hạn gửi và trả kết quả giám định tương đối dài, ảnh hưởng đến tiến độ và thời hạn điều tra. Bên cạnh đó cũng chưa quy định thời gian đưa mẫu vật đi giám định dẫn đến nhiều vụ án chậm đi giám định ảnh hưởng đến kết quả giám định tại đúng thời điểm phạm tội. Ngoài ra cơ quan giám định chỉ gửi kết quả giám định tư pháp cho cơ quan trưng cầu chứ không chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan nên không thể phát hiện sai sót của cơ quan giám định”. [35]
Thứ hai, vướng mắc quy định về tạm giam trong khi có Quyết định tạm đình chỉ điều tra. Tại điểm c khoản 1 Điều 229 BLTTHS năm 2015 liệt kê việc CQĐT ra quyết định tạm định chỉ: “Khi trưng cầu giám định…chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định… vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả”. Theo đó, khi xây dựng BLTTHS, các nhà lập pháp đã đưa ra các tình huống dự liệu đến trường hợp chờ kết luận giám định trong những vụ án phức tạp.
- Do sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt giữa CQĐT và VKS trên địa bàn huyện Ea H’Leo đôi lúc chưa thực sự chặt chẽ
Việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các cơ quan THTT, đặc biệt là giữa CQĐT và VKS vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh “gắn công tố với điều tra” thì việc phối hợp giữa hai cơ quan này càng hết sức nhịp nhàng. Khi phối hợp không chặt chẽ, dẫn đến “quyền anh, quyền tôi” sẽ gây cản trở cho quá trình thực hiện pháp luật.
Việc bắt người phạm tội quả tang luôn chiếm tỷ lệ cao trong các vụ án về ma túy, song lại nảy sinh vấn đề, do CQĐT thường tiếp nhận người bị bắt từ các tổ công tác hoặc từ người dân phát hiện nhiều hơn là từ quá trình thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phát hiện tội phạm, do đó nếu CQĐT không kịp thời cung cấp thông tin, chuyển hồ sơ liên quan đến việc bắt người đúng quy định, thì VKS không thể nào đảm bảo thực hiện đúng pháp luật về THQCT đối với việc áp dụng BPNC được. Mặc dù đã có những quy định, nguyên tắc về sự phối hợp giữa VKS, CQĐT tuy nhiên trên thực tế mối quan hệ phối hợp giữa các cán bộ, KSV, ĐTV và cán bộ điều tra còn rời rạc, chưa triệt để, nhiều trường hợp CQĐT không thực hiện yêu cầu điều tra của VKS nhưng lại không có chế tài phù hợp để xử lý. Ngoài ra, trong một số vụ án, KSV và ĐTV trên địa bàn huyện Ea H’Leo còn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, còn thiếu sự quan tâm, trao đổi, thống nhất liên ngành trong việc giải quyết các vụ án khó, án phức tạp dẫn đến hiệu quả giải quyết án chưa cao. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Công tác tổ chức quản lý, chỉ đạo điều hành còn một số bất cập.
Trên tinh thần Chỉ thị của Bộ chính trị về công tác cải cách tư pháp hiện nay, công tác tổ chức, quản lý chỉ đạo điều hành của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Ea H’Leo cũng được quán triệt và được quan tâm đôn đốc thực hiện. Qúa trình giải quyết các vụ án về ma túy trên địa bàn huyện những năm qua đã đạt được những kết quả rất khả quan, tuy nhiên cũng cần nhìn nhận về một số tồn tại, hạn chế còn hiện hữu trên thực tế. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKS đôi lúc còn chưa thường xuyên, sát sao và nghiêm ngặt, thiếu sự kiểm tra, đôn đốc các hoạt động của KSV khiến công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về ma túy nói riêng chưa đạt được hiệu quả cao. Ngoài ra, việc bố trí, tổ chức cán bộ và phân công nhiệm vụ của lãnh đạo cơ quan, đơn vị có lúc còn chưa hợp lý, thiếu tính khoa học nên chưa phát huy hết năng lực của cán bộ, KSV, khi phát hiện ra sai phạm, thiếu sót trong công tác thì chưa kịp thời chấn chỉnh, phê bình và đề ra biện pháp khắc phục. Một số vụ án phức tạp, lãnh đạo viện chưa phân công đúng năng lực, sở trường của KSV, phân công công việc trong nội bộ VKSND huyện Ea H’Leo đôi lúc, đôi khi còn chưa đồng đều giữa các KSV với nhau, có người phải kiêm nhiệm nhiều khâu công tác, vô hình chung hạn chế thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án.
