Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực thi các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam về minh bạch dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Theo nguyên tắc, ngoài những quy định chung của WTO mà tất cả các thành viên đều phải thực hiện, các quốc gia xin gia nhập còn phải thực hiện những cam kết của mình trong quá trình đàm phán (“WTO+ hay WTO plus”). Do vậy, nghiên cứu nghĩa vụ của Việt Nam trong việc thực thi các quy định của WTO về minh bạch cần phải gắn liền với các cam kết của Việt Nam về minh bạch trong quá trình đàm phán gia nhập. Sau 5 năm, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, kết quả thực hiện những cam kết về minh bạch được phân tích dưới đây.
3.1. KHÁI QUÁT MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
3.1.1. Lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
3.1.1.1. Đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc lấy ý kiến
Ngay trong quá trình đàm phán, chuẩn bị gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng công khai, minh bạch. Để điều chỉnh hoạt động này, năm 2009, Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở tổng kết thực tiễn, pháp điển hóa các quy định dưới luật. Đồng thời, để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật, ngày 23 tháng 9 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/CP. Sự ra đời của hai văn bản này là dấu mốc quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật ở nước ta. Luật năm 2009 và Nghị định số 101/CP là cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh tiến trình, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn này theo yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, hai văn bản này đã có những quy định cụ thể về lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Trong năm 2014, Quốc hội tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2005 và ban hành mới các đạo Luật về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước, thay thế các đạo luật tương ứng trước đó, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Cũng trong năm này, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (trong đó có một số cam kết về minh bạch quá trình xây dựng và thực thi pháp luật).
Để phù hợp với các văn bản nói trên, năm 2015, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2009. Đồng thời, ngày 27 tháng 12 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật năm 2009 và Luật sửa đổi, bổ sung 2015, thay thế Nghị định số 101/CP. Các quy định về lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được duy trì; đồng thời, đã bổ sung trong các văn bản này một số quy định mới, đảm bảo hơn tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như: quy định rõ hơn về trình tự, thủ tục, thời hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình lấy ý kiến.
Mặc dù đã có những quy định khá đầy đủ, cụ thể về việc tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhưng Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015 và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP vẫn còn quy định có tính chất tùy nghi, chưa xác định rõ việc lấy ý kiến là trách nhiệm của các cơ quan đối với tất cả các văn bản (trừ văn bản mật hoặc trong trường hợp khẩn cấp); thời hạn lấy ý kiến, mặc dù đã được kéo dài hơn so với trước đó nhưng chưa đủ dài, phù hợp với mọi đối tượng; chưa có quy định về trách nhiệm phải tổng hợp ý kiến theo từng loại đối tượng góp ý kiến; chưa có quy định về đánh giá tác động xã hội của dự án, dự thảo; chưa có quy định về phản hồi tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân;…
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, để phù hợp với các quy định của tổ chức này về nghĩa vụ minh bạch, năm 2021, Quốc hội đã ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021, thay thế Luật năm 2009 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015. Đồng thời, ngày 5 tháng 3 năm 2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2022/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật năm 2021 và thay thế Nghị định số 161/2018/NĐ-CP. Các văn bản này đã bổ sung một số quy định liên quan đến vấn đề lấy ý kiến: Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
- Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc đăng tải văn bản trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo. Đây là hình thức lấy ý kiến có tính chất bắt buộc bởi tính tiện ích của nó. Khi lấy ý kiến, cơ quan chủ trì soạn thảo phải có trách nhiệm đăng toàn văn dự thảo, báo cáo đánh giá tác động của dự thảo và gợi ý những vấn đề cần lấy ý kiến;
- Quy định thời hạn tổi thiểu lấy ý kiến trên Trang Thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo thống nhất đối với tất cả các trường hợp là: 60 ngày;
- Sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, phải đăng tải toàn văn Báo cáo này trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo.
Quá trình hoàn thiện các quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có nội dung lấy ý kiến đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thời gian qua ở nước ta cho thấy những nỗ lực chung trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế. Và khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, với việc ban hành mới Luật 2021, về cơ bản, Việt Nam đã hoàn thiện về mặt pháp lý đáp ứng yêu cầu minh bạch của WTO đối với đăng tải các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương để lấy ý kiến.
- Về thực tế triển khai thực hiện
Trước khi phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân thường được thực hiện dưới hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo hoặc đăng tải trên một số ấn phẩm báo chí hoặc gửi văn bản lấy ý kiến đối với cơ quan, tổ chức. Đây là các hình thức lấy ý kiến có tính chất truyền thống được các cơ quan sử dụng trong thời gian trước đây.
Hai hình thức lấy ý kiến này, ngoài những ưu điểm nhất định thì cũng bộc lộ những điểm hạn chế là giới hạn đối tượng, không gian, không đảm bảo sự tham gia đầy đủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đặc biệt, không đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Để khắc phục những hạn chế đó, yêu cầu đặt ra là phải lấy ý kiến dưới hình thức đăng tải dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên Internet. Hiện nay, các hình thức lấy ý kiến nêu trên vẫn được duy trì, sử dụng trong quá trình thực hiện.
Đối với hình thức lấy ý kiến trên Internet, mặc dù, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015 chưa có quy định về việc đăng tải dự thảo văn bản trên Internet để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhưng trong quá trình thực hiện Luật này, do hiệu quả, tiện ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin, nhiều cơ quan nhà nước ở Trung ương, ngay từ những năm 2018 đã tiến hành đăng tải các dự thảo văn bản để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đến khi Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO, với cam kết thực hiện việc lấy ý kiến trên Internet, các cơ quan nhà nước ở Trung ương đã thực hiện việc lấy ý kiến bằng hình thức này khá đầy đủ. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Sau khi Luật năm 2021 được ban hành, có hiệu lực, với việc quy định lấy ý kiến trên Cổng/Trang Thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo là hình thức bắt buộc, là thủ tục không thể thiếu thì tất cả các cơ quan nhà nước ở Trung ương đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy định này. Trên thực tế, khi thẩm định, thẩm tra đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan có chức năng luôn phải kiểm tra hồ sơ xem thủ tục này có đáp ứng yêu cầu hay không. Nếu thực hiện không đúng, đầy đủ như: không đúng về hình thức, thời hạn lấy ý kiến,… đều bị coi là vi phạm thủ tục và cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục này.
Trong thời gian qua, chưa có báo cáo tổng kết, đánh giá chung, đầy đủ về hoạt động lấy ý kiến đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, qua khảo sát trên Cổng/Trang Thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước cho thấy, việc lấy ý kiến thông qua hình thức này đã được thực hiện đầy đủ. Đối với những dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ do các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo được đăng tải trên mục “Lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trong thời hạn ít nhất 60 ngày. Ý kiến góp ý được công khai để tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể truy cập. Đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành đều được đăng trên mục “Lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” thuộc Cổng/Trang thông tin của Bộ, cơ quan ngang Bộ với thời hạn lấy ý kiến như đã nêu trên. Như vậy, cho đến nay, các cơ quan nhà nước ở Trung ương đã thiết lập đầy đủ địa chỉ và thực hiện đăng tải dầy đủ các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật lấy ý kiến nhân dân, trừ những văn bản có nội dung bí mật hoặc được ban hành trong trường hợp khẩn cấp.
Tuy đã thực hiện đúng cam kết về đăng tải lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành, nhưng so với quy định của Luật thì việc thực hiện còn một số hạn chế sau đây:
- Các cơ quan mới chỉ đăng tải toàn văn dự thảo lấy ý kiến, chưa đăng tải các tài liệu kèm theo như Luật đã quy định, bao gồm: gợi ý tập trung lấy ý kiến đối với từng đối tượng và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo;
- Chưa đăng tải trên Intermet Báo cáo tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện việc phản hồi thông tin đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã góp ý;
- Việc tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trong nhiều báo cáo còn chưa đáp ứng yêu cầu, chưa theo đúng sự phân loại các đối tượng góp ý, đặc biệt là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và các doanh nghiệp,…
3.1.1.2. Đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền địa phương
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc lấy ý kiến Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh đến cấp xã, được điều chỉnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (2017) và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nói trên. Theo quy định của hai văn bản này, các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp: tỉnh, huyện, xã. Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân là Nghị quyết, của Ủy ban nhân dân là Quyết định và Chỉ thị.
Các văn bản này quy định về việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng dự thảo như sau:
- Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
- Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo văn bản, cơ quan hữu quan phải tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp trong phạm vi và hình thức thích hợp (Điều 4 Luật năm 2017).
Căn cứ vào nội dung dự thảo, Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc đăng tải dự thảo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương hoặc trên trang thông tin điện tử của tỉnh để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.
Thời hạn góp ý kiến đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 5 ngày đối với các cơ quan, tổ chức; là 7 ngày đối với đối tượng chịu sự tác động. Thời hạn lấy ý kiến văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện là 3 ngày đối với các cơ quan, tổ chức; là 5 ngày đối với đối tượng chịu sự tác động. Các cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định nội dung vấn đề lấy ý kiến và địa chỉ nơi nhận ý kiến góp ý. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã đươc lấy ý kiến tại các thôn, làng, bản, sóc, tổ dân phố,…
Những quy định trên cho thấy Luật năm 2017 và Nghị định số 91/2018/NĐ-CP đã có những quy định khá cụ thể về việc lấy ý kiến như: xác định đối tượng chịu sự tác động trực tiếp là đối tượng cần phải lấy ý kiến; xác định rõ thời hạn lấy ý kiến đối với từng loại văn bản và từng loại đối tượng; xác định hình thức lấy ý kiến trên Trang Thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các dự thảo văn bản; trách nhiệm của cơ quan lấy ý kiến trong việc xác lập những vấn đề cần lấy ý kiến và địa chỉ nhận ý kiến góp ý; trách nhiệm trong việc tiếp thu ý kiến;… Đây là những quy định có tính chất quan trọng đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với các cơ quan nhà nước trong việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.
Quy định về đăng tải dự thảo trên Internet lấy ý kiến phù hợp với xu thế chung của quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, mặc dù không cam kết trong WTO nhưng trong Nghị định số 91/2019/NĐ-CP vẫn quy định về việc lấy ý kiến trên Internet. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Tuy nhiên, Luật năm 2017 và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP chưa đặt ra yêu cầu về trách nhiệm của các cơ quan trong việc đánh giá tác động của dự thảo; chưa có quy định về việc đăng tải Báo cáo tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm phản hồi thông tin đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đã góp ý.
- Về thực tế triển khai thực hiện
Trên thực tế, trong thời gian qua, ở hầu hết các địa phương, khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan có trách nhiệm đã thực hiện khá tốt các quy định về lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức khác nhau theo quy đinh. Đặc biệt, nhiều địa phương đã đăng tải các dự thảo lên mục Lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện, việc lấy ý kiến chủ yếu thực hiện dưới hình thức gửi dự thảo lấy ý kiến trực tiếp các cơ quan, tổ chức có liên quan. Các hình thức khác như: lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động, tổ chức hội nghị, hội thảo, lấy ý kiến trên Cổng Thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố còn rất hạn chế. Theo đánh giá về chất lượng công tác xây dựng pháp luật của chính quyền địa phương, thì công tác lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện và cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu; còn nhiều hạn chế, yếu kém [43].
3.1.2. Công khai các văn bản pháp luật, các điều ước quốc tế Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Công khai văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi một số nội dung chủ yếu sau đây: đăng trên ấn phẩm chính thức (Công báo hoặc ấn phẩm chính thức khác); đăng tải trên Internet hoặc niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc một số địa điểm khác theo quy định.
3.1.2.1. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế
- Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành
Trước năm 2009, khi chưa ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Việt Nam cũng đã xuất bản ấn phẩm Công báo để đăng tải văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành. Tuy nhiên, việc đăng tải này chưa đầy đủ, chưa thường xuyên. Các văn bản được đăng chủ yếu là một số Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ. Các văn bản của các Bộ hầu như ít đăng trên Công báo.
Từ năm 2009, khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, việc đăng Công báo đã có một bước tiến bộ mới. Số lượng văn bản được đăng Công báo đã nhiều hơn, đặc biệt là những văn bản của các Bộ, cơ quan ngang Bộ. Tuy nhiên, do Luật năm 2009 không có ràng buộc pháp lý nào liên quan đến việc đăng Công báo nên việc đăng văn bản vẫn còn tùy tiện, phụ thuộc vào ý chí của cơ quan nhà nước.
Nhằm khắc phục hạn chế nêu trên, đảm bảo để các văn bản pháp luật được công khai trước khi có hiệu lực thi hành, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015) quy định: văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Quy định này có hai ý nghĩa: thứ nhất, các văn bản nói trên chỉ có hiệu lực khi chúng được đăng trên Công báo; thứ hai, thời điểm có hiệu lực luôn luôn sau khi chúng được đăng tải. Kể từ khi có quy định này, việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương đã được thực hiện đầy đủ. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đều phải được đăng Công báo, trừ những văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Để cụ thể hóa quy trình phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc đăng văn bản pháp luật trên Công báo, ngày 23 tháng 3 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2017/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị định này xác định nguyên tắc đăng văn bản là “đăng toàn văn, chính xác, đầy đủ, kịp thời”; giá trị pháp lý của văn bản đăng Công báo là “văn bản chính thức, có giá trị như bản gốc”; và, Công báo là ấn phẩm thông tin chính thức của Nhà nước, đăng tải các văn bản pháp luật, trừ những văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước. Theo Nghị định này, Văn phòng Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm xuất bản ấn phẩm Công báo để đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Ấn phẩm này được xuất bản thường xuyên, hàng ngày.
Theo báo cáo thống kê hàng năm của Văn phòng Chính phủ thì trong những năm đầu thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015 và Nghị định số 104/2017/NĐ-CP, có một số cơ quan, do chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, đã gửi đăng Công báo chậm trễ hơn so với thời gian quy định. Tuy nhiên, tình trạng này đã được khắc phục trong thời gian gần đây.
Quy định văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo đáp ứng được yêu cầu ràng buộc các cơ quan phải có trách nhiệm đăng văn bản trên Công báo nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu về minh bạch thời điểm có hiệu lực của văn bản. Thực tế triển khai quy định này trong những năm qua cho thấy, quy định này gây ra cách hiểu khác nhau về thời điểm có hiệu lực bởi chưa có cách tính cụ thể, thống nhất về thời gian 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và sẽ rất khó xác định trong trường hợp sử dụng văn bản ngoài nguồn Công báo.
Nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, ngày 3 tháng 6 năm 2021. Quốc hội đã ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021, thay thế Luật năm 2009 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015. Điều 78 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 quy định: “Văn bản không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản”. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Quy định này đáp ứng được hai yêu cầu: một là, văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, nếu không đăng thì không có hiệu lực; hai là, xác định cụ thể thời điểm có hiệu lực ngay tại văn bản và đảm bảo để văn bản được đăng trên Công báo trước khi có hiệu lực là 30 ngày. Khoảng thời gian này dài hơn so với quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung năm 2015.
Để phù hợp với các quy định của Luật năm 2021 về đăng văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo, ngày 21 tháng 9 năm 2023, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2023/NĐ-CP về Công báo, thay thế Nghị định số 104/2017/NĐ-CP. Theo Nghị định này, hoạt động đăng văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo, về cơ bản, vẫn được triển khai như trước đây; Công báo được xuất bản thường xuyên, hàng ngày, giá trị pháp lý của văn bản đăng trên Công báo vẫn được quy định như trước đây (có giá trị như bản gốc),… Tuy nhiên, điểm mới của Nghị định này là đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc xuất bản Công báo điện tử. Theo đó, Công báo điện tử và Công báo in được xuất bản đồng thời, từ cùng một cơ sở dữ liệu, văn bản đăng trên Công báo điện tử có giá trị như Công báo in và có giá trị như bản gốc. Công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đưa lên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Đây được coi là bước đột phá trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thông tin pháp luật. Công báo điện tử đã được xuất bản đều đặn từ năm 2024, miễn phí khai thác đối với tất cả các đối tượng, có công cụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm, tra cứu, thuận tiện cho tất cả mọi người truy cập.
- Đăng công báo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Năm 2011, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Theo Pháp lệnh này, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên được đăng trên hai ấn phẩm: Công báo do Văn phòng Chính phủ xuất bản và Niên giám điều ước quốc tế do Bộ Ngoại giao xuất bản.
Năm 2018, Quốc hội thông qua Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế trên cơ sở pháp điển hóa các quy định của Pháp lệnh năm 2011 và các văn bản pháp luật có liên quan. Các quy định về đăng tải công khai điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tiếp tục được duy trì trong Luật.
Hoạt động đăng các điều ước quốc tế trên Công báo thực hiện theo các quy định của Nghị định về Công báo (cụ thể là Nghị định số 104/2017/NĐ-CP và hiện nay là Nghị định số 100/2023/NĐ-CP). Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ nhận được thông báo về hiệu lực đối với điều ước đa phương, 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao điều ước quốc tế song phương, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm gửi Văn phòng Chính phủ để đăng điều ước quốc tế trên Công báo. Các điều ước quốc tế được đăng toàn văn, bao gồm cả ngôn ngữ ký kết và tiếng Việt (có thể là bản dịch nếu không được ký kết bằng tiếng Việt). Các điều ước quốc tế được đăng Công báo in và Công báo điện tử. Về cơ bản, trong thời gian qua, các điều ước quốc tế đã được đăng tải đầy đủ, kịp thời, trừ những trường hợp liên quan đến bí mật nhà nước hoặc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mà các bên thỏa thuận không đăng tải công khai. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
- Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương
Hoạt động công khai văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nói trên và các Nghị định về Công báo (trước đây là Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 23 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ về Công báo và hiện nay là Nghị định số 100/2023/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2023, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2023).
Theo các văn bản này, việc công khai văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền địa phương được thực hiện như sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đăng tải trên Công báo cấp tỉnh và được đăng báo chính thức của địa phương.
Theo quy định, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành; được đăng báo địa phương trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành và được đăng Công báo cấp tỉnh trong thời hạn 15 ngày (khi áp dụng Nghị định số 104/2017/NĐ-CP) và hiện nay là 30 ngày (theo Nghị định số 100/2023/NĐ-CP kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2023).
Mặc dù quy định về thời hạn đăng Công báo có thể sau thời điểm có hiệu lực của văn bản, nhưng quy định văn bản phải đăng báo địa phương và đăng trên Internet trong thời hạn sớm hơn nên có thể thấy các quy định này vẫn đảm bảo văn bản được công khai trước khi chúng có hiệu lực thi hành.
- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện có hiệu lực sau 7 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, có thể được đăng Công báo hoặc được niêm yết tại trụ sở cơ quan và các điểm bưu điện văn hóa xã, phường, thị trấn. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã có hiệu lực sau 5 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, được niêm yết tại trụ sở hoặc điểm bưu điện văn hóa xã, phường, thị trấn.
Thực tế, trong thời gian qua, hoạt động đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh đã từng bước đáp ứng được yêu cầu: văn bản được đăng chính xác, đúng thời hạn; nhiều địa phương đã tiến hành đăng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện trên Công báo. Việc niêm yết văn bản quy phạm pháp luật ở chính quyền cấp xã đã được thực hiện ở một số nơi góp phần vào việc thực hiện. Cũng trong thời gian qua, nhiều địa phương, với sự hỗ trợ của Văn phòng Chính phủ và Dự án STAR Hoa Kỳ, đã tiến hành xây dựng Công báo điện tử trên Cổng Thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Công báo điện tử của cấp tỉnh cũng được quy định như đối với Công báo Trung ương: Là kênh thông tin chính thức của chính quyền địa phương; giá trị pháp lý của văn bản đăng trên Công báo điện tử có giá trị như Công báo in và có giá trị như bản gốc. Công báo điện tử các địa phương được kết nối với Công báo điện tử Trung ương. Việc xây dựng và đưa vào hoạt động Công báo điện tử ở nhiều địa phương đã góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tra cứu, tìm hiểu, thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, hoạt động công khai văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương còn một số hạn chế sau:
- Việc đăng báo địa phương các văn bản quy phạm pháp luật chưa được thực hiện đầy đủ. Do vậy, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được đăng Công báo muộn hơn thời điểm có hiệu thi hành.
- Do chưa có quy định về việc ràng buộc pháp lý đối với hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật ở chính quyền cấp tỉnh nên việc đăng tải ở một số nơi còn chậm so với thời gian quy định. Cần có quy định như đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương, không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành.
- Chưa có quy định thống nhất về việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật cấp huyện nên việc đăng tải loại văn bản này ở nhiều địa phương là không thống nhất.
3.1.2.2. Đăng tải văn bản pháp luật trên Trang thông tin điện tử
Nhằm từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin pháp luật, kể từ những năm 2013, Việt Nam đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật trên các website của các cơ quan nhà nước. Nội dung này đã được pháp lý hóa bởi Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và tiếp tục được duy trì trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021.
Theo quy định của Điều 84 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021, chậm nhất trong thời gian 2 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành phải được đăng tải trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, do thời điểm ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2017 chưa có đủ điều kiện thực tế để quy định nên trong luật này chưa có quy định bắt buộc việc đăng các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ đã đáp ứng được yêu cầu nói trên nên theo Nghị định số 43/2024/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước thì các cơ quan nhà nước phải thiết lập, xây dựng Cổng/Trang thông tin điện tử của các cơ quan mình và phải đăng tải các thông tin theo quy định, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo, điều hành do mình ban hành. Tuy nhiên, những quy định này cũng mới chỉ bắt buộc đối với cấp huyện trở lên. Cấp xã chưa bắt buộc phải thực hiện.
Như vậy, những quy định trên là cơ sở pháp lý bắt buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đăng một cách nhanh chóng các văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trên website của cơ quan. Các website lưu trữ có hệ thống các văn bản này và có công cụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm, tra cứu. Nói cách khác, cho đến nay, Việt Nam đã có đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Internet.
Thực tế, thời gian qua, kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản ở Trung ương và địa phương đã thực hiện khá tốt các quy định của pháp luật về việc đăng tải công khai các văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cơ quan mình. Đặc biệt, đối với những website mà Việt Nam đã cam kết sẽ đăng tải những văn bản liên quan hoặc có tác động đến thương mại (theo từng nội dung khác nhau) của các Bộ đã thực hiện đầy đủ những quy định này, bao gồm tất cả các văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng có liên quan về lĩnh vực quản lý.
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thiết lập Cổng Thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và đã đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện ban hành. Việc đăng tải các văn bản trên internet khá nhanh chóng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tra cứu, tìm hiểu của tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Đối với cấp xã, do việc ứng dụng công nghệ thông tin của cấp chính quyền này chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra nên việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên internet còn phải tiếp tục được quan tâm, đầu tư hơn nữa.
Những website nêu trên là địa chỉ chính thức của các cơ quan nhà nước, đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan phục vụ nhu cầu tìm hiểu, thực thi pháp luật. Tại đây, các văn bản quy phạm pháp luật được lưu trữ và có công cụ hỗ trợ tìm kiếm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu nhanh chóng theo những tiêu chí khác nhau.
Hiện nay, thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đang tiến hành triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật, trên cơ sở kết nối, tích hợp một cách thống nhất, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ Trung ương đến cấp xã ban hành. Nếu được hoàn thành thì đây sẽ là địa chỉ đáng tin cậy cho việc tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật đáp ứng tích cực nhu cầu tìm kiếm, tra cứu thông tin pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3.1.2.3. Đăng tải các bản án
Trong khuôn khổ WTO, các quốc gia thành viên phải thực hiện các quy định về công khai các phán quyết, quyết định của Tòa án. Việc công khai các phán quyết, quyết định của Tòa án là đăng toàn văn các phán quyết, quyết định này trong ấn phẩm in hay trên internet, đảm bảo sự giám sát đối với cách thức áp dụng luật trong vụ án cụ thể của Tòa án.
Đối với các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật (Common Law) theo thuyết Án lệ bắt buộc, các quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm đều được coi là nguồn luật, mà Tòa án sử dụng các bản án trong các vụ án trước để áp dụng cho các vụ án tương tự sau này. Vì vậy, việc công bố các bản án, quyết định của Tòa án cũng có ý nghĩa quan trọng như công bố pháp luật.
Đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), việc công bố các bản án, quyết định của Tòa án cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện ở một số nội dung sau đây: Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
- Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định.
- Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử” và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý.
- Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề Tòa án đã ra quyết định.
- Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo.
- Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (không tuỳ tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm.
- Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước trong khi áp dụng luật.
- Tăng cường công khai và từ đó tăng được sự tự tin và tín nhiệm vào hệ thống Tòa án.
Với những ý nghĩa trên đây, công khai các phán quyết của Tòa án trong môi trường đầu tư và thương mại quốc tế có tác dụng to lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia vào các giao dịch quốc tế mà còn có tác dụng ngay cả với những thẩm phán của Tòa án, nó hạn chế được sự tùy tiện hoặc lạm dụng của cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền thực thi pháp luật từ đó hạn chế được sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong việc áp dụng pháp luật.
Như vậy, thực hiện công khai phán quyết của Tòa án không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý ổn định và dễ dự đoán cho các chủ thể thực hiện các giao dịch quốc tế mà còn có ý nghĩa khẳng định việc tuân thủ những nghĩa vụ đã được cam kết trong các điều ước quốc tế, từ đó làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong các điều ước quốc tế đó. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế như: gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2007, tham gia sáng lập Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) năm 2009, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 2010. Đồng thời với việc gia nhập các liên kết kinh tế, Việt Nam cũng đã ký nhiều Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định thương mại song phương, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2014).
Việc công khai các phán quyết của Tòa án được đặt ra trong nhiều thiết chế thương mại. Điểm b khoản 3 Điều 11 Chương II về thực thi quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ quy định cụ thể về trách nhiệm trong việc cung cấp các phán quyết của Tòa án cho các bên trong vụ kiện.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nguồn của luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thủ tục. Các bản án không được coi là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội. Về mặt thực tiễn, ở Việt Nam, những vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử được tổng kết trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hàng năm để hướng dẫn công tác xét xử.
Trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2023, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48, 49), vấn đề công bố công khai các bản án cũng đã được đề cập như một giải pháp nhằm từng bước thực hiện các yêu cầu của tiến trình dân chủ hóa và các quy định của WTO về minh bạch. Chiện lược cải cách tư pháp nêu rõ: “Từng bước thực hiện việc công khai hóa các bản án, trừ các bản án hình sự liên quan đến an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mỹ tục”.
Tuy nhiên, cho đến nay, những nội dung này vẫn mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu, thí điểm, chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Trong thực tiễn, năm 2016 – 2017, Toà án Việt Nam cũng đã thí điểm đăng tải hai tập các Bản án và Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao. Việc đăng tải các bản án của ngành Tòa án đã có tác dụng tích cực đối với xã hội nói chung và phát huy tác dụng đối với các thẩm phán, các luật sư, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà làm luật, cán bộ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nói riêng và giúp cho Việt Nam phát triển án lệ trong quá trình hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.
Theo quy định của WTO thì việc đăng tải công khai bản án chỉ bắt buộc đối với những quốc gia coi án lệ là nguồn của luật, tức là những bản án đó phải chứa đựng các quy tắc xử sự chung, có tính chất như luật. Trong khi đó, như trên đã nêu, ở nước ta, án lệ không phải là nguồn của luật, các bản án không chứa đựng các quy tắc xử sự chung. Như vậy, việc chưa đăng tải công khai các bản án ở nước ta không vi phạm nguyên tắc minh bạch của WTO.
Tuy nhiên, xuất phát từ những lợi ích của việc công khai các bản án, nước ta đã có chủ trương thống nhất về việc nghiên cứu, để đăng tải công khai các bản án, phán quyết của Tòa án. Người viết luận văn này ủng hộ quan điểm nói trên và cho rằng cần sớm có quy định cụ thể (có thể đưa ngay vào các văn bản luật tố tụng, luật tổ chức tòa án nhân dân) về nội dung, quy trình, thủ tục, cách thức, thời hạn, trách nhiệm của các cơ quan, loại hình ấn phẩm đăng tải công khai các bản án, phán quyết của Tòa án nhân dân các cấp (trong đó cần đăng tải công khai trên Internet, với địa chỉ cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính chính thức của ấn phẩm điện tử). Song song với quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý, cần tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm sớm đưa hoạt động này đi vào thực tiến. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Phán quyết của Tòa án là kết quả của quá trình xét xử, giải quyết vụ án. Theo nguyên tắc, quá trình này là công khai, minh bạch. Do vậy, kết quả của nó cũng phải được công khai, minh bạch. Công khai, minh bạch các bản án, phán quyết của Tòa án cần được xem như một trong các nội dung của yêu cầu minh bạch quá trình thực thi chính sách, pháp luật. Xét ở góc độ này, càng cho thấy sự cần thiết phải đăng tải công khai các bản án khi mà hiện nay, chất lượng xét xử còn chưa đáp ứng yêu cầu, tình trạng tiêu cực còn xảy ra ở những mức độ khác nhau trong hệ thống Tòa án nhân dân các cấp, nhằm góp phần từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên.
3.1.3. Thực hiện nghĩa vụ thông báo và thiết lập các điểm hỏi đáp chính sách pháp luật
Khi chưa trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc giải đáp chính sách pháp luật liên quan đến thương mại. Ngày 26 tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động mạng lưới thông báo và hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Theo đó, các Cơ quan Thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật (Cơ quan TBT) có những nhiệm vụ sau:
- Thông báo những văn bản pháp quy kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp ở dạng dự thảo hoặc đã có hiệu lực có khả năng tạo ra những hàng rào kỹ thuật;
- Xử lý và có ý kiến về các thông báo nhận được của các nước thành viên nhằm đảm bảo các biện pháp kỹ thuật mà các nước đang áp dụng hoặc sẽ áp dụng không hạn chế thương mại của Việt Nam với các nước đó;
- Thông báo dự thảo các văn bản pháp quy kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp nói trên phải được gửi trong thời gian ít nhất 60 ngày trước khi ban hành.
Thông báo được thực hiện theo mẫu biểu thống nhất do Ủy ban hàng rào kỹ thuật (TBT) của WTO quy định bằng một trong 3 ngôn ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
- Tiếp nhận và chuyển tải các câu hỏi hoặc câu trả lời của các nước cũng như các câu trả lời hoặc câu hỏi của Việt Nam đến các địa chỉ cần thiết, đáp ứng nhu cầu thông tin và minh bạch của các nước thành viên WTO và Việt Nam về hàng rào kỹ thuật.
Mạng lưới TBT Việt Nam gồm có:
- Cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp Quốc gia về tiêu chuẩn đo lường chất lượng (gọi tắt là Văn phòng TBT Việt Nam) do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tại Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp tại các Bộ: Thương mại, Công nghiệp, Xây dựng, Giao thông vận tải, Bưu chính, Viễn thông, Tài nguyên và Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủy sản, Văn hóa – Thông tin.
- Cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đặt tại Sở Khoa học và Công nghệ.
Văn phòng TBT Việt Nam là đầu mối quốc gia thực hiện việc thông báo và hỏi đáp về những văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy trình đánh giá sự phù hợp và các vấn đề khác liên quan đến hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam theo hướng dẫn của WTO, bao gồm: Thông báo cho các nước thành viên WTO thông qua Ban Thư ký WTO); tiếp nhận và trực tiếp trả lời các câu hỏi, các đề nghị cung cấp tài liệu từ các các nước thành viên WTO (trực tiếp hoặc qua Ban Thư ký WTO) về các văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy trình đánh giá sự phù hợp đã, đang và sẽ áp dụng tại Việt Nam; tiếp nhận và chuyển các thông báo, các câu hỏi và đề nghị cung cấp tài liệu của các nước thành viên WTO tới cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp về TBT của Bộ và địa phương; gửi các câu hỏi hoặc đề nghị cung cấp tài liệu của Việt Nam đến cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp về TBT của các nước thành viên WTO (trực tiếp hoặc qua Ban Thư ký WTO).
Trên thực tế, Việt Nam đã thiết lập mạng lưới thông báo và hỏi đáp TBT như đã được quy định tại Quyết định nói trên của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, mạng lưới này đã thực hiện khá đầy đủ các quy định của WTO về nghĩa vụ thông báo và hỏi đáp về TBT. Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập điểm hỏi đáp về kiểm dịch động, thực vật.
Mạng lưới TBT Việt Nam đã thiết lập được website có kết nối liên thông với nhau, có các cơ sở dữ liệu phục vụ hiệu quả cho việc thông báo và hỏi đáp, như: cơ sở dữ liệu về thông báo của Việt Nam, cơ sở thông báo của nước ngoài, cơ sở dữ liệu về văn bản pháp luật, cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn kỹ thuật,… Về cơ bản, việc thiết lập mạng lưới và xây dựng Trang thông tin điện tử của mạng lưới này đáp ứng hiệu quả công tác thông báo và hỏi đáp theo yêu cầu của WTO.
Hiện nay, để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động liên quan tới hàng rào kỹ thuật, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả đề án hàng rào kỹ thuật giai đoạn 2024-2015”. Trong đề án này, có việc củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả mạng lưới thông báo và hỏi đáp TBT đáp ứng yêu cầu minh bạch của WTO. Đây là chủ trương đúng đắn của Chính phủ Việt Nam trong việc thực thi cam kết về minh bạch chính sách pháp luật thương mại theo quy định của WTO.
Trong thời gian qua, khi gia nhập, Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ thông báo một lần đối với những vấn đề cam kết như: các hiệp định có hiệu lực đối với Việt Nam liên quan đến thương mại. Đồng thời, việc thông báo các nội dung theo các hiệp định của WTO đã được quan tâm, thực hiện.
3.1.4. Rà soát chính sách pháp luật thương mại Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Ngày 27 tháng 02 năm 2020, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 16/2020/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết nói trên.
Trong Nghị quyết này, đối với công tác rà soát, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ đã xác định “Thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ khác của Việt Nam trong WTO; xác định các nội dung cam kết có thể thực hiện trực tiếp và các nội dung cần phải nội luật hóa để xây dựng chương trình sửa đổi các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật liên quan”. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương “Tiến hành rà soát hệ thống pháp luật hiện hành, loại bỏ những quy định chồng chéo, không phù hợp với cam kết; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng, cụ thể, bảo đảm môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng cho mọi chủ thể tham gia thị trường”, trong đó tập trung rà soát một số nội dung:
- Các nội dung cam kết sẽ được thực hiện ngay và áp dụng trực tiếp.
- Các nội dung cam kết thực hiện theo lộ trình đối chiếu với các văn bản pháp luật hiện hành, đề xuất chương trình sửa đổi, bổ sung.
- Rà soát để loại bỏ sự chồng chéo, những quy định không phù hợp với cam kết, không bảo đảm tự do kinh doanh hàng hóa và dịch vụ cho các chủ thể tham gia thị trường.
- Rà soát các biện pháp hỗ trợ đầu tư và phát triển sản phẩm thay cho các biện pháp trợ cấp xuất khẩu.
- Rà soát tổng thể các yếu tố đang cản trở sự hình thành đồng bộ các yếu tố của cơ chế thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước còn độc quyền hoặc chi phối thị trường; các lĩnh vực, các đối tượng đang có sự hỗ trợ mang tính phân biệt đối xử. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Thực hiện Nghị quyết nói trên, các cơ quan nhà nước đã tổ chức triển khai thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO); giai đoạn 2 (sau khi đã có kết quả giai đoạn 1).
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, đợt rà soát này được thực hiện ở Trung ương và 27 tỉnh, thành phố.
Ở Trung ương, có 438 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện các cam kết của WTO được rà soát.
- Về thương mại hàng hoá:
Những văn bản này được xây dựng, sửa đổi, bổ sung trong những năm 2018 – 2019 khi Việt Nam đã đi vào giai đoạn kết thúc quá trình đàm phán gia nhập nên hầu hết các quy định này đều phù hợp, chỉ còn lại một số ít quy định chưa phù hợp, cần tiếp tục được hoàn thiện.
Về kiểm dịch động, thực vật, Việt Nam đã có các quy định về vấn đề này như: Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh về kiểm dịch động, thực vật, Nghị định số 33/2018/NĐ-CP, nhưng các quy định này chưa thực sự cụ thể hóa, cần tiếp tục phải được hướng dẫn, quy định chi tiết hơn.
Về áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại, cần phải sửa đổi, bổ sung các Nghị định có liên quan về chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ theo hướng quy định chi tiết, xây dựng các biểu mẫu câu hỏi điều tra và các bản hướng dẫn về thủ tục hành chính.
- Về thương mại dịch vụ:
Theo báo cáo, đây là lĩnh vực khá phức tạp, có nhiều vấn đề nhạy cảm, liên quan đến an ninh quốc gia, văn hóa dân tộc,… Các quy định phải rà soát nằm trong nhiều văn bản. Quá trình rà soát, đánh giá cho thấy, về cơ bản, các quy định về thương mại dịch vụ của nước ta phù hợp với các quy định của WTO. Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định trong các lĩnh vực cụ thể cần phải tiếp tục được hoàn chỉnh cho thống nhất, đặc biệt là loại bỏ những quy định khác nhau áp dụng đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước, về quy trình cấp phép, về yêu cầu chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp; một số vấn đề đã cam kết nhưng chưa có quy định hoặc còn quy định chung chung,… Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản với số lượng lớn, mặc dù chênh lệch giữa các quy định trong nước với cam kết là không lớn.
- Về sở hữu trí tuệ: Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Đối với lĩnh vực này, trong quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng khá đầy đủ các quy định về sở hữu trí tuệ nhất là việc ban hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ. Tuyệt đại đa số các quy định đã phù hợp với các quy định chung của WTO. Tuy nhiên, một số ít quy định cần tiếp tục được hoàn thiện như: chế tài hình sự đối với vi phạm quyền sở hữu trí tuệ,…
Ở địa phương, việc rà soát được tiến hành ở 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với tổng số văn bản rà soát là 209. Trong đó đã kiến nghị ban hành mới 8 văn bản, sửa đổi, bổ sung 18 văn bản, hủy bỏ 16 văn bản. Kết quả rà soát, đánh giá trong các lĩnh vực cụ thể như sau:
- Về thương mại hàng hóa:
Đây là lĩnh vực có nhiều văn bản nhất, chủ yếu tập trung vào việc thực thi các văn bản của cấp Trung ương. Về cơ bản, những văn bản này phù hợp với các quy định của WTO và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Tuy nhiên, một số quy định về hỗ trợ chưa phù hợp, cần được điều chỉnh.
- Về thương mại dịch vụ:
Các văn bản này đều là những văn bản quy định chi tiết thi hành các văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Về cơ bản là khá phù hợp.
- Về sở hữu trí tuệ:
Đây là lĩnh vực có khá ít văn bản của chính quyền địa phương. Qua rà soát, kết quả đánh giá được cho là khá phù hợp với quy định chung của WTO và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương.
Kết quả rà soát chính sách pháp luật như đã được nêu trong Báo cáo trên đây của Bộ Tư pháp cho thấy, ý thức và hành động của Việt Nam về việc thực hiện các nghĩa vụ của WTO là rất rõ ràng, được chuẩn bị khá kỹ lưỡng, ngay từ khi Việt Nam mới đang chuẩn bị hoàn tất các thủ tục để trở thành thành viên chính thức của WTO. Đợt rà soát nói trên đã bước đầu đưa ra đánh giá về môi trường pháp lý kinh doanh ở nước ta trên cơ sở đối chiếu với khuôn khổ pháp lý của WTO. Tuy nhiên, đợt rà soát này chưa có sự tham gia đầy đủ của các Bộ, ngành, địa phương nên chưa có một bức tranh toàn cảnh; chưa có những đánh giá sâu về việc thực hiện lộ trình cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan, phi thuế quan, mở cửa thị trường đối với từng lĩnh vực cụ thể. Đây là những vấn đề cần phải tiếp tục thực hiện trong thời gian tới và cần có sự vào cuộc tích cực, mạnh mẽ hơn nữa của các cơ quan nhà nước có liên quan. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Rà soát chính sách pháp luật thương mại không nên chỉ được xem là nghĩa vụ trong việc thực thi các cam kết gia nhập WTO mà cần được xem là nhu cầu tự thân của quá trình đổi mới – phát triển. Đồng thời, thể hiện rõ quan điểm kiên định thực hiện chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”. Do vậy, rà soát chính sách thương mại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan nhà nước nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với các quy định của WTO, đảm bảo môi trường pháp lý tự do hóa thương mại.
Bên cạnh việc thực hiện các đợt rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoặc tác động đến thương mại, theo quy định của pháp luật Việt Nam, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật nói chung, về thương mại nói riêng, là trách nhiệm có tính thường xuyên, lâu dài của các cơ quan trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước. Và, trong thời gian tới, Việt Nam thực hiện công tác pháp điển hệ thống pháp luật đảm bảo để hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, thì công tác này sẽ tiếp tục cần phải được đẩy mạnh hơn nữa.
Theo lộ trình, Việt Nam sẽ thực hiện nghĩa vụ rà soát chính sách pháp luật thương mại trước WTO vào năm 2026. Đây là đợt tổng rà soát có ý nghĩa quan trọng, có sự đánh giá từ phía WTO và các đối tác về chính sách pháp luật thương mại của Việt Nam sau 6 năm trở thành thành viên chính thức của Tổ chức này. Để chuẩn bị hoàn thiện báo cáo, đòi hỏi sự vào cuộc tích cực của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương nhằm làm rõ hơn các quy định về chính sách của Việt Nam trước các đối tác thương mại.
3.1.5. Minh bạch trong thực thi chính sách pháp luật
Để tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, WTO đòi hỏi các quốc gia không những chỉ phải minh bạch quá trình xây dựng, ban hành chính sách pháp luật mà còn phải minh bạch trong quá trình thực thi pháp luật; đảm bảo để thị trường không bị méo mó trong quá trình thực thi. Yêu cầu về minh bạch trong thực thi pháp luật là rất rộng, bao trùm tất cả những cam kết của Việt Nam trên các lĩnh vực. Ở đây, trong giới hạn khuôn khổ đề tài này, xin tập trung đề cập một số nỗ lực của Việt Nam nhằm thực hiện minh bạch trong thực thi pháp luật ở một số nội dung sau đây:
- Cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường kinh doanh thông thoáng;
- Tách hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước ra khỏi hoạt động quản lý hành chính để các cơ quan hành chính làm tốt chức năng quản lý nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế;
- Đăng tải công khai các thông tin trong việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, tự vệ, chống bán phá giá hoặc trợ cấp;
- Kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính minh bạch, hệ thống tòa án độc lập, công bằng.
3.1.5.1. Cải cách thủ tục hành chính Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Thực hiện yêu cầu đổi mới – hội nhập – phát triển, trong thời gian qua, Chính phủ đã xác định cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trong công tác cải cách hành chính, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp trong việc giải quyết công việc liên quan đến các cơ quan nhà nước.
Ngày 10 tháng 01 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn 2020-2023 (Gọi tắt là Đề án 30). Đề án này bắt đầu được triển khai từ năm 2020 và kết thúc năm 2023. Trong quá trình triển khai Đề án này, các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đã tiến hành đợt tổng rà soát toàn bộ thủ tục hành chính trên tất cả các ngành, lĩnh vực và được tiến hành ở tất cả các cấp, các ngành trong hệ thống hành chính nhà nước. Với thành công bước đầu của Đề án 30, lần đầu tiên Việt Nam thiết lập và công bố Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng internet. Đã chuẩn hóa và thống nhất được bộ thủ tục hành chính cấp huyện, cấp xã theo hướng rút gọn từ 10.000 bộ thủ tục hành chính cấp xã và 700 bộ thủ tục hành chính cấp huyện xuống còn 63 bộ ở mỗi cấp … Theo đó, mỗi tỉnh, thành phố có một bộ thủ tục hành chính cấp xã và một bộ thủ tục hành chính cấp huyện để thống nhất thực hiện tại địa phương. Trong năm 2023, Chính phủ đã ban hành 25 Nghị quyết để đơn giản hóa gần 5.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 bộ, ngành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ, ngành, địa phương đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước. Kết quả này đã được nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ, khi các phương án đơn giản hóa được thực thi, dự kiến cắt giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính, với tổng chi phí tiết kiệm được lên tới gần 30.000 tỷ đồng mỗi năm. Bên cạnh đó, Đề án đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính của mỗi cá nhân, tổ chức; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính các cấp.
Ngày 8 tháng 6 năm 2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2022/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, ngoài nhiệm vụ rà soát, tiến hành bãi bỏ những thủ tục không phù hợp, các cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính còn có trách nhiệm thẩm tra, kiểm soát việc ban hành mới các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính nhằm bảo đảm hạn chế việc phát sinh quá nhiều thủ tục bất hợp lý như trong thời gian qua. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Theo Nghị định nói trên, mục tiêu hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính là đảm bảo để các thủ tục hành chính:
- Đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.
- Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
- Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước.
- Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, liên thông, rõ ràng, minh bạch.
Song song với quá trình rà soát, bãi bỏ những thủ tục hành chính không hợp lý, không hợp pháp và kiểm soát quá trình ban hành mới các thủ tục hành chính, các cơ quan nhà nước đang tiến hành công bố Bộ thủ tục hành chính trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ, ngành, địa phương. Chính phủ đang triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, đưa lên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, trên cơ sở tích hợp dữ liệu về thủ tục hành chính của các Bộ, ngành, địa phương. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính bao gồm các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính được thường xuyên duy trì, cập nhật nhằm đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân truy nhập và sử dụng thông tin chính thức về thủ tục hành chính.
Những nỗ lực của Việt Nam trong thời gian qua về việc kiểm soát, công khai thủ tục hành chính đã được cộng đồng quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp và người dân hoan nghênh, đánh giá tích cực. Kết quả bước đầu của công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính (trong đó có thủ tục hành chính liên quan hoặc tác động đến hoạt động thương mại) được xem như một trong những cố gắng của Việt Nam trong việc thực hiện có trách nhiệm những quy định của WTO và cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này về minh bạch.
Tuy nhiên, hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của Việt Nam cũng còn nhiều nội dung cần phải nỗ lực hơn nữa, đặc biệt là những thủ tục hành chính trong các văn bản pháp luật của chính quyền địa phương. Theo phản ánh từ phía các doanh nghiệp, nhiều thủ tục hành chính này còn rườm rà, thiếu minh bạch, là kẽ hở cho việc phát sinh tiêu cực, tham nhũng từ một bộ phận công chức nhà nước khi thực hiện công vụ, gây ra những khó khăn nhất định cho các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư. Trong khi đó, công tác rà soát thủ tục hành chính trong thời gian qua mới chủ yếu tập trung vào việc thống kê các thủ tục hành chính. Công tác cắt xén, đơn giản hóa thủ tục hành chính cũng đã được thực hiện quyết liệt. Song, do hệ thống các quy phạm pháp luật của Việt Nam còn khá “cồng kềnh”, thiếu đồng bộ nên công tác rà soát, đơn giản hóa cũng còn gặp nhiều khó khăn; trong thời gian tới cần tiếp tục được duy trì thường xuyên, lâu dài, với sự cộng tác chặt chẽ của cộng đồng doanh nghiệp.
3.1.5.2. Tách hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước ra khỏi hoạt động quản lý hành chính để các cơ quan hành chính làm tốt chức năng quản lý nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Để không làm méo mó thị trường, các quy định của WTO về minh bạch đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải độc lập với các hoạt động của các doanh nghiệp (đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vụ, trừ dịch vụ có tính chất công quyền), đảm bảo để hoạt động quản lý nhà nước không thiên vị, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Đối với nước ta, đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính. Tuy nhiên, những nội dung này liên quan nhiều tới việc sắp xếp, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước. Do đó, cần phải được trình bày độc lập trong mục riêng, trong đó, sẽ tập trung vào khía cạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo từng bước tách dần những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước ra khỏi hoạt động của bộ máy hành chính.
Đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước nhằm thực hiện mục đích:
- Đảm bảo chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền, phù hợp với các quy định của WTO về minh bạch;
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước và tăng sức đề kháng của nền kinh tế; đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Thực hiện mục tiêu nói trên, trong thời gian qua, Việt Nam đã đồng thời tiến hành việc hoàn thiện thể chế kinh tế, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và cải cách hành chính. Việc nỗ lực triển khai đồng bộ những hoạt động này đã mang lại những kết quả nhất định, cụ thể như sau:
Về mặt thể chế, hệ thống pháp luật đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, đã thể chế hóa trong Luật Doanh nghiệp (2018) và Luật Thương mại (2018) nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước. Song song với đó, nhiều văn bản pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quản lý kinh tế cũng đã được sửa đổi, bổ sung, đảm bảo để cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quản lý bằng pháp luật và sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua các mệnh lệnh hành chính. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã được cổ phần hóa, tư nhân hóa, sáp nhập, giải thể và tổ chức lại nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh; nhà nước thực hiện thoái vốn thông qua những hình thức nói trên trong những lĩnh vực xã hội có thể làm tốt, không cần thiết phải có sự đầu tư của nhà nước. Cùng với quá trình đó, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm đổi mới từng bước quy chế quản lý đối với những doanh nghiệp này theo hướng công khai, minh bạch, đảm bảo sự giám sát của các cơ quan nhà nước và của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác nói trên còn một số hạn chế, yếu kém, thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chưa theo kịp yêu cầu công cuộc đổi mới. Nhiều văn bản dưới luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với nguyên tắc chung đã được ghi trong các đạo luật về việc không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Trong thực tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi nhiều hơn trong việc tiếp cận nguồn lực và thông Điều này càng làm cho các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn trong bối cảnh khủng hoàng kinh tế toàn cầu hiện nay. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước còn nhiều điểm bất cập, là kẽ hở cho những tiêu cực, tham nhũng, làm thất thoát tài sản nhà nước. Các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước chưa được sửa đổi kịp thời, chưa làm rõ vai trò quản lý nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp; mô hình Tổng Công ty kinh doanh và đầu tư vốn nhà nước chưa được tổng kết, đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời nhằm từng bước chuyển dần chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp từ các cơ quan hành chính cho Tổng công ty này, trên cơ sở xác định lại chức năng, mô hình tổ chức cho phù hợp.
Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa gắn kết với công tác hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, thiếu một đề án tổng thể về việc tái cấu trúc các doanh nghiệp này trong phạm vi cả nước.
Nhằm khắc phục những hạn chế nói trên, góp phần đảm bảo môi trường pháp lý cho quá trình tự do hóa thương mại, Nghị quyết số 16/2020/NĐ-CP của Chính phủ đã đề ra nhiệm vụ đối với các Bộ, ngành: Rà soát tổng thể các yếu tố đang cản trở việc hình thành đồng bộ nền kinh tế thị trường, đặc biệt là các lĩnh vực mà doanh nghiệp nhà nước còn giữ độc quyền hoặc chiếm tỷ trọng lớn, các lĩnh vực và các đối tượng đang có sự hỗ trợ mang tính phân biệt đối xử để tiến tới xây dựng lộ trình loại bỏ.
Ngày 8 tháng 11 năm 2024, Chính phủ ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2024-2020. Một trong các mục tiêu của Chương trình được xác định là: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính”. Để thực hiện mục tiêu nói trên, nhiệm vụ được đặt ra trong Chương trình này là: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục đổi mới về thể chế doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinh doanh vốn nhà nước”.
Có thể nói, đảm bảo tính độc lập của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động kinh doanh là một trong những nội dung quan trọng của yêu cầu minh bạch của WTO. Đối với nước ta, cũng như các nước đang trong quá trình chuyển đổi, việc thực hiện sắp sếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chính là một trong những nội dung thực hiện mục tiêu đó.
3.1.5.3. Đăng tải công khai các thông tin trong việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, tự vệ, chống bán phá giá, trợ cấp
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định hướng dẫn thi hành thì những văn bản và các thông tin liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan được đăng tải trên Công báo sở hữu công nghiệp do Bộ Khoa học và Công nghệ xuất bản, phát hành và trên Công báo quyền tác giả và các quyền liên quan do Bộ Thông tin và Truyền thông xuất bản, phát hành. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Thực hiện các quy định trên, hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thường xuyên, định kỳ xuất bản Công báo sở hữu công nghiệp để đăng tải công khai những thông tin có liên quan đến vấn đề sở hữu công nghiệp. Ấn phẩm này được xuất bản dưới hình thức ấn phẩm in và điện tử, khá thuận tiện cho việc tra cứu, tìm hiểu những vấn đề có liên quan.
Việc đăng tải công khai các thông tin liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp như đã nêu trên trong thời gian qua và hiện nay là rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Về cơ bản, nội dung, cách thức, thời điểm thông tin của loại hình Công báo này đáp ứng được yêu cầu công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, đến nay, trong số hai loại Công báo đã được quy định trong các văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, mới có Công báo Sở hữu công nghiệp được xuất bản, còn Công báo về quyền tác giả và quyền liên quan chưa được xuất bản. Như vậy, so với các cam kết về minh bạch của Việt Nam khi đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã hoàn thiện về có sở pháp lý cho việc thực hiện cam kết này và đã thực hiện khá tốt hoạt động đăng tải công khai các thông tin về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Còn việc đăng tải các thông tin về quyền tác giả, quyền có liên quan chưa được thực hiện đầy đủ như đối với quyền sở hữu công nghiệp.
Trong thời gian tới, Bộ Thông tin và Truyền thông cần nghiên cứu, có kế hoạch sớm triển khai xuất bản loại hình Công báo này, đảm bảo thực hiện đầy đủ quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và các cam kết của Việt Nam về minh bạch trong WTO. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Theo cam kết, Việt Nam sẽ xuất bản bản tin để đăng tải các thông tin và các quyết định liên quan đến các biện pháp tự vệ, trợ cấp, chống bán phá giá. Thực hiện cam kết này, hiện nay, Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương đã xuất bản bản tin này trên Internet để thông tin kịp thời đến các doanh nghiệp có liên quan đến vấn đề này. Như vậy, có thể thấy, các cam kết này đã được thực thi khá nghiêm túc ở Việt Nam.
3.1.5.4. Kiện toàn bộ máy hành chính minh bạch, hệ thống tòa án độc lập, công bằng
Một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo để các chính sách thương mại được thực thi một cách công bằng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các thành phần kinh tế là phải xây dựng một nền hành chính minh bạch, nền tư pháp trong sạch, trong đó, phải có hệ thống tòa án độc lập, công bằng.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền. Bộ máy nhà nước được tổ chức trên nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Trên tinh thần đó, trong giai đoạn 2014 – 2024, bộ máy hành chính nhà nước đã có những bước cải cách căn bản, hướng tới một nền hành chính hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; từng bước xác định rõ những việc do nhà nước đảm nhận, đẩy mạnh xã hội hóa đối với những việc mà xã hội và doanh nghiệp có thể thực hiện tốt hơn; tách bạch nhiệm vụ quản lý nhà nước với nhiệm vụ quản trị kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở đó, bộ máy hành chính ở Trung ương đã được kiện toàn theo hướng giảm đầu mối, tổ chức các Bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; thực hiện phân cấp mạnh cho các cấp chính quyền địa phương. Chính phủ và các Bộ tập trung thực hiện tốt chức năng xây dựng, ban hành thể chế, chính sách, quản lý vĩ mô nền kinh tế; tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật. Song song với đó, chính quyền địa phương cũng đã từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu công tác quản lý nhà nước; gắn liền giữa giao quyền và trách nhiệm. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Sau hơn 10 năm thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2014 – 2024, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đã bước đầu được phân định rõ ràng hơn, thủ tục hành chính đã từng bước được đơn giản hóa theo hướng thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp; đội ngũ công chức từng bước được đào tạo theo hướng chuẩn hóa về nghiệp vụ, góp phần vào việc thực thi có hiệu quả hơn công tác quản lý hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, kết quả công tác cải cách hành chính trong giai đoạn này còn chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều bất cập. Nhìn khái quát có thể thấy một số nét chính: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước còn chưa thật sự rõ ràng; tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều vấn đề còn đang trong quá trình tiếp tục nghiên cứu; chất lượng đội ngũ công chức còn hạn chế: số lượng đông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế; tình trạng tham nhũng trong bộ máy hành chính còn nhức nhối, gây bất bình trong cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân; các dịch vụ công chưa đáp ứng được yêu cầu.
Nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém của bộ máy hành chính nhà nước, Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ đặt ra mục tiêu: “Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong công tác quản lý, điều hành của Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ phục vụ nhân dân và phát triển đất nước”. Để thực hiện mục tiêu đó, một trong các nhiệm vụ được đề ra trong Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2024-2020 là: “Tiếp tục xây dựng thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ sung các văn bản về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức, thực hiện chế độ tiền lương đảm bảo để công chức thực hiện có hiệu quả công vụ”.
Đối với hệ thống các cơ quan tòa án, trong thời gian qua, cùng với quá trình đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung, các tòa án nói riêng, đã từng bước được kiện toàn về chức năng, thẩm quyền, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ tư pháp, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 02 tháng 6 năm 2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2015. Trong đó, một trong những quan điểm được đề cập trong quá trình cải cách là: “Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với điều kiện nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế và đáp ứng xu thế phát triển trong tương lai”. Trên cơ sở đó, Chiến lược đề ra phương hướng: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch; tổ chức các cơ quan tư pháp hợp lý, khoa học, hiện đại; các toà án được tổ chức theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu”.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ NGHĨA VỤ MINH BẠCH CỦA VIỆT NAM TRONG WTO Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cam kết của Việt Nam về minh bạch khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
3.2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc lấy ý kiến dự thảo và đăng tải công khai văn bản quy phạm pháp luật
Hiện nay, hoạt động lấy ý kiến dự thảo và đăng tải công khai văn bản quy phạm pháp luật được điều chỉnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Cụ thể: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 và Nghị định số 24/2022/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật nói trên điều chỉnh đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (năm 2017) và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật năm 2017 điều chỉnh hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Nghị định số 100/2023/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Chính phủ điều chỉnh hoạt động đăng tải văn bản pháp luật trên Công báo, áp dụng chung đối với các văn bản pháp luật ở Trung ương và địa phương.
Để thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước nói chung, công tác lấy ý kiến đối với các dự thảo và đăng tải công khai văn bản quy phạm pháp luật nói riêng, trong thời gian tới, nên hợp nhất hai luật nói trên, trong đó, thống nhất quy định một số nội dung sau đây:
- Quy định trách nhiệm lấy ý kiến các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng/Trang Thông tin điện tử của cơ quan ban hành với thời gian cụ thể như sau: Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sẽ do Chính phủ ban hành hoặc do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Thời hạn đăng tải lấy ý kiến là 60 ngày;
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của các cơ quan này. Thời hạn đăng tải là 60 ngày;
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thời hạn đăng tải là 45 ngày;
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Thời hạn đăng tải lấy ý kiến là 30 ngày.
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã được niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Thời hạn niêm yết là 15 ngày.
Xác định rõ trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc xác định các dự thảo văn bản cần thông báo và thực hiện việc thông báo các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đối với các Ủy ban của WTO hoặc đến các thành viên theo quy định chung của Tổ chức này, đảm bảo để việc thông báo được nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời cùng với thời điểm lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân (kể cả dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cấp tỉnh).
Quy định thống nhất thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật của tất cả các cấp theo hướng: thời hạn được quy định ngay tại văn bản nhưng không sớm hơn:
- 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương;
- 30 ngày, kể ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Quy định thống nhất thời hạn đăng Công báo là 15 ngày, kể từ ngày Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhận được văn bản, đảm bảo để văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện được đăng Công báo trước thời điểm có hiệu lực thi hành;
Hiện nay, pháp luật không quy định bắt buộc về việc phải đăng Công báo đối với các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện. Việc đăng tải hay không là quyết định của cơ quan ban hành. Vì vậy, để đảm bảo thống nhất việc đăng tải một cách đầy đủ văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp này, đề nghị cần có quy định thống nhất trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi về việc bắt buộc phải đăng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trên Công báo;
Quy định thống nhất các cơ quan có trách nhiệm đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành trong thời hạn 2 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành; văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã chậm nhất sau 2 ngày và phải được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Uỷ ban nhân dân cấp huyện chậm nhất trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.
Quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, Bộ Tư pháp là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu nói trên. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, kể cả các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, đảm bảo việc kết nối, tích hợp một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành vào cơ sở dữ liệu quốc gia, phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước và nhu cầu tìm hiểu, thực hiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.
Song song với quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc lấy ý kiến và đăng tải công khai văn bản quy phạm pháp luật, cần giao cho một cơ quan chức năng (có thể là Bộ Tư pháp) là cơ quan đầu mối tổng hợp, đánh giá kết quả việc triển khai những quy định nói trên. Theo đó, hàng năm, các Bộ, ngành, địa phương cần có báo cáo đánh giá tình hình, kết quả triển khai; Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng báo cáo tổng hợp, tổ chức sơ kết hoặc tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm.
3.2.2. Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc đăng tải công khai các bản án, quyết định của Tòa án Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Hiện nay, chủ trương đăng tải công khai các bản án, quyết định của Tòa án đã được khẳng định trong Chiến lược cải cách tư pháp nhằm từng bước minh bạch công tác xét xử và nâng cao chất lượng công tác xét xử của Tòa án, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chưa có văn bản quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng, trình tự, thủ tục, thời hạn, hình thức và trách nhiệm trong việc đăng tải các bản án của các Tòa án. Trong thời gian tới, đề nghị cần nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này (có thể đưa vào Luật sửa đổi, bổ sung các đạo luật về tố tụng, Luật tổ chức tòa án nhân dân), làm cơ sở pháp lý cho việc đăng tải công khai các bản án, quyết định của Tòa án. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, đăng tải rộng rãi các bản án trên Internet (trừ những bản án, phán quyết không thuộc đối tượng công khai) phục vụ cho quá trình tra cứu, tìm hiểu, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan tư pháp.
3.2.3. Công khai thủ tục hành chính và các thông tin liên quan đến bảo hộ quyền tác giả, quyền có liên quan
Tiếp tục đẩy mạnh công tác cập nhật, đăng tải công khai Bộ thủ tục hành chính trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, trên cơ sở kết nối, tích hợp bộ thủ tục hành chính của các Bộ, ngành, địa phương.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với hoạt động của Công báo sở hữu công nghiệp và Công báo về quyền tác giả và quyền có liên quan đảm bảo để những thông tin được đăng tải chính xác, đầy đủ, kịp thời. Song song với quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý, Bộ Thông tin và Truyền thông cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sớm xuất bản Công báo về quyền tác giả và quyền có liên quan theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đáp ứng yêu cầu của WTO về vấn đề minh bạch trong việc bảo hộ quyền tác giả và các quyền có liên quan.
3.2.4. Đẩy mạnh công tác rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Trong thời gian tới, các cơ quan cần phối hợp đẩy mạnh công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, trong đó tập trung vào việc hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, cải cách hành chính, đảm bảo hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, hạn chế những đặc quyền, đặc lợi của doanh nghiệp nhà nước; áp dụng hình thức ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản do cùng một cơ quan ban hành, đảm bảo tiến độ và chất lượng công tác xây dựng pháp luật, khắc phục những chồng chéo của hệ thống pháp luật.
Trong thời gian tới, các cơ quan nhà nước ở Trung ương chuẩn bị các điều kiện cần thiết, tập trung triển khai thực hiện các quy định của Pháp lệnh Pháp điển hóa hệ thống pháp luật, đảm bảo để hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, khả thi, dễ tra cứu, thực hiện, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước bằng và theo pháp luật.
Trên cơ sở tiến hành rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, cần tập trung cho công tác thẩm định, thẩm tra sự phù hợp của các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật với các cam kết trong các điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam; từng bước rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định của pháp luật phù hợp với các cam kết về lộ trình cắt giảm các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, đảm bảo các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp; sử dụng hợp lý các biện pháp bảo hộ doanh nghiệp trong nước theo đúng quy định của WTO dành cho các quốc gia đang phát triển.
Tiến hành rà soát, kiểm tra, hủy bỏ các văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật, như: Công văn, Thông báo, Quyết định cá biệt,… đảm bảo để các quy định có tính áp dụng chung phải được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng theo đúng trình tự, thủ tục, công khai, minh bạch và được thực hiện thống nhất. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
3.2.5. Hoàn thiện nhà nước pháp quyền
Tiếp tục đẩy mạnh tiến trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền (đổi mới công tác xây dựng pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp), trong đó tập trung vào việc đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, cả Trung ương và địa phương theo hướng hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Cải tiến hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để công tác này nhanh chóng, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; khắc phục sự chồng chéo, không khả thi hoặc bỏ trống điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật. Cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp đến năm 2020 theo hướng xây dựng hệ thống hành chính thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; các cơ quan hành chính nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, có bộ máy tinh gọn, hợp lý; có đội ngũ công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu; các thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện, tiết giảm tối đa chi phí, công sức, thời gian cho người dân và doanh nghiệp; từng bước công khai, minh bạch các hoạt động hành chính nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh với những biện pháp kiên quyết trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy hành chính nhà nước. Xây dựng hệ thống cơ quan Tòa án hoạt động độc lập, hiệu quả hơn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, được tổ chức theo cấp xét xử, có đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế, đảm bảo để những phán quyết trong việc giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với các quy định của pháp luật; nghiên cứu, thành lập Tòa án Hiến pháp thực hiện chức năng bảo vệ và giải thích hiến pháp; phán quyết đối với những văn bản Luật, dưới Luật trái với Hiến pháp, đảm bảo trật tự Hiến pháp, bảo vệ quyền, lợi ích của công dân, Nhà nước.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Minh bạch quá trình xây dựng và thực thi chính sách pháp luật liên quan hoặc tác động đến thương mại là một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO nhằm đảm bảo môi trường tự do kinh doanh, thúc đẩy giao lưu thương mại quốc tế. Đây là nghĩa vụ phải thực hiện của tất cả các thành viên sáng lập hay gia nhập WTO. Vi phạm những quy định này là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của WTO. Trên thực tế đã có một số vụ kiện lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về vấn đề này. Vì vậy, nghiên cứu để thực thi đẩy đủ các quy định của WTO về minh bạch có ý nghĩa thực tế, hạn chế những tranh chấp liên quan đến vấn đề này.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này nên minh bạch được các quốc gia đề cập, thỏa thuận để trở thành quy định cụ thể có tính ràng buộc pháp lý, nhắc lại trong nhiều Hiệp định khác nhau trên tất cả các lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, trong cơ chế giải quyết tranh chấp và cơ chế rà soát chính sách thương mại. Các quy định của WTO về minh bạch bao gồm: minh bạch quá trình xây dựng chính sách và minh bạch quá trình thực thi chính sách (mở cửa thị trường), thể hiện ở những yêu cầu sau:
Đăng tải công khai các luật, văn bản dưới luật, các quyết định hành chính, bản án có tính áp dụng chung, các điều ước quốc tế có hiệu lực đối với thành viên có liên quan đến hoặc tác động đến thương mại trước thời điểm chúng có hiệu lực thi hành;
Đăng tải công khai các dự thảo văn bản pháp luật có tính áp dụng chung liên quan hoặc tác động đến thương mại, tạo điều kiện để các bên, các doanh nghiệp hoặc công dân của các bên có thể tiếp cận, bình luận, đóng góp ý kiến;
Thực hiện nghĩa vụ thông báo về các văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc các biện pháp có liên quan hoặc tác động đến thương mại cho các bên thông qua Ban Thư ký hoặc thông tin theo yêu cầu của các bên; thiết lập các mạng lưới hỏi đáp, thông tin, giải thích chính sách pháp luật thương mại;
Thực hiện nghĩa vụ rà soát định kỳ nhằm đánh giá chính sách thương mại của mỗi thành viên, đảm bảo môi trường pháp lý thông thoáng, phù hợp với luật lệ của WTO, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp của các bên;
Thực hiện nghĩa vụ minh bạch trong quá trình thực thi pháp luật (nghĩa vụ này rất rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động cần thiết của nhà nước nhằm đảm bảo để mở cửa thị trường, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh như đã cam kết, không được bóp méo thị trường qua quá trình thực thi, như: phải đảm bảo hệ thống quản lý hành chính nhà nước minh bạch, hệ thống tòa án công bằng, không tạo ra các hàng rào thuế quan, phi thuế quan không phù hợp với các quy định chung của WTO nhằm tạo ra các rào cản thương mại,…). Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Đối với Việt Nam, khi gia nhập, như bất kỳ quốc gia nào, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi đầy đủ các quy định của WTO về minh bạch. Trong quá trình đàm phán gia nhập, vấn đề minh bạch được đề cập khá nhiều và là vấn đề nhiều quốc gia quan tâm, thậm chí bày tỏ sự quan ngại.
Tuy nhiên, minh bạch quá trình xây dựng và thực thi chính sách pháp luật nói chung, pháp luật thưong mại nói riêng, là xu thế tất yếu, khách quan, phù hợp với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Vì vậy, trong quá trình đàm phán Việt Nam đã nỗ lực giải đáp, thuyết phục và chứng minh bằng kết quả thực tế. Ngoài cam kết thực hiện đầy đủ các cam kết của WTO về minh bạch, Việt Nam còn cam kết một số nội dung cụ thể đi xa hơn so với nghĩa vụ của các nước. Những nỗ lực của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực nói chung, trong vấn đề minh bạch nói riêng, về cơ bản, đã làm hài lòng các thành viên và Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức này.
Về cơ bản, sau 5 năm trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã thực hiện khá đầy đủ các cam kết về minh bạch quá trình xây dựng pháp luật như: thông báo, lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương có liên quan hoặc tác động đến thương mại; đăng tải công khai văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo và trên Internet; thiết lập mạng lưới thông tin, giải đáp chính sách pháp luật thương mại; đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại phù hợp với các quy định của WTO, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, trong đó, từng bước thực hiện tách hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước với hoạt động quản lý hành chính,…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, còn một số hạn chế, yếu kém trong quá trình minh bạch quá trình xây dựng và thực thi chính sách pháp luật thương mại, như: việc lấy ý kiến các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu; hoạt động công khai văn bản của chính quyền cấp huyện, xã còn chưa phù hợp; hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, thiếu tính đồng bộ, khả thi; thủ tục hành chính còn chưa thật sự được tinh giản; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp còn thiếu rõ ràng, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng; tình trạng tham nhũng, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, làm nản lòng người dân và doanh nghiệp; hệ thống doanh nghiệp nhà nước chưa được đổi mới, sắp xếp kịp thời, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, chưa phân định rạch ròi chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp với chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước. Có thể nói, trong hai khâu: xây dựng và thực thi pháp luật, minh bạch trong khâu thứ hai còn là khâu yếu, rất cần phải được quan tâm, nỗ lực khắc phục trong thời gian tới.
Nhằm khắc phục những hạn chế nói trên, tiếp tục thực hiện đầy đủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, đòi hỏi cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ việc hoàn thiện cơ sở pháp lý đến tổ chức triển khai trên thực tế đối với tất cả các lĩnh vực, trong đó, bên cạnh việc tập trung sửa đổi, bổ sung, trên cơ sở hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương và địa phương theo hướng thống nhất một số nội dung liên quan đến minh bạch quá trình xây dựng pháp luật, cần tập trung đẩy mạnh hơn nữa minh bạch trong thực thi pháp luật – một trong khâu yếu hiện nay, như: thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghiệp trong nước, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; chuyển chức năng đại diện phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp từ các cơ quan quản lý hành chính sang một đầu mối thống nhất (hiện nay cơ quan này là Tổng Công ty kinh doanh và đầu tư vốn) để các cơ quan hành chính nhà nước tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định, đáp ứng yêu cầu quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
Tại Diễn đàn Shangri-La 12, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng. Khi đề cập đến giải pháp đảm bảo an ninh, ổn định, hòa bình, hợp tác trong khu vực và thế giới, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: “Lòng tin là khởi nguồn của mọi mối quan hệ hữu nghị, duy trì hòa bình, ổn định”. Để xây dựng lòng tin chiến lược, “cần tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm của các quốc gia”. Và, “Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp thường xuyên bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với luật pháp quốc tế và với thái độ chân thành”.
Từ góc độ này, cho thấy, việc thực hiện luật pháp quốc tế nói chung, các quy định của WTO về minh bạch nói riêng, cũng chính là quá trình xây dựng lòng tin chiến lược, tạo hình ảnh đẹp của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quá trình thực hiện các quy định về minh bạch đỏi hỏi sự vào cuộc tích cực của tất cả hệ thống các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp trong tất cả các khâu, từ xây dựng đến thực thi chính sách pháp luật, không chỉ trong thời gian trước mắt mà cần phải thực hiện lâu dài, với thái độ chân thành, cởi mở, hội nhập. Cần có những đột phá mới trong minh bạch thực thi chính sách pháp luật.
Việc xây dựng lòng tin, thiết lập mối quan hệ hữu nghị với các quốc gia, duy trì ổn định và phát triển có ý nghĩa quan trọng trong bất cứ thời điểm nào, đặc biệt là hiện nay trong khu vực “Đâu đó đã có biểu hiện về sự đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, trái luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”, như người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã chỉ ra tại Diễn đàn nói trên. Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Minh bạch trong Wto và việc thực thi của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN