Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số yêu cầu và giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Một số yêu cầu cơ bản góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định
Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị có Nghị quyết về cải cách tư pháp. Để tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách tư pháp, ngày 2/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” với mục tiêu nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
Chương một của đề tài đã phân tích những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cho thấy có nhiều quy định cần được sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự được coi là một giải pháp đầu tiên, quan trọng góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành kiểm sát. Cụ thể như sau:
Trước hết, về đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Toà án ban hành rất nhiều loại quyết định nhưng chưa quy định cụ thể những quyết định nào là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm. Bộ luật tố tụng hình sự thì những quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm bao gồm: quyết định tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ vụ án; quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và các quyết định khác. Với đối tượng là các quyết định khác, Nghị quyết không đề cập cụ thể là những quyết định nào mà chỉ hướng dẫn chung chung: trường hợp kháng nghị đối với các quyết định khác, thì Toà án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và văn bản pháp luật có liên quan quy định về thẩm quyền và năm đầu là một chặng đường còn rất ngắn và có nhiều thách thức đối với việc thực hiện công cuộc cải cách tư pháp mang tầm chiến lược này, nhất là trong bối cảnh từ tư duy, nhận thức, nghiên cứu lý luận, thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ đến cơ chế hoạt động tư pháp còn nhiều bất cập, bất hợp lý nhưng lại chậm được đổi mới, kiện toàn, công tác tư pháp chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân khi bước vào thiên niên kỷ mới, như nhận định của Bộ Chính trị(3). Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo sát sao, có trọng tâm, trọng điểm của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, các ban cán sự đảng, đảng đoàn các cơ quan tư pháp Trung ương và ban chỉ đạo cải cách tư pháp của các tỉnh ủy, thành ủy, cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả ban đầu quan trọng, trong đó, cái được đầu tiên là đã có sự chuyển biến tích cực hơn trong nhận thức của xã hội, của các cấp ủy và chính quyền về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp đối với sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững, trật tự, an toàn của đất nước và của mỗi địa phương.
Một kết quả nổi bật, có ý nghĩa tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để triển khai Chiến lược là việc các cơ quan tư pháp đã tham mưu và trình Quốc hội thông qua các đạo luật về hình sự, về tố tụng, về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án, các tổ chức bổ trợ tư pháp, nhằm thể chế hóa đúng đắn các quan điểm, chủ trương cải cách trong các nghị quyết của Đảng. Cụ thể: Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung theo hướng thể chế hóa chính sách hình sự nhân đạo hơn, bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm, hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền; Luật Tố tụng hành chính được xây dựng theo hướng mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính, bảo đảm sự bình đẳng giữa người dân và cơ quan công quyền trước tòa án; Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án hình sự đều hướng tới bảo đảm các bản án, quyết định của tòa án được thi hành nghiêm minh theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục minh bạch, dân chủ, công khai, phù hợp với tính chất của từng loại án, quy định rõ tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thi hành án, cơ quan quản lý thi hành án, thể chế hóa những chủ trương mới trong thi hành án, như thay đổi hình thức thi hành án tử hình, xã hội hóa một số khâu thi hành án dân sự… Đặc biệt, các đạo luật về luật sư, trợ giúp pháp lý, công chứng, trọng tài thương mại… đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển các nghề luật phù hợp với yêu cầu và trình độ của nền kinh tế thị trường trong điều kiện văn hóa – xã hội cụ thể của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp. Có thể nói, sự ra đời và hoạt động của gần 3 nghìn tổ chức luật sư, công chứng, trợ giúp pháp lý, trọng tài và thừa phát lại (dù mới đang trong giai đoạn thí điểm) đã thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng các dịch vụ pháp luật, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thiết thân của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp, đồng thời góp phần hỗ trợ các cơ quan tư pháp tăng cường tính dân chủ, nghiêm minh, công khai và minh bạch trong hoạt động, giảm tải dần công việc, biên chế và chi phí hành chính của các cơ quan nhà nước liên quan, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính.
Mặc dù các đề án về cải cách tổ chức của các cơ quan tư pháp theo định hướng của Chiến lược còn đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng, nhưng trong 5 năm qua, quá trình tăng thẩm quyền cho các tòa án cấp huyện đã được hoàn thành theo nghị quyết của Quốc hội; các cơ quan điều tra, kiểm sát cũng được sắp xếp lại một bước, cùng với việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan tư pháp đã tạo nên những tiền đề quan trọng để triển khai đồng bộ các nội dung cải cách tổ chức ở giai đoạn sau. Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều có bước tiến bộ đáng ghi nhận: giảm đáng kể số vụ phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, hạn chế việc tạm giữ, tạm giam quá hạn; số bị can bị khởi tố, truy tố oan giảm nhiều; việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng việc, đúng thời hạn tăng lên, tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa, bị hủy đều giảm, hạn chế những vụ án có sai lầm nghiêm trọng; tổ chức thi hành nghiêm, kịp thời các bản án, quyết định hình sự của tòa án; hoạt động thi hành án dân sự có bước chuyển biến mạnh mẽ, kết quả thi hành án năm sau liên tục cao hơn năm trước, giải quyết dứt điểm một số vụ việc thi hành án phức tạp, kéo dài; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp được quan tâm thúc đẩy; cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã khởi tố điều tra nhiều vụ án về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đưa ra nhiều kiến nghị yêu cầu cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Hiện nay, giữa những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về diện các quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm với việc nhận thức, giải thích và vận dụng trong thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng còn có những “xung đột”. Do vậy, để loại bỏ những “xung đột” này cần có giải pháp là, trong Bộ luật tố tụng hình sự (hoặc Thông tư liên ngành) phải xác định rõ những quyết định nào là đối tượng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự. Tại các phần trên đã phân tích và tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về các điều kiện để một quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm. Theo tác giả, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung mới hoặc trong Thông tư liên ngành Toà án – Viện kiểm sát cần quy định rõ các quyết định sau đây là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đồng thời, cũng phải xác định những quyết định trên phải được Toà án gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn hai ngày kể từ ngày ra quyết định, để có căn cứ tính thời hạn kháng nghị phúc thẩm. Đó là các quyết định: quyết định đình chỉ vụ án hình sự; quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử.
Đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, đã có sự trưởng thành về số lượng và chất lượng. Công tác quy hoạch, rà soát, đánh giá, luân chuyển, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp được thực hiện đồng bộ, khá bài bản; kết hợp cải thiện từng bước chế độ, chính sách đãi ngộ với việc xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với các sai phạm của cán bộ, công chức tư pháp. Việc đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào quá trình chuẩn hóa từng bước đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên cũng như những người hành nghề luật sư, công chứng cả về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ.
Sau nhiều năm đầu thực hiện Chiến lược, tuy hoạt động cải cách chưa thật sự đi sâu vào khâu trung tâm của hệ thống tư pháp với các giải pháp đột phá, cơ bản, nhưng những kết quả đạt được về mặt thể chế, về tổ chức và hoạt động của các khâu bổ trợ tư pháp, thi hành án, về tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, cũng đã tạo nên một số tiền đề và điều kiện cần thiết cho những cải cách cơ bản, sâu rộng hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, như Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã nhận định: Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ, đặt trong yếu kém chung của 10 năm qua là việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý nhà nước, năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật đều còn yếu. Nguyên nhân của sự chậm trễ, thiếu đồng bộ trong cải cách tư pháp đã được Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương phân tích sâu sắc, trong đó, nguyên nhân đầu tiên chính là sự nhận thức chưa thực sự đúng mức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cơ quan ở Trung ương, cấp ủy và chính quyền địa phương về vị trí, tầm quan trọng của công tác tư pháp và cải cách tư pháp; việc nghiên cứu lý luận cơ bản về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp trong cơ chế tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được quan tâm đúng mức, tiến hành chưa bài bản, kết quả chưa thấu đáo; việc tổng kết thực tiễn tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp chưa thực hiện thường xuyên, chưa có những đánh giá đầy đủ, khách quan về tác động kinh tế – xã hội của hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp…
Chính vì vậy, yêu cầu đầu tiên, là hạt nhân trung tâm nhất để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng hoàn thiện pháp luật là vấn đề con người, vấn đề cán bộ với đầy đủ các tiêu chuẩn về trình độ pháp lý, trình độ chuyên môn, các kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các lĩnh vực chuyên môn có liên quan và đặc biệt là có năng lực và sở trường, có phẩm chất chính trị tốt và đạo đức cách mạng trong sáng để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, cần có sự tác động qua lại cũng như kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng, người có thẩm quyền THTT để cơ bản thống nhất trong áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ án hình sự.
3.2. Một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
3.2.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kháng nghị phúc thẩm hình sự theo hướng ổn định và đồng bộ
KNPT nói chung trong các lĩnh vực tố tụng, trong đó có lĩnh vực hình sự là quyền năng pháp lý mà pháp luật chỉ giao cho viện kiểm soát. Để tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm trên một cấp thì điều căn bản là Viện kiểm sát cấp trên phải nghiên cứu đầy đủ được các bản án hình sự sơ thẩm để phát hiện vi phạm và kháng nghị, tức là phải có “nguồn” để kháng nghị. Muốn làm được điều đó thì Viện kiểm sát cấp dưới phải đôn đốc Toà án cùng cấp gửi bản án đúng quy định. Đồng thời, Bộ luật tố tụng hình sự cũng cần quy định bổ sung, Toà án cấp sơ thẩm ngoài việc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp phải gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Quy định như vậy làm cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm không bị mất một khoảng thời gian đợi bản án sơ thẩm được gửi từ Viện kiểm sát cấp dưới mà trực tiếp nhận được bản án của Toà án cấp sơ thẩm gửi lên. Ví dụ: ngày 10/01/2007 Toà án gửi bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát cùng cấp xem bản án và làm thủ tục chuyển cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, thì ít nhất ngày 11/01/2007, Viện kiểm sát cấp dưới mới gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên. Nếu quy định Toà án cấp sơ thẩm gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì ngày gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên là ngày 10/01/2007. Mặt khác, thực tế hiện nay các Viện kiểm sát cấp dưới gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không thực hiện ngay khi nhận được bản án của Toà án mà một tuần gửi một lần thông qua cán bộ văn thư; đối với các tỉnh có địa bàn rộng, việc gửi bản án của Viện kiểm sát cấp dưới cho Viện kiểm sát cấp trên thường thực hiện thông qua con đường bưu điện. Bởi lẽ, việc Viện kiểm sát cấp dưới gửi bản án Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp ngay khi nhận được bản án sơ thẩm của Toà án gửi sang là rất khó khăn và mất thời gian cũng như công sức. Mặt khác, hầu như ngày nào Viện kiểm sát cùng cấp cũng nhận được bản án sơ thẩm của Toà án cùng cấp. Đặc biệt là việc gửi bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ yếu thông qua con đường bưu điện. Do đó sẽ rất mất thời gian, không đảm bảo đúng thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày. Để tránh được tình trạng Viện kiểm sát cấp phúc thẩm muốn kháng nghị nhưng lại hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm trên một cấp và tạo điều kiện cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới một cách kịp thời, cần quy định Toà án cấp sơ thẩm cùng với việc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp phải gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Về cách tính thời điểm bắt đầu và kết thúc đối với trường hợp kháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm hiện nay trong Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định một cách cụ thể. Tại Nghị quyết số 05 ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao mới hướng dẫn về cách tính thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hạn kháng nghị đối với bản án mà chưa hướng dẫn đối với trường hợp kháng nghị đối với các quyết định sơ thẩm. Do vậy, trong Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung cần quy định rõ cách tính thời điểm bắt đầu cũng như kết thúc của thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm. Hoặc trong hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần bổ sung cách tính thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hạn kháng nghị đối với quyết định sơ thẩm. Tránh tình trạng tính thời hạn kháng nghị đối với quyết định sơ thẩm không thống nhất như hiện nay. Cụ thể là, thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị đối với quyết định sơ thẩm của Toà án là ngày tiếp theo của ngày được xác định.
3.2.2. Tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, đầy đủ, toàn diện Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các đạo luật về tư pháp khác, các Nghị quyết của Quốc hội và Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, cần phải nắm vững cơ sở pháp lý được quy định trong Luật Tổ chức viện kiểm soát nhân dân năm 2014, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các đạo luật về tư pháp khác, các Nghị quyết của Quốc hội và Chỉ thị của Viện trưởng viện kiểm soát nhân dân tối cao về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.
BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Bộ luật hình sự năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển ở mức cao hơn những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay, nhất là của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bộ luật hình sự 2015 gồm có 03 phần, 26 chương, 426 điều(tăng 02 chương và 72 Điều so với Bộ luật hình sự năm 1999) trong đó có nhiều điểm mới quan trọng như: Bổ sung quy định, hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù; bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại; thay đổi chính sách hình sự đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; thay đổi chính sách hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội; bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện; bổ sung các tội phạm mới, bãi bỏ một số tội phạm; cụ thể hóa các tình tiết có tính chất định tính…
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, phòng ngừa, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
BLTTHS năm 2015 có kết cấu gồm 09 phần, 36 chương, 510 điều. Trong đó có nhiều nội dung mới cơ bản như: Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự; quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan tố tụng, tạo điều kiện để các cơ quan thực hiện tốt trách nhiệm luật định; phân định thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp; tăng quyền, tăng trách nhiệm cho Điều tra viên, KSV, Thẩm phán; quy định cụ thể trình tự, thủ tục trong từng giai đoạn tố tụng; đổi mới chế định chứng minh và chứng cứ; quy định chặt chẽ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo…
Trước yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, để thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Thực tiễn thi hành Luật Tổ chức viện kiểm soát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh KSV viện kiểm soát nhân dân, Pháp lệnh tổ chức viện kiểm soát quân sự năm 2002 cho thấy còn có một số vướng mắc, bất cập, như cơ chế bảo đảm cho viện kiểm soát nhân dân thực hiện quyền hạn, trách nhiệm chưa đầy đủ và hiệu quả; chế độ pháp lý của KSV chưa thực sự phù hợp với trách nhiệm, quyền hạn; chế độ, chính sách bảo đảm hoạt động của viện kiểm soát nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng; không đảm bảo đáp ứng đầy đủ yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nâng cao vai trò, vị trí của viện kiểm soát nhân dân tương đồng với Viện công tố/VKS các nước trên thế giới…
Do đó, cần thiết phải sửa đổi Luật tổ chức viện kiểm soát nhân dân để tạo cơ sở pháp lý đổi mới toàn diện về hệ thống tổ chức; các nguyên tắc thực hiện chức năng, nhiệm vụ; chuẩn hóa các chức danh tư pháp và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự giám sát bên trong và bên ngoài hệ thống, nhất là sự giám sát của cơ quan dân cử. Luật tổ chức viện kiểm soát nhân dân năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2014 là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của Ngành kiểm soát nhân dân. Luật này có nhiều điều chỉnh quan trọng, thể chế hóa đầy đủ các yêu cầu cải cách tư pháp; cụ thể hóa chế định viện kiểm soát nhân dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013; Về nhiệm vụ của viện kiểm soát nhân dân được quy định đầy đủ hơn, rộng hơn; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong Luật tổ chức viện kiểm soát nhân dân và các Pháp lệnh hiện hành; thể hiện đúng vị trí, vai trò của viện kiểm soát nhân dân trong việc thực hiện quyền lực nhà nước và trách nhiệm đối với xã hội, công dân; tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của viện kiểm soát nhân dân đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và VPPL trong tình hình mới. Quán triệt Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện kiểm soát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, Nghị quyết 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống VPPL và tội phạm, viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định xác định công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, từ đó đề ra các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện trong kế hoạch, chương trình công tác hàng năm của mỗi đơn vị.
Việc triển khai thực hiện các luật này là rất cần thiết và quan trọng nhằm đưa các luật đi vào cuộc sống, phát huy giá trị thực tiễn, nhất là những điểm mới, tiến bộ. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về nội dung và ý nghĩa của các luật, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, tổ chức tốt việc thực thi pháp luật. Đồng thời, nâng cao nhận thức về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, nhằm góp phần quan trọng vào thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lợi của nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
3.2.3. Tăng cường hơn nữa công tác quản lý, chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Cùng với việc nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của mỗi Kiểm sát viên trong công tác kháng nghị phúc thẩm thì tăng cường lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên với Viện kiểm sát cấp dưới là một giải pháp cần tiến hành một cách thường xuyên, có định hướng. Tăng cường lãnh đạo, hướng dẫn của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với các Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện. Tức là Viện kiểm sát cấp trên vạch ra đường lối, chỉ đạo về công tác kháng nghị đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Hàng năm đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu, phương hướng cụ thể đối với các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đối với Viện kiểm sát nhân dân thành phố mà trực tiếp là Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự phải thường xuyên quan tâm đến công tác hướng dẫn, thông báo rút kinh nghiệm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện những trường hợp kháng nghị bị rút, kháng nghị mà Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận, trong đó cần phải thống nhất một quan điểm là: kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới đã được Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận thì đó là kháng nghị đạt yêu cầu, còn việc Viện kiểm sát cấp trên không bảo vệ được kháng nghị là trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp trên. Hiện nay, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự mới. Do đó, lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp tỉnh cần tổ chức quán triệt tới từng cán bộ, Kiểm sát viên toàn bộ nội dung của Quy chế và đặc biệt nhấn mạnh đến một số điểm mới để toàn bộ cán bộ, Kiểm sát viên kịp thời nắm bắt, thực hiện hiệu quả.
Đối với những vướng mắc của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới trong công tác kháng nghị phúc thẩm phải xin ý kiến chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên cần có sự hướng dẫn kịp thời. Hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có sự tổng kết đánh giá về công tác kháng nghị trong toàn ngành kiếm sát, từ đó rút ra những ưu nhược điểm của công tác kháng nghị phúc thẩm để cùng rút kinh nghiệm. Đồng thời, cần xây dựng những mô hình tổ chức rút kinh nghiệm thường xuyên bằng cách tập huấn, hội thảo, trao đổi thông tin, mở rộng quan hệ nội bộ Viện kiểm sát nhân dân trong cả nước là điều kiện tốt nhất cho việc trau dồi kinh nghiệm. Kinh nghiệm được rút ra từ cấp trên, từ các khâu công tác, thậm chí từ cấp dưới được thông tin lên đều phải được trân trọng và phổ cập đến mọi cán bộ. Kinh nghiệm công tác phải là sản phẩm chung của mọi người. Từ những đường lối chỉ đạo chung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần quán triệt cho các Viện kiểm sát cấp quận, huyện thuộc tỉnh mình.
Ngược lại, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên không chỉ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo mà còn phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có được quán triệt tới từng đơn vị và thực hiện một cách nghiêm túc không. Đôn đốc các Viện kiểm sát cấp cấp dưới thực hiện tốt công tác thông kê, báo cáo định kỳ qua đó để Viện kiểm sát cấp trên nắm bắt nhanh chóng tình hình đề ra phương hướng kịp thời. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Thông qua công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên sẽ nắm bắt được các vướng mắc của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới trong việc quyết định có kháng nghị hay không để có hướng dẫn kịp thời. Ngược lại, việc kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên sẽ giúp cho việc phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị cùng cấp thì thực hiện kháng nghị trên một cấp, hạn chế việc không kháng nghị do hết thời hạn. Ngược lại, thực hiện việc báo cáo thường xuyên của Viện kiểm sát cấp dưới sẽ giúp cho việc kháng nghị trên một cấp có hiệu quả. Cần coi việc báo cáo Viện kiểm sát cấp trên để kháng nghị phúc thẩm cũng là hoàn thành tốt chức năng kiểm sát hoạt động xét xử của Viện kiểm sát cấp dưới.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt những nội dung trên, giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới cần có sự phối hợp với nhau trên cơ sở quy chế của ngành và các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Việc phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự là rất cần thiết, nhằm kịp thời phát hiện các vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án để có kháng nghị đúng thời hạn. Để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm thì hàng năm Phòng kiểm sát xét xử phúc thẩm cấp tỉnh cần có tổng kết đánh giá kết quả xét xử phúc thẩm, để thông báo kịp thời cho Viện kiểm sát đã xét xử sơ thẩm. Trong đó cần chú ý tổng kết các trường hợp cải sửa của cấp phúc thẩm đối với các bản án sơ thẩm về mức án, việc cho bị cáo được hưởng án treo hoặc việc huỷ án sơ thẩm vì có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự, về việc đánh giá chứng cứ, vai trò đồng phạm…Từng tháng có thông báo kết quả xét xử phúc thẩm cho các Viện kiểm sát sơ thẩm biết.
Khi Viện kiểm sát cấp huyện đã kháng nghị phúc thẩm thì có quyền đề nghị Phòng kiểm sát xét xử phúc thẩm thông báo cho biết kết quả xét xử để có ngay tư liệu làm cơ sở cho việc rút kinh nghiệm. Công tác kháng nghị phúc thẩm cần được Viện kiểm sát các cấp tổ chức kiểm điểm, học tập một cách nghiêm túc. Việc Viện kiểm sát cấp trên rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới phải có căn cứ và làm theo đúng quy chế, tránh việc rút kháng nghị một cách tuỳ tiện.
3.2.4. Thực hiện đầy đủ, đảm báo đúng quy định của pháp luật về các yêu cầu, quy trình nghiệp vụ theo quy chế đảm bảo kiểm sát bản án để xem xét việc kháng nghị phúc thẩm và bảo vệ kháng nghị ban hành
Thời gian tới, viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định cần thực hiện nghiêm quy trình kiểm sát bản án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và bảo vệ kháng nghị ban hành. Thứ nhất, về việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Kiểm sát viên.Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần chỉ đạo Trường cao đẳng kiểm sát tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu ở từng khâu công tác, trong đó có tập trung đào tạo kỹ năng về kháng nghị phúc thẩm cho các Kiểm sát viên. Vì trong công tác kháng nghị phúc thẩm Kiểm sát viên đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hiện nay kỹ năng, cách thức tiến hành kháng nghị là một điểm yếu của đội ngũ các Kiểm sát viên. Các Kiểm sát viên chưa được đạo tạo chuyên sâu về lĩnh vực này mà chủ yếu là theo “lối mòn nghiệp vụ” mà chưa theo bài bản nhất định. Các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ này sẽ tập trung đào tạo cho Kiểm sát viên kỹ năng và trình tự thực hiện kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đặc biệt là công tác đào tạo và tái đào tạo lại đối với đội ngũ Kiểm sát viên. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Thứ hai, về tổ chức và biên chế cán bộ cho ngành kiểm sát cũng như phương tiện làm việc. Hiện nay ở các Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong cả nước chỉ đủ bố trí các Kiểm sát viên chủ yếu tập trung vào việc kiểm sát xét xử các vụ án theo thủ tục phúc thẩm (trung bình biên chế của các phòng là từ 5 đến 7 cán bộ). Chưa có bộ phận chuyên trách kiểm sát các bản án đã xét xử sơ thẩm để phát hiện có vi phạm thì kháng nghị kịp thời. Do đó, cần xem xét tăng cường số lượng cán bộ phù hợp cho Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, để ngoài làm tốt việc kiểm sát xét xử các vụ án theo thủ tục phúc thẩm còn phải nghiên cứu tất cả các bản án sơ thẩm để qua đó phát hiện những vi phạm phải kháng nghị thì ban hành kháng nghị kịp thời. Mặt khác, số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp còn trong tình trạng thiếu. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần bổ sung kịp thời cho các đơn vị của ngành kiểm sát còn chưa đủ số lượng Kiểm sát viên theo biên chế của ngành. Cụ thể, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cần bổ sung là 1.117 người; cấp tỉnh cần bổ sung là 161 người, đặc biệt là đối với các tỉnh miền Tây Nam Bộ đang trong tình trạng thiếu trầm trọng. Về nguồn tuyển dụng có thể là các sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học luật hoặc các khoa luật của các trường đại học trên cả nước; những cán bộ đã đủ thời gian công tác và các điều kiện khác để xem xét bổ nhiệm Kiểm sát viên. Hoặc trước mắt, có thể thực hiện việc luân chuyển cán bộ, những cán bộ ở tỉnh, thành phố thừa Kiểm sát viên theo biên chế về công tác tại những tỉnh còn thiếu… Hiện nay, đời sống cán bộ ngành kiểm sát còn nhiều khó khăn. Trụ sở của đa số Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đều cũ kỹ, trật chội. Trang thiết bị phục vụ cho công việc còn nhiều thiếu thốn, lạc hậu. Có những Viện kiểm sát cấp huyện phải chung phòng làm việc của cán bộ với hội trường nên rất bất tiện, hoặc không có phòng tiếp dân riêng nên phải tiếp dân chung phòng với các cán bộ khác gây khó khăn trong giải quyết công việc; có những trụ sở mùa hè thì nóng, mùa mưa bị dột ướt…Đối với các trụ sở làm việc của viện kiểm sát này Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có sự quan tâm chỉ đạo trong việc cho xây mới.…
3.2.5. Chú trọng hơn nữa công tác quy hoạch, đánh giá, bố trí, bổ nhiệm và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiểm sát viên Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Kiểm sát viên còn là người trực tiếp xây dựng nội dung kháng nghị để trình lãnh đạo viện ký. Do đó, vai trò của Kiểm sát viên trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm. Chính vì vậy, một trong những giải pháp hàng đầu là phải xây dựng được một đội ngũ Kiểm sát viên đủ mạnh; có trình độ năng lực pháp luật và kiến thức xã hội; có nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát trong tình hình mới; có trách nhiệm cao trong công việc.
Đặc biệt là đối với công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, mỗi Kiểm sát viên cần có nhận thức đó là một trong những quyền năng đặc thù của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo cho việc xét xử của Toà án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời, phải hiểu đó còn là nghĩa vụ của mỗi Kiểm sát viên, nghĩa vụ của ngành kiểm sát. Có như vậy mới khắc phục được tư tưởng cho rằng việc ra bản án đúng hay sai là trách nhiệm của Hội đồng xét xử, còn Viện kiểm sát chỉ là người đề nghị. Từ nhận thức như vậy Kiểm sát viên mới thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc phát hiện và đề xuất kháng nghị phúc thẩm.
Tuy nhiên, để thực hiện được trách nhiệm của mình một cách đầy đủ và có chất lượng đòi hỏi Kiểm sát viên phải được đào tạo bồi dưỡng về trình độ nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp, cụ thể là Kiểm sát viên phải nắm vững các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự. Trong đó phải nắm vững và hiểu chính xác các căn cứ của việc kháng nghị theo quy định của Điều 33 quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (được ban hành kèm theo quyết định 122 ngày 14/09/2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Ngoài ra, Kiểm sát viên phải nhận thức đầy đủ về các chế định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn có liên quan, có như vậy thì các đề xuất kháng nghị mới bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp, tránh tình trạng kháng nghị tràn lan hoặc ban hành kháng nghị với chất lượng thấp. Kiểm sát viên cần có những kỹ năng nghề nghiệp từ việc phát hiện các vi phạm của Toà án trong quá trình xét xử, đến việc tổng hợp đánh giá và đề xuất để lãnh đạo viện kháng nghị. Muốn vậy thì Kiểm sát viên trước hết phải làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà từ trình tự khai mạc phiên toà đến khi tuyên án, lưu ý các định hướng của Hội đồng xét xử khi thẩm vấn; lý lẽ của Hội đồng xét xử khi quy kết các vấn đề của vụ án như: tội danh, tính chất mức độ nguy hiểm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; việc làm rõ các chứng cứ tài liệu của Hội đồng xét xử tại phiên toà…Kiểm sát viên phải đặc biệt chú ý ghi chép nhanh các nhận định khi chủ toạ phiên toà công bố bản án, ghi chính xác các điểm, khoản, điều luật mà bản án áp dụng và mức hình phạt mà Hội đồng xét xử áp dụng (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), các vấn đề khác như bồi thường dân sự, xử lý vật chứng…trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu ngay với thư ký sau khi kết thúc phiên toà. Sau khi kết thúc phiên toà, nếu thấy có vấn đề cần phải kháng nghị thì Kiểm sát viên trước tiên phải tự kiểm tra lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đánh giá lại toàn bộ chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên toà, đối chiếu với các cơ sở pháp lý mà Hội đồng xét xử đã áp dụng trong bản án…Xét thấy có cơ sở để tiến hành kháng nghị thì báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo, đề xuất với lãnh đạo việc kháng nghị hay không. Trước khi đề xuất việc kháng nghị cần phải xem xét lại toàn bộ diễn biến tại phiên toà; căn cứ vào kết quả điều tra công khai tại phiên toà. Chỉ kháng nghị khi đã có cơ sở pháp lý cho thấy: việc quyết định của án sơ thẩm là chưa áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật. Tránh tình trạng kháng nghị theo cảm tính, khi Toà án xử khác quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là kháng nghị. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
3.2.7. Tăng cường, đẩy mạnh và có hiệu quả công tác kiểm tra của kiểm sát viên, tổng kết thực tiễn, thông báo rút kinh nghiệm, trả lời thỉnh thị
Cần đưa công tác kháng nghị phúc thẩm là một nội dung trong các cuộc kiểm tra định kỳ hàng năm của hai cấp viện kiểm soát tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên muốn làm tốt công tác kháng nghị thì không chỉ cần có nhận thức và trình độ nghiệp vụ mà còn phải có ý thức trách nhiệm cao với công việc, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trách nhiệm của Kiểm sát viên phải được thể hiện từ việc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để đề xuất mức án cho phù hợp. Tránh tình trạng nghiên cứu, đề xuất mức án với Hội đồng xét xử nhưng không có cơ sở để kháng nghị hoặc kháng nghị không chính xác, không được cấp phúc thẩm chấp nhận. Khi Kiểm sát viên phát hiện thấy có vi phạm trong bản án, quyết định hình sự sơ thẩm phải có trách nhiệm báo cáo với lãnh đạo viện và đề xuất kháng nghị, tránh tình trạng chờ cấp trên kháng nghị hoặc cho rằng: “đằng nào bị cáo cũng kháng cáo”. Khi đề xuất phải nêu rõ những vi phạm trong bản án, quyết định và cần phải kháng nghị toàn bộ hay chỉ kháng nghị một phần bản án hoặc quyết định. Nếu kháng nghị một phần thì phải nêu rõ kháng nghị phần nào của bản án hoặc quyết định. Đồng thời phải nêu rõ cơ sở của việc kháng nghị, không đề xuất chung chung hoặc theo kiểu “tuỳ lãnh đạo quyết định”. Thực tế cho thấy khi Kiểm sát viên có ý thức trách nhiệm nghề nghiệp thì thường phát hiện chính xác những vi phạm của bản án sơ thẩm và đề xuất kháng nghị có căn cứ và ngược lại. Kiểm sát viên còn phải nâng cao trách nhiệm trong việc thiết lập, rà soát bản kháng nghị trước khi trình lãnh đạo ký và ban hành, tránh những thiếu sót không đáng có. Từ phân tích trên, biện pháp cụ thể để nâng cao trình độ năng lực của Kiểm sát viên thì trước tiên, bản thân mỗi Kiểm sát viên phải tự nghiên cứu học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, nắm vững hệ thống văn bản pháp luật có liên quan, để xây dựng cho mình một bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng. Từ đó có đủ tự tin trong giải quyết công việc nói chung và đề xuất kháng nghị phúc thẩm nói riêng. Ngoài ra Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần tổ chức các lớp tập huấn cho Kiểm sát viên ít nhất một lần một năm. Tại các lớp tập huấn cần tổng kết, đánh giá toàn bộ công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, những ưu điểm cũng như những tồn tại, thiếu sót của công tác này; những trường hợp cần rút kinh nghiệm; lựa chọn những kháng nghị có chất lượng tốt làm kháng nghị mẫu cho các Kiểm sát viên học tập. Các lớp tập huấn chuyên đề về kháng nghị cũng là một cơ hội cho mỗi Kiểm sát viên đề xuất những kiến nghị để công tác kháng nghị phúc thẩm đạt hiệu quả, nêu những khó khăn vướng mắc trong thực tế công tác để cùng thảo luận tìm ra phương hướng khắc phục, hoàn thiện. Đồng thời, đây cũng là dịp để các Kiểm sát viên trao đổi cho nhau những kinh nghiệm trong thực tế công tác. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở thực trạng công tác áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2019, tác giả đã phân tích những yêu cầu cơ bản để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định. Để góp phần thiết thực trong thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng đề ra, nhằm hiện thực hóa các quy định trong Hiến pháp và pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định trong thời gian tới.
Các giải pháp từ việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm đến công tác tổ chức cán bộ ngành kiểm sát nhân dân như: giải pháp nâng cao về trình độ, phẩm chất, năng lực, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp; tăng cường sự lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong giải quyết kháng nghị phúc thẩm hình sự… Ngoài ra, tác giả đưa ra một số đề xuất của tác giả nêu ra để công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát thực sự là một công cụ hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp hiện nay.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
Để đảm bảo an ninh trật tự, lực lượng chức năng tỉnh Bình Định đã tiến hành nhiều công tác, biện pháp nghiệp vụ trong đó có công tác. Công tác này luôn được xem là nền tảng, có tính chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực và kết quả đạt được, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, công tác bảo vệ an ninh trật tự trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, còn tồn tại nhiều bất cập như nội dung chưa phong phú, chưa gắn với lợi ích thiết thực của đồng bào dân tộc, các phương pháp chưa được sử dụng linh hoạt…
Trong những năm qua, viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã luôn chú trọng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Nhận thức rõ rằng kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý quan trọng mà nhà nước chỉ giao cho viện kiểm soát nhân dân và chỉ duy nhất viện kiểm soát mới có quyền thực hiện quyền năng này, là công cụ hữu hiệu để viện kiểm soát thực hiện và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành nhằm đảm bảo cho pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng được tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt để, đồng thời để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và là phương tiện để đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm và những quy định của pháp luật về kháng nghị phúc thẩm hình sự tại Chương 1. Đồng thời, tại Chương 2 của luận văn, tác giả đã trình bày cụ thể các quy định của pháp luật hiện hành về kháng nghị phúc thẩm hình sự và nêu bật thực tiễn áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định trong 05 năm. Thông qua nghiên cứu thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Đinh từ năm 2015 đến năm 2019, luận văn đã đánh giá đúng thực trạng hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành kiểm soát nhân dân Bình Định với những mặt đã làm được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Kháng nghị phúc thẩm hình sự tại tỉnh Bình Định

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định