- Công tác bố trí, phân bố cán bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác nghiệp vụ còn hạn chế
Công tác bố trí, phân bố cán bộ, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu chức năng nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Số lượng KSV VKSND huyện Ea H’Leo còn thiếu, một số ít là các KSV trẻ, mới bổ nhiệm nên chưa có kinh nghiệm trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về ma túy. Các cán bộ, KSV phải đối mặt với áp lực rất lớn từ khối lượng vụ án và công việc nhiều, thậm chí gặp phải sự đe dọa, chống đối từ phía các đối tượng phạm tội. Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho quá trình công tác của cán bộ, KSV hầu hết đã cũ kỹ, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, chế độ tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ ngành Kiểm sát còn thấp so với các ngành khác, môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ của ngành cũng chưa tạo được động lực để thu hút, khuyến khích cán bộ.
- Do thiếu sót, vi phạm của một số Kiểm sát viên Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Nhiều kiểm sát viên còn chưa đáp ứng được trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình giải quyết các vụ án ma túy. Đôi lúc KSV chưa nhận thức được đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của VKS khi thực hiện pháp luật về THQCT đối với các vụ án về ma túy theo quy định pháp luật. Một số KSV có trình độ nghiệp vụ, kỹ năng THQCT chưa cao nên thiếu chủ động trong việc đề ra yêu cầu điều tra hoặc không phát hiện được các vi phạm trong quá trình điều tra của CQĐT, vẫn còn biểu hiện nể nang, bỏ qua trước những sai phạm của CQĐT mà không báo cáo lãnh đạo đơn vị khắc phục. Ý thức trách nhiệm của một bộ phận KSV còn thấp, đôi khi còn thụ động, trông chờ vào lãnh đạo mà chưa phát huy được hết khả năng để hoàn thành nhiệm vụ được giao, chưa tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật, quy chế của ngành, nội quy của cơ quan, đơn vị.
Ngoài ra, một nguyên nhân khách quan nữa là tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội về ma túy trong giai đoạn hiện nay có diễn biến hết sức phức tạp, khó kiểm soát, số lượng tội phạm tăng rõ rệt qua các năm, nhất là trong tầng lớp thanh thiếu niên. Hoạt động của các đối tượng phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, khi bị phát hiện các đối tượng sẵn sàng chống trả quyết liệt, tuy nhiên lực lượng tiến hành tố tụng còn mỏng, năng lực chuyên môn còn nhiều hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Trong Chương 2 của Luận văn, từ việc phân tích những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ea H’Leo có ảnh hưởng nhất định đối với tình hình tội phạm ma túy về việc THQCT đối với vụ án ma túy của VKSND huyện Ea H’Leo từ năm 2018-2022. Nhìn chung, tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo có diễn biến tương đối phức tạp, số lượng vụ án và bị can bị khởi tố có xu hướng ngày càng tăng, tính chất các vụ án cũng ngày càng phức tạp, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được trong quá trình THPL về THQCT đối với án ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo giai đoạn từ năm 2018-2022. Trong thời gian qua, VKSND huyện Ea H’Leo với vai trò là cơ quan THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp ở địa phương đã cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của ngành. Với vai trò là chủ trì liên ngành, cũng như là cơ quan tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng nên VKS luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong việc giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy, không để xảy ra tình trạng oai sai, bỏ lọt tội phạm, góp phần rất lớn vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm về ma túy.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần phải được nhìn nhận, đánh giá thẳng thắn và rút ra được những nguyên nhân. Các hạn chế, thiếu sót này là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc nghiên cứu các nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót đó sẽ là “chìa khóa” nhằm đề ra các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy