Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích giữa các bên trong quan hệ bồi thường vì vậy các bên thường ít thoả thuận và dàn xếp được với nhau về mức bồi thường cụ thể. Khi đó vụ việc sẽ được giải quyết ở Toà án. Thực tiễn cho thấy bên cạnh những vụ án được giải quyết kịp thời, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự thì vẫn còn nhiều vụ án sau khi xét xử xâm phạm đến quyền, lợi ích của một trong hai bên hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Cùng với công tác xét xử của các cấp Toà án, các quy định về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và lỗi nói riêng trong Bộ luật dân sự đã phát huy hiệu lực thực tế trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống; quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức đã được quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, do một số bất cập và hạn chế trong việc áp dụng và thực thi pháp luật cũng như những lỗ hổng, khiếm khuyết chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn trong quy định của pháp luật đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự tham gia tố tụng. Trên thực tế, các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được Toà án thụ lý và giải quyết rất đa dạng và phức tạp. Bộ Luật dân sự đã có những quy định cụ thể về các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như lỗi trong các trường hợp đó. Vậy những quy định đó được áp dụng để giải quyết những tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên thực tế như thế nào, để thấy được điều đó ta nghiên cứu một số vụ tranh chấp cùng phương hướng giải quyết các vụ án đó trong thực tiễn:
3.1.1. Sự cố Formosa năm 2016
Từ ngày 6/4/2016 cá ở một số lồng nuôi và cá tự nhiên chết hàng loạt tại khu vực biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) và sau đó lan ra vùng biển Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Trên bờ biển Quảng Đông, Vũng Chùa có đến hàng trăm cá thể cá mú loại từ 40 – 50 kg trôi dạt vào bờ và chết. Hàng chục lồng cá của khoảng 60 hộ dân sống tại khu vực An Cư Đông, thị trấn Lăng Cô, Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế có hiện tượng chết hàng loạt, nhiều nhất là ngày 15-4, một số ít chết trong ngày 16-4. Đến ngày 25/4, tỉnh Hà Tĩnh có 10 tấn, Quảng trị 30 tấn, đến ngày 29/4 Quảng Bình hơn 100 tấn cá biển bất ngờ chết dạt bờ. Thảm họa này gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của ngư dân, đến những hộ nuôi thủy sản ven bờ, ảnh hưởng đến du lịch biển và cuộc sống của cư dân miền Trung. Chỉ riêng tỉnh Quảng Bình có 18 xã chuyên làm nghề biển với hơn 14.000 hộ và 24.000 lao động nghề biển. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Sáng 26-4, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thừa Thiên – Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lăng Cô và cửa biển Lăng Cô, thị trấn Lăng Cô, Phú Lộc vào thời điểm xuất hiện cá nuôi lồng chết hàng loạt. Kết quả cho thấy các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Kết quả này cũng chỉ ra rằng nguyên nhân cá biển, cá nuôi chết không phải do dịch bệnh mà do một tác nhân cực mạnh – chất độc trong môi trường nước xuất hiện từ phía bắc của tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Tại một buổi tiệc khai trương nhà hàng vào ngày 21/4 ở xã Phúc Trạch huyện Bố Trạch (Quảng Bình) với khoảng 200 người đến tham dự, hầu hết những người có mặt sau khi ăn các món ăn hải sản, được mua từ huyện Quảng Trạch, về đều bị đau bụng, buồn nôn và tiêu chảy. 21 người đã phải được đưa tới điều trị tại trạm y tế.
Ngày 22/4, sau khi hoàn tất việc khảo sát, lấy mẫu nước, đoàn kiểm tra của Bộ Tài nguyên – môi trường do tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Nguyễn Văn Tài dẫn đầu đã đến kiểm tra trực tiếp tại Công ty Điện lực dầu khí Hà Tĩnh (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) và tại Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh). Ngày 26/4, một bản kiến nghị đăng trên trang web “We the People” của Nhà Trắng, đề nghị chính phủ liên bang Mỹ hỗ trợ người dân Việt Nam bằng cách cung cấp đánh giá độc lập về tác động môi trường của nhà máy thép [Formosa]. Chúng tôi cũng đề nghị Tổng thống Obama nêu vấn đề này với chính phủ Việt Nam trong chuyến thăm vào tháng 5″. Tính tới tối 3/5, có hơn 138.000 người đã ký. Con số trên lớn hơn nhiều so với con số tối thiểu 100.000 chữ ký để Nhà Trắng phải lên tiếng.
Hàng ngàn người dân Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và nhiều thành phố, địa phương trong cả nước đã xuống đường biểu tình phản đối vụ cá chết hàng loạt và gửi đơn khởi kiện Formosa đòi bồi thường hại.
Báo cáo của Bộ Y tế được công bố sáng thứ Ba 20/9, từ 1.340 mẫu hải sản lấy từ bốn tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế) bị ảnh hưởng vì vụ cá chết hàng loạt. Cá sống ở các “tầng nổi” và “hải sản tại đầm nuôi” được cho là “đều đảm bảo an toàn để sử dụng làm thực phẩm. Không có mẫu nào phát hiện có Phenol”. Tuy nhiên, báo cáo này cũng nói “hải sản khác sống ở tầng đáy trong vòng 13,5 hải lý đã phát hiện 132/1.040 mẫu hải sản của 4 tỉnh có Phenol” và “đều nằm trong vùng từ 5 – 25 km (tương đương với khoảng từ 2,7- 13,5 hải lý) với tỉ lệ mẫu nhiễm cao nhất tại Hà Tĩnh, Quảng Bình và thấp nhất tại biển Lăng Cô – Thừa Thiên Huế”. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Cuộc điều tra sau đó cho thấy, nguồn thải lớn từ tổ hợp nhà máy của Công ty Formosa Hà Tĩnh chứa độc tố tạo thành một dạng phức hợp, di chuyển vào Nam làm hải sản ở tầng đáy biển chết, là nguyên nhân gây ra thảm họa ô nhiễm môi trường biển này. Vào lúc 17 giờ chiều ngày 30 tháng 6 năm 2016, Văn phòng Chính phủ tổ chức họp báo công bố nguyên nhân và thủ phạm gây ra sự cố môi trường đặc biệt nghiêm trọng làm hải sản chết tại các tỉnh miền Trung. Theo đó, “Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị liên quan đã kiểm tra và phát hiện Formosa có hành vi vi phạm xả thải nước từ công ty ra biển có chứa độc tố, vượt quá mức cho phép. Từ căn cứ trên, các bộ, ngành cơ quan Việt Nam đã thẩm định kỹ lưỡng, có sự tham gia của các nhà khoa học kết luận: Formosa là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường làm hải sản chết bất thường”. Công ty Formosa đã nhận trách nhiệm và cam kết 5 điểm với các nội dung:
- Công khai xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt
- Bồi thường thiệt hại cho dân và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, bồi thường phục hồi môi trường biển với tổng số tiền là 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD và cam kết chuyển tiền bồi thường làm 2 lần. Lần đầu vào ngày 28 tháng 7, Formosa đã chuyển 250 triệu USD và lần 2 vào ngày 30 tháng 8 Formosa đã chuyển 250 triệu USD còn lại, hoàn thành việc chuyển 500 triệu USD bồi thường như cam kết.
- Cam kết hoàn thiện công nghệ sản xuất để xử lý triệt để chất thải trước khi thải ra môi trường, không để tái diễn sự cố môi trường.
- Phối hợp bộ ngành Việt Nam xây dựng giải pháp đồng bộ để phòng chống ô nhiễm.
- Thực hiện đúng cam kết nêu trên, không tái diễn vi phạm
Chính phủ Việt Nam cho rằng chất thải mà nhà máy Formosa tại Hà Tĩnh thừa nhận thải ra biển tác động đến cuộc sống của hơn 200 ngàn người dân, trong đó có 41 ngàn ngư dân. Ô nhiễm chất thải từ công ty Formosa dọc theo bờ biển miền Trung hồi tháng 4 đã gần như hoàn toàn phá hủy ngành du lịch của khu vực khi doanh thu từ du lịch giảm tới 90%. Theo khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có đến 263.000 lao động chịu ảnh hưởng, trong đó 100.000 chịu ảnh hưởng trực tiếp. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng rất lớn tại bốn tỉnh, trong đó lớn nhất là Hà Tĩnh (15,7 lần) rồi đến Quảng Bình (7,9 lần), Quảng Trị (2,8 lần) và Thừa Thiên-Huế (1,6 lần). Số người đánh bắt thủy sản ở Hà Tĩnh giảm 74% còn ở Quảng Bình 83,2% người dân bị giảm thu nhập so với thời điểm trước khi xảy ra sự cố. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Phân tích
Hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân làm ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và thiên nhiên. Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi có lỗi hoặc không có lỗi nhưng người có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi.
Về bản chất, tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là tranh chấp ngoài hợp đồng, là tranh chấp giữa chủ thể có hành vi gây tổn hại tới môi trường, gây ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của chủ thể khác.
- Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là chủ thể bị xâm hại lợi ích hợp pháp.
Theo quy định của Điều 163 Luật bảo vệ môi trường 2014, các loại thiệt hại bao gồm: Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp khác. Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013, Điều 200 Bộ luật dân sự 2005, các thành phần môi trường chủ yếu, trong đó có nguồn nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và chức năng, tính hữu ích của môi trường là một lợi ích công cộng mà người đảm bảo cho lợi ích này cũng là Nhà nước. Như vậy, chủ thể có quyền đòi bồi thường trong trường hợp này là Nhà nước.
Đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp thì chủ thể có có quyền đòi bồi thường là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại.
Theo quy định tại các 160 Luật Bảo vệ môi trường 2014, Điều 624 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì chủ thể phải bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường khi thỏa mãn các yếu tố sau: i) có hành vi trái pháp luật; ii) có thiệt hại xảy ra và iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp pháp luật. Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự, chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp không có lỗi. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Với việc Formosa hành vi trái pháp luật đã được chứng minh. Các thiệt hại về tài sản của người dân và sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của vùng biển 4 tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh) và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra cũng đã được cơ quan khoa học chứng minh thông qua kết quả giám định. Trong trường hợp này, công ty Formosa đã có lỗi cố ý trong việc gây ra thiệt hại.
Như vậy, trong vụ việc này, chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là Nhà nước và tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe do công ty Formosa có hành vi làm ô nhiễm vùng biển các tỉnh miền Trung.
- Vấn đề xác định thiệt hại
Điều 163 Luật bảo vệ môi trường đã liệt kê các loại thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự, theo đó, các thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ và kịp thời, Bộ luật dân sự cũng quy định việc xác định thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe.. (từ Điều 608 đến Điều 612). Thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được quy định tại Điều 164 Luật bảo vệ môi trường.
Theo quy định tại Điều 6 khoản 1, Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 132 Luật bảo vệ môi trường, Nghị quyết 04/2005 NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 17/9/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự về chứng minh, chứng cứ thì các bên phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Chứng minh và đưa ra chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh chấp. Do đó, các bên đều có quyền đưa ra những mức thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại khác nhau, phụ thuộc vào ý chí và các chứng cứ thu thập được. Một bên có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận mức độ thiệt hại do bên kia đưa ra. Trong trường hợp các bên không thống nhất được thì phải trưng cầu giám định.
Trong trường hợp phải trưng cầu giám định thì việc lựa chọn cơ quan giám định phải được sự đồng thuận của của bên đòi bồi thường và bên phải bồi thường. Trường hợp không thống nhất được thì việc chọn tổ chức giám định thiệt hại do cơ quan được giao trách nhiệm giải quyết việc bồi thường thiệt hại quyết định. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Theo những quy định này thì việc trưng cầu giám định thiệt hại trong “sự cố formosa” cần có sự đồng thuận của bên bị thiệt hại (Cơ quan nhà nước đại diện cho lợi ích về môi trường, các hộ gia đình bị thiệt hại hoặc người đại điện theo ủy quyền của các hộ gia đình bị thiệt hại) và chủ thể gây hại – Công ty formosa. Trong trường hợp không thống nhất được thì cơ quan trưng cầu giám định thiệt hại là Tòa án nhân dân thụ lý, giải quyết tranh chấp này. Những giám định thiệt hại không tuân thủ quy định này không trở thành chứng cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp nhưng có thể là căn cứ tham khảo khi các bên tự thương lượng.
Công ty formosa đã chấp nhận bồi thường cho những người nông dân tại tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế theo mức là 500 triệu USD và khoản tiền này đã được chuyển giao cho Chính Phủ để thực hiện việc bồi thường thiệt hại cho người dân. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp không chấp nhận mức bồi thường trên.
Đối với thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, Điều 181 Bộ Luật tố tụng dân sự quy định không được hòa giải trong trường hợp yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Theo tinh thần của quy định này thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng không được thỏa thuận về mức bồi thường với công ty Vedan mà phải khởi kiện tại tòa án. Tuy nhiên vấn đề này lại không được đề cập đến khi yêu cầu công ty Formosa bồi thường thiệt hại.
- Qua đây có thể thấy được rằng:
Thứ nhất, cơ sở của việc giải quyết Bồi thường thiệt hại về môi trường chủ yếu dựa vào đơn thư khiếu tố của người dân đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại.
Thứ hai, nội dung chủ yếu là giải quyết bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tài sản của các tổ chức, cá nhân. Hầu như chưa có trường hợp nào giải quyết Bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên.
Thứ ba, việc định giá thiệt hại chủ yếu dựa trên mức độ gây hại nên việc xác định thiệt hại để bồi thường còn chưa thỏa đáng.
Thứ tư, trong vụ việc trên có một phần lỗi do sự thiếu trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng lại không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước hay của cá nhân có hành vi trái pháp luật.
Thứ năm, trong hầu hết các vụ việc xâm phạm môi trường xảy ra trên thực tế, khi bị phát hiện, bị nhân dân khiếu nại, thì thái độ đầu tiên và duy nhất của các doanh nghiệp đó là sự chối cãi, trốn tránh trách nhiệm. Đến khi nào các cơ quan chức năng hoặc người dân đưa ra bằng chứng rõ ràng, cụ thể thì lúc đó họ mới “ậm ừ” thừa nhận. Tuy nhiên, từ lúc xác nhận hành vi đến khi họ đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một khoảng thời gian rất xa. Đồng thời, trước những người dân nghèo khổ, yếu thế và một hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, các cơ sở gây ô nhiễm này đã không ngần ngại lợi dụng những “cơ hội” để kèo nài “bớt một thêm hai” trên bàn thương lượng, và tìm mọi cách kéo dài thời gian, cho đến khi nào phía các nạn nhân mệt mỏi, chán nản với quá trình thương lượng, nên phải chấp nhận giá bồi thường rẻ mạt.
Thứ sáu, mặc dù không đề cập đến lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhưng lỗi cũng là căn cứ để tăng nặng hay giảm nhẹ mức bồi thường đối với hành vi trái pháp luật của tổ chức, cá nhân gây thiệt hại. Thế nhưng trong vụ việc trên, lỗi của công ty Formosa lại không được đề cập tới dẫn tới mức bồi thường còn chưa thỏa đáng với thiệt hại của người dân.
3.1.2. Vụ kiện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ tại Ninh Bình Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Chị Nguyễn Thị Phượng và anh Nguyễn Xuân Hiệu là hàng xóm. Do mâu thuẫn giữa con nhà chị Phượng và con anh Hiệu trong việc mượn bút không trả nên khoảng 11 giờ trưa ngày 08/01/2013, anh Hiệu cùng con trai là Nguyễn Duy Hải (sinh năm 2000) đã đến nhà chị Phượng, hai bên lời qua tiếng lại đã xảy ra xô sát, Hải đẩy chị Phượng ngã từ trên hè xuống sân gây sước chân, tay bầm tím, sau đó dùng tay phải tát mạnh vào hai bên má của chị Phượng gây chảy máu mũi, mồm. Chị Phượng vùng dậy định lấy gạch ném anh Hiệu và Hải nhưng được con trai chị ngăn lại. Sự việc trên có sự chứng kiến của anh Dương Minh Tuyến, bà Nguyễn Thị Lụa là những người hàng xóm của chị Phượng, anh Nguyễn Xuân Hiệu, cháu Đinh Văn Hảo, Đinh Hoàng Giảng con chị Phượng. Ngay sau vụ việc gia đình chị Phượng đã báo cho trưởng xóm và đã được người nhà đưa vào bệnh viên huyện Yên Mô điều trị và đi khám lại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình. Ngày 05/4/2013 chị Phượng được công an huyện Yên Mô cho đi giám định. Ngày 10/5/2013, Công an huyên Yên Mô đã có đã có bản kết luận việc anh Hiệu có hành vi đánh chị Phượng bị thương suy giảm 4% sức khoẻ (Kết luận giám định số 1090/C54(P6) ngày 23/4/2013). Toà án nhân dân huyện Yên Mô ra quyết định buộc Nguyễn Duy Hải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khoẻ cho chị Phượng theo quy định tại khoản 2 Điều 305, Điều 604, 606, 609 Bộ luật dân sự 2005 và các chi phí đi lại, khám chữa bệnh, bù đắp tổn thất về tinh thần… cho chị Phượng tổng số tiền là 5.756.700 đồng. Tuy nhiên, do Nguyễn Duy Hải chưa đủ 15 tuổi và không có tài sản riêng vì vậy gia đình anh Hiệu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Phượng thay cho Hải.
Từ những tình tiết của vụ án cho thấy Nguyễn Duy Hải đánh chị Phượng gây thiệt hại về sức khoẻ cho chị. Tuy nhiên, do Hải chưa đủ 15 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần. Những người thuộc nhóm tuổi này chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm – sinh lí, trình độ nhận thức còn hạn chế. Mặt khác, cha mẹ, người giám hộ, … là người theo quy định của pháp luật phải quản lý, chăm sóc, giáo dục… được suy đoán là có lỗi khi không thực hiện nghĩa vụ nêu trên và họ phải chịu trách nhiệm do lỗi của họ. Trong trường hợp của Hải có thể nhận thấy Hải chưa đủ 15 tuổi vì vậy gia đình anh Hiệu phải chịu trách nhiệm bồi thường thay cho Hải trong khi họ không phải là người có lỗi khi gây ra thiệt hại cho chị Phượng.
Theo quy định, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi tại Khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự 2005: “Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 Luật này” có thể thấy, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại trước tiên được xác định cho cha, mẹ của người đó. Chính vì thế, cha mẹ của những người gây thiệt hại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự, có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ cho thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con, mặc dù họ không phải là người thực hiện hành vi gây thiệt hại, trong khi chính cá nhân gây thiệt hại lại hoàn toàn không có trách nhiệm bồi thường. Như vậy, trong mọi trường hợp gây thiệt hại trái pháp luật mà không có căn cứ loại trừ trách nhiệm Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, người bị thiệt hại đều được bồi thường, vấn đề là trách nhiệm bồi thường đó thuộc về ai mà thôi. Mặt khác,người chưa thành niên ở độ tuổi này không có hoặc chưa có khả năng lao động. Pháp luật hiện hành quy định độ tuổi lao động từ đủ mười lăm tuổi trở lên, trừ những công việc liên quan đến năng khiếu, nghệ thuật như múa, xiếc,… thì mới có người lao động dưới mười lăm tuổi, nhưng hợp đồng lao động giữa họ và người sử dụng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật cho họ. Chính vì thế, đa số người dưới mười lăm tuổi không có thu nhập hoặc tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại.
3.1.3. Một sô bất cập trong thực tiễn trong giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Qua tìm hiểu thực tiễn công tác xét xử tại các Tòa cho thấy:
Thứ nhất, hiệu quả công tác xét xử của các cấp Tòa án trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn chưa cao, đặc biệt việc xem xét đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án hình sự chưa được xem xét một cách đúng mức. Việc xác định lỗi còn nhiều lung túng.
Thứ hai, về việc áp dụng các qui định pháp luật về lỗi trong những tình huống cụ thể còn lúng túng, chưa thống nhất, đôi khi còn hiểu sai hẳn nội dung của điều luật. Theo Điều 617 Bộ luật dân sự bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Không ít các Toà án khi xác định người bị thiệt hại có lỗi là đương nhiên giảm ngay phần trách nhiệm bồi thường cho người gây thiệt hại một cách tuỳ tiện mà không cần xét đến việc hành vi có lỗi của người bị thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại thực tế xảy ra hay không.
Bản chất của Điều 617 được hiểu là người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đối với mình nên phải “bồi thường” cho chính mình tương ứng với mức độ lỗi. Phần còn lại thuộc về trách nhiệm của người gây thiệt hại cũng được xác định tương ứng với mức độ lỗi của họ. Ngoài ra hành vi có lỗi của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra. Vậy trong trách nhiệm hỗn hợp, người gây thiệt hại chỉ được giảm mức bồi thường tương ứng khi xác định được hậu quả thiệt hại xảy ra của người bị thiệt hại một phần là do nguyên nhân hành vi có lỗi của họ gây ra.
Cũng theo Điều 617 Bộ luật dân sự thì bất kể lỗi của người bị thiệt hại là lỗi cố ý hay vô ý, mức độ nặng hay nhẹ, nếu chứng minh rõ ràng nó là một phần nằm trong nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại thì đều xuất hiện trách nhiệm hỗn hợp. Dù vậy, một số Toà trong tình huống cụ thể xác định thấy lỗi của người bị thiệt hại chỉ là lỗi vô ý nhẹ mặc dù hành vi có lỗi của người bị thiệt hại thỏa mãn điều kiện trên nhưng vẫn loại bỏ mà chỉ tính đến trách nhiệm toàn bộ của người gây thiệt hại. Điều đó là không đúng.
Việc áp dụng Điều 616 bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra vào quá trình xử lý vụ việc không được hiểu đúng ở một số Toà. Điều 616 qui định: “Trong những trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại”. Một số Toà sau khi nhận định tình tiết là có nhiều người cùng gây thiệt hại là xác định ngay trách nhiệm liên đới cho những người đó. Nhận định đó là sai lầm, không dựa trên bản chất của hiện tượng. Với sự kiện có nhiều người cùng gây thiệt hại thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà phát sinh ra hai khả năng trách nhiệm đó là trách nhiệm riêng rẽ hay trách nhiệm liên đới (không tính đến trường hợp đặc biệt là trách nhiệm hỗn hợp). Khi xem xét giải quyết từng vụ việc cụ thể phải hết sức lưu ý bởi hậu quả pháp lý của hai loại trách nhiệm này không giống nhau.
Ngoài ra, việc điều tra để làm sáng tỏ lỗi vô ý và khả năng kinh tế trước mắt cũng như lâu dài với ý nghĩa làm căn cứ để giảm mức bồi thường cho chủ thể tổng trách nhiệm liên đới nhiều khi không được để ý tới. Một số toà sau khi xác định một chủ thể nào đó không đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ bồi thường là áp dụng ngay cách thức, trình tự, nguyên tắc giải quyết nghĩa vụ liên đới mà không xét đến lỗi và khả năng kinh tế thực tế của chủ thể đó. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Thứ ba, việc đánh giá lỗi ở chủ thể gặp nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy bên cạnh việc người xét xử hiểu sai điều luật dẫn đến việc giải quyết sai vụ việc thì một vướng mắc nữa mà họ hay gặp phải là quá trình đánh giá lỗi để xác định chủ thể và mức bồi thường cụ thể, xác định loại trách nhiệm được áp dụng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Lỗi là yếu tố thuộc mặt chủ quan của chủ thể, nằm sau trong ý thức của con người. Do đó khó có thể kiểm soát được một cách đầy đủ những diễn biến tâm lý bên trong của cá nhân chủ thể. Việc đánh giá lỗi khi đó phải dựa trên nhiều căn cứ khác như hành vi gây thiệt hại, đặc điểm, thái độ tâm lý biểu hiện ra bên ngoài, động cơ, mục đích của xử sự, đặc điểm nhân thân, nguyên nhân, điều kiện của hành vi xử sự. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy rằng việc nhận định lỗi nhiều khi còn phụ thuộc vào sự nhạy bén của thẩm phán nhưng cảm quan và sự nhạy bén đó cũng phải bắt nguồn từ thực tế chứ không thể từ sự suy diễn chủ quan. Nhiều vụ xét xử sai là do thẩm phán đã bỏ qua lời khai của nhân chứng, bỏ qua tình tiết của sự việc, không điều tra kỹ lưỡng về thực trạng thiệt hại (mức độ thương tích, tính chất mất mát hay giảm sút tài sản…) những yếu tố góp phần phản ánh lỗi.
Sự kiện bất khả kháng là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường. Song thiệt hại do sự kiện bất khả kháng và do lỗi vô ý của chủ thể gây nên có những biểu hiện khách quan đôi khi giống nhau. Vì vậy người xét xử hay lầm lẫn khi giải quyết vụ việc dẫn đến bỏ lọt vi phạm và người bị thiệt hại không được bồi thường.
3.2. Đánh giá các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của tình hình kinh tế xã hội thì những hiện tượng tiêu cực gây thiệt hại cho các chủ thể trong xã hội diễn ra ngày càng nhiều và đi liền với nó vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được đặt ra. Sự ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các Toà án trong công tác xét xử những tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, góp phần quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự.
Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 12 năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017) (“BLDS 2015”) đã có nhiều sự thay đổi cơ bản liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, ở mức độ khái quát có thể thấy, các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vẫn tồn tại một số bất cập sau:
Thứ nhất, thiếu những chuẩn mực pháp lý để làm cơ sở viện dẫn khi giải quyết những vụ việc cụ thể trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Mặc dù đã bỏ lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, nhưng lỗi cũng vẫn là yếu tố được xem xét để miễn hay giảm mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc dựa vào lỗi để xác định phần bồi thường thiệt hại của từng người trong trường hợp bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra,…
BLDS 2015 cũng như Bộ luật dân sự 2005 chi quy định về hình thức lỗi tại Điều 364 mà không hề đề cập đến mức độ lỗi. Biết rằng, theo nguyên tắc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, không vì người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý mà mức bồi thường tăng hay giảm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự). Thế nhưng việc bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể, pháp luật lại quy định căn cứ vào mức độ lỗi để xác định mức tài sản mà người gây thiệt hại phải bồi thường.
- Điều 587 Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây thiệt hại quy định:
Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại, thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi, thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Do pháp luật không quy định mức độ lỗi là gì và nó được hiểu như thế nào, do vậy khi giải quyết những tranh chấp cụ thể, thì cơ quan xét xử sẽ căn cứ vào đâu để giải quyết vụ việc? Trong lĩnh vực học thuật, các nhà nghiên cứu cũng đã xác định mức độ lỗi trong hình thức lỗi vô ý gồm: vô ý nặng và vô ý nhẹ. Trong khoa học hình sự, người ta còn phân biệt lỗi vô ý vì quá cẩu thả, vô ý vì quá tự tin để xác định hình phạt. Theo chúng tôi, pháp luật nên có quy định về mức độ lỗi trong Bộ luật Dân sự để các cơ quan, tổ chức mà trước hết là Toà án có căn cứ áp dụng trong việc giải quyết những tranh chấp đó do có hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng [14, tr. 28-35]. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Thứ hai, nội dung của điều luật vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý.
Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa xác định cụ thể chủ thể phải bồi thường thiệt hại khi tài sản gây ra thiệt hại. Cách xác định chủ sở của tài sản gây thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành còn nhiều bất cập khi liên quan đến tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Theo quy định của pháp luật thì thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu là thời điểm đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, người nào đứng tên trên giấy tờ đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản được khẳng định là chủ sở hữu của tài sản và là người phải chịu trách nhiệm khi tài sản đó gây ra thiệt hại. Thực tiễn các giao dịch dân sự lại phát triển theo một chiều hướng khác, đó là nhiều tài sản có đăng ký quyền sở hữu như ô tô, xe máy, nhà cửa… được mua bán trao tay (không hợp đồng viết tay, cũng không sang tên) hoặc có lập hợp đồng mua bán, tặng cho, hay có sự kiện thừa kế theo pháp luật hay có di chúc nhưng tài sản đó lại chưa được làm thủ tục sang tên cho người mua, người được tặng cho, được thừa kế, thì chủ sở hữu đối với tài sản đó là người đang đứng tên trên giấy tờ sở hữu hay người mua, người được tặng cho, được thừa kế?
Căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định chung tại Khoản 2, Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 gồm: trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn thuộc về bên bị thiệt hại. Thế nhưng, bản chất của pháp luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, vậy trong trường hợp các bên thỏa thuận không phải bồi thường thiệt hại thì có được xem là một căn cứ được miễn trách nhiệm bồi thường hay không?
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 594 và Điều 595 Bộ luật dân sự 2015, người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết thì không phải bồi thường thiệt hại, vậy tại sao không đưa hai trường hợp này vào phần quy định chung của Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Mặt khác, một số điều luật về bồi thường thiệt hại trong trường hợp cụ thể lại không quy định căn cứ miễn bồi thường như: bồi thường thiệt hại do cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng hay súc vật gây ra,… làm cho người vận dụng phải suy đoán chủ quan dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Chưa có cơ chế hỗ trợ để bảo vệ người bị thiệt hại khi tài sản gây ra thiệt hại là tài sản vô chủ.
Chưa xác định rõ trách nhiệm bồi thường của các cơ quan quản lý công trình công cộng, tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (công trình xây dựng, cây xanh, cầu đường, đường dây điện thoại, đường dây tải điện, hố ga, tường bao, rào chắn, gia súc, thú dữ…). Đây là nguyên nhân khiến nhiều vụ việc liên quan đến tài sản của Nhà nước gây thiệt hại lớn cho nhân dân nhưng không được bồi thường hoặc được bồi thường nhưng không kịp thời và không thoả đáng. Ví dụ như: sập cầu ở tỉnh Cần thơ; sập trần thượng của khách sạn Hoàng Hà ở thành phố Đà nẵng; Đàn voi ở Bản Knông Đắc lắc làm hổng nhà, phá hoa màu, sập cầu treo Chu Va tại Lai Châu…
Về điều kiện áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Hiện nay chưa có quy định nào phân định cụ thể: khi nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và khi nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tế. Thực tiễn cho thấy khi xét xử, nhiều trường hợp cứ thấy thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ là áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bất kể nguyên nhân gây thiệt hại là do con người hay do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Thứ ba, các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự không những mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc mà còn tồn tại những khoảng trống chưa được điều chỉnh trước yêu cầu phát sinh trong thực tiễn.
Hiện nay, các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tài sản vô hình, đặc biệt đối với các đối tượng về sở hữu trí tuệ vẫn chưa được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, các quy định liên quan tới cơ sở pháp lý nhằm xây dựng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với pháp nhân, tổ chức gây thiệt hại cho tới nay cũng chưa được ghi nhận. Tình trạng này gây ra rất nhiều khó khăn cho các thẩm phán trong công tác xét xử, đặc biệt đối với những vi phạm về môi trường. Hay trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ thuộc sở hữu chung của nhiều người trong đó có một người sử dụng rồi gây thiệt hại thì lỗi của các đồng sở hữu được phân tích ra sao?
Ngoài ra, quy định tại Khoản 2, Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 chưa bao quát hết được những sự kiện khác có thể có trong việc gây thiệt hại đó khi quy định về trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường là lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại. Giả thiết rằng: người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi cố ý và người gây thiệt hại lợi dụng hoàn cảnh đã có lỗi cố ý để gây thiệt hại cho người đó, thì trách nhiệm đó có được coi là trách nhiệm hỗn hợp hay không? Trong trường hợp cụ thể này, người gây thiệt hại cũng có lỗi cố ý mà gây thiệt hại. Mặc dù vậy trường hợp này pháp luật chỉ quy định lỗi hoàn toàn thuộc về bên bị thiệt hại, mà không xác định trách nhiệm của người gây thiệt hại. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
3.3.1. Về khía cạnh lập pháp
Cần sửa lại cách sắp xếp các qui định trong Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng chỉ đưa vào Bộ luật dân sự các qui định chung mang tính nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và chuyển lên mục kế tiếp với mục trách nhiệm dân sự hoặc có thể ghép vào mục về trách nhiệm dân sự và sửa đổi, bổ sung một số qui định như đã phân tích trên đây. Pháp luật bên cạnh yêu cầu cần có sự chi tiết cũng rất cần đưa vào những cơ sở pháp lý chung làm định hướng cho việc giải quyết những tình huống cụ thể [10]. Trong phần khái quát về lỗi nên có những nội dung sau:
- Phải đưa ra khái niệm về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lỗi của cá nhân, lỗi của tổ chức là gì.
- Cần có qui định về mức độ lỗi cụ thể cho phù hợp với qui định về trách nhiệm liên đới và về trách nhiệm hỗn hợp.
- Cần phân định lỗi của từng chủ thể trong trách nhiệm bồi thường riêng rẽ, liên đới, hỗn hợp.
- Quy định các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó có vấn đề lỗi của người thứ ba, trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết.
Cần khắc phục những quy định thiếu rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật liên quan đến tài sản gây ra và trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại để tạo nên sự thống nhất trong quy định về thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần làm ổn định và lành mạnh hoá các quan hệ dân sự.
Pháp luật dân sự cần xác định rõ hai thời điểm liên quan đến việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản, đó là thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ người bán, người tặng cho, người cho vay, người để lại di sản thừa kế cho những người mua, người được tặng cho, người vay, người được thừa kế là thời điểm có hiệu lực pháp lý của những giao dịch đó. Kể từ thời điểm đó thì người mua, người được tặng cho, được thừa kế đã có đầy đủ các quyền đối với tài sản cũng như phải chịu trách nhiệm đối với tài sản. Do vậy, người mua, người được tặng cho tài sản thông qua một giao dịch đã phát sinh hiệu lực, thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản đó gây ra ngay cả khi chưa đứng trên chủ sở hữu trên giấy tờ đăng ký quyền sở hữu của tài sản. Thời điểm tiếp theo cần phải được xác định đó là thời điểm hoàn tất thủ tục sang tên cho người mua, người được tặng cho, được thừa kế. Kể từ thời điểm này, thì người mua, người được tặng cho, được hưởng thừa kế có quyền chính thức để xác lập các giao dịch chuyển quyền sở hữu tiếp theo trên tài sản đó. Như vậy, trong hai thời điểm trên, thì trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại được phát sinh kể từ thời điểm thứ nhất (thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản) chứ không phải là thời điểm sang tên đối với tài sản. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Cần định rõ trách nhiệm bồi thường của các cơ quan trực tiếp quản lý công trình công cộng, tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. VD: Chi cục kiểm lâm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW trực tiếp quản lý lâm sản trên địa bàn.
- Cần có cơ chế hỗ trợ để bảo vệ người bị thiệt hại khi tài sản gây ra thiệt hại là tài sản vô chủ hay tài sản gây ra thiệt hại do sự kiện bất khả kháng.
Về các qui định trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
Một là, không nên định nghĩa nguồn nguy hiểm cao độ theo hướng liệt kê mà chỉ cần xác định tiêu chí chung để được coi là nguồn nguy hiểm cao độ.
Hai là, cần có quy định rõ ràng về việc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ phát sinh khi thiệt hại là do sự tác động tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Ba là, cần phân định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác chiếm hữu, sử dụng, cụ thể là trường hợp chuyển giao theo quan hệ lao động và chuyển giao theo quan hệ dân sự.
Bốn là, Pháp luật cần bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ trong tự nhiên gây ra cho các chủ thể khác; Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp cơ quan Nhà nước chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thuộc sở hữu của các cá nhân, tổ chức để phục vụ lợi ích công cộng như: trưng dụng, tạm giữ…
Cần rà soát toàn bộ các qui định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau để tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhằm bảo đảm tính thống nhất với các qui định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật dân sự.
Cần xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất hệ thống các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, thương mại, lao động, môi trường… Trên cơ sở đó kết hợp cùng với các qui định của Bộ luật dân sự làm chuẩn mực pháp lý để đánh giá hành vi vi phạm pháp luật để xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh từ trong vài quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật đó.
Xây dựng hệ thống án lệ liên quan đến việc xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để các Tòa án làm căn cứ giải quyết các vụ việc tương tự. Án lệ xuất phát từ thực tiễn xét xử, từ các vụ việc thực tế nên được dùng để giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế. Việc xây dựng và đưa vào sử dụng án lệ đối với các vụ án tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ là cơ sở cho các Tòa án giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, thống nhất trong việc xác định lỗi, mức bồi thường…
3.3.2. Về cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Theo qui định của Bộ luật dân sự, người bị thiệt hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc Toà án giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Do vậy cần có văn bản qui định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong các vụ việc khác nhau cũng như cơ chế phối hợp giải quyết giữa các cơ quan cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc biệt đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức Nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Đối với các trường hợp bồi thường thiệt hại cho người bị oan, nên chăng vấn đề đàm phán bồi thường không nên giao cho một cơ quan tố tụng nào đó thực hiện mà việc bồi thường cần có một Hội đồng bao gồm đại diện của các ngành các giới, do Uỷ ban Mặt trận tổ quốc chủ trì dưới sự giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành và đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh, thành. Có như vậy mới đảm bảo được tính khách quan, có lý, có tình. Bởi lẽ các cơ quan tiến hành tố tụng ít khi phải thương lượng hoà giải, họ thường chỉ quen với công việc “cầm cân nảy mực”. Ngược lại, người bị oan có quyền khởi kiện khi đã lâm vào tình thế “lực cùng, thế kiệt” thường có tâm lý kiện chắc gì đã thắng [4, tr. 10-11].
3.3.3. Nâng cao ý thức pháp luật của người dân nói chung và cán bộ, công chức, cơ quan có thẩm quyền nói riêng
Tăng cường hoạt động tuyên truyền giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật dưới nhiều hình thức tại cấp cơ sở như tổ chức các cuộc thi, các buổi meeting tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiên thông tin đại chúng… nhằm nâng cao hiểu biết của người dân nói chung về các qui định pháp luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Từ đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của từng công dân với quyền dân sự của người khác và đối với lợi ích chung của xã hội. Đồng thời tổ chức nhiều khóa học, các buổi trao đổi trong ngành để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước, Tòa án hiện nay – những người trực tiếp thực thi các qui định của pháp luật về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên thực tế.
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở phân tích về mặt lý luận các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, luận văn đi vào phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thông qua những vụ việc bồi thường thiệt hại cụ thể, chỉ ra quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để xác định lỗi làm căn cứ xem xét mức bồi thường thiệt hại, từ đó thấy được những khó khăn, bất cập mà Tòa án các cấp đang gặp phải trong quá trình áp dụng quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi, khó khăn, bất cập trong các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, luận văn đưa ra những giải pháp, những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Mặc dù theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hiện nay lỗi không còn là một trong bốn căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên, khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không thể không xem xét đến vấn đề lỗi. Việc nghiên cứu lỗi không những nhằm xác định trách nhiệm bồi thường mà thực chất là cách thức góp phần giải quyết những tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tính công bằng, quyền và lợi ích hợp pháp của cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Bất cứ người nào có lỗi mà gây thiệt hại cho người khác thì đều phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại dựa trên nguyên tắc “thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Để đảm bảo giải quyết nhanh chóng các yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đòi hỏi Tòa án các cấp phải vận dụng một cách linh hoạt các quy định của Bộ luật dân sự cùng các văn bản pháp luật có liên quan, xem xét lỗi trong mối quan hệ tương quan với các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ đó làm cơ sở để xác định mức bồi thường, trường hợp được miễn, giảm mức bồi thường.
Hiện nay, các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng tại Tòa án các cấp hiện nay cho thấy, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập. Mặt khác, cùng với sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ bồi thường thiệt hại có xu hướng gia tăng về số lượng, tính chất phức tạp, đặc biệt là quá trình xác định mức độ lỗi của cả chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Do đó, việc hoàn thiện chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó có các quy định về lỗi là vấn đề cấp thiết trong tiến trình sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự trong thời gian tới. Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Lỗi về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng