Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Cá nhân là chủ thể đầu tiên mà pháp luật điều chỉnh và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự cũng thông qua hành vi của cá nhân trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Để tham gia vào quan hệ pháp luật thì cá nhân phải có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Việc tìm hiểu năng lực chủ thể của cá nhân đặc biệt là năng lực hành vi dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, xác định tư cách chủ thể của cá nhân đó khi tham gia quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hại, xác định cá nhân nào có trách nhiệm bồi thường trong từng quan hệ bồi thường thiệt hại cụ thể.
Trên thực tế, người nào gây ra thiệt hại thì người đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra, nhưng về nguyên tắc pháp lý, một người chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình khi họ có nhận thức để làm chủ và điều khiển được hành vi đó. Vậy người gây ra thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ có năng lực hành vi dân sự. Điều 586 bộ luật dân sự 2015 đã quy định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân với các mức độ khác nhau căn cứ vào độ tuổi, nhận thức, và khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân.
2.1. Lịch sử quy định pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân qua các thời kỳ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng xuất hiện từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Do sự phát triển của kinh tế – xã hội mà chế định này thay đổi sao cho phù hợp qua từng thời kỳ, từ bộ luật thành văn xưa nhất còn lưu giữ như Quốc triều hình luật cho đến bộ luật dân sự 2015.
2.1.1. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ phong kiến
Thời phong kiến, vấn đề luật lệ được coi trọng và đề cao bởi nó là một công cụ để bảo vệ vương quyền, củng cố địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị. Pháp luật giai đoạn này chưa có sự tách biệt rõ ràng thành các ngành luật riêng biệt luật dân sự và luật hình sự, các quan hệ xã hội được điều chỉnh chủ yếu bằng luật hình. Triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn là hai triều đại có bộ luật riêng và cũng là hai bộ luật tiêu biểu trong lịch sử lập pháp của nước ta, đó là Bộ Quốc triều Hình Luật (còn được gọi là Luật Hồng Đức) của nhà Lê và Hoàng Việt Luật lệ (còn được gọi là Bộ Luật Gia Long) dưới thời nhà Nguyễn. Hai bộ luật này không chỉ có quy định về các hành vi phạm tội, hình phạt mà còn có thể tìm thấy trong đó các quy định về dân sự, bao gồm cả những quy định về bồi thường thiệt hại cũng như năng lực bồi thường thiệt hại.
Luật Hồng Đức tiếp thu nhiều những thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của luật pháp nhà Đường và nhà Minh, được ghi chép thành 06 quyển, gồm 13 chương, 722 Điều, trong đó quy định những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của người thứ ba. Cụ thể tại Điều 457 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha đối với con:
Các con còn ở nhà với cha mẹ mà đi ăn trộm thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì bị xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay cho con những tang vật ăn trộm, ăn cướp. Nếu con đã ở riêng thì cha bị xử tội phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng đã báo quan rồi mà còn để con ở nhà thì cũng xử tội như là chưa báo.
Trong trường hợp này có thể hiểu lỗi của cha, mẹ là không giáo dục, dạy dỗ con đang sống với mình đến nơi đến chốn. Người con đó đã thành niên hay chưa thành niên phải sống chung với cha mẹ là điều kiện dẫn đến trách nhiệm dân sự này. Nếu đi so sánh với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong bộ luật dân sự hiện hành, chúng ta thấy pháp luật phong kiến và pháp luật hiện đại đều quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này dựa trên cơ sở lỗi của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái. Điểm khác biệt là đối với luật dân sự hiện hành thì cha, mẹ hay người giám hộ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người chưa thành niên, người bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong pháp luật phong kiến người cha phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi của các con sống chung với mình bất kể người con dù đã thành niên hay chưa. Hơn nữa, phạm vi chịu trách nhiệm của người cha dưới thời phong kiến cũng rất hẹp, chỉ trong trường hợp con cái ăn trộm, ăn cướp, còn pháp luật dân sự hiện đại quy định phạm vi rộng hơn. Pháp luật phong kiến chỉ đặt ra trách nhiệm của cha đối với con của mình, trong khi lại không quy định trách nhiệm của người mẹ, điều này xuất phát từ tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến thời đó, quyền hành của người con trai, người cha trong gia đình là rất lớn. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thêm nữa, Điều 456 Quốc triều hình luật còn quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ nhà đối với đầy tớ: “Đày tớ đi ăn trộm mà chủ nhà không trình báo quan thì…phải bồi thường thay những tang vật đã ăn trộm hay ăn cướp”. Như vậy, pháp luật phong kiến việc quy định lỗi của người thứ ba có một số khác biệt với pháp luật hiện nay, nhưng có thể thấy ngay từ khi các quy định về dân sự và hình sự còn chưa có sự tách biệt rõ ràng mà các nhà làm luật đã ý thức được trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của người thứ ba [9, tr. 148].
Hoàng Việt Luật lệ là Bộ luật chính thức của nước ta thời đầu nhà Nguyễn, được ban hành năm 1815, gồm 22 quyển, 398 điều. Mặc dù quyển 6 đưa ra quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tuy nhiên chỉ đối với trường hợp gây thiệt hại về tài sản của giai cấp thống trị là vua quan triều đình, mà không có bồi thường thiệt hại đối với tài sản của người dân trong xã hội. Điều này cho thấy pháp luật nhà Nguyễn thể hiện sự phân biệt đẳng cấp, mang tính chất chuyên chế, cực đoan đối với nhân dân, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị một cách tuyệt đối.
2.1.2. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ thực dân – phong kiến Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Dưới thời kỳ thực dân – phong kiến, nhất là khoảng thời gian sau khi thực dân Pháp xâm chiếm thành công Đông Dương, trong đó có Việt Nam, Pháp đã chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nền kinh tế – xã hội Việt Nam giai đoạn này có sự biến chuyển sâu sắc, kéo theo sự thay đổi hệ thống các quy định pháp luật. Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện:
Bộ dân luật Nam kỳ giản yếu ban hành ngày 10/03/1883, Bộ dân luật Bắc kỳ ban hành ngày 01/04/1931 và Bộ dân luật Trung kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ban hành ngày 31/10/1936. Lần đầu tiên pháp luật ghi nhận các nguyên lý chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự một cách cụ thể tại các Điều 712 đến Điều 716 (Bộ Dân luật Bắc kỳ) Điều 761 đến Điều 767 (Bộ Dân luật Trung kỳ).
Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân được quy định trong các Bộ luật này chưa thực rõ nét mà mới chỉ mang tính chất định hướng về trách nhiệm Bồi thường dân sự nói chung. Điều 711 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm BTTH: “Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải trông coi nữa”. Quy định này thể hiện nguyên tắc người nào gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường, trường hợp một người bảo lãnh cho người khác nhưng để người được bảo lãnh gây thiệt hại, thì người bảo lãnh phải bồi thường thiệt hại do không thực hiện tốt nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Đối với trường hợp tài sản do mình quản lý, trông coi gây thiệt hại cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2.1.3. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước năm 1995
Cách mạng tháng tám thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước ta, chấm dứt hoàn toàn chế độ thực dân, phong kiến mở ra con đường độc lập tự do tiến lên xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình Nhà nước mới ra đời phải đối mặt với nhiều thử thách, thù trong, giặc ngoài, nạn đói, giặc dốt hoành hành, việc xây dựng, ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chính là điều rất khó khăn. Do vậy, để điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội diễn ra hàng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1954 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới áp dụng thống nhất trên cả nước. Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật cũng quy định: “Tất cả các điều khoản trong dân pháp điển Bắc kỳ, dân pháp điển Trung kỳ, pháp quy giản yếu 1883 thi hành ở Nam kỳ (sắc lệnh ngày 03/10/1883) và những luật lệ theo sau trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ”. Trong giai đoạn này phần lớn các văn bản ban hành đều thừa nhận luật lệ cũ hoặc hủy bỏ quy định của chế độ thực dân cũ, những quy định về dân sự nói chung và quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân khá mờ nhạt. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Cho đến năm 1970 đã có một số văn bản pháp luật hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra với các quy định khá cụ thể. Trong đó vấn đề bồi thường thiệt hại được quy định rõ nét hơn cả tại Thông tư 173 – Hội đồng Thẩm phán ngày 23/03/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Thông tư 173/TANDTC). Đây là thông tư có nội dung khá đầy đủ hướng dẫn giải quyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân: Đường lối chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, cơ sở xác định, mức bồi thường, người được hưởng bồi thường, trách nhiệm bồi thường liên đới, trách nhiệm hỗn hợp, trách nhiệm của người không trực tiếp gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người vị thành niên, người mới trưởng thành gây ra, phân biệt trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân, hơn nữa thông tư còn hướng dẫn cách tính toán thiệt hại và mức bồi thường sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm…
Theo mục 2, phần B của Thông tư 173, đối với trường hợp người vị thành niên gây ra thiệt hại, họ không có trách nhiệm bồi thường vì họ chưa hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình nên họ không có năng lực hành vi dân sự, do vậy trong trường hợp này cha mẹ (hay người giám hộ) phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con cái còn vị thành niên gây ra. Tuy nhiên trong trường hợp một tổ chức rõ ràng có lỗi đối với thiệt hại xảy ra trong thời gian quản lý người vị thành niên thì tổ chức đó sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người vị thành niên đó gây ra. Trường hợp người vị thành niên vào khoảng mười sáu tuổi đã có sức lao động sản xuất, có công việc làm, phần nào hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình, do đó họ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của họ. Nếu họ bồi thường không đủ thì cha mẹ (hay người giám hộ) phải bù phần còn thiếu.
Vẫn theo Thông tư này, người đã đủ mười tám tuổi, người mới trưởng thành gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu họ chưa có việc làm, hay thu nhập hay tài sản đáng kể thì Tòa án vẫn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ nhưng cho hoãn việc thi hành án cho đến khi có việc làm, có thu nhập. Ngoài ra, trường hợp người thành niên gây thiệt hại có thu nhập, còn ở chung và chung kinh tế với cha, mẹ, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng phần thu nhập thường xuyên của bản thân và phần tài sản chung với cha mẹ. Tòa án cần triệu tập cha mẹ họ đến phiên tòa với tư cách là dự sự. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thông tư 173/TANDTC đã phân biệt trách nhiệm của cá nhân và pháp nhân: Nếu công nhân, viên chức hay người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thi hành nhiệm vụ, do hành vi liên quan chặt chẽ đến công tác, được xí nghiệp, cơ quan phân công mà gây thiệt hại cho người khác thì xí nghiệp, cơ quan phải bồi thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau đó, có quyền đòi hỏi họ hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động. Nếu công nhân, viên chức hoặc đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan lợi dụng nhiệm vụ, và do hành vi không liên quan chặt chẽ đến công việc được phân công, rõ ràng để mưu cầu lợi ích riêng, mà gây thiệt hại cho người khác thì chính cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Như vậy, thông tư 173/TANDTC đã có những quy định tương đối cụ thể, chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên, người mới trưởng thành, của cá nhân, pháp nhân. Và đặc biệt là so với quy định hiện hành tại Điều 586 bộ luật dân sự 2015, thông tư 173 không có sự khác biệt nhiều. Thông tư này đã trở thành văn bản quan trọng cho việc xét xử các vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân tại Việt Nam trong một thời gian dài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại và làm nền tảng để xây dựng bộ luật dân sự sau này.
2.1.4. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ năm 1995 đến trước năm 2005 Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 1996, đánh dấu một bước phát triển trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho sự nghiệp đổi mới. Những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân lần đầu tiên được quy định một cách đầy đủ, và thành một chế định riêng tại Chương V, phần thứ ba từ Điều 609 đến Điều 633 của bộ luật dân sự 1995, bao gồm các vấn đề xác định rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, năng lực bồi thường thiệt hại, cách xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể.
Trong bộ luật dân sự năm 1995, năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân được quy định tại Điều 611, căn cứ vào khả năng nhận thức, tình trạng tài sản của cá nhân: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường; Khi người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng, thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác đang trực tiếp quản lý, mà trường học, bệnh viện, các tổ chức khác này có lỗi trong việc quản lý, thì phải liên đới cùng với cha, mẹ, người giám hộ bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây ra cho người khác trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý những người đó; nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác không có lỗi, thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường [24, Điều 625].
Trong trường hợp người chưa đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại, thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường, thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cá nhân, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
2.1.5. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ năm 2005 đến trước năm 2015
Sau gần 10 năm thi hành kể từ khi bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng. Tuy nhiên qua quá trình thực hiện bộ luật dân sự năm 1995 đã cho thấy những hạn chế, bất cập do một số quy định trong bộ luật không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhiều quy định còn mang tính chung chung, mang tính thủ tục hay không rõ ràng, cụ thể. Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự sao cho phản ánh đúng với thực tiễn và mang đúng bản chất là bộ luật dân sự. Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành bộ luật dân sự 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập kinh tế, quốc tế thay thế cho bộ luật dân sự 1995. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
BLDS năm 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại phần thứ 3, chương XXI qua 27 Điều luật từ Điều 604 đến Điều 630. Theo đó Bộ luật có các quy định mới về vấn đề: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên bốn yếu tố cụ thể tại Điều 604, sửa đổi nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại Điều 605,… Về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân xét về nội dung không có gì thay đổi mà chỉ thay đổi về mặt câu chữ tại khoản 3 Điều 606 “cá nhân, tổ chức giám hộ” thành “người giám hộ” để thống nhất cách gọi theo bộ luật dân sự năm 2005. Bên cạnh bộ luật dân sự 2005, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 nhằm hướng dẫn bộ luật dân sự 2005 về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
2.1.6. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ năm 2015 đến nay
Sau một thời gian bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành và đưa vào áp dụng, bên cạnh những ưu điểm thì bộ luật dân sự 2005 cũng bộc lộ những biểu hiện những bất cập, thiếu sót, tính đồng bộ chưa cao. Để khắc phục những hạn chế này và bắt kịp xu hướng phát triển của tình hình kinh tế xã hội, ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, thay thế bộ luật dân sự 2005. Được xây dựng trên tinh thần kế thừa những quy định từ bộ luật dân sự 2005, thực tiễn xét xử tại Việt Nam, kinh nghiệm nước ngoài và Bộ nguyên tắc châu Âu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, Nhà nước đã ban hành bộ luật dân sự 2015 nhằm điều chỉnh, thúc đẩy, hài hòa, ổn định giao lưu dân sự giữa các nước trên thế giới.
BLDS năm 2015 quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân tại Điều 586: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Điều luật trên đã thay đổi cụm từ “chưa thành niên dưới 15 tuổi” tại khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 thành “chưa đủ mười lăm tuổi”. Thêm nữa, bộ luật dân sự 2015 còn bổ sung thêm trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình bên cạnh các trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự mà có người giám hộ và gây thiệt hại. Sự thay đổi này phần nào khắc phục được thiếu sót của bộ luật dân sự 2005, sửa đổi theo hướng phù hợp hơn, cụ thể sẽ được tác giả phân tích rõ hơn ở chương tiếp theo.
2.2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
2.2.1. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật của cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự gây ra
Về vấn đề bồi thường thiệt hại do người từ đủ mười tám tuổi gây ra được quy định tại khoản 1 Điều 606 bộ luật dân sự 2005, và bộ luật dân sự 2015 giữ nguyên lại tại khoản 1 Điều 586: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”. Điều này có nghĩa là người từ đủ mười tám tuổi trở lên nếu gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại bằng chính tài sản của mình để khắc phục những thiệt hại đã gây ra trừ khi họ bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại. Điều khoản này không quy định trường hợp ngoại lệ đối với những cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên mất năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mà quy định tại Khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015. Do đó, có thể hiểu người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại không bao gồm người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Thực chất quy định này đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 611 bộ luật dân sự 1995, chủ thể gây thiệt hại là “người từ đủ mười tám tuổi trở lên”, trong khi đó Điều 18 bộ luật dân sự 2005 theo hướng “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người chưa thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Nội dung này tiếp tục được giữ lại tại khoản 1 Điều 20 và khoản 1 Điều 21 bộ luật dân sự 2015, theo đó “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các Điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này” và “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Theo đó, khi một người từ đủ mười tám tuổi trở lên họ có đầy đủ tư cách chủ thể để bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Họ có toàn quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách là một chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do mình thực hiện. Những quy định này là tiền đề để xác định năng lực bồi thường thiệt hại của người thành niên. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Dưới góc độ pháp lý, người từ đủ mười tám tuổi trở lên phải tự mình bồi thường thiệt hại gây ra là hoàn toàn hợp lý, bởi người từ đủ mười tám tuổi trở lên (nếu không thuộc trường hợp ngoại lệ theo pháp luật quy định) có năng lực chủ thể đầy đủ, nên có đủ điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật và trở thành chủ thể của quan hệ bồi thường thiệt hại, và họ cũng hoàn toàn có đủ năng lực bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế không ít những người từ đủ mười tám tuổi trở lên còn đang đi học, chưa có thu nhập, kinh tế của những đối tượng này đang phụ thuộc vào sự chu cấp của gia đình, họ không có tài sản riêng hoặc tài sản họ có không đủ để bồi thường thiệt hại. Do vậy mà để trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ được đảm bảo theo nguyên tắc thiệt hại được bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” là một vấn đề được đặt ra. Trong khi pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười tám tuổi trở lên thuộc về họ, vì vậy tại thời điểm Tòa án ra bản án bồi thường thiệt hại mà họ chưa có tài sản để bồi thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ vẫn được bảo lưu cho đến khi họ có tài sản để bồi thường. Theo pháp luật thi hành án dân sự thì khi nào người phải bồi thường có điều kiện thi hành án thì người được bồi thường có quyền yêu cầu thi hành án. Như vậy, nguyên tắc thiệt hại được bồi thường toàn bộ có thể giải quyết được, nhưng không đảm bảo được nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường kịp thời. Nếu người gây thiệt hại không có tài sản để bồi thường và cha mẹ cũng không tự nguyện bồi thường thay cho con mình thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người bị thiệt hại.
Xét một vụ án về bồi thường thiệt hại do người đã thành niên gây ra – Quyết định số 14/2008/HS-GĐT ngày 28/08/2008 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 05/12/2004, anh Bùi Văn Tú (sinh năm 1982, không có giấy phép lái xe mô tô) mượn xe mô tô của Bùi Văn Khải. Khi điều khiển xe mô tô trên đường đã đâm vào anh Nguyễn Thanh Hóa đang di chuyển bằng xe đạp gây tai nạn. Hậu quả anh Hóa bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tật là 98%. Sau khi xảy ra tai nạn, Tú không cứu giúp nạn nhân, mang xe đi cất giấu và bỏ về nhà. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2006/HSST ngày 19/01/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt Tú 04 năm tù về tội vị phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tú và bà Nguyễn Thị Cường (gia đình của Tú) phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Thanh Hóa số tiền 70.288.000 đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Bùi Văn Tú kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm mức bồi thường. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 511/2006/HSPT ngày 24/04/2006, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại Kháng nghị số 08/2008/HS-TK ngày 11/06/2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm số 511/2006/HSPT ngày 24/04/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 17/2006/HSST ngày 19/01/2006 của TAND tỉnh Long An về phần quyết định bồi thường dân sự để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Bùi Văn Tú về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là đúng. Tuy nhiên, khi quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cả Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã có những sai lầm nghiêm trọng như sau: Anh Bùi Văn Khải (là chủ sở hữu xe mô tô) cho Bùi Văn Tú mượn xe mô tô khi không biết rõ Tú có giấy phép lái xe hay không. Vì vậy, anh Khải cũng có lỗi và phải có trách nhiệm cùng Bùi Văn Tú liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Thanh Hóa. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Bùi Văn Khải là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là đúng nhưng lại không buộc anh Khải liên đới bồi thường thiệt hại là không đúng [43]. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 đã nêu ở trên, người đã thành niên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường và yếu tố tự bồi thường này chưa thực sự rõ ràng trong nhiều hoàn cảnh có thể xảy ra trong thực tiễn. Đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Cường trong vụ án đang xét: Bùi Văn Tú là người đã thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Vậy, Tú phải chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra. Mặc dù, tại phiên toà sơ thẩm bà Nguyễn Thị Cường đồng ý cùng với Bùi Văn Tú bồi thường cho gia đình người bị hại, nhưng việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Nguyễn Thị Cường là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và quyết định buộc bà Cường phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Thanh Hóa là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Ở đây, nếu không có cơ sở để quy trách nhiệm cho người khác thì không thể lấy tài sản của người khác để thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người đã thành niên gây ra. Sau khi theo hướng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không thể buộc bà Cường liên đới với Tú, Tòa giám đốc thẩm đã xét rằng thực hiện Quyết định của Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Long An đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, bán đấu giá diện tích 15.657 m2 đất ruộng của bà Cường để thi hành án, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Như vậy, khi con thành niên gây thiệt hại thì cha, mẹ không thể là người có nghĩa vụ liên quan, không thể buộc cha, mẹ liên đới bồi thường với con đã thành niên.
Mặt khác, người khác có thể cùng người gây thiệt hại chịu trách nhiệm với trên cơ sở tự nguyện hay theo pháp luật. Theo khoản 2 Điều 3 bộ luật dân sự 2015 thì “cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”. Dựa vào quy định này, người khác có thể tự nguyện cùng chịu trách nhiệm với người gây thiệt hại. Trong vụ án trên, tại phiên tòa sơ thẩm bà Cường đồng ý cùng với Tú bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, nhưng Tòa giám đốc thẩm đã xét rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Cường phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Hóa là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Nếu Tòa án không xác định bà Cường là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bà Cường tự nguyện cùng với Tú bồi thường thiệt hại thì trách nhiệm liên đới hoàn toàn có thể tồn tại trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 3 bộ luật dân sự 2015.
Thiết nghĩ, pháp luật cần có quy định hướng dẫn chi tiết đối với những trường hợp nếu cha, mẹ không tự nguyện bồi thường thay cho con thì giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
2.2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật của người chưa đủ mười tám tuổi gây ra Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Dù cùng thuộc nhóm tuổi người chưa thành niên nhưng việc bộ luật dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười tám tuổi gây ra lại không giống nhau trong mọi trường hợp. Trong nhóm tuổi này, việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại có sự phân biệt giữa hai nhóm tuổi là người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi và người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi.
Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật của cá nhân chưa đủ mười lăm tuổi gây ra:
- Đoạn 1 khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 quy định:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Như vậy, bộ luật dân sự 2015 đã thay đổi cụm từ “chưa thành niên dưới mười lăm tuổi” tại khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005, thành “chưa đủ mười lăm tuổi”. Thực chất đây chỉ là một bước làm tinh gọn quy định vì người dưới mười lăm tuổi đương nhiên là người chưa thành niên, đồng thời cũng nhằm tạo ra sự thống nhất giữa hai đoạn của khoản 2 Điều 606 trong bộ luật dân sự 2005. Theo đó, khi người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi có hành vi gây thiệt hại thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà tùy từng trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người chưa thành nhiên hoặc trường học trong thời gian quản lý người chưa thành niên đó.
- Trách nhiệm của cha, mẹ đối với con chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại
Trong thực tế, người gây thiệt hại cho người khác có thể là bất kỳ ai, nhưng không phải người nào cũng có đủ khả năng bồi thường thiệt hại. Do đó mà các nhà làm luật đã tìm ra những cơ chế để buộc người không trực tiếp gây thiệt hại bồi thường thiệt hại do hành vi của người khác gây ra, một trong những cơ chế này là cha, mẹ bồi thường thiệt hại do con của mình gây ra [18, tập 2, tr. 91]. Dường như việc quy trách nhiệm của cha, mẹ đối với thiệt hại do con gây ra đã tồn tại trong tư tưởng các nhà lập pháp Việt Nam từ rất lâu, chẳng hạn như tại Điều 457 Quốc triều Hình luật quy định về trách nhiệm của cha mẹ bồi thường tang vật thay cho con khi con vi phạm những điều mà pháp luật cấm: “Các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và điều phải bồi thường thay con những tang vật ăn trộm ăn cướp”. Có thể thấy tinh thần trong quy định này rất tương đồng với những quy định của pháp luật hiện nay. Việc cha, mẹ phải bồi thường khi con chưa thành niên gây thiệt hại cũng đã được ghi nhận trong bộ luật dân sự 1995 tại Điều 611, và được bộ luật dân sự 2005 giữ lại. Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định về vấn đề này tại Điều 25:
Cha, mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới mười sáu tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường. Con chưa thành niên từ mười sáu tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường [23, Điều 25].
Tiếp đó Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự” [28]. Tuy nhiên, theo Điều 586 bộ luật dân sự 2015 lại quy định “Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”. Có thể thấy có sự mâu thuẫn giữa hai quy định trên, trong khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên (tức là con chưa đủ mười tám tuổi) gây ra, thì bộ luật dân sự 2015 lại quy định cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại khi con chưa đủ mười lăm tuổi gây ra. Cần sửa đổi để thống nhất giữa các quy định này, tránh mâu thuẫn khi áp dụng pháp luật để giải quyết những xung đột liên quan.
Qua các quy định xuyên suốt lịch sử lập pháp vừa nêu, có thể thấy, trường hợp con chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại, người gây ra thiệt hại trực tiếp và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khác nhau. Bởi ở độ tuổi này, chủ thể chưa có năng lực hành vi tố tụng dân sự và không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người ở độ tuổi này tại Tòa án phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Vì thế mà cha, mẹ của những người này có tư cách là bị đơn dân sự trước Tòa án. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Một người phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình khi họ có nhận thức để làm chủ và điều khiển được hành vi đó. Người chưa đủ mười lăm tuổi là đối tượng chưa có hoặc có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ. Phải chăng pháp luật quy định như vậy vì dựa vào nghiên cứu khoa học và tâm lý học, những người trong độ tuổi này với khả năng nhận thức hiện tại của họ, các nhà lập pháp cho rằng họ sẽ thực hiện những hành vi pháp lý thiếu cân nhắc gây hại nghiêm trọng cho bản thân họ, đến tài sản của họ hoặc cho những thành viên khác trong xã hội.
Pháp luật lại chia người chưa đủ mười lăm tuổi thành hai nhóm đối tượng: Người chưa đủ sáu tuổi và người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện [29, Điều 21, Khoản 2]. Bởi nhận thức, tư duy của những người chưa đủ sáu tuổi chưa đủ để nhận biết rõ ràng những hành vi của mình và những hậu quả của hành vi đó, nên với những thiệt hại do họ gây ra, họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà cha, mẹ của họ với tư cách là những người đại diện hợp pháp chịu trách nhiệm bồi thường mà cha, mẹ của họ với tư cách là những người đại diện hợp pháp sẽ chịu trách nhiệm bồi thường. Còn với những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần. Người trong độ tuổi này đã có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, tuy nhiên nhận thức của họ đang còn trong quá trình hoàn thiện còn nhiều hạn chế. Trong giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định, họ có thể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trong giới hạn đó. Khi họ xác lập thực hiện những giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi [29, Điều 21, Khoản 3].
Như đã phân tích, những người chưa đủ mười lăm tuổi là những người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tâm sinh lý, nhận thức của họ còn thiếu chín chắn, dễ bị lôi kéo, kích động bởi những người xung quanh, chưa nhận biết được hết những hậu quả cho xã hội do hành vi mà mình thực hiện. Vì thế mà đối với những người trong độ tuổi này, sự nhìn nhận của những nhà làm luật đều rất đặc biệt, ngay cả pháp luật Hình sự là ngành luật với những biện pháp xử lý mạnh mẽ và nghiêm khắc nhất – chế tài hình sự [36], song với những đối tượng trong độ tuổi này khi họ thực hiện hành vi phạm tội, các quy định cũng thể hiện thái độ giảm nhẹ, khoan hồng. Việc xử lý người chưa đủ mười lăm tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người này, họ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và chủ yếu nhằm mục đích để gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh [37]. Đối tượng này rất cần được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, nhà trường và toàn xã hội, mà trước hết là trách nhiệm của những bậc làm cha, làm mẹ. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tình trạng tài sản của cá nhân chưa đủ mười lăm tuổi cũng là yếu tố được xét đến khi quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bên cạnh khả năng nhận thức. Theo ghi nhận tại khoản 1 Điều 3 Bộ Luật lao động năm 2012 thì tuổi lao động được tính từ đủ mười lăm tuổi, trừ những công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, như công việc liên quan đế năng khiếu, nghệ thuật: múa, xiếc… nên những người chưa đủ mười lăm tuổi chưa có năng lực hành vi lao động để tham gia vào các quan hệ lao động tạo ra thu nhập và có tài sản riêng. Vì vậy, phần lớn những người nằm trong độ tuổi này thường không có khả năng kinh tế độc lập để tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Trên cơ sở đó, bộ luật dân sự 2015 khi quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân rất coi trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con chưa đủ mười lăm tuổi gây ra. Cha, mẹ của những người gây thiệt hại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự, là những người đại diện hợp pháp đương nhiên của con, vì thế mà họ có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của con gây ra, còn người gây thiệt hại lại không có năng lực hành vi tố tụng dân sự trước Tòa án.
Mặt khác, pháp luật dự liệu trường hợp những người chưa đủ mười lăm tuổi này mặc dù chưa có khả năng lao động tạo ra tài sản nhưng có thể họ có tài sản do được thừa kế, tặng cho: Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu [29, Đoạn 1 khoản 2 Điều 586]. Về nguyên tắc, người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ của người đó, tuy nhiên việc pháp luật quy định cho phép cha, mẹ dùng tài sản của người con chưa đủ mười lăm tuổi bồi thường phần thiệt hại còn thiếu trong trường hợp tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường thiệt hại là nhằm mục đích thực hiện nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải “toàn bộ” và “kịp thời” để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại. Với quy định vừa nêu, chúng ta cần phải xác định tài sản của cha, mẹ và của con gây thiệt hại, tùy từng trường hợp quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Xét một vụ án do người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra – Bản án số 561/2008/HSPT ngày 31/07/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ngày 26/10/2017 tại nhà Dương Văn Khánh (sinh ngày 26/10/1992), trong lúc bán phế liệu cho chị Vũ Thị Loan (32 tuổi), Khánh cho rằng chị Loan cân cục dây đồng không chính xác nên hai bên có giằng co chiếc cân đĩa. Khi dây xích treo cân đĩa bị đứt, chị Loan mất đà lao về phía Khánh, quả cân ở phần thân cân mà Khánh đang giữ đã đập vào đầu chị Loan làm chị Loan bị choáng ngất ngã xuống sân. Sau đó, Khánh kéo chị Loan ra vườn để ở gốc cây xoan và thực hiện hành vi giao cấu với chị Loan trong khi chị Loan vẫn đang bất tỉnh. Sau khi giao cấu xong, chị Loan vẫn chưa tỉnh, Khánh nghĩ chị Loan đã chết nên Khánh kéo tiếp chị Loan ra bờ tường giáp nhà bà Chu Thị Sáu rồi dùng sợi dây thừng buộc thòng lọng vào cổ chị Loan và trèo sang nhà bà Sáu. Khánh đứng trên gờ tường gần bể nước nhà bà Sáu kéo chị Loan qua bờ tường rồi giấu chị Loan vào bếp nhà bà Sáu, rồi về nhà cất giấu di vật của chị Loan ở nhiều nơi khác nhau. Hậu quả là chị Loan bị chết, giám định pháp y kết luận chị Loan chết do ngạt cơ học. Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Khánh đã bồi thường cho gia đình chị Loan (do anh Thiện là chồng chị Loan đại diện nhận) số tiền là 10.000.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2008/HSST ngày 22/04/2008, TAND tỉnh Hưng Yên quyết định xử phạt Khánh 9 năm tù về tội giết người, buộc ông Khương và bà Đảm (cha, mẹ của Khánh) bồi thường cho anh Thiện tổng các khoản là 35.500.000 đồng, được trừ 10.000.000 đồng đã bồi thường trước, còn phải bồi thường tiếp 25.500.000 đồng; Buộc ông Khương và bà Đảm cấp dưỡng thay Khánh cho hai con của chị Loan là cháu Mây (sinh ngày 26/11/1998) và cháu Đào (sinh ngày 25/06/2006) do anh Thiện đại diện nhận, mỗi cháu 270.000 đồng/tháng, tính từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010 (Khi Khánh đủ mười tám tuổi). Từ tháng 11 năm 2010, Khánh phải cấp dưỡng cho đến khi từng cháu đủ mười tám tuổi. Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn có các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Tại phiên toàn phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị hại vẫn giữ nguyên các yêu cầu đã kháng cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo rút yêu cầu kháng cáo xin giảm mức bồi thường thiệt hại, chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét về hành vi của bị cáo có dấu hiệu phạm hai tội là hiếp dâm và giết người, tuy nhiên hành vi hiếp dâm chỉ vi phạm khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự là tội nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi này bị can chưa đủ mười sáu tuổi, vì vậy không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi hiếp dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án sơ thẩm chỉ kết án Khánh về tội giết người là có căn cứ. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng bồi thường thiệt hại về chi phí mai táng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần và cả mức cấp dưỡng nuôi con nạn nhân. Xét thấy Tòa án sơ thẩm đã chấp nhận tất cả các khoản chi phí hợp lý cho việc mai táng nạn nhân, cộng các khoản là 8.500.000 đồng nên không có căn cứ để tăng thêm mức bồi thường thiệt hại về khoản này. Căn cứ vào mức thu nhập của nạn nhân khi còn sống và khả năng bồi thường của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo, thấy Tòa án cấp sơ thẩm buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo phải cấp dưỡng thay cho bị cáo nuôi các con chưa thành niên của nạn nhân mỗi cháu 270.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên không có căn cứ tăng thêm mức tiền cấp dưỡng nuôi con của nạn nhân. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ quyết định buộc cha, mẹ của bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con người bị hại cho đến khi bị cáo đủ mười tám tuổi là không chính xác.
Bị cáo sinh ngày 26/10/1992, phạm tội ngày 26/10/2007, do đó đến 0 giờ ngày 27/10/2007 bị cáo mới đủ mười lăm tuổi. Vậy theo bộ luật dân sự, cha, mẹ bị cáo phải bồi thường thiệt hại do bị cáo gây ra và có trách nhiệm trả tiền cấp dưỡng nuôi các con của nạn nhân đến khi các cháu này đủ mười tám tuổi, mới đúng với quy định của pháp luật.
Mặt khác, bị cáo gây tổn hại lớn về tinh thần cho những người thân của nạn nhân, do đó chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người đại diện cho người bị hại và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên toà sửa một phần bản án sơ thẩm tăng mức bồi thường về khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần lên mức cao nhất là sáu mươi tháng lương cơ bản, bằng 32.400.000 đồng.
Như vậy, tổng các khoản người đại diện hợp pháp của bị cáo phải bồi thường cho gia đình nạn nhân là 40.900.000 đồng, đã bồi thường 10.000.000 đồng, còn phải bồi thường 30.900.000 đồng nữa [34].
Theo quy định của pháp luật đã phân tích ở trên, trách nhiệm của cha, mẹ chỉ phát sinh đối với thiệt hại do con gây ra, có nghĩa là giữa người gây thiệt hại và người mà chúng ta muốn quy trách nhiệm phải có quan hệ cha, mẹ, con. Trong vụ việc này, Khánh là người gây thiệt hại và Tòa án xác định ông Khương và bà Đảm là cha, mẹ của bị cáo Khánh, tuy bản án không nêu rõ quan hệ này là quan hệ cha, mẹ, con đẻ hay cha, mẹ, con nuôi nhưng với quy định của pháp luật hiện hành, việc xác định quan hệ đẻ hay nuôi là không cần thiết vì điều luật không phân biệt quan hệ cha, mẹ đẻ và quan hệ cha, mẹ nuôi. Liên quan đến quan hệ cha, mẹ với người gây thiệt hại, một số vấn đề pháp lý cần lưu tâm như sau:
Thứ nhất, có cần thiết người con phải sống với cha, mẹ khi gây thiệt hại để quy trách nhiệm cho cha, mẹ hay không. Ở đây, Tòa án vẫn buộc cha, mẹ phải bồi thường mặc dù con chưa thành nhiên đang được giao cho ông, bà quản lý, chăm sóc, hay con đang ở ký túc xá. Pháp luật hiện hành không nhắc đến điều kiện là con phải sống cùng với cha, mẹ, nên cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi con không ở hay sống cùng với cha, mẹ.
Thứ hai, khi cha, mẹ ly hôn và một người được giao quản lý con thì người còn lại có phải chịu trách nhiệm không. bộ luật dân sự hiện hành không phân biệt cha, mẹ chưa ly hôn với cha, mẹ đã ly hôn nên trong mọi trường hợp cha, mẹ đều có thể bị quy trách nhiệm bồi thường, nghĩa là cha, mẹ ly hôn và không trực tiếp nuôi con vẫn phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do con gây ra cho người khác. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Như đã phân tích, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ đối với thiệt hại do con gây ra phụ thuộc vào tuổi của người con. Trong vụ việc này, khi gây thiệt hại bị cáo Khánh chưa đủ mười lăm tuổi, nhưng khi xét xử vụ án thì người đó đã thành niên, vậy cần phải xác định tuổi của con chưa thành niên gây thiệt hại vào thời điểm nào, vấn đề này có hai quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng cần xác định tuổi vào thời điểm có hành vi gây thiệt hại; Theo quan điểm thứ hai thì cần xác định tuổi của người con vào thời điểm giải quyết bồi thường thiệt hại. Quan điểm thứ hai gây bất lợi cho người bị thiệt hại, không phù hợp với tinh thần của bộ luật dân sự, áp dụng theo quan điểm thứ nhất nhằm tạo điều kiện cho nạn nhân sớm được bồi thường. Bởi càng xét tuổi muộn thì khả năng áp dụng chế định này càng ít và do đó người bị thiệt hại không có nhiều cơ hội yêu cầu áp dụng chế định mà chúng ta đang nghiên cứu để quy trách nhiệm cho cha, mẹ của người gây thiệt hại khi người gây thiệt hại không có hay không có đủ tài sản.
Liên quan đến việc xác định tuổi của người gây thiệt hại, về tuổi của người chưa thành niên, khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự năm 2015 phân biệt hai trường hợp: Người “chưa đủ mười lăm tuổi” gây thiệt hại, và người “từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi”. Về cách tính tuổi cụ thể, đây là vấn đề về thời hạn nên cần khai thác các quy định về thời hạn trong bộ luật dân sự năm 2015 và vụ việc trên đã cho thấy điều này. Cụ thể, theo Tòa án, bị cáo sinh ngày 26/10/1992, phạm tội ngày 26/10/2007, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và theo bộ luật dân sự năm 2015 quy định thì đến 0 giờ ngày 27/10/2007 bị cáo mới đủ mười lăm tuổi, nên buộc cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường các thiệt hại do bị cáo gây ra.
Xét đến điều kiện về tài sản của cha, mẹ và của con gây thiệt hại: Đối với con chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại, cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu [29, Điều 586]. Cũng như tuổi, tài sản của một chủ thể thay đổi theo thời gian, vì đó mà cần xác định tài sản tại thời điểm nào khi áp dụng chế định này là một câu hỏi đặt ra. Có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất là xác định tài sản tại thời điểm có hành vi gây thiệt hại, tức là thời điểm xác định tuổi và xác định tài sản là giống nhau; Quan điểm thứ hai là xác định tài sản tại thời điểm bồi thường, tức là thời điểm này khác với thời điểm xác định tuổi của người chưa thành niên. Thiết nghĩ giải pháp thứ hai là thuyết phục vì các lý do: Một là, áp dụng khả thi hơn, bởi nếu xác định tài sản tại thời điểm có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì chúng ta phải quay lại trong quá khứ trong khi đó xác định tài sản trong quá khứ khó hơn việc xác định tài sản hiện tại; Hai là, mục đích của những quy định đang được nghiên cứu là nhằm tạo thuận lợi cho việc bồi thường người bị thiệt hại, nên quan trọng là ở thời điểm giải quyết bồi thường, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại có khả năng bồi thường hay không, tức là có tài sản để thực hiện trách nhiệm bồi thường hay không, vậy cần xác định tài sản vào thời điểm giải quyết bồi thường. Trước thời điểm này, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể có đủ tài sản nhưng tại thời điểm giải quyết bồi thường họ không có đủ điều kiện bồi thường thì không đem lại lợi ích cho người được bồi thường. Thêm nữa, bộ luật dân sự quy định “nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường”, nên có thể hiểu rằng tài sản ở đây là tài sản “để bồi thường”, tức bộ luật dân sự hướng tới việc xác định tài sản vào lúc bồi thường thiệt hại.
Về vấn đề thời gian cha, mẹ chịu trách nhiệm bồi thường, thông thường thì thiệt hại được bồi thường một lần nhưng thực tế cho thấy đôi khi việc bồi thường kéo dài trong một thời gian. Trong vụ việc đang xét đến, trách nhiệm bồi thường cho con của nạn nhân là “cho đến khi các cháu Mây và Đào đủ mười tám tuổi”. Câu hỏi đặt ra là cha, mẹ của Khánh sẽ phải chịu trách nhiệm đến thời điểm nào? Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo Tòa án sơ thẩm, “ông Khương và bà Đảm cấp dưỡng thay Khánh cho hai con của chị Loan là cháu Mây, sinh ngày 26/11/1998 và cháu Đào, sinh ngày 25/06/2006 do anh Thiện đại diện nhận, mỗi cháu 270.000 đồng/ tháng, tính từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 10 năm 2010 (khi Khánh đủ mười tám tuổi). Từ tháng 11 năm 2010, Khánh phải cấp dưỡng cho đến khi từng cháu đủ mười tám tuổi”. Như vậy, Tòa án sơ thẩm theo hướng cha, mẹ chỉ bồi thường thay cho con đến khi con đủ mười tám tuổi, còn sau đó cha, mẹ không bồi thường thay nữa, con tự chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, hướng trên đã không được Tòa án chấp nhận vì Tòa phúc thẩm đã theo hướng “việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ quyết định buộc cha, mẹ của bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con người bị hại đến khi bị cáo đủ mười tám tuổi là không chính xác” và “buộc cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường các thiệt hại do bị cáo gây ra và có trách nhiệm trả tiền cấp dưỡng nuôi các con của nạn nhân cho đến khi các cháu này đủ mười tám tuổi mới đúng với quy định của pháp luật”.
Hướng trên của Tòa phúc thẩm tạo sự an toàn cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, có thể xảy ra trường hợp sau khi con đủ mười tám tuổi, thậm chí là ngay cả khi con đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, đã có điều kiện kinh tế hơn cha, mẹ. Với trường hợp này chúng ta nên theo hướng để người bị thiệt hại yêu cầu người con có điều kiện về tài sản bồi thường. Thực ra, quy định trên chỉ sinh ra để hỗ trợ người bị thiệt hại nên nếu việc áp dụng không còn hiệu quả nữa và việc yêu cầu người con thuận lợi hơn thì chúng ta nên cho phép người bị thiệt hại lựa chọn
Về vai trò của cha, mẹ trong việc để con gây thiệt hại, pháp luật các nước quy định khá khác nhau khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra. Một nghiên cứu so sánh cho thấy tồn tại ba mẫu điều chỉnh khác nhau về trách nhiệm của cha, mẹ đối với hành vi của con. Mẫu điều chỉnh thứ nhất là không có quy định cụ thể về điểm này: Nạn nhân bị thiệt hại do người con gây ra cần chứng minh lỗi của cha, mẹ và quan hệ nhân quả với thiệt hại. Đó là trường hợp của Áo và Anh. Theo mẫu điều chỉnh thứ hai, lỗi của cha, mẹ được suy đoán nhưng cha, mẹ có trách nhiệm quản lý người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm khi chứng minh được rằng họ đã có ứng xử hợp lý trong việc giám sát và giáo dục con. Đó là trường hợp của các nước như Đức và Thụy Sỹ. Cuối cùng, mẫu điều chỉnh thứ ba ấn định trách nhiệm của cha, mẹ không cần lỗi của những người chịu trách nhiệm quản lý người chưa thành niên. Dưới ảnh hưởng của án lệ, Pháp đã chuyển từ mẫu điều chỉnh thứ hai sang mẫu điều chỉnh thứ ba [34, tr. 163].
Pháp luật hiện hành của chúng ta theo hướng của mẫu điều chỉnh thứ ba, theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ cho người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý, không cần điều kiện lỗi của cha, mẹ trong việc quản lý, giám sát hành vi của con mình. Trong vụ việc nêu trên, Tòa án đã theo hướng quy trách nhiệm của cha, mẹ mà không quan tâm tới vai trò của cha, mẹ trong việc giám sát, giáo dục con chưa thành niên. Hướng giải quyết này là phù hợp với các quy định nêu trên vì bộ luật dân sự năm 2015 quy trách nhiệm của cha, mẹ mà không đặt điều kiện lỗi của cha, mẹ như trường hợp của người giám hộ [18, tập 2, tr. 103]. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, lại có các quan điểm khác cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ đối với hành vi gây thiệt hại của con chưa thành niên xuất phát từ lỗi của cha, mẹ đã không trông nom, quản lý giám sát con cái để con mình gây thiệt hại cho người khác. Bản thân người viết đồng ý với mẫu điều chỉnh thứ ba, bởi nếu cho rằng cha, mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con trong trường hợp này xuất phát từ lỗi của cha, mẹ là không có căn cứ. Việc cha, mẹ không quản lý con mình gây thiệt hại cho người khác không thể xác định đó là lỗi của cha, mẹ trong việc để thiệt hại xảy ra, trong trường hợp này cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có hành vi gây thiệt hại do chính mình gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ trong trường hợp này được xác định dựa trên mối quan hệ pháp lý giữa cha, mẹ và con. Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa đủ mười lăm tuổi, mọi giao dịch dân sự của con chưa đủ mười lăm tuổi đều do cha, mẹ xác lập và thực hiện, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi [29, Điều 21], nên đương nhiên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại do con mình gây ra.
Quy định về việc lấy tài sản của người con chưa đủ mười lăm tuổi trực tiếp gây thiệt hại không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn nhằm khắc phục cho phần còn thiếu, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại theo đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là toàn bộ và kịp thời. Như vậy, người bị thiệt hại phải được bồi thường và trách nhiệm bồi thường thuộc về ai mà thôi. Theo quy định của pháp luật, việc lấy tài sản riêng của con để bổ sung cho phần cha, mẹ còn thiếu cũng không có nghĩa là trách nhiệm bồi thường thuộc về người con, hay là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là trách nhiệm theo phần, cả hai cách hiểu này đều không đúng với tinh thần của các nhà làm luật. Việc lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu hoặc toàn bộ thiệt hại nếu cha, mẹ không đủ tài sản, hoặc không có tài sản để bồi thường trong trường hợp này không thể được hiểu là nghĩa vụ bổ sung của người con. Theo quy định của pháp luật, chủ thể có nghĩa vụ bổ sung là chủ thể thực hiện hoặc không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn trực tiếp thuộc về cha, mẹ, còn người con tuy là người trực tiếp gây thiệt hại nhưng lại không phải là chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại này. Cha, mẹ với tư cách là người quản lý tài sản của người con chưa đủ mười lăm tuổi, dù có dùng tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu, thì cũng không có nghĩa là trách nhiệm bồi thường được chuyển sang cho con, đồng thời cũng không làm triệt tiêu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ, nói cách khác cha, mẹ vẫn là chủ thể có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp người con không có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ cho phần còn thiếu đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn luôn thuộc về cha, mẹ. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Khi chỉ người chưa thành niên gây thiệt hại và chỉ có hoặc là cha, hoặc là mẹ thì chỉ người cha, người mẹ chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong một số trường hợp trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ thuộc trường hợp trách nhiệm liên đới. Thứ nhất, khi cả cha và mẹ còn sống thì cha, mẹ liên đới chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do con gây ra. Trong vụ việc trên, Tòa án buộc cha, mẹ bồi thường nhưng không rõ giữa cha, mẹ có liên đới không vì Tòa án chỉ nêu “ông Khương và bà Đảm là bố, mẹ của bị cáo Khánh phải bồi thường”. Hướng xác định cha, mẹ liên đới là thuyết phục, nhằm nâng cao trách nhiệm của cha, mẹ đối với các hoạt động của con đồng thời tại điều kiện cho người bị thiệt hại trong việc được bồi thường thiệt hại. Với hướng giải quyết này, thực tiễn xét xử đã làm cho pháp luật Việt Nam khá gần gũi với một số hệ thống pháp luật hiện đại khác. bộ luật dân sự Pháp năm 1804 theo hướng quy trách nhiệm cho riêng người cha hay người mẹ được giao quyền quản lý con, tuy nhiên vào năm 1971 và 2002, pháp luật Pháp đã có những thay đổi theo hướng cha, mẹ liên đới. Tương tự đối với Bộ luật Thụy Sỹ cũng theo hướng cha, mẹ có trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra [18, tập 2, tr. 105]. Thứ hai, trong trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại cùng với người khác thì cha, mẹ cùng với người khác liên đới chịu trách nhiệm bồi thường trên cơ sở Điều 587 bộ luật dân sự 2015:
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Khi cha, mẹ cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra, chúng ta có hai hướng xác định trách nhiệm của từng người. Thứ nhất, căn cứ vào lỗi của từng người trong việc quản lý con, tức là phần trách nhiệm của cha, mẹ phụ thuộc vào mức độ lỗi của mỗi người. Thứ hai, chúng ta theo hướng chia đều cho cha, mẹ vì trách nhiệm của cha, mẹ không phụ thuộc vào lỗi của họ. Theo tác giả, hướng giải quyết thứ hai thuyết phục, bởi trách nhiệm của cha, mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra không dựa trên cơ sở lỗi của cha, mẹ trong việc quản lý con mà dựa vào tư cách cha, mẹ đối với người gây thiệt hại. Thực ra đây cũng là hướng được ghi nhận ở nước ngoài, chẳng hạn như Pháp, từ năm 1997 họ cũng theo hướng chia đều trách nhiệm bồi thường cho cha, mẹ của người con gây thiệt hại [33]. Trường hợp cha, mẹ cùng liên đới với người khác bồi thường, trách nhiệm của cha, mẹ phụ thuộc vào mức độ tham gia của con chưa thành niên, và cha, mẹ phải chịu phần tương ứng như nhau.
- Trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại
Giám hộ là chế định mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật. bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề giám hộ tại Mục 4, Chương 3, Phần thứ nhất với 18 Điều, bao gồm: Điều kiện làm người giám hộ; Người giám hộ đương nhiên; Cử, chỉ định người giám hộ; Nghĩa vụ, quyền; thay đổi, chuyển giao, chất dứt việc giám hộ … Điều 46 bộ luật dân sự 2015 quy định:
Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ). Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chế định giám hộ trong bộ luật dân sự điều chỉnh các quan hệ với mục đích nhằm khắc phục tình trạng không tương đồng giữa sự bình đẳng về năng lực pháp luật với không bình đẳng về năng lực hành vi dân sự của những người có năng lực hành vi một phần, những người không có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi. Điều này thể hiện sự quan tâm của xã hội, cộng đồng, đồng thời cũng là hình thức đề cao trách nhiệm của gia đình, xã hội, cộng đồng đối với những người cần được chăm sóc, đại diện, bảo vệ.
Điều 47 bộ luật dân sự 2015 quy định về người được giám hộ, bao gồm các trường hợp: Thứ nhất, người chưa thành niên không còn cha, mẹ, hoặc không xác định được cha, mẹ: Cha, mẹ đã chết, hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích theo quy định của pháp luật dân sự về tuyên bố chết, mất tích và những trẻ em bị cha, mẹ bỏ rơi, không thể xác định được cha, mẹ là ai. Thứ hai, người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ. Lúc này, con chưa mười lăm tuổi cần có người giám hộ thay thế cha, mẹ làm nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục và bảo vệ người chưa thành niên. Trong trường hợp cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người con chưa thành niên thì việc giám hộ chỉ được đặt ra khi có yêu cầu của cả cha và mẹ, nếu chỉ một trong hai người hoặc là cha, hoặc là mẹ yêu cầu, hoặc cả hai không yêu cầu việc giám hộ thì việc giám hộ cũng sẽ không xảy ra, do nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con, đại diện cho con trước tiên thuộc về cả cha và mẹ. Nếu người chưa đủ mười lăm tuổi không còn cha hoặc cha còn sống nhưng không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con, thì người mẹ phải thực hiện nghĩa vụ này, và ngược lại.
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại Điều 55 bộ luật dân sự 2015:
Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; Quản lý tài sản của người được giám hộ; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Đi đôi với nghĩa vụ vừa nêu, người giám hộ sẽ phải gánh chịu các trách nhiệm pháp lý trong khi thực hiện việc giám hộ của mình, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra, và có tư cách bị đơn dân sự trước Tòa án thay cho người được giám hộ. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo bộ luật dân sự 2015, có hai hình thức giám hộ đó là: Giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử. Giám hộ đương nhiên là hình thức giám hộ do pháp luật quy định, người giám hộ đương nhiên chỉ có thể là cá nhân, và được xác định dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng nhằm ràng buộc trách nhiệm của những người thân thích, ruột thịt trong gia đình với nhau, cụ thể được quy định ở Điều 52 bộ luật dân sự 2015. Người giám hộ đương nhiên không có quyền từ chối trách nhiệm giám hộ của mình, họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của người được giám hộ gây ra. Trường hợp không có người giám hộ đương nhiên theo quy định của Điều 52 thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ [29, Điều 54]. Việc cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này, ngoài ra còn phải có sự đồng ý của người giám hộ để đảm bảo họ thực hiện tốt trách nhiệm giám hộ trên tinh thần tự nguyện.
- Khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 quy định:
Người chưa thành niên, … gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Theo đó, nếu người chưa thành niên là người gây thiệt hại, có người giám hộ thì pháp luật không quy định thành các mức độ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như trường hợp cá nhân gây thiệt hại có cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật. Miễn khi gây ra thiệt hại, người chưa thành niên có tài sản, thì không kể là có năng lực hành vi dân sự một phần hay chưa có năng lực hành vi dân sự mà có người giám hộ thì đều được bồi thường bằng chính tài sản của người chưa thành niên gây thiệt hại đó. Trường hợp người được giám hộ chưa thành niên không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ mới phải bồi thường bằng tài sản của mình. Không giống với quy định người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường bổ sung. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường, tức là trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh trong trường hợp có lỗi để cho người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết thuộc về người được giám hộ, người giám hộ chỉ thực hiện bồi thường thiệt hại bổ sung cho người được giám hộ. Chỉ khi tài sản của người được giám hộ không có hoặc không đủ và người giám hộ có lỗi trong việc để người được giám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ mới phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Đây cũng là điểm khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ đối với hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của con không cần phải xét đến yếu tố lỗi. Việc quy định như vậy nhằm nâng cao trách nhiệm của người giám hộ đồng thời cũng khuyến khích cá nhân, tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
Như vậy, người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà không còn, hoặc không xác định được cha, mẹ, và vì một lý do nào đấy mà không có người giám hộ. Hay như trường hợp người được giám hộ không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường, và người giám hộ cũng chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì thiệt hại xảy ra được giải quyết bồi thường bằng cách nào là một vấn đề được đặt ra. Trong những trường hợp này nếu người chưa thành niên gây thiệt hại thì người bị thiệt hại sẽ phải chịu rủi ro vì yêu cầu bồi thường không thực hiện được.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra trong thời gian trường học quản lý
Điều 599 bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý: “Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra”, trừ khi trường học chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý, lúc này cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi phải bồi thường. Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của nhà trước trong việc quản lý học sinh.
Nhà trường không những truyền thụ kiến thức mà còn có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện học sinh về mặt phẩm chất, đạo đức cho học sinh. Hơn nữa, người chưa đủ mười lăm tuổi phần lớn là những học sinh từ cấp trung học cơ sở trở xuống, đối tượng này thời gian chủ yếu hàng ngày là học tập và sinh hoạt tại trường, bởi vậy mà trong thời gian trường học quản lý nếu học sinh có hành vi gây thiệt hại thì nhà trường phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trừ trường hợp nhà trường chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tình trạng học sinh trong thời gian học tập và sinh hoạt tại trường có những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân đặc biệt là sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác ngày càng gia tăng. Báo cáo của cơ quan phòng, chống tôi phạm Liên hợp quốc, mỗi năm trên thế giới có khoảng 4-6 triệu học sinh có liên quan trực tiếp đến bạo lực học đường. Số liệu này ngày càng tăng, khiến bạo lực học đường trở thành vấn đề chung của giáo dục quốc tế. Tại Việt Nam, bạo lực học đường hiện nay đang là vấn đề rất nghiệm trọng, theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ trong năm học 2018, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học. Cũng theo một số thống kê, khoảng 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau và 11.000 học sinh thì có một em bị thôi học vì đánh nhau. Những số liệu này cho thấy, tình trạng bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối tại mọi cấp học, lớp học với mức độ gia tăng ngày càng cao và hậu quả ngày càng lớn.
Cũng theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm 2013 đến năm 2015, đã xử lý hơn 25.00 vụ phạm pháp hình sự với 42.000 đối tượng. Trong đó có hơn 75% là thanh niên và học sinh, sinh viên. Nghiêm trọng hơn, đối tượng phạm tội ngày càng có xu hướng trẻ hóa, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, hành vi bạo lực cũng ngày càng đa dạng hơn. Những vụ giết người, cướp tài sản, hiếp dâm của học sinh, sinh viên cũng ngày càng nhiều [38].
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng bạo lực học đường có thể nói là do sự chuyển biến về tâm lý của bản thân học sinh, đây là giai đoạn hình thành nhân cách con người, thay đổi nhanh mạnh về mặt thể chất nhưng không cân đối với lý trí, vì vậy tâm lí có những nét bất ổn, đôi lúc là bốc đồng và không kiểm soát được hành vi bản thân và với một cái tôi cá nhân quá cao. Trong giai đoạn này chỉ cần những tác động kích thích xấu từ môi trường ngoại cảnh cũng khiến các em học theo, dẫn đến nhiều vụ đánh nhau tại trường học hay cũng chính là nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường ở Việt Nam.
Ba yếu tố có sức ảnh hưởng nhất đối với suy nghĩ và hành động của người ở độ tuổi này là gia đình, nhà trường, xã hội, mà trong đó gia đình có thể xem là yếu tố quan trọng nhất, là môi trường đầu tiên hình thành, nuôi dưỡng nhân cách của con người. Những hành vi trái pháp luật của người chưa đủ mười lăm tuổi không chỉ đơn thuần là kết quả của quá trình giáo dục riêng ở nhà trường mà còn là sản phẩm của quá trình giáo dục của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Việc quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho trường học đối với thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra trong thời gian trường học quản lý hướng đến việc ràng buộc trách nhiệm của trường học đang trực tiếp quản lý phải tăng cường công tác quản lý người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi. Điều này dường như đi ngược lại với ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại là tăng khả năng cho người bị thiệt hại có thể được đền bù và khắc phục thiệt hại, không cho phép bảo vệ thích đáng quyền lợi của người bị thiệt hại. Vì vậy, quy định trên của pháp luật dân sự hiện hành đã thực sự phù hợp hay chưa còn cần phải suy nghĩ thêm.
- Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật của cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo đoạn 2, khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”. Vậy dựa vào đâu để đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi: Thứ nhất, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, tuy nhiên khả năng nhận thức đã phát triển nên pháp luật quy định những người trong độ tuổi này ngoài những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày họ có thể tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự trong phạm vi tài sản mà họ có. Trừ trường hợp định đoạt những tài sản như là nhà ở, quyền sử dụng đất, thì cần phải có sự đồng ý của người đại diện. Họ cũng có quyền tham gia tố tụng dân sự với tư cách là đương sự trong vụ án, bởi vậy họ phải tự gánh chịu những hành vi trái pháp luật mà mình gây ra. Thứ hai, theo Bộ luật lao động, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi này đã được phép tham gia ký kết những hợp đồng lao động phù hợp với độ tuổi, họ sẽ được nhận những khoản thu nhập và những tài sản đó sẽ thuộc quyền sở hữu của họ. Có thể hiểu pháp luật đã thừa nhận những người trong độ tuổi này đã có khả năng tạo dựng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Thứ ba, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại khoản 2 Điều 75 quy định:
Con từ đủ 15 tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập [28, Điều 75].
- Tiếp đó khoản 1 Điều 76 luật này quy định:
Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý [28, Điều 76].
- Cuối cùng, theo khoản 2 Điều 77 lại quy định:
Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ [28, Điều 77].
Qua một số quy định của các văn bản pháp luật vừa nêu trên đây có thể thấy pháp luật đã thừa nhận cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã có khả năng nhận thức, có tài sản riêng có thể tự mình quản lý tài sản riêng đó. Vì vậy, có đủ cơ sở để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình.
Trái ngược với trường hợp con chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015, trường hợp con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lại theo nguyên tắc chung, tức người con chính là chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều luật quy định nghĩa vụ bồi thường bổ sung của cha, mẹ trong trường hợp con không đủ tài sản để bồi thường. Vấn đề đặt ra là nếu con không có tài sản để bồi thường thì giải quyết như thế nào, và cha, mẹ có tài sản để bồi thường thì có thể lấy tài sản của cha, mẹ để bồi thường toàn bộ thiệt hại không. Thiết nghĩ để đảm bảo nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời thì trong trường hợp này pháp luật cần có quy định khi con không có tài sản để bồi thường mà cha, mẹ có tài sản thì lấy tài sản của cha, mẹ để bồi thường cho người bị thiệt hại. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên, và là một đối tượng có thể có người giám hộ theo Điều 47 bộ luật dân sự 2015. Tương tự như trường hợp người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại có người giám hộ như đã phân tích ở phần trên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại; Nếu người giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Xét vụ án về bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra – Quyết định số 24/2006/HS-GĐT ngày 01/08/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Lương Hoàng Minh sinh ngày 23/05/1986, khi phạm tội là 17 tuổi 03 tháng 19 ngày; Nguyễn Thanh Phong sinh ngày 20/07/1987, khi phạm tội là 16 tuổi 01 tháng 12 ngày; Trang Duy Cường, sinh ngày 10/09/1988, khi phạm tội là 14 tuổi 11 tháng 22 ngày.
Ngày 03/09/2003, Công an tỉnh Tây Ninh nhận được báo cáo của Công an huyện Tân Biên với nội dung: tại kênh Tây thuộc ấp Suối Ông Đình, xã Trà Vong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát hiện chị Nguyễn Thị Bích Chi 16 tuổi bị giết rồi bỏ xuống kênh nước. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Quá trình điều tra xác định được như sau: sau hai lần bàn bạc việc giết người, cướp tài sản nhưng không thực hiện được, Lương Hoàng Minh, Nguyễn Thanh Phong và Trang Duy Cường bàn bạc giết chị Nguyễn Thị Bích Chi để cướp tài sản.
Thực hiện kế hoạch đã bàn, khoảng 19 giờ ngày 02/09/2003, Phong, Minh và Cường vào quán “Quế Chi” uống cà phê. Uống xong Cường và Phong ra trước, đến cống kênh Suối Ông Đình chờ Minh. Minh gọi tính tiền thì chị Chi tính tiền hết 10.500 đồng, Minh lấy tiền trả cho chị Chi 3.500 đồng còn thiếu 7.000 đồng, chị Chi không đồng ý. Minh bảo chị Chi lấy xe máy chở Minh đến gặp bạn lấy tiền trả; chị Chi lấy xe máy chở Minh đến kênh Suối Ông Đình gặp Cường và Phong. Cường và Phong nói không có tiền thì Minh bảo chị Chi đi theo vào nhà anh Hai lấy tiền, chị Chi đồng ý. Minh, Cường và Phong đi lên bờ kênh Tây, còn chị Chi chạy xe máy theo sau. Đi được khoảng 200m thì Minh nói nhà đóng cửa không mượn được tiền, để ngày mai trả. Liền lúc đó Phong dùng tay bóp cổ chị Chi lôi ra khỏi xe máy, rồi cùng Minh vật chị Chi ngã xuống đất và lôi vào lề đường vừa đè lên người vừa bóp cổ chị Chi, còn Cường đứng cảnh giới. Khi thấy chị Chi không cử động nữa, thì Minh lấy 01 đôi bông tai, 05 vòng simen; Phong lấy 01 dây chuyền; Cường lấy 01 đồng hồ, 01 lắc vàng của chị Chi. Lúc này có ánh đèn xe máy từ xa, Cường nói “có đèn xe tụi bay ơi” đồng thời mở khoá xe máy, Minh bế chị Chi lên xe máy để Cường điều khiển chở Phong, chị Chi và Minh bỏ chạy. Chạy được khoảng 200m thì Cường dừng xe lại và phát hiện chị Chi còn thở, liền nói giết cho chết rồi vứt xác xuống kênh. Minh, Phong tiếp tục bóp cổ chị Chi chết hẳn rồi vứt chị Chi xuống kênh. Sau đó Minh điều khiển xe máy chở Phong và Cường về thị trấn Tân Biên vào quán của chị Trần Thị Phượng uống cà phê. Uống xong Minh nói không có tiền trả và thế lại sợi dây chuyền giá 250.000 đồng cho chị Phượng, chị Phượng đồng ý trừ tiền uống cà phê còn lại đưa cho Minh 230.000 đồng. Lúc này Cường đòi về nhà, Minh lấy trong túi của Cường 01 đồng hồ, 01 lắc vàng và đưa cho Cường
100.000 đồng cùng xe máy, Cường đến nhà ông ngoại là Lê Văn Thiết chơi, đến ngày 05/09/2003 thì bị bắt. Phong và Minh trốn sang Căm Pu Chia, Minh bán 05 vòng Simen và 01 lắc vàng được 600.000 đồng, còn đồng hồ cho 01 người phụ nữ không quen biết. Đến ngày 07/09/2003 Phong và Minh bị Cảnh sát Căm Pu Chia bắt. Tài sản thu hồi được gồm xe máy, dây chuyền và 01 đôi bông tai, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện hợp pháp của người bị hại.
Tại Bản giám định pháp y số 261/GĐPY ngày 03-9-2003, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyễn Thị Bích Chi chết trong tình trạng bị bóp cổ. Trong quá trình điều tra, Lương Hoàng Minh, Nguyễn Thanh Phong và Trang Duy Cường còn khai nhận một số vụ trộm cắp như sau: Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Khoảng 20 giờ ngày 20/11/2002, Minh đến quán của ông Lê Phước Huy uống cà phê. Thấy xe máy cúp 50/70 của ông Huy không có người trông coi, Minh lấy đem đến nhà dì ruột là Nguyễn Thị Tám nhờ bán, sau đó Tám gọi điện cho Nguyễn Thị Ngọ (mẹ của Minh) bàn việc bán xe, được Ngọ đồng ý. Ngày 21/11/2002 Tám đưa xe đến nhà anh Nguyễn Dạ Thảo nói xe không có giấy tờ hợp lệ và nhờ bán giùm với giá 1.500.000 đồng. Anh Thảo đã mua và Tám cho anh Thảo 50.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe máy, nhưng xe không có giấy tờ nên tạm giữ chờ xử lý.
Tháng 06/2003, Phong và Cường vào chòi của anh Phạm Duy Thanh bắt trộm được 09 con gà, bán được 120.000 đồng.
Tháng 08/2003, Cường cùng Nguyễn Thanh Hiền trộm cắp của anh Phạm Duy Thanh 01 máy bơm nước, của bà Võ Thị Minh Triết 01 máy bơm nước. Cường cùng Hiền nhờ anh Nguyễn Văn Hải bán 01 máy bơm được 250.000 đồng, nhưng Hải chỉ đưa cho Cường và Hiền 80.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu hồi được máy bơm trả cho anh Thanh.
Cuối tháng 08/2003, Phong lấy xe máy Honda 67 của gia đình rồi rủ Cường đến nhà Minh Chơi. Cường nói với Minh “mấy hôm trước lấy trộm được 01 máy bơm nước giấu ở vườn nhãn, bây giờ vào lấy bán”. Minh đồng ý và chở Cường đến lấy rồi đến hiệu cầm đồ của chị Nguyễn Kim Liên cầm được 100.000 đồng. Trên đường đi xe bị hỏng, anh Đoàn Thanh Tuấn sửa hết 50.000 đồng, do không có tiền trả nên Phong thế xe cho anh Tuấn lấy 500.000 đồng. Cơ quan điều tra thu hồi máy bơm nước trả cho chị Triết và tạm giữ xe máy nói trên.
Khi phạm tội Minh 17 tuổi 03 tháng 19 ngày; Phong 16 tuổi 01 tháng 12 ngày; Cường 14 tuổi 11 tháng 22 ngày; Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Minh, Phong và Cường về tội “giết người” và xử phạt Minh 18 năm tù, Phong 18 năm tù và Cường 12 năm tù là mức án cao nhất đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự. Mặc dù các bị cáo phạm nhiều tội, nhưng khi tổng hợp hình phạt Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều tội bằng hình phạt đối với tội giết người là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật hình sự [39].
- Về phần trách nhiệm dân sự Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đối với Minh, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không đưa cha, mẹ của bị cáo tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị cáo và có trách nhiệm bồi thường là không đúng theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 (Hay đoạn 2, khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015).
Đối với Cường và Phong, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều buộc các bị cáo cùng cha, mẹ bồi thường là không chính xác. Cường khi phạm tội chưa đủ mười lăm tuổi, thì theo quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 (Hay đoạn 1 khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015), cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà bị cáo có tài sản riêng, thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Phong khi phạm tội 16 tuổi 01 tháng 12 ngày, thì theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 (Hay đoạn 2 khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015) bị cáo phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình; nếu bị cáo không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại, thì cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho người bị hại là không đúng.
Bởi các lẽ trên, huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 695/2005/HSPT ngày 26/04/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về phần dân sự: “buộc bị cáo Minh phải bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại (ông Nguyễn Văn Chánh): 11.417.600 đồng; buộc bị cáo Phong cùng đại diện hợp pháp bị cáo Phong (ông Nguyễn Ngọc Ánh) phải bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại ông Nguyễn Văn Chánh 11.417.600 đồng; buộc Cường cùng đại diện hợp pháp bị cáo Cường (ông Trang Văn Cu) phải bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại ông Nguyễn Văn Chánh 11.417.600 đồng” và huỷ bản hình sự sơ thẩm số 264/HSST ngày 11/11/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh phần trách nhiệm dân sự và án phí: “buộc bị cáo Minh bồi thường cho gia đình bị hại ông Nguyễn Văn Chánh 8.893.900 đồng; buộc bị cáo Phong cùng gia đình ông Nguyễn Ngọc ánh bồi thường cho gia đình bị hại ông Nguyễn Văn Chánh 8.893.900 đồng; buộc bị cáo Cường cùng gia đình ông Trang Văn Cu bồi thường cho gia đình bị hại ông Nguyễn Văn Chánh 7.325.000 đồng; án phí: bị cáo Minh chịu 444.690 đồng, Phong chịu 444.690 đồng, Cường chịu 366.250 đồng án phí sơ thẩm dân sự”. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh [39].
Như vậy, theo quy định của bộ luật dân sự 2015 thì đối với con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại phải tự bồi thường bằng tài sản của mình, và nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Đây là hướng giải quyết trong vụ việc vừa nêu vì Hội đồng thẩm phán xét rằng “Phong khi phạm tội 16 tuổi 01 tháng 12 ngày, thì theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 (đoạn 2, khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015) bị cáo phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình; nếu bị cáo không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại, thì cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”. Với quy định này, chúng ta cần phải xác định tài sản của con và của cha, mẹ để tùy từng trường hợp quy trách nhiệm bồi thường đối với cha, mẹ, nhất là trường hợp con chưa thành niên gây thiệt hại khi đã đủ mười lăm tuổi. Đối với vụ việc vừa nêu, cha, mẹ chỉ phải chịu trách nhiệm khi con “không đủ tài sản để bồi thường” nên, trước khi quy trách nhiệm cho cha, mẹ, Tòa án phải xác định được con không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không đủ để bồi thường. Vậy, khi con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì Tòa án không thể buộc người này bồi thường nếu chưa xác minh rằng họ có đủ tài sản hay không. Bởi lẽ, nếu chúng ta chưa xác định được người gây thiệt hại có đủ khả năng tự thực hiện trách nhiệm bồi thường mà đã tuyên họ phải bồi thường thì có thể dẫn đến trường hợp là sau khi tuyên án chúng ta mới biết người này không có điều kiện thực hiện. Và do đó phải xét lại vụ việc để tuyên cha, mẹ bồi thường, lúc đó sẽ lại mất thêm thời gian. Cách giải quyết như vậy của Tòa án làm tránh kéo dài vụ việc gây bất tiện cho người được bồi thường và đáp ứng được nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
Hướng giải quyết trong vụ việc vừa nêu là thuyết phục và phù hợp với quy định của pháp luật dân sự, vì bộ luật dân sự quy định trách nhiệm bồi thường hoặc của con chưa thành niên, hoặc của cha, mẹ và điều này phụ thuộc vào độ tuổi cũng như tài sản để bồi thường. Điều đó có nghĩa là khi cha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thì chỉ có cha, mẹ chịu trách nhiệm và Tòa án không thể buộc con và cha, mẹ cùng bồi thường. Theo Hội đồng Thẩm phán: “Đối với Cường và Phong, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều buộc các bị cáo cùng cha, mẹ bồi thường là không chính xác. Cường khi phạm tội chưa đủ mười lăm tuổi, thì theo quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015, cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà bị cáo có tài sản riêng, thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Phong khi phạm tội 16 tuổi 1 tháng 12 ngày, thì theo quy định tại đoạn 2, khoản 2 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 bị cáo phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình; Nếu bị cáo không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại, thì cha, mẹ của bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Vậy, theo Hội đồng Thẩm phán, không thể buộc cha, mẹ cùng con bồi thường thiệt hại do con gây ra. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Qua đó rút ra kết luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây thiệt hại của người chưa thành niên:
- Thứ nhất:
Trách nhiệm của cha, mẹ trong pháp luật phong kiến quy định trong phạm vi rất hẹp (trường hợp con cái ăn trộm, cướp) còn dân luật hiện đại quy định trên phạm vi rộng hơn nhiều: Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tất cả các hành vi mà con chưa thành niên đã gây ra cho người khác trong đời sống hàng ngày [18, tập 2, tr. 113].
- Thứ hai:
Mặc dù văn bản không thể hiện rõ: Người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm bồi thường vẫn thuộc về người đó. Còn việc người nào có nghĩa vụ dùng tài sản của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại để bồi thường cho người bị thiệt hại chỉ được xem như một biện pháp thực hiện việc bồi thường mà không thể hiểu đó là trách nhiệm về dân sự về tài sản của người thực hiện việc bồi thường đó [31, tr.110].
- Thứ ba:
Trách nhiệm của cha, mẹ là trách nhiệm thay cho con khi các điều kiện trên hội đủ. Do đó, sau khi bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, cha, mẹ được quyền quay sang yêu cầu con hoàn trả [18, tập 2, tr.113].
2.2.3. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi gây thiệt hại của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần [29, Điều 22]. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thực, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ [29, Điều 23].
Khi người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại cho người khác thì không đặt ra vấn đề trách nhiệm bồi thường đối với họ mà trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về người giám hộ hoặc bệnh viện, tổ chức khác có trách nhiệm quản lý người mất năng lực hành vi dân sự.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại
Theo bộ luật dân sự 2015, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hai đối tượng được liệt kê tại khoản 1 Điều 47 quy định về người được giám hộ. Theo khoản 2 Điều 48 bộ luật này:
Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định vừa nêu thì căn cứ vào Điều 53 bộ luật dân sự 2015, người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
- Trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên như các trường hợp trên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Còn đối với trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu. Trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của bộ luật dân sự 2015, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 vừa nêu trên. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ [29, Điều 54].
- Về trách nhiệm bồi thường của người giám hộ, khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 quy định:
… Người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Ở đây, người giám hộ chỉ phải dùng tài sản của mình để bồi thường thiệt hại do người được giám hộ gây ra khi đáp ứng hai điều kiện sau: Thứ nhất, người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường; Thứ hai, người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ. Vậy, khi người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì người giám hộ sẽ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại mà người được giám hộ gây ra. Nếu tài sản của người được giám hộ không đủ để bồi thường thì người giám hộ sẽ phải dùng tài sản của mình để bồi thường trừ trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xét vụ án về bồi thường thiệt hại do người không có nhận thức gây ra – Bản án số 25/2016/DS-PT ngày 25/01/2016 của TAND tỉnh Đồng Nai: Hội đồng xét xử nhận định ông Cảnh khởi kiện ông San và bà Tấn là cha, mẹ của Phúc, yêu cầu bồi thường thiệt hại do Phúc gây ra cho ông Cảnh. Các đương sự cung cấp cho Tòa án bản Kết luận giám định pháp y tâm thần Trung ương – Phân viện phía Nam xác định anh Phúc bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ có tật chứng về hành vi cần được điều trị, chứ chưa cung cấp được quyết định của Tòa án tuyên bố anh Phúc bị mất năng lực hành vi dân sự, nên chưa thể xác định ông San, bà Tấn là người giám hộ và là người đại diện cho anh Phúc được. Mặt khác theo biên bản giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị số 274/PYTT-PVPN ngày 29/07/2014, kết luận Phúc hiện đã ổn định không cần phải tiếp tục điều trị bắt buộc. Hơn nữa, ông San và bà Tấn không chấp nhận bồi thường thay anh Phúc, vậy không thể xác định ông San và bà Tấn là người phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Cảnh.
Nguyên nhân dẫn đến hành vi của anh Phúc gây thiệt hại cho sức khỏe của ông Cảnh là do ông Cảnh có hành vi xúc phạm và đánh bà Tấn (mẹ anh Phúc), nhưng Tòa án sơ thẩm đánh giá ông Cảnh chỉ có 1/5 lỗi trong việc dẫn đến hành vi của anh Phúc gây ra thương tích cho ông Cảnh là không tương xứng.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng, đồng thời chưa làm rõ một số vấn đề xác định lỗi của các đương sự trong vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.
Có thể thấy Tòa án có xu hướng khai thác các quy định về giám hộ để quy trách nhiệm cho người giám hộ. Theo Tòa án cấp sơ thẩm, người giám hộ cho Phúc là ông San và bà Tấn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và là bị đơn trong vụ án. Khi xác định người giám hộ chịu trách nhiệm, Tòa án cấp sơ thẩm có nêu rằng ông Phúc là người không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, không có tài sản nhưng ông San và bà Tấn có lỗi trong việc giám hộ cho ông Phúc, để ông Phúc có hành vi gây thiệt hại cho ông Cảnh nên ông San, bà Tấn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Cảnh”. Liên quan đến điều kiện về tài sản, đánh giá này của Tòa án có thể chấp nhận được nhưng liên quan đến yếu tố lỗi của người giám hộ, Tòa án vẫn chưa thực sự rõ và đây chính là điểm không thuyết phục của Tòa án cấp sơ thẩm.
Để áp dụng điều kiện buộc người giám hộ bồi thường, người gây thiệt hại phải là người được giám hộ. Như các quy định ở trên đã phân tích, một người không có khả năng nhận thức thì chưa đủ để được coi là người được giám hộ, một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự và trở thành người được giám hộ khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Vụ việc này chưa có thông tin cho phép khẳng định Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nên hướng áp dụng các quy định về giám hộ là chưa phù hợp với pháp luật dân sự. Đây cũng chính là điểm được Tòa án phúc thẩm khai thác, cụ thể Tòa án phúc thẩm cho rằng chưa cung cấp được quyết định của Tòa án tuyên bố anh Phúc bị mất năng lực hành vi dân sự, nên chưa thể xác định ông San, bà Tấn là người giám hộ và là người đại diện cho anh Phúc. Từ đó Tòa phúc thẩm xác định “Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng” nên đã quyết định hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Hướng của Tòa phúc thẩm là phù hợp, tuy nhiên có nhược điểm là ủng hộ sự vô trách nhiệm của người thân người mất khả năng nhận thức và buộc người bị thiệt hại chịu rủi ro từ sự vô trách nhiệm này. Bởi lẽ, họ biết người liên quan không có khả năng nhận thức và không yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự nên họ sẽ thoát khỏi các quy định về trách nhiệm của người giám hộ nêu trên và người bị thiệt hại không thể quy trách nhiệm cho người thân của người mất năng lực hành vi dân sự. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
BLDS 2005 (có hiệu lực ở thời điểm xảy ra vụ việc được bình luận) quy định theo hướng buộc người trực tiếp gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi thường và quy định đầu tiên liên quan đến chủ đề này là khoản 1 Điều 604, theo đó: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Với quy định này đòi hỏi có bốn điều kiện: Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra, có thể là thiệt hại về vật chất hoặc tổn thất về tinh thần, trong vụ việc được bình luận, điều kiện này đã hội đủ; Thứ hai, phải có hành vi trái pháp luật được hiểu là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật, điều kiện này cũng không gặp khó khăn khi xác định trong vụ việc được nêu; Thứ ba, có quan hệ nhân quả được hiểu là thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại, trong vụ việc này, thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật do người không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi gây ra, và cụ thể hành vi trái pháp luật của Phúc là nguyên nhân gây ra thiệt hại nên điều kiện thứ ba cũng được đáp ứng. Thứ tư, phải có lỗi cố ý (là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra) hoặc lỗi vô ý (là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được) của người gây thiệt hại. Trong vụ việc được bình luận, Phúc là người trực tiếp gây ra thiệt hại không có lỗi dù là vô ý vì Phúc không có khả năng nhận thức, do đó không thể căn cứ vào khoản 1 Điều 604 bộ luật dân sự 2005 để quy trách nhiệm cho người trực tiếp gây thiệt hại vì thiếu một điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Nói cách khác, điều khoản này được áp dụng cho người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Trong khi đó người gây thiệt hại trong vụ việc này là người không có khả năng nhận thức ở thời điểm gây thiệt hại nên nếu căn cứ vào điều khoản vừa nêu thì không thể quy trách nhiệm cho Phúc.
Thực ra bộ luật dân sự 2005 có quy định về trường hợp quy trách nhiệm cho một chủ thể mà không cần lỗi của người gây thiệt hại mà chỉ cần ba điều kiện đầu tiên. Theo khoản 2 Điều 604: “Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”. Tuy nhiên, ngoài quy định này, bộ luật dân sự 2005 lại không còn quy định nào của liên quan đến hoàn cảnh của vụ việc mà chúng ta đang nghiên cứu để quy trách nhiệm bồi thường cho người trực tiếp gây ra thiệt hại. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Có thể thấy các quy định nêu trên chưa cho phép buộc người không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, bộ luật dân sự 2005 tại khoản 3 Điều 606 (nay là khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015) đã manh nha quy định theo hướng buộc những người này bồi thường thiệt hại do chính họ gây ra: “… người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường”. Với quy định này, người được giám hộ gây thiệt hại là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra khi họ có tài sản để bồi thường. Ở đây, tài sản sử dụng để bồi thường là tài sản của người được giám hộ và người giám hộ chỉ là người đại diện người được giám hộ trong việc thực hiện trách nhiệm bồi thường. Nói cách khác, “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” – người được giám hộ, mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi có người giám hộ nếu họ có tài sản. Song, để áp dụng quy định này, phải đứng trước hoàn cảnh một người đã thành niên được giám hộ trong khi đó một người đã thành niên chỉ được coi là người được giám hộ khi đáp ứng một số điều kiện trong đó có điều kiện bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự như đã phân tích ở trên. Ở vụ việc được bình luận, chưa có thông tin cho phép khẳng định Phúc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Khi một người không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại và có người giám hộ thì pháp luật đã buộc họ bồi thường nên về mặt lý luận, khi họ chưa có người giám hộ (do chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự) càng có lý do buộc họ bồi thường thiệt hại do chính họ gây ra. Do đó, khi áp dụng bộ luật dân sự, chúng ta nên mạnh dạn buộc họ bồi thường để bảo vệ người bị thiệt hại.
Với bộ luật dân sự 2015, hướng xử lý các tình huống như trong vụ việc này sẽ đơn giản hơn, lúc này chúng ta có thể áp dụng trực tiếp các quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi của chính người gây thiệt hại gây ra. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, theo đó không đòi hỏi yếu tố lỗi, tức là không phụ thuộc vào khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của người gây thiệt hại nữa, mà chỉ yêu cầu có hành vi xâm phạm, có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, nên khi áp dụng vào hoàn cảnh người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại, chúng ta có thể quy trách nhiệm trực tiếp cho cá nhân gây thiệt hại. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bệnh viện, tổ chức khác đối với người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại
Người mất năng lực hành vi dân sự trong thời gian đang điều trị tại bệnh viện hoặc đang được quản lý bởi một pháp nhân có chuyên môn, nghiệp vụ mà có hành vi gây thiệt hại thì bệnh viện hoặc pháp nhân đang trực tiếp quản lý người mất năng lực hành vi dân sự đó có trách nhiệm bồi thường. Tại khoản 2 Điều 599 bộ luật dân sự 2015 đã quy định rõ: “Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra”. Quy định này có ý nghĩa trong công tác nâng cao trách nhiệm của bệnh viện, pháp nhân khác trong việc tăng cường quản lý người bị mất năng lực hành vi dân sự bởi đây là đối tượng đặc biệt cần có sự quản lý, giám sát thường xuyên.
Trách nhiệm của bệnh viện, pháp nhân khác trong trường hợp này được xác định căn cứ vào thời điểm gây thiệt hại của người mất năng lực hành vi dân sự là thời điểm người đó đang chịu sự quản lý của các pháp nhân này. Trách nhiệm của bệnh viện, pháp nhân khác chỉ được loại trừ nếu họ “chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý”. Khi đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cha, mẹ, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 3 Điều 599 bộ luật dân sự 2015: “… bệnh viện, pháp nhân khác… không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của … người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”. Xem lại khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 quy định trong trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường và người giám hộ cũng chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết như thế nào? Có thể thấy trong trường hợp này người bị thiệt hại sẽ phải chịu rủi ro.
- Trường hợp người phải bồi thường mất khả năng nhận thức, chết
Trong thực tế không hiếm trường hợp người có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do mình gây ra bị mất khả năng nhận thức hay chết ngay sau khi gây ra thiệt hại hoặc sau đó một thời gian. Tức là khi gây thiệt hại thì người gây thiệt hại trong tình trạng bình thường, nhưng sau đó bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hoặc chết.
Xét vụ án người phải bồi thường mất khả năng nhận thức – Bản án số 06/2009/DSST ngày 19/02/2009 của TAND thành phố Đồng Hới. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo bà Trìa trình bày, năm 2002 bà mua một mảnh đất của bà Liên, sau đó trồng cây lâu năm, và xây tường rào bao quanh trên khu đất đó. Năm 2004 ông Thân và bà Hoa vô cớ chiếm dụng và cho rằng đất đó là của bà Hoa, ông Thân, nên ông Thân đã chặt cây cối, cùng như pháp tường rào mà bà Trìa xây. Cụ thể, ngày 11/04/2007, lần đầu tiên ông Thân đập pháp cây cối hoa màu, làm hư hỏng tài sản của bà Trìa là 7.020.056 đồng. Nay bà Trìa yêu cầu ông Thân bồi thường số thiệt hại trên.
Ông Thân, bà Hoa không đồng ý yêu cầu của bà Trìa, bởi việc bà Trìa bị chặt cây trong vườn, và đập tường rào đều không có biên bản do vợ chồng ông bà ký vào xác nhận, bà Trìa đã vu khống không có cơ sở.
Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi xem xét tài liệu trong hồ sơ vụ án, thể hiện ở biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập ngày 12/04/2007 tại công an phường Bắc Lý, đã xác định được ông Thân chặt pháp cây cối của bà Trìa và cũng tại bản tường trình ngày này, bà Hoa vẫn thừa nhận chồng bà là ông Thân đến chặt cây của bà Trìa với lý do là bà Trìa lấn đất của vợ chồng ông Thân bà Hoa. Tại biên bản sự việc ngày 10/02/2007 đã xác định được ông Thân đến đập hàng rào nhà bà Trìa, tại biên bản ghi lời khai của bà Hoa lập ngày 06/09/2007 tại công an thành phố Đồng Hới, bà Hoa thừa nhận vì ông Phúc bức xúc chuyện tranh chấp đất, nên có đập tường rào nhà bà Trìa, tại biên bản ghi lời khai của ông Thân, ông thừa nhận do không kiềm chế được bản thân nên đã chặt cây nhà bà Trìa.
Như vậy đã xác định được ông Thân có chặt cây và đập pháp tường rào của bà Trìa, nguyên nhân là do hai bên có tranh chấp nhau mảnh đất mà hiện nay bà Trìa đang sử dụng, nay bà Trìa yêu cầu ông Thân bồi thường thiệt hại các loại tài ản như biên bản định giá ngày 06/08/2007, ông thân, bà Hoa, bà Trìa cũng không yêu cầu Tòa án định giá tài sản lại, hai bên nhất trí về giá theo biên bản mà Hội đồng đã định. Hội đồng xét xử căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/04/2007 và biên bản làm việc ngày 31/07/2007 để xác định các loại tài sản mà ông Thân chặt phá của bà Trìa, tổng cộng: 3.296.000 đồng. Ngoài ra bà Trìa có yêu cầu bồi thường các cây khác nhưng không có cơ sở nên bác yêu cầu. Bà Trìa có nại rằng các con ông Thân cùng chặt pháp, nhưng không xác định được các con ông Thân chặt, nên ông Thân phải chịu trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho bà Trìa. Nhưng hiện nay ông Thân bị bệnh tâm thần phân liệt, nên buộc người giám hộ của ông Thân là bà Hoa phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Trìa thay cho ông Thân. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
BLDS 2015 không thực sự quy định rõ về cơ chế thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người gây thiệt hại có tình trạng bình thường khi gây thiệt hại, nhưng sau đó không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Nếu coi việc bồi thường thiệt hại là một giao dịch dân sự thì theo khoản 2, Điều 22, bộ luật dân sự 2015: “giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”. Trong vụ việc này, Tòa án xác định “ông Thân bị bệnh tâm thần phân liệt” nhưng không có thông tin nào cho thấy Tòa án đã tuyên ông Thân bị mất năng lực hành vi dân sự, nên khó có thể áp dụng trực tiếp quy định trên. Mặc dù vậy, Tòa án xét: “người giám hộ của ông Thân là bà Hoa là vợ của ông Thân phải có trách nhiệm bồi thường số thiệt hại tài sản trên cho bà Trìa” và quyết định rằng “buộc bà Hoa là người giám hộ bồi thường thay cho ông Thân”. Giả sử ông Thân bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự sau khi gây thiệt hại thì bà Hoa là người giám hộ, nhưng thiệt hại phát sinh trước khi có việc giám hộ, vì thế chưa thể phát sinh yếu tố lỗi của người giám hộ, vậy bà Hoa sẽ không phải chịu trách nhiệm trên cơ sở khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015. Đối với hoàn cảnh như vậy, thiết nghĩ Tòa án nên theo hướng người giám hộ thực hiện nghĩa vụ bồi thường bằng tài sản của người được giám hộ, nếu người được giám hộ không có tài sản thì người giám hộ không có trách nhiệm dùng tài sản của mình, bởi lẽ người giám hộ không có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này.
Vậy với trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường chết thì xử lý thế nào. Khi một cá nhân chết thường để lại nghĩa vụ mà họ phải thực hiện với người khác. Trong một số trường hợp, khi cá nhân chết thì nghĩa vụ của họ chấm dứt, điều này được quy định tại khoản 8 Điều 372 bộ luật dân sự 2015: “bên có nghĩa vụ là cá nhân chết… mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân đó thực hiện”. Ví dụ như A nhận thiết kế và may một chiếc váy cưới cho B, A chưa hoàn thiện xong bức tranh thì chết, công việc này là một nghĩa vụ do chính A thực hiện, gắn liền với cá nhân của A nên khi A chết thì nghĩa vụ của A chấm dứt. Do nghĩa vụ này gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ nên không thể chuyển giao cho người thừa kế, và vì thế mà nghĩa vụ chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết. Như vậy, nghĩa vụ không mang tính nhân thân, tức là không phải do chính cá nhân có nghĩa vụ thực hiện thì không chấm dứt và cần phải thực hiện, ngay cả khi người đó đã chết. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân không phải là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ mà là một nghĩa vụ về tài sản, nên nghĩa vụ này sẽ không đương nhiên chấm dứt. Tại Điều 658 bộ luật dân sự 2015 có nêu một số loại nghĩa vụ về tài sản của người chết và có liệt kê khoản bồi thường thiệt hại, và việc thực hiện trách nhiệm bồi thường như thế nào sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật về thừa kế và các chế định liên quan.
Như vậy, đối với trường hợp cá nhân bị mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi hoặc chết sau khi gây ra thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh.
2.2.4. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi gây thiệt hại của người dùng chất kích thích gây ra Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Cá nhân chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình khi họ có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi đó. Do đó, nếu người gây thiệt hại rơi vào trường hợp không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng đối với người tự mình dùng chất kích thích, tự đưa mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại cho người khác.
Khoản 1 Điều 596 bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường”. Theo đó, nếu người gây thiệt hại đã tự mình uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác và tự đưa mình vào trạng thái mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, tức là tại thời điểm gây thiệt hại họ không có nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện, tuy nhiên trước khi uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác, bản thân họ có nhận thức về việc sử dụng chất kích thích cũng như hậu quả của việc sử dụng chất kích thích, vì vậy bị coi là có lỗi khi đã để mình rơi vào tình trạng đó. Vậy việc buộc họ phải hoàn toàn gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phù hợp.
Theo khoản 2 Điều 596 bộ luật dân sự 2015, trường hợp một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Và người này phải cố ý về cả ý chí và hành vi, tức là bản thân họ mong muốn người khác sử dụng chất kích thích và dùng mọi biện pháp để đưa chất kích thích vào cơ thể của người khác (đổ rượu, chất kích thích khác vào miệng, cưỡng bức tiêm vào người khác chất kích thích) làm cho người này không thể phản kháng. Cần lưu ý trường hợp cá nhân sử dụng một điểm lợi thế của mình như địa vị xã hội, vị trí công tác, quan hệ bất bình đẳng, … để buộc người khác sử dụng rượu hoặc chất kích thích khác sẽ không bị coi là cố ý theo quy định này. Chẳng hạn như vì A là sếp của B, A đe dọa B phải uống rượu nếu không sẽ sa thải B nên B đã uống say và gây thiệt hại cho C. Trường hợp này trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn thuộc về B, bởi vì B có sự tự do về mặt ý chí tại thời điểm sử dụng rượu, B có thể từ chối uống rượu khi bị A ép buộc.
Xét vụ án bồi thường thiệt hại do người dùng rượu, chất kích thích gây ra – Bản án số 1552/2008/DS-ST ngày 26/12/2008 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 22/06/2007, ông Huy điều khiển xe Honda DD 70 biển số 50L_0247, chủ sở hữu phương tiện là ông Huấn – cha ông Huy, lưu thông trên đường bờ kênh Nhiêu Lộc theo hướng từ Tân Bình về Quận 3, rẽ phải vào đường Rạch Bùng Binh. Khi đến ngã ba Rạch Bùng Binh – Bà Huyện Thanh Quan khoảng 10 m, có bật đèn báo hiệu xin rẽ trái thì bị ông Đạt điều khiển xe gắn máy hiệu Astrea 100 cc, biển số 52 U2 – 7346 (chủ sở hữu là Phương) đi trên đường Rạch Bùng Binh theo hướng về đường Nguyễn Văn Trỗi, ngược chiều với ông Huy từ bên trái đường Bùng Binh lao qua bên phải đường này và đâm thẳng vào xe của ông Huy, ông Huy bị văng ra khỏi xe và ngất xỉu, còn ông Đạt trong tình trạng say rượu chỉ bị trày sước. Ông Đạt gọi người nhà đến chơi đi nơi khác, còn ông Huy được nhân dân xung quanh đưa đi cấp cứu.
Hậu quả ông Huy bị chấn thương đầu, gãy nát xương bàn chân phải, rách nát thịt bàn chân và cổ chân phải, gãy xương bàn tay phải, bị nhiều vết thương trên mặt, đầu gối, tay. Theo kết luận giám định pháp y, tỷ lệ thương tật là 19%. Ông Huy phải nghỉ học hơn 4 tháng, xe Honda bị bể lốc máy. Ông Đạt có đưa tiền thuốc cho ông Huy là 1.000.000 đồng ngày 17/08/2007, ông Đạt có cam kết bồi thường tiền thuốc, tiền sửa xe, tiền lưu kho cho ông Huy tại đội xử lý tai nạn giao thông công an Quận 3, nhưng sau đó ông Đạt thay đổi ý kiến. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đây là vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại, Tòa sơ thẩm giải quyết là đúng thẩm quyền, do ông Đạt kháng cáo nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa cấp phúc thẩm. Tiền sửa xe là 2.000.000 đồng, ngoài ra khoản tiền 16.200.000 đồng là khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Do ông Huy còn đang đi học, chưa có thu nhập, tai nạn xảy ra ít nhiều có ảnh hưởng đến tinh thần của ông Huy. Xét thấy số tiền sửa xe là phù hợp với tỷ lệ hư hỏng của xe và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho ông Huy là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Tòa án tuyên chấp nhận y án sơ thẩm và bác yêu cầu kháng cáo của ông Đạt, buộc ông Đạt phải có trách nhiệm trả tiền bồi thường thiệt hại và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Huy tổng cộng là 23.557.600 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong thực tiễn rất nhiều trường hợp phát sinh từ việc một người dùng rượu hay chất kích thích gây ra và vụ án được bình luận ở đây cho thấy việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như mức bồi thường có những đặc thù mà chúng ta nên phân tích. Trên cơ sở khoản 1 Điều 584 bộ luật dân sự 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; Có thiệt hại xảy ra; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Dựa vào căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như đã phân tích ở Chương I, khi người dùng rượu, chất kích thích gây ra thiệt hại thì chúng ta không gặp khó khăn trong việc xác định ba điều kiện này. Về hành vi trái pháp luật: Ông Đạt trong tình trạng say rượu đã đâm thẳng vào xe của ông Huy; Về điều kiện có thiệt hại xảy ra: Ông Huy bị chấn thương với tỷ lệ thương tật là 19 %; Về điều kiện mối quan hệ nhân quả: Thiệt hại xảy ra đối với ông Huy (bao gồm tiền sửa chiếc xe, tiền thuốc, phục hồi về mặt vật chất và tinh thần cho ông Huy sau khi bị chấn thương) là kết quả tất yếu của hành vi ông Đạt đâm vào ông Huy, và ngược lại, hành vi đâm xe của ông Đạt là nguyên nhân dẫn tới thiệt hại. Vậy, viện dẫn quy định đặc thù tại khoản 1 Điều 596 bộ luật dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra là thuyết phục để kết luận ông Đạt gây thiệt hại khi say rượu và lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình, từ đó có thể quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Đạt. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong vụ việc này, có thể thấy ông Đạt gây thiệt hại cho người khác khi trong tình trạng say rượu, nhưng chúng ta không rõ nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng những người này say rượu. Với quy định tại khoản 2 Điều 596 bộ luật dân sự 2015, nếu có cơ sở chứng minh được rằng ông Đạt bị người khác cố ý chuốc rượu và lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi khi gây thiệt hại thì người làm cho ông Đạt lâm vào tình trạng nêu trên sẽ phải bồi thường. Liên quan đến việc áp dụng điều khoản này có một số điểm cần lưu ý:
Chúng ta biết được ông Đạt trong tình trạng say rượu và không rõ nguyên nhân dẫn tới việc say rượu. Trong thực tế, việc xác định người bị ép uống rượu, hoặc dùng chất kích thích khác gây thiệt hại đã bị mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi hay chưa là một vấn đề rất khó khăn. Bởi thể trạng, khả năng uống nhiều hay ít của mỗi người là khác nhau, thậm chí một người uống cùng một lượng rượu nhưng có thể lúc này say, lúc khác lại không say, điều này còn phụ thuộc vào sức khỏe và nhiều yếu tố khác của người đó trong từng thời điểm. Do vậy, chúng ta nên theo hướng nếu không có chứng cứ khác thì suy luận người say rượu hay dùng chất kích thích khác là do tự bản thân họ, nên áp dụng khoản 1 Điều 596.
Trong trường hợp có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 596 bộ luật dân sự 2015 thì người làm cho người khác mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi phải bồi thường thiệt hại, và câu hỏi đặt ra là người này có cùng người trực tiếp gây thiệt hại bồi thường không? Có quan điểm cho rằng người gây thiệt hại không phải bồi thường mà người ép buộc, cưỡng bức họ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Điều 596 không quy định rõ rằng loại trừ trách nhiệm của người trực tiếp gây thiệt hại và hoàn toàn có thể kết hợp khoản 1 và khoản 2 điều luật này để quy trách nhiệm liên đới giữa người trực tiếp gây thiệt hại và người làm cho người gây thiệt hại mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Mục đích cuối cùng để bảo vệ người bị thiệt hại và trong trường hợp người trực tiếp gây thiệt hại bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, theo yêu cầu của người bị thiệt hại thì họ có thể đòi người làm cho họ mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi bồi hoàn.
Cũng giống như quy định tại Điều 615 bộ luật dân sự năm 2005, Điều 596 bộ luật dân sự năm 2015 cũng không đề cập đến trường hợp một người vô ý dùng chất kích thích làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi gây thiệt hại. Ví dụ, bác sĩ kê nhầm thuốc cho bệnh nhân, khiến bệnh nhân bị rối loạn nhận thức gây thiệt hại cho người khác. Trong trường hợp này, ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Rõ ràng theo quy định tại Điều luật này, người sử dụng chất kích thích có lỗi vô ý nên không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo khoản 2. Đối với người gây thiệt hại, bản thân họ không có nhận thức tại thời điểm gây thiệt hại, đồng thời họ không có lỗi trong việc sử dụng chất kích thích dẫn đến mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, nên nếu buộc họ phải bồi thường cũng không phù hợp và hiện tại cũng không có cơ sở. Tuy nhiên, nếu người bị thiệt hại không được bồi thường sẽ không phù hợp với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật này cũng như các nguyên tắc chung của Luật dân sự. Theo quan điểm của chúng tôi, nên quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có lỗi vô ý dùng chất kích thích làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại. Tức là khoản 2 Điều này nên được sửa đổi theo hướng bỏ hai từ “cố ý” để đảm bảo sự phù hợp với căn cứ chung được quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật này [40].
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong chương 2 tác giả đã sơ lược được về tiến trình phát triển của quy định pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân từ thời kỳ phong kiến đến nay, và đã đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân do hành vi trái pháp luật của cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự gây ra theo pháp luật hiện hành.
- Thứ hai, năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân do hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên gây ra theo pháp luật hiện hành.
- Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân do hành vi gây thiệt hại của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân do tài sản của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây ra.
Cùng với việc phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đã có đưa ra một số bản án về những trường hợp cụ thể để có thể dễ nhìn nhận về thực tiễn áp dụng quy định hiện hành về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, chỉ ra những ưu điểm đã đạt được cũng như điểm còn thiếu sót, bất cập. Qua đó làm cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tại chương 3 – Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân